1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

94 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ VIỆT HÒA

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP

PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN (STRONGYLOIDOSIS)

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ VIỆT HÒA

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP

PHÒNG TRỊ BỆNH GIUN LƯƠN Ở LỢN (STRONGYLOIDOSIS)

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa công

bố dưới bất kỳ hình thức nào

Thái Nguyên, ngày tháng năm2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Việt Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân, tập thể, đến nay luận văn của tôi đã được hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới:

TS Đỗ Quốc Tuấn và TS Phan Thị Hồng Phúc đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy cô giáo trong phòng thí nghiệm đã giúp

đỡ, tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của trương trình học

Ban Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ninh và các đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Lãnh đạo và nhân viên Trạm Thú y Thành phố Cẩm Phả, Trạm Thú y Thị xã Quảng Yên, Trạm Thú y huyện Hải Hà và nhóm sinh viên thực tập tốt nghiệp lớp TY 42 và CNTY 43 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Gia đình, người thân cùng bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài

Một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, cảm ơn chân thành tới những tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập

Thái Nguyên, ngày tháng năm2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Việt Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Giun lươn ký sinh ở lợn 4

1.1.2 Bệnh giun lươn ở lợn 13

1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn 30

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 36

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 36

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 36

2.2 Vật liệu nghiên cứu 36

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 36

2.2.2 Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 36

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.3.1 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) 37

2.3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis) 37

2.3.3 Biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu 38

2.4.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu 38

2.4.3 Phương pháp xác định thời gian phát triển và tồn tại của trứng giun lươn và ấu trùng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 40

2.4.4 Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh giun lươn 40

2.4.5 Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của lợn bị bệnh giun lươn và lợn khỏe 41

2.4.6 Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn ở lợn 41

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

2.5.1 Một số tham số thống kê 41

2.5.2 Một số công thức tính tỷ lệ (%) 42

2.5.3 So sánh mức độ sai khác giữa 2 số trung bình 43

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn ở lợn 45

3.1.1 Tình hình nhiễm giun lươn ở lợn tại 3 địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh 45

3.1.2 Nghiên cứu ô nhiễm của trứng giun lươn ở ngoại cảnh 55

3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn 60

3.2.1 Biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm giun lươn 60

3.2.2 Bệnh tích đại thể của lợn nhiễm giun lươn 61

3.2.3 Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn bị nhiễm giun lươn 61

3.3 Biện pháp phòng, trị bệnh giun lươn cho lợn 66

3.3.1 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun lươn cho lợn 66

3.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn cho lợn 67

Trang 7

3.3.3 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun lươn cho lợn 68

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71

1 Kết luận 71

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI 79

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

CN : Công nghiệp

cs : Cộng sự Đ- X : Đông - Xuân H- T : Hè - Thu

TT : Truyền thống

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại một số địa phương

thuộc tỉnh Quảng Ninh 45

Bảng 3.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 48

Bảng 3.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo giống lợn 50

Bảng 3.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn theo mùa vụ 51

Bảng 3.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn theo phương thức chăn nuôi 53 Bảng 3.6 Sự ô nhiễm trứng giun lươn ở ngoại cảnh 55

Bảng 3.7 Thời gian trứng giun lươn phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 57

Bảng 3.8 Thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong phân ở ngoại cảnh 59

Bảng 3.9 Biểu hiện lâm sàng của lợn nhiễm giun lươn 60

Bảng 3.10 Bệnh tích đại thể bệnh giun lươn ở lợn 61

Bảng 3.10 So sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố giữa lợn bị bệnh giun lươn và lợn khoẻ 62

Bảng 3.11 So sánh công thức bạch cầu giữa lợnbị bệnh giun lươn và lợn khoẻ 64

Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn lợn 66

Bảng 3.13 Độ an toàn của thuốc tẩy giun cho lợn 67

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn 6

Hình 1.2: Giun lươn Strongyloides papillosus 8

Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn 12

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh 46

Hình 3.2 Biểu đồ cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh 47

Hình 3.3 Đồ thị tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 49

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo mùa vụ 52

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn theo phương thức chăn nuôi 54

Hình 3.6 Biểu đồ so sánh số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố giữa lợn bị bệnh giun lươn và lợn khoẻ 63

Trang 11

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể

Với vai trò cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người, thịt lợn luôn chiếm tỷ lệ cao từ 76 - 77% tổng sản lượng thịt các loại trong cả nước Năm 2012 tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong cả nước là 3,16 triệu tấn (Cục Chăn nuôi (2012)[4])

Nhận thấy vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với con người và xã hội, Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008)[2] đã định hướng phát triển đàn lợn ở Việt Nam như sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn lợn của Việt Nam đạt 32,9 triệu con và đến năm 2020 đạt 34,7 triệu con Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đến năm 2015 đạt 3,9 triệu tấn và con số này sẽ tăng lên 4,8 triệu tấn năm 2020”

Mặc dù được coi là một trong những ngành chủ lực của sản xuất nông nghiệp nhưng chăn nuôi lợn vẫn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là tình hình dịch bệnh vì dịch bệnh làm cho con vật giảm khả năng sinh trưởng, phát triển, giảm sức đề kháng và làm giảm hiệu quả kinh tế Đứng trước vấn đề dịch bệnh, các trại chăn nuôi và nông hộ đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào công

Trang 12

tác phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi Tuy nhiên bệnh giun sán gây ra hầu như chưa được quan tâm đúng mức

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên có khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng, gây nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm Trong các bệnh ký sinh trùng ở lợn, bệnh giun lươn là một bệnh khá phổ biến, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, bệnh

có thể làm chết tới 75% số lợn ốm (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006)[21] Bệnh giun lươn chủ yếu xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi với tỷ lệ nhiễm khá cao Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Kim và cs (2001)[12],

tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con theo mẹ khoảng 48,57% Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun lươn và vai trò của giun lươn trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006)[15], đã nghiên cứu và cho biết: giun lươn có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con tiêu chảy khá cao (55,46%), trong khi đó lợn có phân bình thường tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp (39,26%); đồng thời, nhiều lợn tiêu chảy nhiễm giun lươn ở mức độ nặng hơn nhiều so với lợn phân bình thường Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về bệnh giun lươn ở lợn còn rất ít

Từ nhận thức trên, để góp phần hạn chế tác hại của bệnh giun lươn, đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn, nâng cao năng suất chăn nuôi và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trong

và ngoài nước, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun lươn

ở lợn (Strongyloidosis) trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp

phòng trị bệnh giun lươn ở lợn (Strongyloidosis)

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin khoa học về bệnh giun lươn ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun lươn cho lợn có hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn của tỉnh Quảng Ninh phát triển

