Tiểu luận sẽ khái quát một số lý thuyết cơ bản và quan trọng về mô hình “Đàn nhạn bay”, phân tích ý nghĩa của mô hình đối với quá trình phát triển công nghiệp và ngoại thương của các nước Châu Á. Từ đó áp dụng vào thực tiễn và đưa ra những giải pháp giúp Việt Nam tận dụng triệt để hơn thế mạnh và vị trí của mình trong mô hình “Đàn nhạn bay” của Châu Á.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT MÔ HÌNH ĐÀN NHẠN BAY 5
I Mô hình ban đầu của Akamatsu 5
1 Phiên bản một nước - một sản phẩm 6
2 Phiên bản một nước - nhiều sản phẩm 7
3 Phiên bản nhiều nước 8
II Mô hình “Đàn nhạn bay” ở Châu Á 9
1 Phân lớp mô hình “Đàn nhạn bay” ở Châu Á 9
2 Hiệu ứng lan tỏa và đặc điểm của các nhóm nhạn trong mô hình 10
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA MÔ HÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP VÀ NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á 13
I Đối với quá trình Công nghiệp hóa của các nước Châu Á 13
1 Sự lan tỏa của công nghiệp tại Châu Á 13
2 Vai trò của con nhạn đầu đàn – Nhật Bản với quá trình công nghiệp hóa ở Châu Á 15
II Đối với phát triển ngoại thương ở các nước Châu Á 20
1 Khuynh hướng tập trung mậu dịch trong nội bộ vùng 20
2 Vai trò của Nhật Bản đối với sự phát triển ngoại thương ở các nước Châu Á 22
CHƯƠNG III: TÍNH THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH TRONG THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ HIỆN NAY VÀ ÁP DỤNG CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM 26
I Vị trí của Việt Nam trong mô hình đàn nhạn bay Châu Á và đặc điểm 26
1 Vị trí của Việt Nam trong mô hình 26
2 Một số đặc điểm cơ bản của cơ cấu Kinh tế Việt Nam 26
II Lợi ích Việt Nam nhận được theo mô hình đàn nhạn bay 28
1 Tiếp nhận chuyển giao công nghệ 28
2 Tiếp nhận đầu tư nước ngoài vào Việt Nam 29
3 Tiếp nhận viện trợ ODA 33
III Đề xuất để Việt Nam tận dụng vị trí của mình trong mô hình Đàn nhạn bay 36
1 Coi giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao là mũi nhọn phát triển 36
2 Cải thiện quản lý vốn đầu tư nước ngoài 38
3 Khuyến khích vốn đầu tư vào các nghiên cứu phát triển, các sáng tạo nâng cao năng suất 38 LỜI KẾT 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Bất chấp sự tăng trưởng chậm của nền kinh tế toàn cầu hiện nay, kinh tế Châu Á vẫn được dự đoán sẽ duy trì tăng trưởng ở mức vững chắc Cụ thể, tăng trưởng kinh tế Châu Á (2012-2016) đạt mức bình quân là 6,5% và con số này cho thấy đây là khu vực phát triển nhanh nhất thế giới Nếu đem so sánh với các nước đang phát triển ở các khu vực khác trên thế giới cùng mức tăng bình quân là 3,4% và các nước công nghiệp phát triển tăng trưởng bình quân là 1,6% trong cùng thời kỳ Góp phần vào tăng trưởng kinh tế khu vực Châu Á, không thể không nhắc đến những nước Đông Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc như là một trong những Quốc gia phát triển bậc nhất thế giới
Từ những nước chịu ảnh hưởng nặng nề do hậu quả của chiến tranh thế giới thứ 2, một số nước Đông Á đã đạt được tiến bộ vượt bậc do có chính sách phát triển đúng đắn, hợp lý và sự hợp tác khu vực cùng phát triển Một trong những lý thuyết có tác động lớn nhất tới quan điểm kinh tế, chính trị, hợp tác vùng của các nước trong khu vực chính là mô hình “Đàn nhạn bay” do nhà kinh tế học Nhật Bản Akamatsu khởi xướng Nhờ áp dụng có hiệu quả mô hình này mà Nhật Bản đã trở thành cường quốc thứ 3 thế giới hiện nay và có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển của khu vực Thêm vào đó, những năm gần đây, với sự vươn lên hàng thứ 2 thế giới về tổng sản phẩm quốc nội GDP, Trung Quốc đã khẳng định mạnh mẽ thêm tầm quan trọng của hiệu ứng lan tỏa của mô hình “Đàn nhạn bay”
Trên cơ sở nhận xét quá trình và triển vọng phát triển của các nước ở khu vực Châu
Á mà đại diện là các nước Đông Á, nhóm em chọn đề tài: “Mô hình Đàn nhạn bay trong chiến lược phát triển của các nước Châu Á và bài học cho Việt Nam” làm đề tài tiểu luận môn Kinh tế khu vực
II Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận sẽ khái quát một số lý thuyết cơ bản và quan trọng về mô hình “Đàn nhạn bay”, phân tích ý nghĩa của mô hình đối với quá trình phát triển công nghiệp và ngoại thương của các nước Châu Á Từ đó áp dụng vào thực tiễn và đưa ra những giải pháp giúp
Trang 4Việt Nam tận dụng triệt để hơn thế mạnh và vị trí của mình trong mô hình “Đàn nhạn bay” của Châu Á
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình phát triển công nghiệp và ngoại thương của Châu Á đặc biệt là Đông Á theo
mô hình “Đàn nhạn bay”
2 Phạm vi nghiên cứu
