1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài thảo luận TÌNH HUỐNG số 3 bảo vệ QUYỀN sở hữu TRÍ TUỆ

18 438 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 54,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Bài thảo luận TÌNH HUỐNG SỐ 3 BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Trang 1

ĐỀ TÀI TÌNH HUỐNG SỐ 3: BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Công ty Gedeon Richter (gọi tắt là Công ty GR) được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu “Postinor” (thuốc ngăn ngừa thai khẩn cấp) được bảo hộ tại Việt Nam theo đăng ký quốc tế số R441292 ngày 19/10/1998, tháng

4 năm 2017 Công ty GR phát hiện Công ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình Dương sử dụng các chi tiết từ mầu sắc, cách sắp xếp và trình bày bao gói của mẫu hộp thuốc ngừa thai mang nhãn hiệu “Posinor” của Công ty GR Để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình, công ty GR đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh yêu cầu Công ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình Dương chấm dứt hành vi cạnh tranh không lãnh mạnh về sở hữu trí tuệ và đòi bồi thường thiệt hại số tiền là 85.348 USD và chi phí luật sư là 9,496 USD, bồithương tổn thất về tinh thần với mức tối thiểu là 10 tháng lương cơ bản, thu hồi và tiêu hủy tất cả các hộp thuốc có chỉ dẫn thương mại, cụ thể là hình hoa hồng mẫu hồng, chữ số 2 màu hồng được

bố trí trên bao bì cùng với việc công khai xin lỗi trên báo Tuổi trẻ và Thanh niên trong 3

kỳ liên tiếp

Câu hỏi thảo luận:

1 Công ty Gedeon Richter đã sử dụng biện pháp gì để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình?

2 Để bảo vệ quyền lợi của mình Gedeon Richter còn có thể sử dụng các biện pháp nào? Các yêu cầu nào từ phía Công ty Gedeon Richter sẽ được giải quyết?

3 Bình luận về những cam kết của Việt Nam liên quan đến các các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định CPTPP)

Trang 2

Lời nói đầu

Pháp luật là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội Đó là cung cụ, phương tiện bảo đảm cho sự tồn tại phát triển nhằm điều chỉnh các hành vi của con người, các quan hệ trong xã hội Ở nước ta đặc biệt là trong hệ thống pháp luật có rất nhiều ngành luật khác nhau Mỗi ngành luật đều có những đặc trưng riêng biệt điều chỉnh các mối quan hệ khác nhau Tuy nhiên, giữa các ngành luật này lại có sự liên kết chặt chẽ với nhau, bổ sung, tương hỗ lẫn nhau để xây dựng nên một hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Gần gũi và thiết thực nhất phải kể đến ngành luật sở hữu trí tuệ Ở đây điều chỉnh về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó Vậy để tìm hiểu một cách chi tiết về các quyền này thì Nhóm 6 chúng em xin được làm

rõ qua tình huống giả định ở trên

Nội dung

1 Công ty Gedeon Richter đã sử dụng biện pháp gì để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình?

A Căn cứ pháp lý:

- Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019;

- Căn cứ vào Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;

- Căn cứ vào Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm

2009, 2019;

- Căn cứ vào Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản

lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

B Phân tích tình huống:

a Xét hành vi của Công ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình Dương: Công

ty Gedeon Richter (gọi tắt là Công ty GR) được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu “Postinor" (thuốc ngăn ngừa thai khẩn cấp)

được bảo hộ tại Việt Nam theo đăng ký quốc tế số R441292 ngày 19/10/1998 Đến tháng

4 năm 2017 Công ty GR phát hiện Công ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình

Trang 3

Dương sử dụng các chi tiết từ màu sắc, cách sắp xếp và trình bày bao gói của mẫu hộp thuốc ngừa thai mang nhãn hiệu “Posinor" của Công ty GR.

*Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019:

Điều 129 Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

1 Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

c) Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

d) Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất

kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

2 Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

Trang 4

*Căn cứ vào Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản

lý nhà nước về sở hữu trí tuệ:

Điều 5 Xác định hành vi xâm phạm

Hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại các Điều 28, 35, 126, 127, 129 và 188 của Luật Sở hữu trí tuệ, khi có đủ các căn

cứ sau đây:

1 Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

2 Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.

3 Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ

và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26, 32, 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 125, Điều 133, Điều 134, khoản 2 Điều 137, các Điều 145, 190 và 195 của Luật Sở hữu trí tuệ.

4 Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.

Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.