4 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn ở lợn tại một số địa phương thuộc tỉnh Quảng Ninh, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng giun lươn

ở ngoại cảnh, về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh, về biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun lươn ở lợn có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun lươn cho lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Giun lươn ký sinh ở lợn

1.1.1.1 Thành phần loài giun lươn ở lợn

Bệnh giun lươn do những giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ

Rhabditata) gây nên

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun lươn ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933 Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933

Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879

Loài Strongyloides ransomi Schwartf et Alicata, 1930 Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856 Theo Từ điển thú y của nhà xuất bản Elsevier (2007) giống Strongyloides

có một số loài:

- Strongyloides avium được tìm thấy trong ruột non của gà, gà tây và

các loài chim hoang dã

- Strongyloides cati được tìm thấy trong ruột non của mèo

- Strongyloides fuelleborni, Strongyloides simiae được tìm thấy trong

ruột non của các loài linh trưởng

- Strongyloides papillosus được tìm thấy trong ruột non của lợn, động

vật nhai lại và thỏ

Trang 15

- Strongyloides procyonis tìm thấy trong gấu trúc

- Strongyloides felis, Strongyloides planiceps ở mèo

- Strongyloides Ratti, Strongyloides venezuelensis tìm thấy ở chuột

- Strongyloides stercoralis được tìm thấy trong ruột của người và động

vật có vú khác, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thường gây tiêu chảy và viêm loét đường ruột

- Strongyloides tumefaciens kết hợp với các khối u trong ruột già của

con mèo

- Strongyloides westeri được tìm thấy trong ruột non của ngựa

- Strongyloides ransomi được tìm thấy trong ruột non của lợn

Trong các loài ký sinh và gây bệnh giun lươn ở lợn, loài Strongyloides

ransomi là phổ biến (Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24])

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước giun lươn ở lợn

Bệnh giun lươn (Strongyloidosis) ở lợn phân bố rộng khắp ở hầu hết các nước thuộc Châu Á, Châu Phi (J.Kaufmann, (1996) [53]) Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập

1966, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Kỳ, Phạm Xuân Dụ 1966)

Bệnh giun lươn do Strongyloides ransomi phân bố trên toàn thế giới và

được tìm thấy ở lợn và lợn rừng

* Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides ransomi:

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24] đã mô tả giun lươn Strongyloides ransomi như sau:

Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm Thực quản dài 1,132 -

0,148 mm, vòng thần kinh cách mút đầu 0,113 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm: 1 cặp trước huyệt ở mặt bụng, 2 cặp sau huyệt ở mặt lưng

Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm Lỗ miệng

có 4 môi với các núm cutin Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm Lỗ sinh dục ở 1/3

Trang 16

phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53 mm; có các môi ở phía trước và sau; 1 buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, buồng còn lại hướng phía dưới

Tử cung chứa 1 - 10 trứng Đuôi ngắn, thẳng, hình nón, dài 0,04 - 0,07 mm Trứng hình ôvan, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng

có ấu trùng

Hình 1.1: Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn

(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996 [11], Nguyễn Thị Lê và cs 1996[24])

a 1: Giun cái sống ký sinh

2: Giun đực

3: Ấu trùng gây nhiễm

b 1: Phần đầu cơ thể 2: Đuôi cá thể đực

Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [32] cho rằng: Giun lươn thân dài 2 - 4,2

mm thực quản dài 0,57 - 0,94 mm Hậu môn ở cách mút đuôi 0,057 - 0,065

mm Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra và ở cách mút đuôi 0,629 - 1,530

mm Trứng dài 0,037 - 0,06 mm và rộng 0,025 - 0,042 mm, trong có ấu trùng

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết: Giun cái sống ký sinh dài 2,1 - 4,4 mm, xung quanh miệng có 4 môi không rõ lắm, túi miệng nhỏ Thực quản dài hình ống nhỏ, không có chỗ phình Đuôi ngắn Âm hộ ở vào nửa sau của thân giun Buồng trứng uốn

a

2

1

b

Trang 17

khúc Trứng hình bầu dục 0,045 - 0,055 x 0,026 - 0,035 mm, màu trắng, trong

có ấu trùng

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2006) [21], Giun đực hình sợi, dài 0,87 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm Giun cái dài 2,1 - 4,2mm, rộng 0,04 - 0,08 mm, lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, cách mút đuôi 0,63 - 1,53

mm, hai buồng trứng là các ống mỏng, xuất phát gần lỗ sinh dục, một buồng trứng hướng lên phía trên cơ thể, một còn lại hướng phía đuôi, tử cung chứa 1

- 10 trứng, trứng giống hình trứng gà, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng

Phan Lục (2006) [26], Chu Thị Thơm và cs (2006) [35] cho biết: Giun lươn trưởng thành có kích thước 3,5-4,5 mm, trứng có chứa một ấu trùng, kích thước 0,045-0,055 x 0,026-0,035 mm Thực quản có hai chỗ phình,

phình trước không rõ, phình sau rõ hơn

* Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides papillosus:

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21] loài Strongyloides papillosus

gây bệnh giun lươn cho lợn

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24]; Phan Địch Lân và cs

(2002)[22], loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:

- Con đực chưa được mô tả

- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi: 1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm, chỗ rộng nhất 0,024 - 0,054 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3mm, hai bên có các mấu lồi cutin Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục; 1 buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng

về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Tử cung chứa 4 -

Trang 18

75 trứng Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng

1: Phần giữa thân giun cái

2: Đuôi giun cái

3: Giun cái sống tự do

4: Trứng

Hình 1.2: Giun lươn Strongyloides papillosus

(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11]) Giun lươn Strongyloides papillosus phân bố trên toàn thế giới, đặc biệt

ở vùng ấm và ẩm ướt, con trưởng thành hình sợi, dài đến 6 mm, trứng có kích thước 0,047-0,065 x 0,025-0,026 mm, hình elip, vỏ mỏng, không màu, có ấu trùng bên trong

1.1.1.3 Vòng đời của giun lươn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [13], giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài phát triển theo 2 hướng:

- Trực tiếp: Vào mùa hè (ấm áp), trứng phát triển nhanh, sau 5 - 6 giờ

nở ra ấu trùng giun lươn, 1 - 2 ngày sau thành ấu trùng có sức gây nhiễm

- Gián tiếp: ấu trùng phát triển thành giun đực và cái ở trong đất Sau khi giao phối, giun cái đẻ trứng có ấu trùng, ấu trùng phát triển thành ấu trùng

có sức gây nhiễm (khác trên là: giun đực và cái sống tự do)

Ấu trùng gây nhiễm phát triển trực tiếp hay gián tiếp hoàn toàn giống nhau (dài 0,6 - 0,7 mm, thực quản hình ống dài, không có chỗ phình to), ấu trùng này vào cơ thể ký chủ theo 2 đường:

Trang 19

+ Qua da: ấu trùng vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu, hệ lâm ba

về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày thì thành giun lươn trưởng thành ký sinh

+ Qua đường tiêu hoá: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hoá thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, về phổi rồi di chuyển giống như trên

Ấu trùng cảm nhiễm Strongyloides ransomi sau khi qua da vào cơ thể

lợn con và di chuyển đến phổi mất khoảng 72 giờ, sau đó đến ruột non khoảng 96 giờ sau cảm nhiễm Giun trưởng thành sống trong ruột non và trứng được tìm thấy trong phân vào ngày thứ 6 sau cảm nhiễm Ấu trùng

Strongyloides ransomi vào lợn trưởng thành qua da, di chuyển đến các mô mỡ,

đặc biệt là các mô mỡ xung quanh tuyến vú, ấu trùng vẫn còn trong mô mỡ trong một thời gian dài Ở lợn nái nhiễm thực nghiệm, trong 10 ngày cuối cùng

trước khi sinh đẻ, ấu trùng Strongyloides ransomi sẽ di chuyển từ mô mỡ vào

các tuyến vú và do đó vào cơ thể lợn con qua sữa non

Theo Moncol D.J và cs (1978) [56], giới tính của ấu trùng được xác định trước khi nở Điều kiện tự nhiên không ảnh hưởng đến hướng phát triển của ấu trùng đực mà chỉ ảnh hưởng đến hướng phát triển của ấu trùng cái

Vòng đời phát triển của giun lươn được tính từ khi gia súc nuốt phải ấu trùng có sức gây bệnh, qua quá trình sinh trưởng, phát triển cho đến khi chúng trở thành giun trưởng thành và có khả năng đẻ trứng

Tuổi thọ của giun lươn ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng

Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14] đã mô tả vòng phát triển của

Strongyloides papillosus như sau: Trứng được bài xuất ra bên ngoài cùng với

phân của động vật nhiễm bệnh Ở nhiệt độ thích hợp, sau 4-13 giờ, ấu trùng hình gậy nở ra khỏi trứng Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng có thể theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 20

Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng hình gậy ở môi trường bên ngoài lột xác hai lần, ở nhiệt độ 25-300 thì sau 24-36 giờ, chúng trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ

Khi phát triển gián tiếp, sau 8-40 giờ, ấu trùng hình gậy trở thành con cái và con đực sống tự do Những con cái này đẻ trứng, trứng nở ra thành ấu trùng hình gậy, rồi trở thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ

Dê, cừu, lợn có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên họng rồi nuốt xuống ruột non ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5-

10 ngày Tuổi thọ của giun ở gia súc non khoảng 5-9 tháng

Nguyễn Phước Tương (2002) [39] cho biết: Trứng giun lươn khi được bài xuất ra môi trường bên ngoài chứa ấu trùng L1, nó nở ra và phát triển thành ấu trùng L3 trong môi trường đất ẩm hay bùn Các ấu trùng L3 gây nhiễm có thể xuyên qua da vào cơ thể và gây bệnh giun lươn đường ruột

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21], giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc của ruột non Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực và giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua

da Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn

có thể xâm nhập vào súc vật sơ sinh qua bú sữa đầu

Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang, gây ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng

Trang 21

cảm nhiễm Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh của nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể Giai đoạn này thực hiện khoảng 10 ngày

Ấu trùng cảm nhiễm Strongyloides ransomi chui qua da, cũng như đi

qua miệng đều nhất thiết phải di chuyển qua máu lợn, hơn nữa khi chui qua

da, ấu trùng có thể vào được ruột non của lợn bằng hai cách: thứ nhất (chủ yếu) là, khi ấu trùng chui qua da, vào hạ bì và cơ, rồi từ đó chúng chủ động đi vào mạch máu và mạch limpho rồi nhờ dòng máu mà chúng được mang tới phổi Số lớn ấu trùng từ phổi xâm nhập khí quản và họng rồi vào thực quản,

dạ dày và ruột non, ở ruột non ấu trùng phát triển thành trùng Đường thứ hai là, khi ấu trùng từ phổi không xâm nhập khí quản và thực quản, mà lại vào vòng đại tuần hoàn rồi nhờ máu được mang tới ruột non Khi nhiễm qua

miệng, ấu trùng Strongyloides ransomi cũng thực hiện di chuyển qua máu

như vậy Những ấu trùng này chui vào thành dạ dày, ruột, chui vào hệ limpho và máu, rồi nhờ dòng máu ấu trùng được đem đến tim và phổi Từ phổi, số lớn ấu trùng qua khí quản và họng xâm nhập thực quản, dạ dày và đến ruột non; những ấu trùng còn lại từ phổi vào vòng đại tuần hoàn và được máu mang đến ruột non, rồi phát triển thành thành trùng ở đây (Skrjabin K.I

và Petrov A.M (1963) [28])

Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28] cho rằng: Trứng được bài xuất theo phân ra môi trường bên ngoài, nở ra ấu trùng hình gậy rất nhanh, ấu trùng có thể phát triển trực tiếp và gián tiếp Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng thành ấu trùng cảm nhiễm hình sợi sau 24 - 36 giờ; còn phát triển gián tiếp sau 48 - 94 giờ Lợn nhiễm bệnh do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng với thức ăn hay do ấu trùng chủ động chui qua da vào máu, đến phổi, lên họng rồi được nuốt xuống ruột non Ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun thưởng thành cần 5 - 10 ngày

Thời gian Strongyloides ransomi phát triển đến giai đoạn thành thục

trong cơ thể lợn kéo dài từ 5 đến 9 ngày

Trang 22

Hình 1.3: Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn

1.1.1.4 Sức đề kháng của giun lươn

Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng và ấu trùng giun lươn Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh, có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun lươn, đồng thời

là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở lợn

Theo Hale O.M và cs (1984) [50], ở nhiệt độ thấp trứng nở ra ấu trùng mất khoảng 15 giờ, ở nhiệt độ cao 20-300C thì mất khoảng 5- 6 giờ trứng nở thành ấu trùng

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24] cho biết: Trứng giun lươn bị diệt nhanh trong hố ủ phân nhiệt sinh học Vào mùa hè nhiệt độ cao, ấu trùng và trứng bị diệt nhanh do lúc này nhiệt độ trong hố ủ lên tới 550 - 600C

Theo Johanes Kaufmann (1996) [53], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng Nhưng nếu

ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết

Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [12] cho rằng: Trứng giun lươn được thải trừ qua phân ra ngoại cảnh, nếu gặp điều kiện thuận lợi thì chúng sẽ phát