Đóng góp lớn nhất vào sự phát triển của Châu Á, phải kể đến các quốc gia Đông Á với vai trò là đầu tàu phát triển của khu vực Theo phân chia địa lý, Đông Á gồm Đông Nam Á (10 nước ASEAN) và 3 nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc)
Do vậy, tiểu luận sẽ tập chung vào phân tích những ảnh hưởng theo mô hình “Đàn nhạn bay” với quá trình phát triển của các nước Châu Á nói chung và đặc biệt là Đông Á
IV Phương pháp và nội dung nghiên cứu
Tiểu luận sẽ tổng hợp, phân tích, so sánh và đưa ra những nhận định về quá trình phát triển công nghiệp và ngoại thương ở Đông Á trong phạm vi 3 chương như sau:
CHƯƠNG I: Lý thuyết mô hình "Đàn nhạn bay"
CHƯƠNG II: Ý nghĩa của mô hình đối với sự phát triển công nghiệp và ngoại thương của các nước Châu Á
CHƯƠNG III: Tính thực tiễn của mô hình trong bối cảnh kinh tế hiện nay và áp dụng cho sự phát triển của Việt Nam
Chúng em xin gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Bình Dương đã cung cấp những kiến thức quan trọng và nền tảng của môn Kinh tế Khu vực giúp hoàn thành tiểu luận này và cũng rất mong nhận được nhiều góp ý từ cô và các bạn
Trang 5CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT MÔ HÌNH ĐÀN NHẠN BAY
Mô hình đàn nhạn bay là thuật ngữ chỉ một đặc trưng phát triển công nghiệp thường thấy ở các nước Châu Á, do nhà kinh tế học Nhật Bản Akamatsu Kaname khởi xướng đầu tiên từ những năm 1930 và phổ biến từ những năm 1960 Akamatsu Kaname đã đưa ra tên gọi 雁行形態 (Romaji: Ganko keitai, phiên âm Hán-Việt: nhạn hành hình thái) Thuật ngữ trên được các nhà kinh tế dịch trực tiếp sang tiếng Việt thành "mô hình đàn nhạn bay” hoặc dịch qua tiếng Anh (flying-geese pattern, flying-geese paradigm, flying wild geese pattern) Trong tiểu luận này, cách gọi “mô hình đàn nhạn bay” được sử dụng và cũng là cách gọi phổ biến ở Việt Nam
Mô hình “Đàn nhạn bay” ban đầu mô tả quá trình công nghiệp hoá của một nước phát triển, nhưng sau đó nó được mở rộng phạm vi áp dụng cho công nghiệp hoá, phát triển mạng lưới sản xuất và hợp tác trong khu vực Đông Á Trong mô hình đó, Nhật Bản được xem như là con nhạn đầu đàn, tiếp theo là các nền kinh tế mới công nghiệp hoá NICs, Các nước ASEAN 4, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Các nước này được ví như một đàn nhạn và bay theo một trình tự nhất định theo hình chữ V Trong những thập kỷ sau này (từ những năm 1970 trở đi), mô hình này đã được Kojima Kiyoshi bổ sung, hoàn thiện dựa trên sự kết hợp lý thuyết của Akamatsu với các luận thuyết kinh tế học tân cổ điển Điều này được xem là sự "Tây phương hoá" mô hình cũ Sự bổ sung và chỉnh sửa đã làm tăng
vị trí và ảnh hưởng của mô hình trong các đường lối, chính sách của Nhật Bản và tăng sự thích ứng của nó đối với giai đoạn Nhật Bản từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh
tế phát triển hàng đầu thế giới
I Mô hình ban đầu của Akamatsu
Mô hình đàn nhạn bay, theo ý tưởng của Akamatsu gồm có ba phiên bản Phiên bản đầu tiên áp dụng cho trường hợp một nước và một sản phẩm Phiên bản thứ hai áp dụng cho trường hợp một nước và nhiều sản phẩm Phiên bản thứ ba áp dụng cho nhiều nước
Trang 61 Phiên bản một nước - một sản phẩm
Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sản xuất sợi bông ở Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ 19 đến thập niên 1930 và phát hiện thấy một hiện tượng là đầu tiên Nhật Bản phải nhập khẩu sợi bông, sau đó sản xuất sợi bông trong nước phát triển, và tiếp theo đó là nhập khẩu sợi bông giảm và xuất khẩu sợi bông bắt đầu gia tăng, để rồi cuối cùng xuất khẩu lẫn sản xuất sợi bông trong nước đều suy thoái Nếu biểu diễn nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu sợi bông của Nhật Bản trên một trục tọa độ với trục hoành là thời gian và trục tung là sản lượng sẽ thấy 3 đường cong hình chữ V ngược Akamatsu tưởng tượng những đường cong đó giống như một đàn nhạn đang bay với con nhạn đầu đàn ở điểm đổi chiều của chữ
V ngược và các con nhạn khác bay phía sau ở hai phía Từ đó, ông đưa ra ý tưởng rằng sự phát triển của một ngành công nghiệp nào đó ở một nước nhất định có thể xảy ra theo hình đàn nhạn bay này Những nước đang phát triển có thể công nghiệp hóa theo đường lối bắt đầu từ phát triển những ngành sơ khai mà lúc đầu có thể phải tích lũy tư bản bằng kinh doanh nhập khẩu rồi tiến tới tự sản xuất và sau đó xuất khẩu
Akamatsu cho rằng “…giai đoạn đầu tiên là khi những hàng hoá được sản xuất, hầu hết là những hàng tiêu dùng, được nhập khẩu từ nước ngoài Trong giai đoạn thứ hai, sản xuất trong nước được thực hiện sau khi tiến hành nhập khẩu những nguồn tài nguyên thiên nhiên, máy móc và các thiết bị cho quá trình sản xuất Thứ ba là giai đoạn công nghiệp hoá nhằm xuất khẩu khi hệ thống sản xuất bản địa được hình thành”
