Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các nhà lâm nghiệp. Nắm được đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng, nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền. Trên quan điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường. Việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có sự hài hoà của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng cả về kinh tế, xã hội và sinh thái. Như vậy, để kinh doanh rừng có hiệu quả thì một trong những công việc không thể thiếu là nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng. Mặc dù vậy, cho đến nay những nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng vẫn chưa thể bao quát cho mọi khu rừng, chưa thể làm nổi bật những điển hình và đặc thù của mọi loại hình rừng ở từng khu vực cụ thể, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi ở một số địa phương miền Bắc Việt Nam. Diện tích núi đá vôi toàn quốc là 1.152.200 ha, chiếm 3,5% diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó diện tích núi đá vôi có rừng là 619.064 ha, nhưng chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo (Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 1995). Rừng trên núi đá vôi vừa cung cấp nhiều lâm sản quý giá vừa có khả năng đảm bảo an toàn sinh thái và kiến tạo cảnh quan cho đất nước. Nó là nơi nuôi dưỡng nhiều loài động, thực vật quý hiếm đặc trưng mà ở núi đất không có hoặc không thể thay thế được như Nghiến, Trai lý, Hoàng đàn,... Một khi hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi bị tàn phá, khả năng tự phục hồi trở lại gặp rất nhiều khó khăn, đặc điểm này khác hẳn hệ sinh thái rừng núi đất. Trong thời gian qua, việc khai thác và sử dụng quá mức, công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả ở nhiều địa phương khiến các khu rừng, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Những tác động này đã ảnh hưởng lớn đến khả năng tồn tại của rừng, làm xáo trộn các quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên của rừng, diễn thế rừng đi theo chiều hướng tiêu cực bởi sự thiếu hụt những loài cây có giá trị, đất đai bị thoái hoá, rừng có sức sản xuất thấp và kém ổn định. Sự mất rừng đã kéo theo sự suy thoái về các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước. Tại nhiều khu vực hiện nay thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng. Từ đó, cuộc sống và sự phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư trong khu vực bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho công tác phát triển rừng. Những địa phương nghiên cứu của đề tài, nơi còn tồn tại các khu rừng trên núi đá vôi cũng đang trong tình trạng như trên. Vì vậy xác định các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp nhằm phục hồi và phát triển diện tích rừng trên núi đá vôi là một nhiệm vụ quan trọng. Tuy nhiên, để có được những biện pháp kỹ thuật tác động chính xác và hiệu quả thì những hiểu biết về đặc điểm lâm học, trong đó có đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên được xem là những cơ sở quan trọng nhất. Do thiếu những nghiên cứu cơ bản và hệ thống về cấu trúc và tái sinh rừng, ở nhiều nơi người ta không dám tác động vào rừng bằng bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào, hoặc nếu có thì hiệu quả của các biện pháp tác động không cao, gây nhiều hậu quả tiêu cực đối với rừng. Giải pháp kỹ thuật áp dụng cho loại hình núi đá vôi hiện nay chủ yếu là khoanh nuôi phục hồi tự nhiên mà ít có biện pháp tác động mang tính đột phá nhằm phát huy tối đa sức sản xuất cũng như các chức năng có lợi khác của rừng, đồng thời vẫn bảo tồn các nguồn gen và tính đa dạng sinh vật nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam được thực hiện nhằm góp phần bổ sung những hiểu biết mới về cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng, tính đa dạng sinh vật và hướng phát triển bền vững hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tại miền Bắc Việt Nam.
Trang 1Đặt vấn đề
Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của các nhà lâm nghiệp Nắm được đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng, nhà lâm nghiệp có thể chủ động trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp
kỹ thuật tác động chính xác vào rừng, góp phần quản lý và kinh doanh rừng lâu bền
Trên quan điểm sinh thái, đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường Việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh thái ổn định, có sự hài hoà của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của rừng cả về kinh tế, xã hội và sinh thái
Như vậy, để kinh doanh rừng có hiệu quả thì một trong những công việc không thể thiếu là nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng Mặc dù vậy, cho đến nay những nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng vẫn chưa thể bao quát cho mọi khu rừng, chưa thể làm nổi bật những điển hình và đặc thù của mọi loại hình rừng ở từng khu vực cụ thể, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi ở một
số địa phương miền Bắc Việt Nam
Diện tích núi đá vôi toàn quốc là 1.152.200 ha, chiếm 3,5% diện tích tự nhiên của cả nước, trong đó diện tích núi đá vôi có rừng là 619.064 ha, nhưng chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo (Viện Điều tra - Quy hoạch rừng, 1995) Rừng trên núi đá vôi vừa cung cấp nhiều lâm sản quý giá vừa có khả năng đảm bảo an toàn sinh thái và kiến tạo cảnh quan cho đất nước Nó là nơi nuôi dưỡng nhiều loài động, thực vật quý hiếm đặc trưng mà ở núi đất không có hoặc không thể thay thế được như Nghiến, Trai lý, Hoàng đàn, Một khi hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi bị tàn phá, khả năng tự phục hồi trở lại gặp rất nhiều khó khăn, đặc điểm này khác hẳn hệ sinh thái rừng núi đất
Trang 2Trong thời gian qua, việc khai thác và sử dụng quá mức, công tác quản
lý bảo vệ rừng kém hiệu quả ở nhiều địa phương khiến các khu rừng, đặc biệt
là rừng trên núi đá vôi giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Những tác động này đã ảnh hưởng lớn đến khả năng tồn tại của rừng, làm xáo trộn các quy luật cấu trúc và tái sinh tự nhiên của rừng, diễn thế rừng đi theo chiều hướng tiêu cực bởi sự thiếu hụt những loài cây có giá trị, đất đai bị thoái hoá, rừng có sức sản xuất thấp và kém ổn định Sự mất rừng đã kéo theo sự suy thoái về các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước Tại nhiều khu vực hiện nay thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng Từ đó, cuộc sống và sự phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư trong khu vực bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho công tác phát triển rừng Những địa phương nghiên cứu của đề tài, nơi còn tồn tại các khu rừng trên núi đá vôi cũng đang trong tình trạng như trên
Vì vậy xác định các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp nhằm phục hồi và phát triển diện tích rừng trên núi đá vôi là một nhiệm vụ quan trọng Tuy nhiên, để có được những biện pháp kỹ thuật tác động chính xác và hiệu quả thì những hiểu biết về đặc điểm lâm học, trong đó có đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên được xem là những cơ sở quan trọng nhất
Do thiếu những nghiên cứu cơ bản và hệ thống về cấu trúc và tái sinh rừng, ở nhiều nơi người ta không dám tác động vào rừng bằng bất kỳ biện pháp kỹ thuật nào, hoặc nếu có thì hiệu quả của các biện pháp tác động không cao, gây nhiều hậu quả tiêu cực đối với rừng Giải pháp kỹ thuật áp dụng cho loại hình núi đá vôi hiện nay chủ yếu là khoanh nuôi phục hồi tự nhiên mà ít
có biện pháp tác động mang tính đột phá nhằm phát huy tối đa sức sản xuất cũng như các chức năng có lợi khác của rừng, đồng thời vẫn bảo tồn các nguồn gen và tính đa dạng sinh vật nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam" được thực hiện nhằm góp phần bổ sung