Trang 23

triển thành ấu trùng cảm nhiễm Chúng có thể sống ở nơi đất ẩm 2 tháng Vào mùa mưa nhiều, đất ẩm (xuân, hè) bệnh phát triển mạnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21] cho biết: Trứng giun lươn có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 300C Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển ở trên 500C và - 90C trứng bị chết ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi

ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [16], điều kiện nóng, ẩm là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng và ấu trùng giun sán Trứng giun sán chỉ phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 15 - 300C Nhiệt

có 33,43% số trứng giun lươn nở và phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh,

4 ngày sau tỷ lệ này tăng lên 85,29%, đạt 100% vào ngày thứ 5 Như vậy, mùa

hè trứng giun lươn phát dục nhanh hơn mùa đông Về thời gian sống của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh ở ngoại cảnh, tác giả cũng đã có kết quả là mùa đông là 15 - 25 ngày, còn mùa hè là 20 - 35 ngày

Như vậy, nhiệt độ và ẩm độ không khí ở mùa hè thuận lợi hơn cho sự

phát triển của trứng ấu trùng giun lươn Strongyloides ransomi ở ngoại cảnh

1.1.2 Bệnh giun lươn ở lợn

1.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra

Bệnh ký sinh trùng ở gia súc gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá ở lợn nói riêng, tuy không gây thành ổ dịch lớn nguy hiểm, không làm chết nhiều gia súc Song chúng đã gây tác hại nghiêm trọng đối

Trang 24

với thể trạng và sức khoẻ của vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của lợn làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, chất lượng mỡ kém dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28]: Lợn con nhiễm giun lươn thì còi cọc, chậm lớn, mức tăng trọng chỉ bằng 1/3 lợn đối chứng

Trịnh Văn Thịnh (1977) [31], bệnh giun lươn gây tác hại nhất ở lợn con theo mẹ, dưới 2 tháng tuổi Lợn con nhiễm giun lươn nặng thì còi cọc, chậm lớn, mức độ tăng trọng có khi chỉ bằng 1/3 lợn đối chứng, lợn nhiễm nặng hơn có thể chết

Theo Enigk K và cs (1976) [49], Strongyloides ransomi gây ức chế

hoạt động của maltase, saccharase, lactase, trehalase và cellobiase và giảm nhẹ hoạt động dipeptidase của niêm mạc ruột

Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978 [32] cho biết: Lợn mắc bệnh giun lươn có

triệu chứng mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức Lợn con bị bệnh Strongyloides rất

chậm lớn so với lợn khoẻ; đôi khi còn thấy chúng thở khó, ho và chết ở lứa tuổi từ bốn đến sáu tuần lễ

Chu Thị Thơm và cs (2006) [35] cho rằng: Những bệnh ký sinh trùng, nhất là những bệnh giun sán thường gây bệnh mãn tính cho vật nuôi, làm sinh trưởng phát dục bị đình tốn, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn tăng, tốn công

chăm sóc, gây trở ngại đặc biệt cho việc vỗ béo gia súc Giun lươn (S ransomi) làm tốc độ sinh trưởng của lợn con giảm tới 30 - 35%

Dey-Hazra A và cs (1977) [46] đã thấy khả năng hấp thu đường ruột

của axit palmitate và 2-aminoisobutyric ở heo con bị nhiễm Strongyloides ransomi giảm rõ rệt so với lợn con bình thường

Trịnh Văn Thịnh (1985) [33] cho rằng, trong khoảng thời gian theo mẹ, lợn con nhiễm giun lươn sụt cân ít nhất là 0,24 kg/con, trung bình 1 kg/con, nhiều nhất là 3,4 kg/con so với lợn đối chứng được áp dụng vệ sinh phòng bệnh

Trang 25

1.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun lươn

Tuổi mắc bệnh:

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun trưởng thành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh

Cẩm nang chẩn đoán tiêu chuẩn Việt Nam cho biết: Bệnh giun lươn phần lớn cảm nhiễm ở lợn con và ấu trùng phát triển chủ yếu ở trên nền ẩm

Lợn sơ sinh đặc biệt mẫn cảm với bệnh giun Strongyloides Tỷ lệ và

cường độ nhiễm bệnh này cao nhất vào mùa xuân ở lợn con trong lứa tuổi từ một đến năm tháng Từ sáu đến chín tháng tuổi, lợn có thể tự khỏi bệnh và sau đó không nhiễm bệnh này (Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28])

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28]: Tỷ lệ lợn trong vòng một năm tuổi mắc bệnh giun lươn là khá cao Lợn tuổi lớn hơn thường không

mắc Người ta đã xác định rằng, lợn con có thể mắc bệnh Strongyloides ransomi ngay từ lúc sơ sinh

Theo Drozd J và cs (1971) [6], những lợn con được bú sữa đầu của lợn nái đến ngày thứ tư sau khi đẻ đã thấy trong phân có trứng Strongyloides ransomi, khi mổ khám thấy có những giun trưởng thành, trong khi phân của lợn nái không có trứng hoặc ấu trùng

Lợn mẹ mắc bệnh có thể truyền bệnh Strongyloides ransomi cho lợn

con qua sữa non hoặc sữa thường

Đoàn Thị Phương (2010) [27], đã nghiên cứu về biến động nhiễm giun

lươn Strongyloides ransomi theo tuổi lợn ở tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho

thấy: Lợn dưới 1 tháng tuổi nhiễm 58,09%; từ 1 - 2 tháng tuổi nhiễm 56,64%; 2-4 tháng tuổi nhiễm 46,97%; 4-6 tháng tuổi nhiễm 35,21%; trên 6 tháng tuổi nhiễm 20,22% Đồng thời, lợn dưới 1 tháng tuổi nhiễm nặng nhất (17,7% số nhiễm có 800 - 1000 trứng/g phân; 4,26% số nhiễm có trên 1000 trứng/g phân) Lợn từ 4 tháng tuổi trở lên hầu hết chỉ nhiễm nhẹ

Trang 26

Như vậy, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ bị bệnh

và bệnh phát triển nhanh hơn, nặng hơn so với động vật trưởng thành Động vật trưởng thành và động vật già yếu biểu hiện lâm sàng ít hơn Song chúng là những động vật mang trùng và là nguồn bệnh nguy hiểm nhất đối với động vật non

Ấu trùng Strongyloides ransomi có thể dễ dàng xuyên qua da vào cơ thể

ký chủ không chuyên biệt (cừu, dê, thỏ, mèo con, chó con, chuột trắng, chuột nhắt) Trong cơ thể của những ký chủ này, ấu trùng cũng thực hiện con đường di chuyển như trong cơ thể lợn Trong thời kỳ di chuyển trong cơ thể ký chủ không

chuyên biệt, ấu trùng S ransomi gây viêm da, chảy máu trong hạ bì, trong cơ và

phổi, viêm cata niêm mạc ruột non Sau khi xâm nhập được vào ruột non của

cừu non, dê non và thỏ, S ransomi có thể phát triển đến giai đoạn thành thục Trong cơ thể mèo con, chó con, chuột trắng, chuột lang và chuột nhắt, ấu trùng S ransomi chết trong thời kỳ di chuyển (Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28])