Đầu tiên, việc nhập khẩu những sản phẩm nước ngoài sẽ đưa đến sự gia tăng những nhu cầu trong nước đối với những sản phẩm này, do đó nó sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước Khi một nền công nghiệp non trẻ trong nước được phát triển đầy đủ để sản xuất từ những sản phẩm bán cơ khí thành những sản phẩm cơ khí thì sự thay đổi của những sản phẩm nhập khẩu từ bán cơ khí thành cơ khí cũng diễn ra cũng như sự tăng lên về khối lượng của những nguồn tài nguyên thiên nhiên được nhập khẩu Cuối cùng khi việc sản xuất trong nước vượt quá cầu trong nước thì việc xuất khẩu được bắt đầu và sau đó tăng lên
Trang 7Nguồn: Akamatsu 1961: 12
Hình 1: Mô hình nhạn bay phiên bản Một nước – một sản phẩm
2 Phiên bản một nước - nhiều sản phẩm
Akamatsu phát triển ý tưởng của mình cho trường hợp một nước nhiều sản phẩm và phát biểu rằng những nước đang phát triển có thể phát triển những ngành sơ khai trước rồi tới những ngành phức tạp, từ phát triển hàng tiêu dùng không lâu bền trước rồi sang hàng tiêu dùng lâu bền và tiếp theo là tư liệu sản xuất Khái quát hóa, các nhà kinh tế ủng hộ mô hình của Akamatsu giải thích rằng các nước đang phát triển sẽ phát triển những ngành hạ nguồn trước rồi mới tới những ngành thượng nguồn, ví dụ phát triển ngành may rồi mới phát triển ngành dệt, phát triển ngành đóng ô tô khách hay đóng tàu rồi mới phát triển
Trang 8ngành luyện kim Logic này được cho là hợp lý vì sự phát triển của các ngành hạ nguồn sẽ tạo ra thị trường cho phát triển các ngành thượng nguồn Và mỗi ngành có thể phát triển theo hướng từ nhập khẩu tới tự sản xuất và tiến tới xuất khẩu Cứ như vậy, khi sản xuất trong nước của ngành này bắt đầu đi vào thoái trào thì đã có sản xuất trong nước của ngành kia thay thế làm ngành sản xuất chủ đạo; khi xuất khẩu của ngành này thoái trào thì đã có xuất khẩu của ngành kia thay thế làm mặt hàng xuất khẩu chủ đạo
Khi diễn tả bằng sơ đồ giống như với phiên bản một nước - một sản phẩm, sẽ có một tập hợp các đường hình chữ V ngược Pha đi xuống của đường này có thể trong cùng khoảng thời gian với pha đi lên của đường khác Tuy mỗi đường có hình đàn nhạn bay, song khó có thể nói tập hợp các đường trên phân bố theo hình đàn nhạn bay Dù vậy, phiên bản thứ hai này vẫn được gọi là mô hình đàn nhạn bay do nó được phát triển từ phiên bản thứ nhất
3 Phiên bản nhiều nước
Phiên bản nhiều nước dùng để miêu tả sự bắt kịp của các nước ở khu vực Đông Á với những nước phát triển trước cũng trong khu vực tại một ngành công nghiệp cụ thể hoặc một nhóm ngành hàng Akamatsu cũng chính là người đưa ra phiên bản này sau khi quan sát sự phát triển của các nước Đông Á
Akamatsu hình dung rằng khi ngành công nghiệp này của Nhật Bản đang ở pha gia tăng xuất khẩu thì các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore nhập khẩu sản phẩm công nghiệp đó Cùng với thời gian, xuất khẩu của ngành này ở Nhật đạt tới đỉnh cao
và bắt đầu giảm xuất khẩu cũng là lúc các nước kia đẩy mạnh tự sản xuất thay thế nhập khẩu Khi các nước kia đẩy mạnh xuất khẩu thì cũng là lúc ngành công nghiệp này ở Nhật không còn lợi thế cạnh tranh và bắt đầu kết thúc xuất khẩu Nhưng Nhật Bản lại có ngành công nghiệp khác thay thế làm ngành xuất khẩu chủ đạo Cứ như vậy từ ngành này sang ngành khác (dệt tới đóng tàu và ô tô khách, tới hàng điện tử và ô tô cao cấp), từ Nhật Bản sang các nước NICs rồi sang các nước khác Một số học giả kinh tế còn dùng phiên bản này để miêu tả sự phân công lao động quốc tế trong khu vực Đông Á Tại một thời điểm
Trang 9nhất định, Nhật Bản sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm tiên tiến nhất, các nước NICs sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung bình, còn các nước đi sau sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm đơn giản và có hàm lượng công nghệ thấp hơn
Nguồn: Dựa theo Kwan 1994: 82 và Yamazawa 1990b: 9 Kwan sử dụng “Tiêu chí lợi
thế so sánh” thay vì “Sản xuất/tiêu dùng”
Hình 2: Mô hình nhạn bay phiên bản Một nước – nhiều sản phẩm và phiên bản Nhiều
nước một ngành cụ thể
II Mô hình “Đàn nhạn bay” ở Châu Á
1 Phân lớp mô hình “Đàn nhạn bay” ở Châu Á
“Đàn nhạn bay” ở Châu Á được phát triển dựa theo quan điểm của Akamatsu Trong
đó, Nhật Bản là con nhạn đầu đàn, các nước NICs (Singapore, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc) ở hàng thứ 2, các nước ASEAN 4 (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine)