Trang 3những hiểu biết mới về cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng, tính đa dạng sinh vật và hướng phát triển bền vững hệ sinh thái rừng trên núi
đá vôi tại miền Bắc Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
- Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng:
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp
Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã được bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các tác động xử lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới Nhiều phương thức lâm sinh ra đời
và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải thiện tái sinh (RIF, 1927), phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945), T.S.S của Nigeria (1944, 1961),
Baur G.N (1962) [21] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó
đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh
áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Theo tác giả, các phương thức xử lý đều có hai mục tiêu rõ rệt: "Mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đào thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó" Từ đó tác giả này đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa
Catinot (1965) [28] nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
Trang 5Odum E.P (1971) [47] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ
sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans, J (1984) [44] xác định, có tới 70-100 loài cây gỗ trên 1ha, nhưng hiếm có loài nào
chiếm hơn 10% tổ thành loài
- Về mô tả hình thái cấu trúc rừng:
Kraft (1884) [10] đã tiến hành phân chia những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi
Richards P.W (1952) [48] đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả này, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có ba tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành
cây "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi Richards (1952) [48] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6-12m, 12-18m, 18-24m, 24-30m, 30*36m và 36-42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E.P (1971) [47] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto - Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
- Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng:
Trang 6Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã sử dụng các công thức và hàm toán học để mô hình hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc của rừng
Raunkiaer (1934) [33] đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau Theo đó, công thức phổ dạng sống chuẩn được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thể của từng dạng sống so với tổng số cá thể trong một khu vực Để biểu thị tính đa dạng về loài, một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài như Simpson (1949), Margalef (1958), Menhinik (1964), và để đánh giá mức độ phân tán hay tập
trung của các loài, đặc biệt là lớp thảm tươi, Drude đã đưa ra khái niệm độ nhiều
và cách xác định Đây là những nghiên cứu mang tính định lượng nhưng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên được đề tài lựa chọn và vận dụng
Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Rollet B L (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Belly (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông, Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là
đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình
thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này, khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của nó,
từ đó hình thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái
Tóm lại, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên, chưa thấy một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm
Trang 7cấu trúc rừng tự nhiên trên núi đá vôi Cấu trúc rừng trên núi đá vôi thường được
đề cập cùng với các đối tượng rừng khác nên chưa làm nổi bật những đặc điểm khác biệt về cấu trúc của loại rừng này so với các loại rừng khác Do đó, cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật cho rừng trên núi đá vôi vẫn
còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Do sự phát triển công nghiệp thế kỷ XIX, trong ngành lâm nghiệp của thế giới đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng suất cao nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế Nhưng sau thất bại về tái sinh nhân
tạo ở Đức và một số nước nhiệt đới mà Beard (1947) [21] đã gọi là "bệnh sởi trồng rừng" do thiếu sinh tố sinh thái học, nhiều nhà khoa học đã nghĩ tới việc
quay trở lại với tái sinh tự nhiên
Khi đề cập vấn đề điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1 đến 4 m2 Do diện tích ô điều tra nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng
Trong phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945) [21], nhiệm
vụ đầu tiên được ghi trong lịch trình là điều tra tái sinh theo ô vuông 1/1000 mẫu Anh (4 m2), để biết xem tái sinh có đủ hay không và sau đó mới tiến hành các tác động tiếp theo
Richards P.W (1952) [48] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) [46] đã đề nghị một phương pháp
"điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh
Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), có nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung
có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể
Trang 8Van Steenis (1956) [50] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy cả ở rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N., (1962) [21] cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng Ngoài ra, các tác giả nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy đủ tất cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp
Như trên đã đề cập, mục tiêu thứ hai của các tác động xử lý ở rừng mưa nhiệt đới là tạo lập tái sinh bằng mọi cách nhằm thực hiện tái sinh thành công Việc áp dụng hàng loạt các biện pháp kỹ thuật nhằm gây dựng và duy trì lớp cây tái sinh trong tình trạng lành mạnh, đưa lớp cây tái sinh này tới tuổi thành thục được coi là nền tảng của một phương thức lâm sinh
Tón lại, các công trình nghiên cứu được đề cập trên đây phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng tự nhiên nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng Đó là những cơ sở để lựa chọn cho việc nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng trong đề tài này Việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên là việc làm hết sức quan trọng nên với từng đối tượng cụ thể, cần
có những phương pháp nghiên cứu phù hợp
1.1.3 Một số nghiên cứu về rừng trên núi đá vôi:
Trang 9Viện Lâm nghiệp Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Tông
dù, Mắc rạc (Dầu choòng), Xoan nhừ, Lát hoa, Nghiến, trong thời kỳ
1985-1998 Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học
ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và những hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm
1.2 ở Việt Nam
1.2.1 Phân vùng núi đá vôi Việt Nam
Theo kết quả điều tra năm 1995 (Viện Điều tra - Quy hoạch rừng) [39], tổng diện tích núi đá vôi toàn quốc là 1.152.200 ha, chiếm 3,5% diện tích toàn quốc và tập trung chủ yếu ở ba vùng là:
a) Vùng Đông Bắc: Tổng diện tích núi đá vôi vùng này là 639.900ha,
chiếm 55,54% tổng diện tích núi đá vôi toàn quốc Theo địa hình và cấu tạo địa chất vùng này được chia thành 5 vùng nhỏ: Bắc Sơn, Bắc Hà, Đồng Văn - Trùng Khánh, Quản Bạ - Phia Phương và vùng quần đảo
b) Vùng Tây Bắc: Chủ yếu là dạng địa hình núi và cao nguyên đá vôi, có
các vùng cao nguyên đá vôi chính là: Tả Phình - Sìn Chải, Sơn La, Mộc châu với diện tích 229.700ha, chiếm 19,94%
c) Vùng Trường Sơn Bắc: Điển hình là vùng núi đá vôi Kẻ Bàng - Khe
Ngang kéo dài Đây là vùng núi đá vôi rộng lớn, hiểm trở và ít bị tác động của con người với diện tích 249.800ha, chiếm 21,68%
Dựa vào phân bố địa lý và cấu tạo của núi đá vôi có thể phân chia theo các vùng sinh thái:
1 Vùng Cao Bằng - Lạng Sơn (Vùng Đông Bắc): Diện tích núi đá vôi
phân bố tập trung Địa hình núi trung bình và thấp, bao gồm một số cao nguyên
đá vôi khối uốn nếp có hoạt động Karst là kiểu địa mạo chủ yếu Hệ thực vật đặc trưng là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa
Trang 102 Vùng Tuyên Quang - Hà Giang (vùng Trung tâm): Núi đá vôi tạo thành
từng khối lớn Độ cao vùng này lớn hơn vùng Cao Bằng - Lạng Sơn Hệ thực vật
ở đây chịu nhiều ảnh hưởng của luồng thực vật Hymalaya - Vân Nam - Quí Châu
3 Vùng Tây Bắc - Tây Thanh Hoá - Nghệ An (Vùng Tây Bắc): Đây là
vùng tương đối rộng lớn và kéo dài, chịu ảnh hưởng của các chế độ khí hậu khác nhau nên có đầy đủ các vành đai từ nhiệt đới, á nhiệt đới Tiêu biểu là các loài của ngành Hạt trần như Pơ mu, Thông Pà cò, Thông nàng, Thông tre, ngoài ra còn xuất hiện một số loài đặc trưng của vùng phía Nam như Chò chỉ, Táu nước, Sang lẻ…
4 Vùng Trường Sơn Bắc: Núi đá vôi ở đây chủ yếu tập trung ở Kẻ Bàng
và Khe Ngang, là nơi gặp gỡ của hai luồng thực vật từ Hymalaya qua Vân Nam xuống và từ Indonesia lên Do vậy, thực vật trên núi đá vôi vùng này có những nét khác biệt, thành phần thực vật chủ yếu là các họ phân bố rộng ở rừng nhiệt đới như họ Xoan, họ Đậu, họ Mộc lan, họ Dầu, họ Bồ hòn, họ Dâu tằm, họ Thị
1.2.2 Lược sử nghiên cứu thảm thực vật rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam
Trong quá trình phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [33] đã xem xét loại hình thực vật trên núi đá vôi Theo đó rừng trên núi
đá vôi được xác định thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu (Đk) và nằm trong các kiểu thảm thực vật sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới (Rkx)
Đây là kiểu thảm thực vật chủ yếu của rừng trên núi đá vôi với ưu hợp
Nghiến + Trai lý (Burretiodendron hsienmu + Garcinia fragraoides) xuất hiện ở
những lèn, sườn núi đá vôi có độ dốc lớn, đặc trưng của những cảnh quan Karst,
có nhiều khoảng trống lớn để lộ đá gốc, sườn núi thường lởm chởm thấp dưới 700m thuộc một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Ninh Bình) Tuy nhiên do quá trình khai thác và sử dụng quá mức nên diện tích rừng nguyên sinh hoặc ít bị tác động còn lại rất ít, thường nằm ở các VQG và các KBTTN như Cúc Phương, Pù Luông, Loại thực bì này niện nay chủ yếu là những khu rừng thứ sinh trên núi đá vôi, phân bố chủ yếu ở vùng gần dân cư, ven các trục đường, nơi mà việc khai thác vận chuyển gặp nhiều thuận lợi Tại nhiều nơi, do khai thác mạnh và cháy, rừng đã
Trang 11trở nên nghèo kiệt, còn ít những loài cây gỗ, tổ thành rừng đã thay đổi, các loài cây mọc nhanh chiếm ưu thế như Mạy tèo, Ô rô, Ba bét, Ràng ràng mít, Chẩn,
Do vậy, kiểu thảm thực vật này còn được xác định là kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất đá vôi xương xẩu
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới (Rkn):
Rừng trên núi đá vôi ở đây có sự kết hợp của nhiều loài cây khác nhau như Nghiến + Trai lý + Chò nhai + Ô rô cùng các loài rụng lá như Trường sâng, Xoan
nhừ, Gạo, Dâu da xoan, Lòng mang, Cui rừng… ở một số nơi thuộc các tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn và Quảng Bình Loại thảm thực vật này thường gặp trên những sườn núi đá vôi dốc đứng hoặc tại các thung lũng núi đá vôi với đất dốc tụ, thấp ẩm, thực vật phát triển cao, lớn gần giống với thực vật trên núi đất
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rka):
Kiểu rừng này phân bố ở đai cao trên 700m: Chợ Rã (Bắc Cạn), Nguyên Bình (Cao Bằng), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang), và vùng Tây Bắc Đặc điểm nổi bật là thực vật thuộc ngành Hạt trần có tỷ lệ tương đối lớn và tập trung, có các loài như Thông Pà cò, Sam kim hỷ, Trắc bách Quản bạ, Ở độ cao 1000m thuộc
vùng Tây Bắc, xuất hiện ưu hợp Kiêng + Heo (Burretiodendron brilletti + Croton pseudoverticillata) thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất rendzina giàu
chất dinh dưỡng
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rkh)
ở Hà Giang, Tuyên Quang và Ninh Bình ở độ cao dưới 700m, với ưu hợp
Nghiến + Kim giao + Hoàng đàn (Burretiodendron hsienmu + Podocarpus latiofolia + Cupressus terulus) cùng một số loài cây thuộc các họ Thích, Dẻ,
Ngoài ra, tại những khu vực sau hoạt động nương rãy hoặc những khu rừng đã bị khai thác nhiều lần đến cạn kiệt ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Hoà Bình, Quảng Bình , xuất hiện một dạng thực bì có diện tích tương đối lớn với những loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo, Xẻn
gai, Dạng thực bì này được gọi là Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi
Trần Ngũ Phương (1970) [25], khi đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam
đã xếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng
nguyên sinh 1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) đai rừng á
Trang 12nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3 kiểu phụ một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria calcarea), Hoàng đàn (Cupressus terulus) và Kim giao (Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế
Ngoài ra, Theo Nguyễn Bá Thụ (1995) [32], rừng trên núi đá vôi ở Cúc
Phương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng trên đất thấp (dưới 500m so với mặt nước biển) thoát nước phong hoá từ đá vôi và quần hệ phụ này bao gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chính
tham gia gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai,
Re đá, Côm lá lớn, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và Ô rô
Thông qua kết quả phân loại thảm thực vật rừng trên núi đá vôi của một
số tác giả trên đây, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Trần Ngũ Phương (1970) chỉ tiến hành phân loại rừng trên núi đá vôi ở trạng thái nguyên sinh, nên ở kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
Nghiến (Burretiodendron hsienmu) là loài cây luôn giữ vai trò ưu thế Trong
thực tế, phần lớn các diện tích rừng trên núi đá vôi hiện nay đã bị tác động, số lượng tầng và loài cây ưu thế ở các kiểu rừng này đã thay đổi Vì vậy, cách phân chia của Trần Ngũ Phương không phù hợp với những đối tượng rừng nghiên cứu của đề tài
Hệ thống phân loại rừng của UNESCO (1973) mặc dù khá chi tiết và dễ dàng vận dụng nhưng chỉ thích hợp cho việc phân loại thảm thực vật trong phạm
vi một vùng khí hậu như phân loại thảm thực vật cho một VQG, KBTTN Hơn nữa hệ thống phân loại này không đề cập đến thảm thực vật nhân tạo nên nó thường được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về tính đa dạng của thực vật
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được xây dựng trên cơ sở học thuyết về hệ sinh thái của Tansley A.P (1935) và học thuyết
sinh địa quần học của Sucasev (1957) theo nguyên lý "sinh thái phát sinh thảm thực vật" Do vậy, lý luận của phân loại này hoàn toàn chặt chẽ và đáp ứng được
thực tiễn, vì khả năng áp dụng dễ dàng Để xác định một kiểu rừng chính, theo Thái Văn Trừng, chỉ cần dựa vào 4 tiêu chuẩn là dạng sống ưu thế, tàn che, hình
thái sinh thái của lá và trạng mùa của tán lá của tầng cây ưu thế sinh thái Mặt
khác, hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng có thể áp dụng cho tất cả các loại thảm thực vật dù đó là rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động, thậm chí
Trang 13là những khu rừng nhân tạo do con người xây dựng Vì những lý do trên, chúng tôi đã sử dụng các tiêu chuẩn phân loại rừng của Thái Văn Trừng để tiến hành xác định các kiểu phụ và các QXTV rừng ở các địa phương nghiên cứu của đề tài
1.2.3 Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng
1.2.3.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng
Trong vòng vài chục năm qua, nghiên cứu về cấu trúc rừng là một trong những nội dung quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp Tuy nhiên, cấu trúc rừng là một vấn đề có nội dung phong phú và đa dạng, nên ở đây, chỉ những đặc trưng cấu trúc có liên quan đến đề tài mới được đề cập