Mùa vụ: Bệnh thấy quanh năm, nhưng nhiều hơn ở mùa ấm (xuân - hè - thu)

Đoàn Thị Phương (2010) [27], nghiên cứu về tỷ lệ và cường độ nhiễm giun

lươn theo mùa vụ, đã thấy tỷ lệ nhiễm S ransomi ở lợn trong vụ đông - xuân là

45,44% (trong đó có 11% nhiễm nặng), còn trong vụ hè - thu là 56,51%

(trong đó có 18% nhiễm nặng Như vậy, lợn nhiễm giun lươn S ransomi ở vụ

hè - thu nhiều hơn và nặng hơn vụ đông - xuân (P<0,01)

Điều kiện vệ sinh thú y: Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại,

dụng cụ chăn nuôi và môi trường là những yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nhiễm giun lươn của lợn

Trang 27

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [31], điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh: Trong cùng một địa phương, ở một trại chăn nuôi điều kiện vệ sinh kém, lợn 20 - 30 ngày tuổi đã nhiễm với tỷ lệ gần 100%, ở một trại điều kiện vệ sinh khá tỷ lệ nhiễm chỉ là 12 - 30%

Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [12], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá cao (30-65%)

Đoàn Thị Phương (2010) [27], khi nghiên cứu đã cho thấy lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y tốt nhiễm giun lươn thấp nhất (32,95%), trong

đó 100% nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình, khi nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y trung bình, tỷ lệ nhiễm tăng lên 45,76% (trong đó 10,12% nhiễm nặng); khi nuôi trong điều kiện vệ sinh thú y kém thì tỷ lệ nhiễm cao nhất (65,74%), trong đó có 21,40% lợn nhiễm nặng và rất nặng Như vậy, điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi có ảnh hưởng rõ rệt đến biến động nhiễm

giun lươn S.ransomi ở lợn

Yếu tố strees: Các yếu tố strees (chuồng trại chật chội, thức ăn kém

dinh dưỡng, thiếu sữa, nhiệt độ môi trường thay đổi ) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan bệnh giun lươn ở lợn

1.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun lươn

Đường bài xuất mầm bệnh:

Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng (trong trứng đã có

ấu trùng) qua phân ra ngoài ngoại cảnh Chính vì vậy trứng được phát tán

rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các ấu trùng có sức gây bệnh

Đường xâm nhập vào cơ thể:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11] cho biết: Bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian, ấu trùng

có sức gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua 2 con đường:

Trang 28

Qua đường tiêu hoá: Do ăn phải thức ăn nước uống có chứa ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh Ngoài ra, giun lươn có thể xâm nhập vào cơ thể vật sơ sinh qua bú sữa đầu

Qua da: ấu trùng có sức gây bệnh có thể chui qua da xâm nhập vào cơ thể vật chủ

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21], giun lươn có thể lây nhiễm qua nhau thai và qua bú sữa đầu

Vị trí gây bệnh: Giun lươn ký sinh và gây bệnh ở ruột non ký chủ Quá trình sinh bệnh: Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn,

giun lươn còn gây tác hại nặng nề cho lợn

- Tác hại cơ giới: ấu trùng chui qua da, qua mạch máu phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức các cơ quan, gây viêm phổi Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá

- Tác hại do tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá

- Tác hại mang trùng: Ấu trùng có thể mang vi khuẩn Salmonella và E coli từ bên ngoài, qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh ghép với bệnh

ký sinh trùng

- Tác động truyền bệnh: Ấu trùng giun lươn chui vào niêm mạc ruột gây tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì Khi ấu trùng giun lươn xuyên qua da để lại các vết đỏ trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ môi trường ngoài xâm nhập vào cơ thể gây nên các bệnh ghép với bệnh giun lươn

1.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun lươn

* Triệu chứng:

Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi con vật, số lượng giun ký sinh trong từng cơ thể lợn Ở những lợn trưởng thành không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng khi kiểm tra phân mới thấy lợn

Trang 29

nhiễm giun lươn Thực tế đã thấy sự có mặt của giun lươn ở những lợn hoàn toàn khoẻ mạnh

Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [32] cho biết: Lợn mắc bệnh giun lươn thường có triệu chứng mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức Lợn con bị bệnh

Strongyloides rất chậm lớn so với các lợn khoẻ, đôi khi còn thấy chúng thở

khó, ho và chết ở lứa tuổi từ bốn đến sáu tuần lễ

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13] cho rằng: Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần nhiễm bệnh rất nặng, chết tới 50%, con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho) Triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết Khi nhiễm nhẹ, triệu chứng không rõ rệt

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21], khi bị ấu trùng giun lươn xâm nhập vào phế nang, gây viêm phổi, lợn bị sốt (40 - 41,50C), ho nhiều, khó thở Khi giun trưởng thành ký sinh ở niêm mạc ruột, vật chủ thường bị viêm ruột non cấp Vật bệnh ỉa chảy, trong phân có dịch nhày do niêm mạc ruột bị tróc

ra và có máu do xuất huyết Khi bị bệnh nặng, súc vật non có thể bị chết do mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp Tỷ lệ chết của lợn bệnh rất cao, có thể tới 75% số lợn ốm

Lợn mắc bệnh giun lươn biểu hiện, con vật gầy còm, có mụn trên da, viêm mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, ho, sốt Bệnh kéo dài khoảng 2 - 4 tuần, nếu nhiễm nặng có thể gây chết quá nửa đàn

Theo Skalinxki E.I (1953) giun Strongyloides thành thục tập trung

trong niêm mạc ruột non giữa các nhung mao ruột và dưới biểu mô Ruột bị viêm tương dịch và cata tróc vảy (dequsamatio), viêm cata và xơ hoá dạ dày Đôi khi còn thấy những chỗ sướt, loét trên niêm mạc dạ dày lợn con mắc bệnh này Viêm kẽ phổi và viêm cata khí quản nhưng không rõ lắm (Skrjabin K.I

và Petrov A.M (1963) [28])