Trang 10ở hàng thứ 3 và các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,…ở hàng sau cùng Cứ thế, đàn nhạn đi từ ngành này sang ngành khác Phiên bản này được Kojima Kiyoshi và Okiata Saburo phát triển và hoàn thiện
Cụ thể, giống như cách bay của một đàn nhạn, việc sắp xếp theo các lớp theo hình mũi tên khiến đàn nhạn bay nhanh hơn, giữ sức và đi được xa hơn Bao giờ con đầu đàn, những con đi trước cũng là những con khỏe, dẻo dai (giống như các nước phát triển hơn); còn những con phía sau sẽ sử dụng luồng khí từ các con đầu đàn để bay theo Thật vậy, những nước kém phát triển có thể tận dụng hiệu ứng lan tỏa từ các nước phát triển đi trước trong khu vực Một cách trực quan, “đàn nhạn bay” Châu Á được sắp xếp như hình dưới đây:
Nguồn: IDE Discussion Paper No.158
Hình 3: Mô hình "Đàn nhạn bay" ở Châu Á
2 Hiệu ứng lan tỏa và đặc điểm của các nhóm nhạn trong mô hình
Trang 11Theo lý thuyết cực tăng trưởng và phát triển, hiệu ứng lan tỏa xuất hiện khi một vùng cực phát triển nhanh dẫn đến thu nhập của người dân sống tại đó tăng Khi đó họ sẽ tăng tiêu dùng và đầu tư kéo theo sự phát triển của các khu vực lân cận Các khu lân cận được hưởng lợi ích vì sự tăng cầu hàng hóa tiêu dùng dẫn đến tiêu dùng nhiều hơn hàng hóa của các khu gần vùng cực; đầu tư trở lại hoặc chuyển giao công nghệ với chi phí thấp hơn vào các khu đó;…Hiệu ứng lan tỏa làm một vùng cực phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của những vùng xung quanh Mở rộng đối với trường hợp của các quốc gia Châu Á, các quốc gia đi sau có thể tận dụng hiệu ứng lan tỏa từ Nhật Bản và nhóm nhạn đầu đàn để phát triển
Ba nhóm nhạn Nhật Bản, các nước NICs (NIEs), ASEAN 4 là ba nhóm nhạn đi đầu Các nước thuộc nhóm này có các ngành công nghiệp chuyển biến một cách tương ứng với các lợi thế so sánh tương ứng; từ ngành sử dụng nhiều lao động sang ngành sử dụng nhiều tri thức và công nghệ Đáng chú ý hơn, các nước thuộc nhóm trên đều có cơ cấu công nghiệp tương tự như Nhật Bản nhưng độ trễ thời gian lớn hơn và đến một thời điểm nhất định, cơ cấu công nghiệp và thương mại vùng có tính bổ sung lẫn nhau cũng sẽ được hình thành Cũng có thể liên tưởng rằng những con nhạn có quỹ đạo bay giống nhau nhưng độ trễ của nhóm bay sau lớn hơn nhóm bay trước thì chúng sẽ tận dụng tốt hơn lợi thế mà nhóm đi trước mang lại Một số ví dụ chứng minh quan điểm này như Đài Loan và Hàn Quốc có hơn 80% cơ cấu xuất khẩu giống với con nhạn đầu đàn (Nhật Bản) đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhất khu vực và thế giới Một phần lý do
có thể giải thích như sau: những con nhạn đi sau này đã thu hút được đầu tư trực tiếp nước ngoài, tận dụng triệt để việc chuyển giao công nghệ từ Nhật Bản và rút kinh nghiệm từ chính sách phát triển kinh tế của con nhạn đầu đàn này
Các nước thuộc nhóm nhạn thứ tư (trung Quốc, Việt Nam, Lào,…) có cơ cấu công nghiệp khác với con nhạn đầu đàn hơn, thể hiện ở việc sử dụng nhiều lao động và ít hàm lượng khoa học công nghệ tương đối so với Nhật Bản Đối với những con nhạn có quỹ đạo bay không tương đồng này, hiệu ứng lan tỏa có phần yếu đi
Trang 12Theo mô hình đàn nhạn bay, khi một nền kinh tế có cơ cấu công nghiệp phát triển thì nền kinh tế đó sẽ chuyển giao các ngành công nghiệp già cỗi sang các nền kinh tế kém phát triển hơn trong khu vực Theo thời gian, các nền kinh tế chuyển đổi cơ cấu công nghiệp của mình từ các ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành đòi hỏi nhiều vốn và kỹ năng theo nguyên lý lợi thế so sánh Sự phát triển kinh tế của nước này như một đàn nhạn cùng bay Trong mô hình có một vấn đề cốt lõi là con đầu đàn phải bay nhanh (phải phát triển) để kéo theo sự phát triển của các con còn lại và sự phát triển tương hỗ là rất quan trọng vì nếu không sẽ có nhiều con lạc đàn và tụt lại phía sau
Có thể khái quát như sau: Nhật Bản là nước phát triển nhất và đã phát triển thành công một nền kinh tế “hoàn chỉnh” Trong số các nước NICs, kinh tế Hàn Quốc và Đài Loan cũng có xu hướng phát triển cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh và tương đối “đóng cửa” đối với đầu tư nước ngoài Chính phủ hai nước này khuyến khích thành lập các tập đoàn mạnh trong nước và tạo lập năng lực công nghệ nội sinh Các nước khác đều theo đuổi chính sách công nghiệp hội nhập và khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài Hầu hết các nước đều chuyển từ chiến lược công nghiệp hoá hướng nội sang công nghiệp hoá xuất khẩu Các nước Đông Nam Á đã trở thành “trung tâm lắp ráp” điện tử xuất khẩu lớn của thế giới Trong vài thập kỷ qua, các nước Đông Á được biết tới như một khu vực kinh tế năng động nhất và có tốc độ tăng trưởng cao nhất Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính ở Châu Á bắt đầu từ Thái Lan năm 1997 cũng đặt ra câu hỏi lớn về sự phát triển bền vững của khu vực Đông Á nói chung và mô hình đàn nhạn bay nói riêng