Trần Ngũ Phương (1970) [25] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật phát triển của các
hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất
Thái Văn Trừng (1978) [33] đã tiến hành phân chia thực vật rừng nhiệt đới thành 5 tầng: tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Việc áp dụng phương pháp vẽ "biểu
đồ phẫu diện" sau khi đã đo tính chính xác vị trí, chiều cao và đường kính thân
cây, bề rộng và bề dày tán lá của toàn bộ những cây gỗ (tầng A) trên một dải hẹp
điển hình của khu tiêu chuẩn theo Richards và Davis (1934) đã thể hiện khá rõ
sự phân chia theo tầng của thực vật trong hệ sinh thái rừng Bên cạnh đó, tác giả này còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam,
đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che nền đất đá của tầng ưu thế, hình thái sinh thái lá và trạng mùa của tán lá Như vậy, các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo
quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Nguyễn Văn Trương (1983) [34] khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét sự phân tầng theo hướng định lượng, phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, Vũ Đình Phương (1987) [27] đã nhận định, việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, nhưng chỉ trong trường hợp rừng
có sự phân tầng rõ rệt (khi đã phát triển ổn định) mới sử dụng phương pháp định
Trang 14lượng để xác định giới hạn của các tầng cây Đào Công Khanh (1996) [16] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất một số biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng Nguyễn Anh Dũng (2000) [8] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cho hai trạng thái rừng là IIA và IIIA1 ở lâm trường Sông Đà - Hoà Bình Các nghiên cứu này sẽ được đề tài xem xét và lựa chọn để vận dụng vào các nội dung nghiên cứu
Trong những năm gần đây, do có sự hỗ trợ của các phần mềm tính toán, nên có rất nhiều công trình nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng, nổi bật là các công trình của các tác giả sau: Đồng Sĩ Hiền (1974) dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu độ thon cây đứng ở Việt Nam Nguyễn Hải Tuất (1975) đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng
Như vậy, trong thời gian qua, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã
có những bước phát triển nhanh chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài Bởi lẽ bản chất của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh là giải quyết những mâu thuẫn sinh thái phát sinh trong quá trình sống giữa các cây rừng và giữa chúng với môi trường Muốn đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học
và sản lượng Mặt khác, các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên thường ít đề cập cụ thể đến đối tượng là loại rừng trên núi đất hay trên núi đá, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi Vì vậy, nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng trên núi đá vôi không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc nhằm đề xuất những biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý
1.2.3.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Trang 15Ở nước ta, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên Một số kết quả nghiên cứu
về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng, Phùng Ngọc Lan (1964) [18] đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) [14] đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu với mật độ tái sinh tương ứng là trên 12.000 c/ha, 8.000-12.000 c/ha, 4.000-8.000 c/ha; 2.000-4.000 c/ha và dưới 2.000 c/ha Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên,
Vũ Đình Huề (1975) [15] đã tổng kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Những nhận xét trên sẽ được đề tài vận dụng trong việc đánh giá mật độ tái sinh rừng và so sánh tổ thành tầng cây tái sinh với tổ thành tầng cây cao tại các QXTV nghiên cứu để có thể nhận biết chiều hướng phát triển của rừng trong tương lai
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [33] đã nhấn mạnh tới ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển của cây tái sinh Theo tác giả, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh lẫn rừng thứ sinh
Nguyễn Văn Trương (1983) [34] đã đề cập mối quan hệ giữa cấu trúc QXTV rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Điều này sẽ được đề tài
Trang 16vận dụng trong nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, đặc biệt là độ tàn che của tán rừng
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh đã được Phạm Đình Tam (1987) [30] làm sáng tỏ Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới, nhưng đối với rừng núi đá vôi với nền đất đá xương xẩu, liệu tại những chỗ trống trong rừng, hiện tượng tái sinh này có gì khác biệt
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) [5] đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Trần Cẩm Tú (1998) [29] tiến hành nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh và đã rút ra kết luận, áp dụng phương thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên, các biện pháp kỹ thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng, phải chú trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp mở tán rừng, chặt cây gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến hành dọn vệ sinh rừng
Những kết luận trên đây có thể sử dụng để tham khảo cho những đề xuất biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng khi nghiên cứu phân bố cây tái sinh theo chiều cao và phân bố cây tái sinh trên mặt đất ở các QXTV rừng trên núi đá vôi trong đề tài này
Trần Ngũ Phương (2000) [26] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng
tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng
tự nhiên như sau: "Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng
Trang 17thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau, dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi" Tuy nhiên, sau một thời gian
nghiên cứu tìm hiểu quy luật phát triển của các loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bảng cân đối giữa một bên là mặt thoái hoá và một bên là mặt phục hồi tự nhiên,
tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: "mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hoá về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn đảm bảo cho đất nước một độ che phủ thích hợp, chúng ta không thể trông cậy vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ có thể đi theo con đường tái sinh nhân tạo,
và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án"
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác
1.2.4 Một số nghiên cứu khác về rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam
Viện Điều tra - Quy hoạch rừng (1965) [9] cùng với Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Viện Dược liệu, đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạng sinh vật, công tác quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao Bằng và một số địa phương khác
Trong hai năm 1967 và 1968, Nguyễn Vạn Thường và đội 9 Lâm học - Viện Điều tra Quy hoạch (Bộ Lâm nghiệp) thực hiện điều tra chuyên đề rừng núi
đá vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra nhận xét khái quát: sự biến đổi các đặc trưng lâm học của các quần hệ rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam
có sự sai khác rõ rệt về cấu trúc (ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng địa hình chủ yếu
Báo cáo "Đặc điểm tự nhiên rừng núi đá vôi Na Hang, Tuyên Quang"
(1968) [9] đã đưa ra số liệu về diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng núi đá vôi đồng thời xác định các đặc điểm chủ yếu của một số loài cây trên núi đá vôi như
Trang 18Nghiến, Trai, Tre trinh, Đao, Báng, và tình hình sâu bệnh hại trong vùng Ngoài ra, báo cáo này còn đưa ra một số nhận định về tái sinh của Nghiến, Trai lý