Trang 30

Johanes Kaufmaun (1996) [53] cho biết, những con bị nhiễm nhẹ thì không có triệu chứng lâm sàng, những con bị nhiễm nặng có triệu chứng ỉa ra máu, thiếu máu, gầy yếu và có thể chết đột ngột (đặc biệt là ở lợn con) Trong thời gian di hành của ấu trùng con vật có triệu chứng ho, khó thở ảnh hưởng đến cơ làm cho con vật mệt mỏi, vận động khó khăn, nặng có thể bị viêm cơ,

cơ bị đau nhức, bụng đau và có hiện tượng nôn mửa Những lợn nhiễm giun lươn nhẹ có ít hoặc không có triệu chứng lâm sàng Khi lợn sơ sinh bị nhiễm

Strongyloides ransomi nặng có triệu chứng: Thiếu máu, tiêu chảy, mất nước,

tiều tụy và có thể bị tử vong Hầu hết tử vong xảy ra ở lợn con chưa đầy hai tuần tuổi Tiêu chảy, mất nước và tử vong có thể xảy ra ở lợn 3 tháng tuổi

Đối với những lợn bị nhiễm giun nặng có những triệu chứng như: Tiêu chảy, thiếu máu, con vật gầy còm suy dinh dưỡng và có thể chết Những lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006, 2009)[15,17] cho biết, xét nghiệm

674 mẫu phân lợn ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên, phát hiện được trứng giun lươn có cả trong các mẫu phân bình thường và tiêu chảy Tuy nhiên, lợn bị tiêu chảy nhiễm giun lươn với tỷ lệ cao hơn Trong 348 lợn tiêu chảy, thấy có 193 lợn nhiễm giun lươn (chiếm 55,46%), kiểm tra 326 lợn bình thường có 128 lợn nhiễm (chiếm 39,26%) Sự khác nhau này là rõ rệt (P<0,001) Cường độ nhiễm giun lươn cũng có sự biến động theo trạng thái phân Lợn có trạng thái phân bình thường chỉ nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình (64,84% và 36,16%), không có lợn nào nhiễm ở cường độ nặng Khi lợn tiêu chảy, tỷ lệ nhiễm ở cường độ trung bình là 44,04%, ở cường độ nặng là 6,22%, cao hơn rõ rệt so với lợn bình thường

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2010) [19], khi theo dõi triệu chứng lâm

sàng của 6 lợn gây nhiễm giun lươn S ransomi cho thấy: Lợn bị ho, tiêu chảy

nhiều ngày, thể trạng gầy sút rõ rệt (những lợn gây nhiễm bị bệnh nặng); phân nát xen những ngày tiêu chảy, có mụn trên da (những lợn gây nhiễm qua da)

Trang 31

* Bệnh tích:

Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [28], khi mổ khám thấy xác chết gầy còm, nhợt nhạt, da chỗ nếp gấp thường bị chàm, đôi khi có nước rỉ trong xoang bụng Hạch lâm ba màng treo ruột sưng to Niêm mạc ruột và dạ dày đỏ, có nhiều nốt xuất huyết nhỏ Giun lươn ký sinh ở dưới tầng biểu bì của ruột, gây viêm ruột ỉa chảy Khi lợn chết xác chết gầy còm, trên niêm mạc ruột

có rất nhiều điểm tụ huyết và mụn loét

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [32], bệnh tích thể hiện ở gia súc non, ở gia súc trưởng thành và gia súc già bệnh tích không rõ Khi mổ khám những con vật gây bệnh nhân tạo, thấy những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da,

ở cơ, ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc từng đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [11], lợn bị nhiễm giun lươn với cường độ rất nặng có những bệnh tích như viêm cấp tính niêm mạc ruột, trên

đó có những tổn thương nghiêm trọng, có nhiều điểm trắng, có những chỗ chảy máu, hạch lâm ba sưng, khối lượng cơ thể giảm sút đáng kể, trao đổi chất bị rối loạn Độc tố của giun lươn làm cho con vật bị kiệt sức, thiếu máu, con vật có thể bị chết do suy dinh dưỡng nặng

Johanes Kaufmann (1996) [53] cho biết: Khi mổ khám lợn con bị bệnh thấy xác gầy còm, nhợt nhạt, bao tim và xoang ngực tích nước màu vàng Gan màu vàng nhạt, có nhiều điểm trắng trên bề mặt gan Ruột non viêm cata

Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13] cho biết, bệnh tích của bệnh giun lươn như sau: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột

có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ

Theo Đoàn Thị Phương (1010) [27], mổ khám lợn chết sau 30 ngày gây nhiễm ấu trùng giun lươn thấy, xác lợn gầy còm, phân dính bết ở hậu môn, đuôi và khoeo chân, niêm mạc nhợt nhạt Bệnh tích ở ruột non là: ruột non

Trang 32

viêm cata, tụ huyết và xuất huyết, tìm thấy nhiều giun lươn ký sinh trong

niêm mạc ruột của lợn gây nhiễm

1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun lươn

Việc chẩn đoán bệnh giun lươn ở lợn có thể dựa vào tình hình dịch tễ,

triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân lợn và kiểm tra bệnh tích

* Với lợn còn sống: Để chẩn đoán có thể căn cứ vào triệu chứng lâm

sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh

Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là: Lợn bỏ ăn, gầy yếu, lông xù,

ỉa chảy mạnh, ho

Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ,

tình trạng vệ sinh thú y Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói

trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng

thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, ăn

uống kém, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác

bệnh giun lươn phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng giun lươn Có rất

nhiều phương pháp xét nghiệm như: Darling, Fullerborn, Cherbovick, đếm

trứng giun lươn trên buồng đếm Mc.Master

Phương pháp Fullerborn là phương pháp dùng để xét nghiệm phân tìm

trứng S ransomi ở lợn

Nguyên lý của phương pháp này dựa trên sự chênh lệch về tỉ trọng của

dung dịch muối NaCl bão hòa (d =1,18) lớn hơn tỷ trọng của trứng giun lươn,

do đó trứng giun sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun lươn dưới kính

hiển vi (độ phóng đại x100 hoặc x400)

Dung dịch muối bão hòa được pha bằng cách: lấy 1 lít nước sôi, cho

380g muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đến

Trang 33

khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh là

được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn

Cách xét nghiệm như sau: Lấy 5 - 10g phân cho vào một cốc nhỏ, dùng

lươn thủy tinh nghiền nát, vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hòa vào, khoảng

40 - 50ml, lọc qua lưới thép bỏ cặn, nước lọc được đổ vào ống penicillin sao

cho đầy đến miệng, đậy phiến kính sạch lên cho tiếp xúc với mặt nước, để

khoảng 15 phút rồi lấy phiến kính ra soi trên kính hiển vi

Phương pháp Darling cũng có thể dễ dàng chẩn đoán bệnh giun lươn:

Nguyên lý chung là lợi dụng sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl

bão hòa và trứng giun lươn, đồng thời lợi dụng lực li tâm để phân li trứng

giun lươn ra khỏi phân Sau đó dùng vòng thép vớt váng phía trên, ta sẽ thu

được trứng giun lươn

Ngoài ra, phương pháp Cherbovick với dung dịch sulfat magie bão hòa

cũng được sử dụng làm nổi trứng

Có thể dùng phương pháp đếm trứng giun lươn trên buồng đếm

Mc.Master để xác định số trứng giun lươn/ gam phân

Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc.Master gồm các bước sau:

- Bước 1: Cân 4g phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (khoảng

100 - 150ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1- 2

giờ, gạn bỏ nước, giữ lại cặn

- Bước 2: Cho 56ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy đều cho tan

cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1ml dung dịch phân nhỏ đầy

hai buồng đếm Mc.Master Để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ

Trang 34

* Với lợn chết:

Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán sau khi con vật

chết là chính xác nhất Việc chẩn đoán bệnh giun lươn được tiến hành qua

phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy niêm dịch ruột

non ép trên lam kính, kiểm tra dưới kính hiển vi và tìm giun lươn ký sinh

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14], chẩn đoán bệnh do Strongyloides

bằng phương pháp Fullerborn là phương pháp đơn giản và hiệu quả Nhưng cần

chú ý trứng Strongyloides nở ra ấu trùng hình gậy rất nhanh (sau 3-4 giờ), vì vậy

phân thải ra ngoài quá 5 giờ thì không những cần phải soi phân tìm trứng mà còn

phải tìm cả ấu trùng theo phương pháp Baerman

1.1.2.6 Phòng trị bệnh giun lươn cho lợn

* Phòng bệnh:

Việc phòng bệnh giun lươn cho lợn gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy đòi

hỏi cán bộ kỹ thuật và công nhân chăn nuôi phải nghiêm túc thực hiện các

biện pháp sau:

- Vệ sinh chuồng, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, không sử dụng chung các

dụng cụ chăn nuôi khi chưa được khử trùng Cơ sở chăn nuôi phải xây nơi cao

ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp Chuồng trại vào các tháng

mưa phùn và lạnh phải khô, thoáng nhưng lại ấm cho lợn con

Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom hằng ngày và ủ kỹ đúng nơi

quy định Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật

hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang căn bệnh phát tán trong

tự nhiên

- Không nuôi chung lợn nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực

- Phải rất cẩn thận thực hiện chế độ dinh dưỡng trong thời gian cai sữa

- Thức ăn đảm bảo, nước uống sạch sẽ

- Tập ăn sớm với thức ăn chuẩn

Trang 35

- Tăng dần khẩu phần và số lần tập ăn, giảm dần khối lượng sữa và số lần cho bú tối thiểu 7 ngày trước và sau cai sữa

Trần Thế Thông và cs (1979) [34] cho biết, để phòng bệnh có hiệu quả cần làm tốt các việc sau:

- Nền chuồng phải luôn luôn khô ráo

- Tránh dội nước vào nền chuồng, nhất là đối với lợn con theo mẹ

- Về mùa đông cũng như mùa hè, nền chuồng lợn nái nuôi con đều được độn rơm rạ khô ráo

Theo Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [5], lợn rất mẫn cảm với bệnh ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau, bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy giun sán bằng các thuốc đặc hiệu Thức ăn nước uống phải luôn luôn sạch sẽ

Bowman D.D (1999) [45] cho rằng: Biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều thống nhất: Phenothiazin một trong những thuốc có tác dụng ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và tẩy cả giun non được khuyên là nên dùng mang tính chất phòng bệnh

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24], đã vận dụng học thuyết Skjabin đưa ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán Tác giả cho rằng, biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun lươn là biện pháp phòng chống tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoài ký chủ

Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [11] cho rằng: Các cơ sở chăn nuôi lợn tập trung nếu có lợn mắc bệnh giun lươn cần tăng cường công tác vệ sinh, giữ chuồng luôn khô ráo, dễ thoát nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng với bệnh Định kỳ mỗi tháng sát trùng chuồng trại, phân phải mang đi ủ, chuồng trại phải được sát trùng trước khi cho lợn vào để phòng lợn nhiễm giun sán

Trang 36

Phan Địch Lân và cs, (2005) [23] cho biết: Để phòng bệnh giun lươn có hiệu quả cần vệ sinh nền chuồng sân chơi, không để nước tiểu, nước rửa chuồng, nước phân chảy vào ruộng thức ăn xanh nuôi lợn Phân lợn phải được

ủ trước khi bón ruộng Ruộng trồng thức ăn xanh cho lợn quy hoạch xa chuồng nuôi lợn Thức ăn xanh trước khi cho lợn ăn phải rửa nhiều lần để giảm tới mức tối đa lượng trứng giun

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [21], việc phòng bệnh gồm các vấn đề sau:

- Thực hiện đầy đủ biện pháp vệ sinh thú y như giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng có thể hạn chế sự tồn tại của ấu trùng giun lươn Bãi chăn thả cũng cần giữ khô ráo, định kỳ sử dụng thuốc diệt trùng: cresyl 5%; dung dịch NaOH 3% để diệt ấu trùng

- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong các loại hoá dược đặc hiệu tẩy dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn con trong lứa tuổi

7 - 10 ngày

- Thực hiện ủ phân để diệt trứng giun

Sát trùng chuồng lợn bằng cách quét dọn sạch sẽ, hàng tháng dùng NaOH 5%, cacbolin 3 - 5%, creolin 3 - 5%, CaCl210% và focmalin 2 - 5% có thể phòng hộ được 70% lợn con khỏi nhiễm bệnh (Skarjabin K.I và cs (1963) [28])

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều hóa dược được dùng để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hóa nói chung và bệnh giun lươn nói riêng Tuy nhiên, theo quan điểm của Skrjabin K.I (1963) [28], muốn thanh toán bệnh giun sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động Dùng tất cả mọi phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hóa học (thuốc), sinh vật học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)

Các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp sau:

Trang 37

+ Định kỳ dùng thuốc tẩy giun

+ Tập trung phân ủ để diệt trứng và ấu trùng

+ Không chăn thả, làm chuồng ở nơi ẩm thấp

+ Không cho lợn uống nước bẩn, nước tù đọng

Tẩy giun trước khi trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Phenothiazin là một trong những thuốc có tác dụng ức chế giun trưởng thành

đẻ trứng và tẩy cả giun non - được khuyên là nên dùng để tẩy mang tính chất phòng bệnh cho lợn

* Trị bệnh:

Điều trị bệnh giun lươn cho súc vật rất khó khăn, vì giun nằm sâu dưới lớp niêm mạc ruột nên thuốc tác dụng yếu Nên dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, tiêu độc nơi có bệnh Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và vitamin cho con vật ốm, giữ vệ sinh thức