Trang 13CHƯƠNG II: Ý NGHĨA CỦA MÔ HÌNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA CÔNG NGHIỆP VÀ NGOẠI THƯƠNG CỦA CÁC
NƯỚC CHÂU Á
I Đối với quá trình Công nghiệp hóa của các nước Châu Á
1 Sự lan tỏa của công nghiệp tại Châu Á
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hầu hết các nước Đông Á chịu hậu quả nặng nề nhất là về kinh tế Tuy nhiên từ những nước có thu nhập và phát triển thấp, chỉ sau chưa đầy 20 năm tức
là từ những năm 1960 của thế kỉ XX, các nước Đông Á đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc chưa từng có trong lịch sử Kinh tế Đông Á vài thập kỉ qua đã có những thành tựu đáng tự hào như: 8 nền kinh tế có HPAE (high performing Asian economies) cao gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan tăng trưởng nhanh và nhất quán hơn so với các nhóm nước khác trên thế giới, tốc độ tăng trưởng trung bình của họ là 5,5% khá cao trong suốt 30 năm (1960-1990)
Sự gia tăng nhanh chóng GDP tại khu vực Đông Á phần lớn nhờ vào thành tựu của quá trình công nghiệp hóa Từ giữa thập niên 1960, tỷ trọng công nghiệp trong GDP của Nhật Bản
đã đạt đỉnh cao 35% và dừng lại ở đó trong một thời gian khá dài, trong lúc đó, Hàn Quốc duổi theo Nhật Bản với tốc độ rất nhanh Các nước ASEAN đặc biệt là Thái Lan và Malaysia với tốc
độ chậm hơn, cũng tích cực tham gia vào quá trình công nghiệp hóa tại khu vực này Từ cuối thập niên 1970, làn sóng công nghiệp Châu Á bắt đầu lan sang Trung Quốc
Đặc biệt, từ giữa thập niên 1980, làn sóng công nghiệp Châu Á bước sang giai đoạn mới,
có sự thay đổi lớn về chất, với tốc độ cao của công nghiệp hóa tại Trung Quốc và ASEAN, đồng thời sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp ở các nước diễn ra nhanh chóng Nhật Bản dần chuyển sang trạng thái sau công nghiệp nhưng vẫn duy trì sức cạnh tranh trong khu vực này nhờ chủ động chuyển dịch cơ cấu công nghiệp sang các ngành có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như
xe hơi và các sản phẩm điện tử cao cấp, các loại máy móc kết hợp nhiều loại công nghệ khác nhau Nhiều công ty đa Quốc gia Nhật Bản được thành lập ở các nước Châu Á Các nước NIEs như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore cũng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ các ngành sử dụng
Trang 14nhiều lao động sang các ngành có hàm lương cao về tư bản và công nghệ.Tại khu vực này, công nghiệp hóa tiến nhanh và cơ cấu ngày càng hướng vào những ngành có giá trị gia tăng cao Một nét nổi bật khác cho thấy quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở Đông Á là thành quả xuất khẩu cao của những nước HPAE Các quốc gia này đã tăng tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu thế giới 8% năm 1965 lên 13% năm 1960 và 18% năm 1990 chủ yếu nhờ xuất khẩu công nghiệp chế biến Cũng từ năm 1965-1990, Nhật Bản nổi lên là nươc xuất khẩu lớn nhất trong công nghiệp chế biến từ 8% đến 12% Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao của các nước Châu Á giảm theo chiều từ con nhạn đầu đàn đến những con nhạn thuộc phân nhóm sau
Nguồn: http://www.vcsj.net/nodes/show
Hình 4: Tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao của Châu Á
Tuy nhiên, các nền kinh tế đang phát triển của Đông Á (ngoại trừ Nhật Bản) còn phụ thuộc vào nguồn công nghệ bên ngoài nhiều Ngân hàng Thế giới đã cho thấy rằng hai phần ba sự tăng trưởng kỳ diệu của Đông Á trong quá khứ có nguồn gốc là lao động và tư bản chứ không phải
do công nghệ Các nước Đông Á phụ thuộc nhiều vào công nghệ bên ngoài Nhật Bản là nguồn cung cấp công nghệ chủ yếu cho các nước Đông Á trong thập kỷ 70 và 80 Thậm chí các nước công nghiệp hoá mới vẫn phải nhập nhiều linh kiện và chi tiết quan trọng từ Nhật Bản Sang thập kỷ 90 Mỹ đã trở thành nhà cung cấp thiết bị máy tính và viễn thông cho các nước Đông Á Chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) của các nước quá ít so với Nhật và Mỹ
và số lượng phát minh cũng tương tự
Trang 15Từ những năm 2000 đến nay, sau vài thập kỷ tăng trưởng ngoạn mục nhờ xuất khẩu các nước Đông Á vẫn tăng trưởng kinh tế khá ổn định và chắc chắn dựa vào kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa Công nghệ thông tin đã tạo cơ hội cho tất cả các nền kinh tế và làm thay đổi mối liên kết giữa các nền kinh tế thông qua hệ thống sản xuất quốc tế được trải rộng về mặt địa