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về rừng núi đá vôi trên đây chủ yếu được thực hiện dưới dạng mô tả, thống kê tài nguyên và đưa ra một số kiến nghị bảo vệ và kinh doanh rừng, chưa đi sâu phân tích đặc điểm cấu trúc và đánh giá tái sinh cũng như chiều hướng diễn thế của rừng trên núi đá vôi ở từng địa phương cụ thể Mặt khác, những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của điều kiện hoàn cảnh núi đá vôi sau khi rừng bị khai thác đã chỉ ra mức độ nghiêm trọng của việc mất rừng và nhất thiết phải có biện pháp duy trì các diện tích rừng hiện có và khôi phục diện tích rừng đá vôi đã mất
Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn [24] Tác giả này đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 tác giả tiến hành gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên, do còn đang trong thời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc
Tại Phúc Sen, Cao Bằng, người dân địa phương (chủ yếu là người Nùng Inh) đã tiến hành trồng rừng trên đất đá vôi bằng loài Mắc rạc Kết quả cho thấy, khả năng thành rừng khi trồng loài cây này rất cao, góp phần che phủ những diện tích đất trống và cung cấp chất đốt cho bà con Đây được xem là những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi
Tóm lại, trong thời gian qua, nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh rừng đã trở thành vấn đề trọng tâm của các nghiên cứu về rừng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên và đề xuất các biện pháp kỹ thuật hợp lý chủ yếu cho đối tượng rừng núi đất hoặc núi đá khác Còn với rừng trên núi đá vôi, ít có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện Vì vậy, nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên các QXTV rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương miền Bắc Việt Nam được thực
Trang 19hiện trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những kết quả của các tác giả đi trước Thông qua đó, đề tài sẽ đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phù hợp góp phần phục hồi và phát triển hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở các địa phương nghiên cứu
Trang 20CHƯƠNG 2 Mục tiêu, giới hạn, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Phạm vi và giới hạn của đề tài
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số QXTV rừng tự nhiên điển hình trên núi đá vôi hiện có tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam
2.2.2 Giới hạn vấn đề nghiên cứu
2.2.2.1 Về nội dung:
- Xác định các QXTV rừng tự nhiên trên núi đá vôi hiện có ở ba địa phương nghiên cứu theo hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1978)
- Về nghiên cứu cấu trúc rừng:
Cấu trúc rừng tự nhiên rất đa dạng, phức tạp, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc sau: tổ thành, mật độ, tầng thứ, độ tàn che, mức độ thường gặp, mức độ thân thuộc và một số chỉ tiêu đa dạng loài của tầng cây gỗ Ngoài ra đề tài còn tiến hành xác định các dạng sống của thực vật trên núi đá vôi
ở ba địa phương
- Về nghiên cứu tái sinh rừng: Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh của các loài cây gỗ trong giai đoạn cây mạ và cây con dưới tán rừng thông qua các chỉ tiêu: tổ thành, mật độ, chất lượng, nguồn gốc, tỷ lệ cây triển vọng, phân bố cây tái sinh theo chiều cao, phân bố cây tái sinh trên mặt đất Việc nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên của các QXTV rừng ở ba địa phương được tiến hành với một số nhân tố sau: độ tàn che của tầng cây cao, độ che phủ của cây bụi, thảm tươi và độ dốc mặt đất
2.2.2.2 Về địa điểm:
Trang 21Căn cứ vào phân vùng núi đá vôi của Việt Nam, địa điểm nghiên cứu là
ba xã
nằm ở ba vùng có diện tích rừng trên núi đá vôi lớn nhất miền Bắc Việt Nam, đó là:
- Xã Đa Phúc, huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (vùng Tây Bắc)
- Xã Tự Do, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng (vùng Đông Bắc)
- Xã Tân Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình (Trường Sơn Bắc)
2.2.2.3 Về đề xuất biện pháp tác động
Đề tài chỉ đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi, các giải pháp kinh tế xã hội không thuộc phạm vi của đề tài này
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xác định các QXTV rừng trên núi đá vôi ở ba địa phương nghiên cứu 2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc QXTV rừng trên núi đá vôi ở ba địa phương
Cấu trúc tổ thành và mật độ tầng cây cao các QXTV rừng
Mức độ thường gặp của các loài cây trong QXTV rừng
Mức độ thân thuộc của các loài cây trong QXTV rừng
Tổ thành cây tái sinh
Mật độ và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng
Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
Phân bố cây tái sinh theo chiều cao
Phân bố cây tái sinh trên mặt đất
Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên
2.3.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi ở ba địa phương
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 222.4.1 Quan điểm phương pháp luận
Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được tiến hành trên
quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tức là sự hình thành những kiểu thảm
thực vật, những xã hợp thực vật dưới tác động của những nhóm nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh bên ngoài quần thể
Quần xã (community) là một tập hợp các quần thể sinh vật cùng sống
trong một vùng hoặc sinh cảnh xác định, được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, liên hệ với nhau do những đặc trưng chung về sinh thái học mà các thành phần cấu thành quần xã (quần thể, cá thể ) không có
Quần xã thực vật rừng là một QXTV (plant community) mà trong đó cây
rừng (cây gỗ hoặc tre nứa) chiếm ưu thế, có độ tàn che trên 0,3 (theo tiêu chuẩn của FAO) [40]
Ưu hợp thực vật (dominion) là tập hợp những cá thể cây rừng mà độ ưu thế của các loài trong tầng cây lập quần ở mức độ tương đối, nghĩa là số cá thể của một nhóm gồm dưới 10 loài chiếm 4050% tổng số cá thể hoặc tổng thể tích (Thái Văn Trừng, 1978) [33] Một ưu hợp thực vật mà do những cây gỗ hoặc tre nứa chiếm ưu thế, có độ tàn che trên 0,3 được xem như là một QXTV rừng Do vậy, trong đề tài này, những ưu hợp thực vật gồm những cây gỗ có độ tàn che trên 0,3 được gọi là QXTV rừng Việc nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc và tái sinh của các ưu hợp trong các kiểu phụ đồng nghĩa với việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh của các QXTV rừng tương ứng
Cấu trúc QXTV rừng là một khái niệm dùng để chỉ qui luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [19] Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
Cấu trúc của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên,
là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Do đó, cấu trúc rừng phản ánh mối quan hệ giữa sinh vật với nhau và giữa sinh vật với môi trường, ở đây là mối quan hệ giữa cây rừng với cây rừng và giữa cây rừng với hoàn cảnh rừng Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong
Trang 23của hệ sinh thái rừng Trên quan điểm sản lượng thì cấu trúc rừng phản ánh sức sản xuất của rừng theo điều kiện lập địa
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây
gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già cỗi Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng đáp ứng mục tiêu đề ra
Vì vậy việc nghiên cứu các nhân tố cấu trúc cũng như ảnh hưởng của chúng đến lớp cây tái sinh là việc làm cần thiết
Quá trình nghiên cứu của đề tài được thể hiện qua sơ đồ sau:
Thu thập thông tin cơ bản
- Điều kiện khí hậu - thổ nhưỡng
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Thông tin về diện tích đất đai, rừng núi đá vôi
Điều tra khảo sát tổng thể ba
địa phương nghiên cứu
phân loại đối tượng nghiên cứu
Trang 242.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.2.1 Ngoại nghiệp
2.4.2.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu cơ bản
Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội các địa phương cùng các tài liệu tham khảo về các vấn đề nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
2.4.2.1.2 Điều tra tổng thể, xác định đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, chúng tôi tiến hành lập các tuyến điều tra Các tuyến này đảm bảo bao quát toàn bộ các dạng địa hình và các QXTV rừng ở từng địa phương Trong quá trình điều tra theo tuyến, sơ bộ xác định các QXTV rừng dựa vào mức độ phong phú và kích thước của các loài cây bắt gặp Kết quả khảo sát cho thấy, ở xã Đa Phúc - Hoà Bình xuất hiện 6 QXTV (với 4 QXTV rừng); ở Tân Hoá - Quảng Bình xuất hiện 6 QXTV (với 4 QXTV rừng) còn ở Tự Do - Cao Bằng chỉ xuất hiện 4 QXTV rừng
2.4.2.1.3 Phương pháp thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn
*Lập ô tiêu chuẩn
Với mỗi QXTV rừng được xác lập, đề tài tiến hành lập 2 hoặc 3 ÔTC điển hình tạm thời và thu thập những thông tin theo phương pháp điều tra lâm học, số lượng ÔTC của mỗi quần xã được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.1: Thống kê số lượng ÔTC nghiên cứu của đề tài
Số lượng ÔTC
Diện tích ÔTC (m2)
Trang 25Tân Hoá -
Quảng Bình
Mun + Vải guốc + Chò nhai Lộc mại + Kháo vàng+ Sảng nhung Táu mật + Mạy tèo + Chò nhai Mạy tèo + Chò nhai
Khi tiến hành điều tra, với các quần xã có tổ thành tương đối thuần nhất
và địa hình chia cắt, chúng tôi chỉ tiến hành lập các ÔTC có diện tích 500m2 Mỗi quần xã lập 2 ÔTC, nhưng quần xã Nghiến + Đỏm trơn + Kháo vàng có diện tích lớn và tổ thành thực vật tương đối phức tạp nên chúng tôi lập 3 ÔTC
*Phương pháp điều tra tầng cây gỗ:
Tại các ÔTC tiến hành mô tả các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của đề tài như độ dốc mặt đất, hướng phơi, độ cao , sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao:
- Đường kính thân cây (D1,3, cm) được đo bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm, đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
- Chiều cao vút ngọn (HVN, m) và chiều cao dưới cành (HDC, m) được đo bằng thước Blumeleiss với độ chính xác đến dm HVN của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, HDC được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước dây có độ chính xác đến
dm, đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao (biểu 01, phụ lục)
*Xác định độ tàn che
Sử dụng phương pháp điều tra theo điểm bằng máy xác định độ tàn che KB-2 Trên mỗi ÔTC, xác định 100 điểm phân bố đều, nhìn vào kính của máy
đo cường độ xác định độ tàn che nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín, thì điểm
đó ghi số 1, nếu không có gì che lấp, ghi số 0 và nếu những điểm còn nghi ngờ thì ghi 1/2 Ngoài ra, độ tàn che của từng QXTV còn được xác định thông qua vẽ phẫu đồ rừng
Trang 26*Vẽ phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934) [33]
Xác định vị trí, chiều cao, đường kính thân cây, bề rộng và bề dày tán lá của tất
cả các cây trên dải rừng có diện tích 400m2 (40m x 10m) điển hình trên ÔTC, sau đó biểu diễn lên biểu đồ với tỷ lệ 1/200
*Phương pháp điều tra cây tái sinh:
Cây tái sinh là những cây gỗ còn non, sống dưới tán rừng từ giai đoạn cây
mạ cho đến khi chúng bắt đầu tham gia vào tán rừng
Trên ÔTC, lập 20 ÔDB có diện tích 4m2 phân bố đều trên ÔTC Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra (biểu 02, phụ lục) theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng sào khắc vạch có độ chính xác đến cm
- Phân cấp chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh
+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh
- Phương pháp điều tra ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên tại các QXTV rừng trên núi đá vôi
Khi điều tra tái sinh trên các ÔDB, chúng tôi đồng thời xác định các chỉ tiêu: độ tàn che, độ che phủ bình quân và độ dốc mặt đất tại vị trí ÔDB
- Điều tra khoảng cách giữa các cây tái sinh: Trên ÔTC, chọn cây tái sinh bất kỳ, đo khoảng cách từ cây tái sinh đã chọn đến cây tái sinh gần nhất bằng thước dây với độ chính xác đến cm Mỗi QXTV đo 30 khoảng cách, kết quả ghi vào phiếu điều tra khoảng cách cây tái sinh (biểu 03, phụ lục)
*Phương pháp điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:
Lập 5 ÔDB có diện tích 25m2 (5m x 5m), 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa ÔTC
+ Điều tra cây bụi (shrubs) theo các chỉ tiêu: tên loài chủ yếu, số lượng
khóm (bụi), chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình của từng loài trên ÔDB, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi (biểu 04, phụ lục)
+ Điều tra thảm tươi (ground cover vegetation) theo các chỉ tiêu: loài chủ
yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ bình quân của loài và tình hình sinh trưởng
Trang 27của thảm tươi trên ÔBD, kết quả ghi vào phiếu điều tra thảm tươi (biểu 05, phụ lục)
*Phương pháp điều tra xác định mức độ thân thuộc của các loài
Trên ÔTC, chọn một cây bất kỳ làm cây trung tâm, điều tra 6 cây xung quanh có khoảng cách gần nhất với cây trung tâm Theo quan điểm sinh thái thì cây ở tâm và 6 cây xung quanh thường có mối quan hệ thân thuộc, có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của chúng Đó là cơ sở xác định mức
độ thân thuộc của các loài cây Kết quả điều tra được ghi vào phiếu điều tra ô hình tròn 6 cây (biểu 06, phụ lục)
2.4.2.1.3 Phương pháp điều tra dạng sống của thực vật
Tiến hành thống kê tất cả các loài thực vật bắt gặp trên các ÔTC của mỗi địa phương, đồng thời tiến hành điều tra trên các tuyến đi qua các dạng địa hình của địa phương
2.4.2.2 Nội nghiệp
2.4.2.2.1 Xác định các QXTV rừng ở ba địa phương
Việc xác định các QXTV được tiến hành theo hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978) [33], hệ thống phân loại này bao gồm các cấp sau:
I - Kiểu thảm thực vật: tập hợp của những cây cỏ khác loài nhưng cùng
Ví dụ: Kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương xẩu
Kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất đá vôi xương xẩu sau khai thác trọc I.1 a: Xã hợp (sociation): được hình thành bởi những loài cây ưu thế
Trang 28+ Phức hợp (complexion): khi độ ưu thế của các loài chưa phân hoá rõ rệt
2.4.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng
a Tổ thành tầng cây gỗ:
Tổ thành thực vật là tỷ lệ của loài cây hay nhóm loài cây chiếm trong QXTV rừng Hệ số tổ thành của các loài cây thường được xác định theo số cây hoặc theo tiết diện ngang Công thức biểu thị hệ số tổ thành của các loài cây
trong QXTV rừng được gọi là công thức tổ thành Trên quan điểm sinh thái
người ta thường xác định tổ thành tầng cây cao theo số cây còn trên quan điểm sản lượng, người ta lại xác định tổ thành thực vật theo tiết diện ngang hoặc theo trữ lượng
Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp xác định
mức độ quan trọng (Important Value - IV%) của Daniel Marmillod (Đào Công
Trong đó: IVi% là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i
Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng
Theo Daniel M., loài cây có IV% 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong QXTV rừng Những loài cây xuất hiện trong công thức tổ thành
là loài có IV% giá trị bình quân của tất cả các loài tham gia trong QXTV rừng Trong một quần xã nếu một nhóm dưới 10 loài cây có tổng IV% 40%, chúng được coi là nhóm loài ưu thế và tên của QXTV rừng được xác định theo các loài
đó
b Mật độ:
Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của tất cả các loài tham gia trên một đơn vị diện tích (thường là 1 ha), phản ánh mức
độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vài trò của loài trong QXTV rừng
Công thức xác định mật độ như sau:
000.10
«
S
n ha
Trang 29Trong đó: n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong ÔTC
Sô: Diện tích ÔTC (m2)
c Cấu trúc tầng và độ tàn che các QXTV rừng
Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)