ăn nước uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [21], có thể dùng một trong các hoá dược sau để tẩy giun lươn cho lợn:

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [29]: Có thể sử dụng tayzu để tẩy giun lươn cho lợn, với liều 4g/ 30-40kg TT trộn vào thức ăn, hoặc levasol 7,5% tiêm dưới da hoặc pha nước cho uống với liều 1ml/10kg TT

Phạm Đức Chương và cs (2003) [3] cho biết, có thể dùng fenbendazole liều 3mg/kg TT/ngày, dùng trong 3 ngày, có hiệu lực 81% đối với giun lươn

Trang 38

Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs (2003) [43], có thể dùng các thuốc sau để trị bệnh giun lươn cho lợn:

- Mebendazole 10% (tên khác: mebenvet 10%, telmin 10%), liều 2g/10kgTT

- Levasol 7,5% (tên khác là levavet, levaject-7,5%, levamisole), liều 1ml/10kg TT

- Hanmectin-25 (tên khác là ivomec, ecomectin, doramectin, dectomax), liều 1,2ml/10kg TT

- Han- Dertil-B, liều 1 viên/60kg TT

- Tayzu (tên khác levamisole, decaris), trộn đều 1 gói 4 gram vào thức

để kiểm soát lây nhiễm ấu trùng giun lươn qua sữa cho lợn con sau khi sinh

Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [25] cho rằng: Levamisole tên thương phẩm là tramisol hay ripercol, thuốc có thể trộn lẫn vào thức ăn hoặc pha vào nước uống, có phổ tác dụng rộng đối với giun lươn

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [14], có thể dùng các thuốc sau để điều trị giun lươn ở lợn:

- Dùng violet gentian, liều 50 - 70 mg/kg TT, cho uống 2 lần trong 1 ngày Dùng 3 ngày liền hiệu quả đạt 94 - 100%

- Thiabendazol: 50 mg/kg TT Trộn lẫn thức ăn hay cho vào nước uống thành nhũ tương, cho ăn hoặc uống không cần nhịn đói trước

- Fuchsin: 0,2 - 0,3 g/con, chia 2 lần trong ngày, dùng 4 ngày liền Hoàng Tích Huyền và cs (1998) [9] cho biết: Thiabendazol (mintezol) là tinh thể màu trắng, không vị, không tan trong nước ổn định ở thể rắn hoặc dung

Trang 39

dịch Thiabendazol có hiệu lực tốt với giun tròn, trong đó có giun lươn

(Strongyloides ransomi) Thuốc ức chế được sự tạo trứng và có tác dụng đặc hiệu

ức chế sự phát triển của trứng và ấu trùng giun trong cơ thể động vật Thiabendazol còn ức chế sự tiết acetylcholinesterase, cản trở giun tròn di chuyển

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1995) [20]: Tetramisol có hoạt tính cao với giun lươn trưởng thành cũng như ấu trùng Tác dụng làm tê liệt hệ thống thần kinh của giun và gây co bóp ruột đẩy giun ra ngoài Đồng thời tác giả cũng cho biết không sử dụng dipterex để tẩy giun lươn cho lợn

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [24], đã khuyến cáo rằng, để tẩy giun đạt hiệu quả cần biết một số yêu cầu sau:

+ Trước tiên phải chẩn đoán chính xác Sau đó tẩy cho những con vật

bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được Tốt nhất là nên tẩy vào mùa xuân (tháng 3-4) và mùa thu (tháng 8-9) Khi tẩy phải nhốt trong chuồng 3-5 ngày để tập trung phân ủ diệt mầm bệnh, sau 15 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc

+ Đối với ấu trùng tự do ngoài tự nhiên: Không cho ấu trùng vào cơ thể ký chủ bằng cách: cách ly lợn ốm, tiêu độc dụng cụ chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn

Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1], điều trị bệnh cho gia súc non rất khó khăn, vì giun lươn rất nhỏ và nằm sâu dưới lớp niêm mạc ruột nên thuốc tác dụng yếu Tác giả khuyên nên dùng một trong các hóa dược sau để tẩy giun lươn cho lợn:

Trang 40

Johanes Kaufmann (1996) [53] cho biết: Ivermectin với liều 0,3mg/kg

TT cho hiệu quả tốt trong 1-2 tuần Tác giả khuyến cáo nên chú ý đến lượng sữa của lợn mẹ trong thời gian nuôi con khi sử dụng thuốc tẩy giun

Theo Nguyễn Phước Tương (1994) [38], levamisol có hoạt lực rộng đối với giun tròn, trong đó có giun lươn do thuốc có khả năng làm tê liệt và tăng sự co bóp của ruột nên hiệu quả điều trị cao Tác giả cho biết, thiabendazol: liều 50mg/kg

TT Hiệu quả đạt 60-80% Mebendazol: liều 5-7mg/kg TT Hiệu quả đạt 100% Nếu dùng hai loại thuốc trên cho lợn trước hoặc sau khi sinh sẽ hạn chế sự nhiễm giun lươn cho lợn con Ivermectin có hiệu quả chống lại giun trưởng thành, nếu tẩy cho lợn nái trước khi đẻ 1-2 tuần, thì sự truyền bệnh giun lươn qua sữa đầu

96-sẽ giảm rõ rệt Ngoài ra, vệ sinh chuồng trại là yếu tố quan trọng để giảm số lượng

ấu trùng ở ngoại cảnh và do đó giảm nguy cơ nhiễm bệnh

Barth D., Preston J.M (1985) [44], sử dụng ivermectin với liều 0,3 mg/kg TT cho lợn nái mang thai trong giai đoạn từ 4 đến 16 ngày trước khi đẻ

có hiệu quả cao trong việc chống lây nhiễm ấu trùng giun lươn

Đoàn Thị Phương (2010) [27] đã tẩy giun lươn S.ransomi cho lợn ở

Thái Nguyên, kết quả: Thuốc hanmectin - 25 (liều 0,3 mg/kg thể trọng) hiệu lực đạt 97,73%; thuốc levamizol (liều 7,5 mg/kg thể trọng) hiệu lực đạt 89,71%; thuốc vime - dazol (liều 12 mg/kg thể trọng) hiệu lực tẩy đạt 87,76% Cả 3 thuốc trên đều an toàn với lợn (tỷ lệ an toàn từ 97,76 - 100%)

1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nước ta, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, là điều kiện rất thuận lợi cho trứng và ấu trùng giun lươn phát triển ở ngoại cảnh

Đoàn Văn Phúc và cs (1970) nghiên cứu về bệnh giun lươn ở một số cơ

sở chăn nuôi lợn tập trung thuộc vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, đã thấy

tỷ lệ nhiễm là 18 - 45% tùy vùng Tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi như sau:

Ngày đăng: 15/11/2020, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w