lý và mối liên kết ngang trong hệ thống Trong khi các nước thuộc nhóm nhạn thứ 4 như Việt Nam, Lào,… còn hầu như tăng trưởng dựa vào lợi thế so sánh lao động rẻ thì các nước Đông Á khác đã chú trọng vào khả năng sáng tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao Các nước thuộc nhóm nhạn thứ 4 này cũng đang nỗ lực tiến hành công nghiệp hóa theo cơ cấu tích cực hơn như cách mà Nhật Bản đã làm vài thập kỉ trước Giữa bối cảnh tăng trưởng của một số nền kinh tế thế giới sụt giảm, bản báo cáo Triển vọng phát triển Châu Á năm 2017 được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) công bố ngày 5/4 cho thấy, giai đoạn 2017-2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Châu Á tăng 5,7%; 30/45 nền kinh tế đang phát triển ở châu lục này được dự báo tăng trưởng tích cực
Nhìn vào quá trình phát triển công nghiệp hóa ở các nước Châu Á, ta thấy có sự biến chuyển nhanh trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước theo hướng công nghiệp hóa, các nước đi sau đuổi theo các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách phát triển công nghiệp
2 Vai trò của con nhạn đầu đàn – Nhật Bản với quá trình công nghiệp hóa ở Châu Á
Đến cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, khi sự phát triển của Nhật Bản đạt đỉnh cao thì mô hình đàn nhạn bay trở nên có sự ảnh hưởng to lớn trong các chủ trương, đường lối chính trị, kinh tế đối ngoại của Nhật Bản và đã trở thành quan điểm chính thống về phát triển kinh tế vùng Thông qua một số hoạt động kinh tế như chuyển giao công nghệ, đầu tư nước ngoài, viện trợ ODA, Nhật Bản đã thể hiện triệt để vai trò con nhạn đầu đàn của mình tại khu vực Châu Á nói chung và Đông Á nói riêng
a) Đối với hoạt động chuyển giao công nghệ
Công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định quá trình công nghiệp hóa của các nước đang phát triển Trong bối cảnh công nghệ tiến bộ một cách nhanh chóng, nếu không có chuyển giao thì khoảng cách công nghệ giữa các nước phát triển và các nước đang
Trang 16phát triển ngày càng gia tăng Tuy nhiên từ những năm 1970 đến nay thì khoảng cách công nghệ giữa các nước thuộc các nhóm nhạn kế tiếp nhau trong khu vực được thu hẹp khá nhanh Khoảng thời gian 1970-1980 là giai đoạn để các nước thuộc nhóm nhạn sau leo lên được nấc thang công nghệ của các nước thuộc nhóm nhạn dẫn đầu Mười năm tiếp theo 1980-1990, khoảng cách giữa các nước NICs và Nhật Bản được rút ngắn lại Còn từ năm 1990-2000, khoảng cách đó được thu hẹp rất nhanh giữa 3 nhóm nhạn đầu tiên Điều đó chứng tỏ quá trình chuyển giao công nghệ
đã và đang diễn ra rất mạnh mẽ ở Châu Á
Nhật Bản không những là một quốc gia có nền tảng khoa học công nghệ hàng đầu thế giới
mà còn là nơi diễn ra hoạt động chuyển giao mạnh mẽ Từ những năm 1960-1970, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào thị trường công nghệ khu vực với tư cách là người cung cấp Hơn nữa, trong những thập kỷ vừa qua, tỷ trọng FDI của Nhật Bản đổ vào khu vực Châu Á cao hơn hẳn mức chung của toàn thế giới Đối với nhóm nhạn sau của mình là các nước ASEAN, con nhạn đầu đàn Nhật Bản tiếp tục tăng cường đầu tư FDI
Nguồn: TBS (Total Business Support)
Bảng 1: Tỷ trọng đầu tư FDI của Nhật Bản vào ngành chế tạo
Từ năm 1990 đến năm 1993, FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN tăng từ 7,8% đến 11,33% Đến năm 1994, tổng số vốn đầu tư này đã lên tới 5,13 tỷ USD Trong năm
2014, con số này đã lên đến 35,57 tỷ USD, tương đương với 12,5% tổng vốn đầu tư ra
Trang 17nước ngoài của Nhật Bản và 54% đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại Châu Á Đầu tư của Nhật Bản vào các ngành chế tạo và các ngành có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu FDI Điều này thể hiện Nhật Bản coi Châu Á, đặc biệt là các nước ASEAN là một trong những trung tâm chuyển giao công nghệ lớn của mình
Các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản bắt đầu mở rọng hoạt động kinh doanh vào khu vực Châu Á từ những năm 1960 Vào thời kỳ này, phạm vi đầu tư tập trung là các ngành
sử dụng nhiều lao động Bên cạnh việc đưa trang thiết bị vào các nước Châu Á, các nhà kinh doanh Nhật Bản còn chú ý đào tạo kỹ thuật cho lao động địa phương, truyền đạt những