Độ tàn che được xác định bằng phương pháp điều tra điểm, công thức tính:
R
r
Trong đó: r là số cá thể của loài i trong QXTV rừng
R là tổng số cá thể điều tra của QXTV rừng
Nếu Mtg > 50%: Rất hay gặp Mtg = 25 - 50%: Thường gặp
Mtg < 25%: ít gặp
e Mức độ thân thuộc:
Mức độ thân thuộc thể hiện mức độ gắn bó của các loài với nhau trong QXTV rừng Để xác định mức độ thân thuộc của hai loài, đề tài sử dụng chỉ số thân thuộc q của Sorenson (1948):
b a
c q
Trong đó: a là số lần lấy mẫu chỉ gặp loài A
b là số lần lấy mẫu chỉ gặp loài B
c là số lần lấy mẫu gặp cả loài A và B
Nếu q > c, A và B không có quan hệ thân thuộc
q = c, A và B do ngẫu nhiên mà cùng cư trú ở một nơi
q < c, A và B có quan hệ thân thuộc và sự chung sống của chúng trong QXTV rừng là thực chất chứ không phải do ngẫu nhiên
Trang 30P D
1000
S
Trong đó: S là tổng số loài và N là tổng số cá thể điều tra
Pi là phần tử so sánh (Pi = ni/N) với ni là số cá thể của loài thứ
+ Dạng sống thứ nhất (Ph): Có chồi trên đất (Phanerophytes), gồm:
- Meg (Megaphanerophytes): Cây gỗ lớn có chồi trên mặt đất, cao trên 30m
- Mes (Mesophanerophytes): Cây gỗ vừa có chồi trên đất, cao từ 8-30m
- Mi (Microphanerophytes): Cây gỗ nhỏ có chồi trên đất, cao từ 2-8m
- Na (Nanophanerophytes): Cây thấp có chồi trên đất, cao dưới 2m
- Lp (Lianes phanerophytes): Cây có chồi trên đất leo quấn
- Ep (Epiphytes phanerophytes): Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám vào các cây khác (không mọc từ đất mà mọc ngay trên thân những cây
khác: ví dụ những loài phụ sinh thân gỗ (cây thắt nghẹt)
- Hh (Phanerophytes herbaces): Gồm các loài trong họ Tre trúc saceae) và những cây có chồi trên đất thân cỏ, không có chất gỗ: sẹ, cọ không thân, quyết,
(Bambu Sp (Phanerophytes succulent): Cây có chồi trên đất phị nước: xương rồng, lưỡi long,
Trang 31+ Dạng sống thứ hai (Ch): Có chồi ngang đất (Chamephytes)
+ Dạng sống thứ ba (H): Có chồi mặt đất (Hemicryptophytes)
+ Dạng sống thứ tư (Cr): Có chồi dưới đất (Cryptophytes)
+ Dạng sống thứ năm (Th): Có chồi mùa hè (Therophytes)
Việc xác định dạng sống của thực vật tại các địa phương được sự hỗ trợ của các nhà thực vật học và kế thừa tài liệu của bộ môn Thực vật rừng, trường
Đại học Lâm nghiệp
2.4.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng
a Tổ thành cây tái sinh
Đề tài xác định tổ thành tái sinh rừng theo số cây, hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:
b Mật độ cây tái sinh
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
dt S
n ha
N 10 000
với Sdt là tổng diện tích các ÔDB điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng
cây tái sinh điều tra được
c Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng tốt, trung bình và xấu đồng thời xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng nhằm đánh giá một cách tổng quát tình hình tái sinh đang diễn ra tại khu vực nghiên cứu
d Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
Thống kê số lượng cây tái sinh theo 4 cấp chiều cao: dưới 0,5m; 0,5-1m; 1-2m và trên 2m Vẽ biểu đồ biểu diễn số lượng cây tái sinh theo cấp chiều cao
e Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng ngang
Trang 32Để tài nghiên cứu hình thái phân bố của cây tái sinh trên bề mặt đất thông qua xác định khoảng cách từ một cây tái sinh chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất
Sử dụng tiêu chuẩn U (phân bố chuẩn) của Clark và Evans [17] để đánh giá với dung lượng quan sát (n) đủ lớn, qua đó dự đoán giai đoạn phát triển của QXTV rừng trong khu vực:
26136,
0
.5,0
r1 là giá trị bình quân của n lần quan sát khoảng cách gần nhất
là mật độ cây tính trên đơn vị diện tích (m2)
n là số lần quan sát
Nếu: /U/ < 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên
U > 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều
U < -1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm
f Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên
* Ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên
Đề tài đánh giá ảnh hưởng của độ tàn che đến tái sinh tự nhiên thông qua việc tổng hợp các chỉ tiêu nghiên cứu tái sinh như mật độ, tỷ lệ cây triển vọng và chất lượng cây tái sinh theo các cấp độ tàn che khác nhau ở từng địa phương nghiên cứu
* Ảnh hưởng của độ dốc mặt đất đến tái sinh tự nhiên
Đề tài tiến hành tổng hợp các chỉ tiêu nghiên cứu tái sinh như tổ thành, mật độ, tỷ lệ cây triển vọng và chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp độ dốc khác nhau: dưới 250, 25-350 và trên 350
* Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến tái sinh tự nhiên
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu cây bụi, thảm tươi, đề tài tổng hợp một số chỉ tiêu nghiên cứu tái sinh như mật độ, tỷ lệ cây triển vọng và chất lượng cây tái sinh theo các cấp độ sinh trưởng khác nhau của lớp cây bụi, thảm tươi ở từng địa phương nghiên cứu
Trang 33CHƯƠNG 3 điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ba địa phương nghiên cứu
3.1 điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Nhìn chung các địa phương nghiên cứu có địa hình tương đối phức tạp, có nhiều dải đồi núi bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 đến 450, độ cao so với mặt nước biển dưới 700m Các nhân tố địa hình này tạo nên những thay đổi về tiểu khí hậu và ảnh hưởng đến quá trình phát sinh, sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật Bên cạnh đó, sự chênh lệch về vĩ độ của các địa phương cũng là nguyên nhân dẫn đến những khác biệt về các QXTV rừng
Kết quả điều tra về đặc điểm vị trí địa lý và địa hình ở ba xã được tổng hợp ở bảng 3.1 sau:
Bảng 3.1: Vị trí địa lý, địa hình ba địa phương nghiên cứu
Địa phương Tự Do - Cao Bằng Đa Phúc - Hoà
Bình
Tân Hoá - Quảng Bình
Vị trí Phía Đông Nam tỉnh
Cao Bằng
Phía Tây Nam huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình
Phía Đông huyện Minh Hoá - Quảng
Trang 34Địa hình Núi đá vôi đơn lẻ,
xen kẽ là thung rộng
và đồng bằng, có một số mó nước ngầm
Độ dốc trung bình:
300
Núi đá vôi thấp xen giữa những thung rộng, có suối chảy trên bề mặt
Độ dốc trung bình
230
Núi đá vôi dốc chạy dài liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có nhiều sông ngầm, nhiều hang động lớn
Độ dốc trung bình:
35-450
Ranh giới của các địa phương nghiên cứu như sau:
+ Xã Đa Phúc - Yên Thuỷ - Hoà Bình:
Nằm cách trung tâm huyện Yên Thuỷ 10km về phía Tây Nam
- Phía Đông giáp xã Yên Lạc và xã Bảo Hiệu (Yên Thuỷ)
- Phía Tây giáp xã Bình Chân và xã Yên Nghiệp (Lạc Sơn)
- Phía Bắc giáp xã Bình Hẻm (Lạc Sơn) và xã Lạc Dương (Yên Thuỷ)
- Phía Nam giáp xã Lạc Thịnh (Yên Thủy)
+ Xã Tự Do - Quảng Uyên - Cao Bằng:
- Phía Bắc giáp xã Phúc Sen, xã Đoài Khôn (Quảng Uyên)
- Phía Nam giáp xã Ngọc Động (Quảng Uyên)
- Phía Đông giáp các xã Hồng Định, Chí Thảo (Quảng Uyên)
- Phía Tây giáp xã Trưng Vương (huyện Hoà An) + Xã Tân Hoá - Minh Hoá - Quảng Bình
- Phía Bắc giáp huyện Tuyên Hoá - Quảng Bình
- Phía Nam giáp xã Trung Hoá - Minh Hoá - Quảng Bình
- Phía Đông giáp huyện Bố Trạch - Quảng Bình
- Phía Tây giáp xã Minh Hoá - Minh Hoá - Quảng Bình 3.1.2 Khí hậu - Thuỷ văn
Theo kết quả nghiên cứu về sinh khí hậu Việt Nam [37], xã Đa Phúc - Hoà Bình và Tự Do - Cao Bằng có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, có gió lốc và mưa đá, thời kỳ khô từ 2 đến 3 tháng,
Trang 35còn ở Tân Hoá - Quảng Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông hơi lạnh, mưa hè - thu - đông, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, có gió lốc và mưa đá
Về thuỷ văn: Xã Tự Do - Cao Bằng có nhiều suối chảy từ trong núi nhưng sớm cạn nước vào đầu mùa khô, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Xã Đa Phúc - Hoà Bình có những khe rãnh có nước chảy vào mùa mưa và có một hồ nhân tạo rộng hơn 1ha Xã Tân Hoá - Quảng Bình có suối Khe Nan khá lớn chạy xuyên suốt qua địa bản xã và đổ vào trong núi, đồng thời còn có các khe suối nhỏ bắt nguồn từ sườn núi chảy trong địa bàn xã, thường có nước quanh năm