kỹ năng có liên quan đến việc lắp ráp, sử dụng, sửa chữa và bảo trì các loại máy móc, thêm vào đó là nâng cao công nghệ quản lí cho các nước Châu Á tiếp nhận FDI và các nước có chi nhánh của công ty đa quốc gia đó Chính nhờ hoạt động của các MNC mà một dây chuyền chuyển giao công nghệ theo đúng thứ tự của mô hình Đàn nhạn bay được hình thành ở Châu Á Quá trình này được thể hiện thông qua việc các MNC lập nhà máy ở các nước trong khu vực khiến các nước này phát triển và chính các nước này lại theo cách tương tự chuyển giao những gì mình học được từ con nhạn đầu đàn cho các nước thuộc nhóm nhạn kém phát triển hơn Trong mô hình đàn nhạn bay, công nghệ không chỉ được chuyển giao mà còn được phối hợp tạo thành mạng lưới sản xuất khu vực với sự phân công lao động theo cấp độ phát triển công nghệ của từng nước hoặc nhóm nước Đầu tư FDI của Nhật Bản đxa góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế của các nước Châu Á, phân công hiệu quả lao động khu vực, tăng cường khả năng khai thác lợi thế so sánh của mỗi nước và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu
Trong quá trình chuyển giao công nghệ này, Nhật Bản cũng xác định rõ không phải công nghệ nào cũng chuyển giao cho các nước đồng thời mà còn phải tùy thuộc vào trình
độ phát triển của mỗi nước Hầu hết, các nhóm nhạn được chuyển giao theo thứ tự cấp độ tiên tiến của công nghệ Nhật Bản đã áp dụng triệt để mô hình đàn nhạn bay vào việc phân cấp trình độ phát triển của các nước Châu Á để chuyển giao công nghệ Theo đó, nhóm các nước công nghiệp mới NICs được chuyển giao công nghệ tiên tiến nhất, sau đó là các nước ASEAN 4 và đến Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar,…Quá trình chuyển
Trang 18giao này cũng góp phần rút ngắn thời gian và thúc đẩy thu hẹp khoảng cách công nghệ ở các nước Châu Á, từ đó góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệp hóa tại các nước này
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
FDI là nguồn vốn quan trọng trong việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa FDI không chỉ mang lại cho các nước tiếp nhận đầu tư ngồn tài chính mà còn kèm theo bí quyết công nghệ và quản lý như đã phân tích ở trên Bên cạnh đó, thông qua FDI, các quốc gia
có thể tận dụng mạng lưới tiêu thụ, sản xuất và thông tin thị trường nước nhận đầu tư cũng như tiếp cận với thị trường quốc tế Nhật Bản luôn là quốc gia có quy mô đầu tư FDI ra bên ngoài rất lớn trên thế giới, đặc biệt là những năm gần đây Số liệu của UNCTAD cho thấy kể từ năm 2011 đến nay, Nhật Bản đã đầu tư ra bên ngoài mỗi năm trên 100 tỉ USD, năm 2013 đạt mức cao nhất là gần 140 tỉ USD Quy mô đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản các năm 2013 và 2014 lần lượt là 135,7 tỷ USD và 113,6 tỷ USD Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2015 của UNCTAD, Nhật Bản hiện là nước đứng thứ 4 trong số 20 nền kinh tế
có mức đầu tư nước ngoài lớn nhất trên thế giới Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài trong hai năm 2013 và 2014 của Nhật Bản chiếm lần lượt 10,4% và 8,4% tổng lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của thế giới Xu hướng đẩy mạnh đầu tư ra bên ngoài hiện nay của các công ty Nhật Bản về cả quy mô vốn đầu tư và tốc độ tăng vốn đầu tư là rất đáng chú ý FDI vào các nước Châu Á rất lớn và chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu đầu tư ra ngước ngoài của Nhật Bản
Bắt đầu từ nửa cuối thập kỷ 80, FDI của Nhật vào các nước Châu Á tăng nhanh và có tác động lớn làm thay đổi cơ cấu các lĩnh vực kinh tế trong khu vực, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa của các nước thuộc nhóm nhạn đi sau này FDI của Nhật vào Châu Á đang dần có những bước chuyển dịch mới, từ các nền kinh tế NICs sang ASEAN sau đó sang Trung Quốc và các nước Châu Á khác Các nhà hoạch định chính sách của NICs, đặc biệt là Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore đã triển khai sử dụng triệt để FDI trong quá trình công nghiệp hóa công nghệ cao của họ NICs đã có những bước tăng trưởng tích cực do sự phát triển đồng thời của thương mại và FDI Tuy nhiên FDI của Nhật
Trang 19vào các nước này đạt đỉnh cao vào những năm 1980 và suy giảm vào những năm sau đó
do chi phí lương và tiền tệ tăng giá nhanh trong nội địa các nước này Vì thế, Nhật Bản bắt đầu coi các nước Châu Á khác ví dụ như Trung Quốc, ASEAN là điểm đến lý tưởng cho việc đầu tư Một nhân tố quan trọng để thu hút FDI của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng vào các nước ASEAN là sự nghiên cứu kinh nghiệm của các nước NICs trước đó và đưa ra các chiến lược tự do hóa thương mại và luồng FDI một cách hợp lý 1988-1989 Trung Quốc là nước Châu Á tiếp nhận nhiều nhất FDI từ Nhật Bản Tuy nhiên, theo báo cáo đầu tư 2014 của Tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư Nhật Bản (JETRO), các công