Các chỉ tiêu khí hậu của ba địa phương nghiên cứu được lấy ở ba địa điểm quan sát gần với khu vực nghiên cứu như sau:
- Trạm quan trắc tại Cao Bằng có toạ độ địa lý là 22039' vĩ Bắc và 106014' kinh Đông, cách khu vực nghiên cứu 25km về phía Tây
- Trạm quan trắc tại Lạc Sơn - Hoà Bình, có toạ độ địa lý là 20027' vĩ Bắc
và 105027' kinh Đông, cách khu vực nghiên cứu 27km về phía Tây Nam
- Trạm quan trắc đặt tại Tuyên Hoá - Quảng Bình, có toạ độ địa lý là
17050' vĩ Bắc và 106008', cách khu vực nghiên cứu 30km về phía Đông
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu khí hậu của ba địa điểm quan trắc
Tháng
Thị xã Cao Bằng Lạc Sơn - Hoà Bình Tuyên Hoá - Quảng Bình
T (0C) P (mm) W% T T (0C)
P (mm) W% T
T (0C) P (mm) W% T
Trang 36Từ số liệu quan trắc, chúng ta có các biểu đồ sinh khí hậu sau:
Hình 3.1 Biểu đồ sinh khí hậu Gausen - Walter các khu vực nghiên cứu
Trang 37Như vậy, khi độ vĩ giảm, tức là đi từ Bắc xuống Nam (từ xã Tự Do - Cao Bằng, qua Đa Phúc - Hoà Bình đến Tân Hoá - Quảng Bình), nhiệt độ trung bình năm tăng dần, lần lượt là 21,60C; đến 23,00C và 23,80C Trong khi đó, biên độ nhiệt độ ngày đêm trung bình trong năm lại giảm rõ rệt, lần lượt là 8,40C; 7,9 0C; 7,10C
- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối: lần lượt là 40,50C; 41,80C và 40,10C
- Tổng lượng mưa hàng năm của ba địa phương tăng dần từ Bắc xuống Nam, lần lượt là 1442,7mm; 1986,8 mm và 2266,5mm
- Độ ẩm không khí bình quân năm của Tự Do là 81%, Đa Phúc là 85% và của Tân Hoá là 84%
- Chỉ số khô hạn của các địa phương nghiên cứu theo Thái Văn Trừng (X: S.A.D) của xã Tự Do là 3.0.0, Đa Phúc là 3.0.0 và Tân Hoá là 1.0.0
Với nhiệt độ trung bình năm nằm trong khoảng từ 20-250C, lượng mưa từ
1200 - 2500 mm/năm (cấp II), độ cao dưới 700m, điều kiện khí hậu ở địa
phương nghiên cứu có nhiều thuận lợi cho sự phát sinh kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (Rkx) Đây là kiểu rừng có cấu trúc phức tạp, nhiều tầng,
quần thụ thành thục nhiều tầng, tán rừng kín rậm do những cây gỗ lớn lá rộng, thường xanh hợp thành (Thái Văn Trừng, 1978 [33])
Độ pH của đất thường từ 6 đến 7, đặc biệt ở Tự Do - Cao Bằng, pH > 7 Qua điều tra tại ba địa phương nghiên cứu có các loại đất sau:
- Đất mùn màu đen trên núi đá vôi (rendzina)
- Đất Feralit mùn màu xám đen trên núi đá vôi
- Đất Feralit màu nâu đỏ trên đá vôi vùng núi thấp (đất đỏ hung)
Trang 38- Đất Feralit màu nâu xám trên đá vôi vùng núi thấp Với những đặc điểm về địa chất - thổ nhưỡng như trên, ở các địa phương nghiên cứu hình thành những kiểu phụ thổ nhưỡng chẳng những có hình thái và cấu trúc nhất định mà còn có thành phần thực vật đặc biệt, đó là dạng thực vật trên núi đá vôi karst Ngoài ra, do sự biến đổi của thổ nhưỡng trên những diện tích hẹp, lớp đất đá vôi xương xẩu có nhiều đá nổi, ở nhiều nơi đã hình thành những kiểu thảm thực vật thoái hoá, ít có khả năng hồi nguyên Vì những lý do trên, ở các địa phương khác nhau hoặc ngay trong cùng một địa phương nhưng ở những điều kiện khác nhau, xuất hiện các trạng thái thực vật khác nhau, các QXTV rừng khác nhau
Sự đa dạng và phong phú của thực vật vùng nhiệt đới được giải thích là do thường xuyên có chu trình tuần hoàn các chất dinh dưỡng khoáng và sau đó rừng
sẽ đạt đến sự cân bằng ổn định Đó cũng là lý do tại sao khi khai thác rừng nhiệt đới hoặc phát rừng làm nương rẫy thì đất rừng bị thoái hoá rất nhanh và sự khôi phục lại rừng khí hậu (rừng cơ bản, rừng nguyên sinh) hầu như không thể, trên những khu đất đó sẽ xuất hiện rừng thứ sinh, trảng cây bụi hoặc trảng cỏ Do vậy, khi khai thác sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi cần hết sức chú trọng giữ gìn độ phì của đất
3.1.4 Thảm thực vật rừng
Thực vật rừng là thành phần quan trọng nhất của hệ sinh thái rừng Theo kết quả điều tra, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi tại ba địa phương khá đa dạng và phong phú về thành phần loài thực vật và về giá trị sử dụng Thảm thực vật rừng ở đây thuộc kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi thấp Kết quả điều tra về thực vật rừng được biểu thị ở bảng sau:
Bảng 3.3: Số lượng loài thực vật ở ba địa phương nghiên cứu
Địa phương
Phân loại
Đa Phúc - Hoà Bình
Tự Do - Cao Bằng
Tân Hoá - Quảng Bình
Cả ba địa phương
Họ Loài Họ Loài Họ Loài Họ Loài
Trang 39Thực vật hạt trần 2 3 2 3 3 8 3 8 Thực vật hạt kín:
- Thực vật hai lá mầm 70 310 79 402 103 505 103 530
- Thực vật một lá mầm 12 42 17 76 20 99 20 99
Tổng cộng 91 366 105 492 130 634 130 659 Nguồn tài nguyên thực vật tại các địa phương nghiên cứu khá đa dạng, phong phú, gồm các loài thực vật của vùng nhiệt đới phát triển trên núi đá vôi Tổng số loài ở các địa phương biến động từ 366 đến 634 loài thuộc từ 91 đến
130 họ thực vật được xác định
Tốc độ phát triển của các loài cây nói chung khá chậm, khả năng tái tạo rừng thường gặp nhiều khó khăn Do vậy cần có biện pháp bảo vệ và khai thác hợp lý để giữ gìn thảm thực vật rừng và cải thiện môi trường sống
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Đề tài tiến hành tổng hợp một số đặc điểm quan trọng về tình hình kinh tế
xã hội có ảnh hưởng đến công tác phục hồi và phát triển rừng ở từng địa phương
Đề tài tiến hành tổng hợp một số đặc điểm quan trọng về tình hình kinh tế
xã hội có ảnh hưởng đến công tác phục hồi và phát triển rừng ở từng địa phương 3.2.1 Xã Đa Phúc -Yên Thuỷ - Hoà Bình
Tổng diện tích tự nhiên là 2.717ha, dân số 4.894 người, chủ yếu là người Mường (chiếm 98%), mật độ dân số 180 người/km2 Xã chia thành 15 xóm bản, dân cư sống thành từng cụm khu vực nằm cạnh ven đồi núi
Giao thông: Có một đường trục chính liên xã chạy dài 11km, tổng chiều dài của đường liên xóm, liên thôn dài 35km Đường đồng nội dài 15km phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp
Thuỷ lợi: Xã có 10 hồ đập chứa nước phục vụ cho tưới tiêu và 3,5km kênh mương hoá bê tông phục cho sản xuất nông nghiệp
Tình hình chính trị, xã hội và đời sống của nhân dân khá ổn định, sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp (chiếm 95%), dịch vụ buôn bán nhỏ chiếm 5% Bình quân đất canh tác là 1.000m2/người Cơ cấu sản xuất nông nghiệp, ngoài cây
Trang 40trồng, còn có sự kết hợp chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và tận dụng mặt nước để thả cá Đã thực hiện chính sách giao đất, giao rừng nhưng chưa triệt để
3.2.2 Xã Tự Do - Quảng Uyên - Cao Bằng
Với tổng diện tích 2.036 ha, dân số 2806 người (tháng 10/2002), mật độ dân số toàn xã là 137 người/km2, cơ cấu dân tộc: người Nùng chiếm 64,5%, người Tày 33,7%, còn lại là người H'Mông và người Kinh Tổng số hộ là 616 và
83 hộ đói nghèo chiếm 13,67% tổng số hộ trong xã, nguyên nhân chủ yếu là thiếu vốn sản xuất, thiếu đất canh tác và kinh nghiệm sản xuất
Cơ sở hạ tầng của xã còn nhiều thiếu thốn, kém phát triển Hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện lưới, trường học nhìn chung còn nhiều yếu kém Nhiều bản chưa có điện lưới quốc gia Hệ thống trường học trong xã còn lạc hậu, xã chỉ có một số phòng học đơn sơ cho học sinh tiểu học ở bản đông dân Trình độ dân trí thấp, người dân có nghề làm ngói nên hàng năm cần đến một lượng chất đốt khá
lớn vì vậy đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên rừng
3.2.3 Xã Tân Hoá - Minh Hoá - Quảng Bình
Toàn xã có một cộng đồng người kinh sinh sống (người Nguồn) với 505
hộ, 2850 khẩu, tỷ lệ tăng dân số 2,5% năm, gồm 2 thôn Cổ Liêm và Yên Thọ
Sản xuất nông nghiệp: Diện tích sản xuất nông nghiệp tương đối rộng, bằng phẳng và thuận lợi, ngoài ra diện tích đất khô sử dụng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là ngô, lạc, đậu xanh Tuy nhiên mức thu nhập bình quân của người dân vẫn còn thấp, cần đầu tư thâm canh và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào sản xuất
Khu vực xã có diện tích rừng khá lớn nhưng chưa có sự quản lý chặt chẽ, hiện tượng khai thác vì mục đích lợi ích cho cá nhân vẫn còn xảy ra