ty Nhật Bản đang chuyển hướng đầu tư ra khỏi Trung Quốc và tăng cường đầu tư vào các nước ASEAN Nguyên nhân là do chi phí nhân công ngày càng cao ở Trung Quốc và những căng thẳng ngày càng tăng giữa hai quốc gia về chủ quyền biển đảo Lượng vốn FDI của Nhật Bản đầu tư vào Trung Quốc đã giảm 32,5% xuống còn 9,1 tỷ USD Ngược lại, ASEAN với thị trường 600 triệu dân đã thu hút được lượng FDI cao kỷ lục từ Nhật Bản là 23,6 tỷ USD, tăng gấp 2,2 lần so với năm 2013
FDI của Nhật Bản theo mô hình đàn nhạn bay đã dịch chuyển những ngành công nghiệp theo hướng tích cực từ sử dụng nhiều lao động đến sử dụng nhiều công nghệ Nếu ngành A ở Nhật Bản bị mất lợi thế cạnh tranh do việc nần cao trình độ công nghệ trong các ngành công nghiệp thì các nước khác trong khu vực có những lợi thế so sánh này có thể hưởng lợi nhiều hơn do khoảng cách dẫn đến chi phí vận chuyển thấp, sự quen thuộc và mức độ tương đồng ở hai thị trường gần nhau sẽ làm giảm rủi ro đầu tư,…
c) Hoạt động viện trợ ODA
Các nền kinh tế phát triển trên thế giới nói chung và Châu Á nói riêng có mức độ tích lũy nội bộ nền kinh tế tương đối thấp, chỉ khoảng 15-30% GDP Trong khi đó, nhu cầu về vốn và kỹ thuật lại rất lớn Do sự thiếu hụt vốn ấy, ODA trở thành bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia này Từ những năm cuối thế kỷ XX, Nhật Bản
đã vươn lên trở thành nhà tài trợ ODA lớn nhất thế giới Về mặt địa lý, ODA của Nhật Bản chủ yếu tập trung vào các khu vực riêng biệt nhất là Châu Á
Trang 20Trong Sách Trắng của Bộ Ngoại giao Nhật Bản về vấn đề hỗ trợ phát triển chính thức, Tokyo nêu rõ mục tiêu bảo đảm những tuyến đường biển trọng yếu trong khu vực, trong
đó có những tuyến đường xung quanh các quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Đặc biệt, báo cáo trên đánh giá khối 10 quốc gia thành viên ASEAN là “cực kỳ quan trọng xét trên cả hai khía cạnh chính trị và kinh tế” Theo đó, với mục tiêu phát triển “dựa trên các giá trị phổ quát” ở Đông Á, bao gồm cả ASEAN, Nhật Bản sẽ hỗ trợ các nước này
để cải thiện an ninh hàng hải và xây dựng cơ sở hạ tầng Đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng, Nhật Bản dự định sẽ thúc đẩy cơ sở hạ tầng chất lượng cao và giúp biến châu Á trở thành “trung tâm tăng trưởng kinh tế toàn cầu”, đồng thời tạo công ăn việc làm và cung cấp máy móc công nghệ hiện đại cho người dân địa phương Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng
có kế hoạch mở rộng viện trợ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng thay đổi “không chỉ về mặt chất lượng mà cả số lượng” Dự kiến đến năm 2020, Nhật Bản sẽ cùng với Ngân hàng Phát triển châu Á mở rộng tổng vốn đầu tư vào khu vực Châu Á lên đến 110 tỷ USD
Điều này chứng tỏ Nhật Bản có mối quan hệ rất chặt chẽ với Châu Á, các khoản viện trợ này thúc đẩy những con nhạn bay sau theo kịp con đầu đàn và đàn nhạn ngày càng lớn mạnh Do đó mối quan hệ ở đây là mối quan hệ lợi ích hai chiều dẫn đến sự tăng cường hợp tác và phát triển toàn khu vực
II Đối với phát triển ngoại thương ở các nước Châu Á
1 Khuynh hướng tập trung mậu dịch trong nội bộ vùng
Trong vài chục năm kể từ 2006 trở về trước, dù không có những định chế thỏa thuận giữa các nước trong vùng song các nền kinh tế Châu Á vừa phát triển nhanh, vừa phụ thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động thương mại và đầu tư Công nghiệp hóa được tiến hành rất nhanh ở các khu vực này phản ánh tỷ lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong tổng giá trị xuất khẩu Theo thống kê mậu dịch của Liên Hợp Quốc, thị phần xuất khẩu của các nước trong vùng so với tổng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp của thế giới tăng hơn 2 lần
từ 18% năm 1980 đến 39% năm 2002 Đặc biệt là các nước mới công nghiệp hoá (NIEs),
Trang 21ASEAN và Trung Quốc đều tăng thị phần đáng kể Thống kê ngoại thương từ Bảng 2 cho thấy các nước Đông Á đã tăng mạnh kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước nội vùng với tốc độ cao hơn nhiều so với xuất khẩu ra toàn thế giới Chẳng hạn, từ năm
1992 đến 2002, tổng xuất khẩu của vùng Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lần trong khi xuất trong nội vùng tăng 2,6 lần Riêng Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng 4,4 lần nhưng sang các nước trong vùng Đông Á tăng 7 lần Con số tương tự của ASEAN là 2,7 lần và 3,2 lần Nhiều tư liệu khác cũng đã cho thấy khuynh hướng tập trung mậu dịch trong nội
bộ vùng Đông Á
Nguồn: Tính từ thống kê mậu dịch của Liên Hợp Quốc
Bảng 2: Ma trận kim ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của các nước Châu Á
Như vậy, cho đến nay, dù không có một định chế hợp tác, song kinh tế Đông Á trên thực tế đã được kết hợp thành một khối (de facto integration) và sự kết hợp này được thực hiện qua cơ chế thị trường (market-led integration)