 Hành vi công ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình Dươngsử dụng các chi tiết từ màu sắc, cách sắp xếp và trình bày bao gói của mẫu hộp thuốc ngừa thai mang nhãn hiệu “Posinor” của Công ty GR đã xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của công ty GR và cóhành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ

b Công ty Gedeon Richter đã sử dụng biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình:

Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là nhà nước và chủ văn bằng sở hữu công nghiệp sử dụng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu các đối tưọng sở hữu công nghiệp của mình, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu các đối tượng này

Quyền sở hữu công nghiệp được bảo vệ bằng các biện pháp hành chính, dân sự và hình sự Trong đó chủ sở hữu công nghiệp có thể tự bảo vệ hoặc bằng hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua việc khởi kiện tại Toà án, hoặc tố cáo với các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền khác như Thanh tra Khoa học và Công nghệ, Cảnh sát điều tra tội phạm

Trang 5

về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Hải quan, Quản lý thị trường (Theo Điều 199 và Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019)

Quyền tự bảo vệ là quyền của chủ thể quyền sở hữu công nghịêp áp dụng các biện pháp khác nhau để tự bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình, bao gồm: - Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: Đưa các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi, thời hạn bảo hộ và các thông tin khác về quyền sở hữu công nghiệp lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, nhằm thông báo rằng sản phẩm là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm; sử dụng phương tiện hoặc biện pháp kỹ thuật nhằm đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ

Quyền tự bảo vệ bao gồm:

- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

- Yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm bằng các thông báo bằng văn bản cho ngưòi có hành vi xâm phạm quyền

- Khởi kiện ra Toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình (Căn

cứ theo Điều 198 Luật SHTT và Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP)

*Căn cứ vào Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019:

Điều 198 Quyền tự bảo vệ

1 Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trang 6

2 Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc phát hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3 Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật này và các biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

4 Tổ chức, cá nhân là bị đơn trong vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu được Tòa án kết luận là không thực hiện hành vi xâm phạm có quyền yêu cầu Tòa

án buộc nguyên đơn thanh toán cho mình chi phí hợp lý để thuê luật sư hoặc các chi phí khác theo quy định của pháp luật.

5 Tổ chức, cá nhân lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mà gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân khác thì tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa

án buộc bên lạm dụng thủ tục đó phải bồi thường cho những thiệt hại do việc lạm dụng gây ra, trong đó bao gồm chi phí hợp lý để thuê luật sư Hành vi lạm dụng thủ tục bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hành vi cố ý vượt quá phạm vi hoặc mục tiêu của thủ tục này.

*Căn cứ vào Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ:

Điều 21 Thực hiện quyền tự bảo vệ

1 Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự bảo vệ theo quy định tại Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ và theo quy định chi tiết tại Điều này.

2 Các biện pháp công nghệ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Đưa các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi, thời hạn bảo hộ và các thông tin khác về quyền sở hữu trí tuệ lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, bản gốc và bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (sau đây trong Điều này gọi

Trang 7

chung là sản phẩm) nhằm thông báo rằng sản phẩm là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm; b) Sử dụng phương tiện hoặc biện pháp kỹ thuật nhằm đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ.

3 Việc yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ do chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện bằng cách thông báo bằng văn bản cho người xâm phạm Trong văn bản thông báo phải có các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, Văn bằng bảo hộ, phạm vi, thời hạn bảo hộ

và phải ấn định một thời hạn hợp lý để người xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm.

4 Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ phải được thực hiện tuân theo quy định tại các Điều 22, 23, 24, 25, 26 và 27 của Nghị định này.

C Kết luận:

Như vậy, Công ty Gedeon Richter đã sử dụng quyền tự bảo vệ căn cứ theo Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 để bảo

vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình cụ thể là:

+ Công ty GR đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh yêu cầu Công

ty TNHH Trung Nam và Công ty Dược Bình Dương chấm dứt hành vi cạnh tranh không lãnh mạnh về sở hữu trí tuệ;

+ Đòi bồi thường thiệt hại số tiền là 85.348 USD và chi phí luật sư là 9.496 USD;

+ Đòi bồi thương tổn thất về tinh thần với mức tối thiểu là 10 tháng lương cơ bản, thu hồi

và tiêu hủy tất cả các hộp thuốc có chỉ dẫn thương mại, cụ thể là hình hoa hồng mẫu hồng, chữ số 2 màu hồng được bố trí trên bao bì cùng với việc công khai xin lỗi trên báo Tuổi trẻ và Thanh niên trong 3 kỳ liên tiếp

Từ việc Công ty Gedeon Richter đã sử dụng biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình nói riêng ta có thể rút ra ý nghĩa của việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp nói chung như sau:

+ Mục tiêu của hệ thống bảo vệ QSHCN chính là chống lại nguy cơ bị lợi dụng hoặc chiếm đoạt kết quả đầu tư sáng tạo và bảo vệ các cơ hội cho người đã đầu tư để tạo ra các kết quả sáng tạo đó, nhờ vậy mà kích thích, thúc đẩy các nỗ lực sáng tạo trong nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh

Trang 8

+ Trong quan hệ thương mại quốc tế, việc QSHCN không được bảo vệ và thực thi thoả đáng, hiệu quả thì sẽ bị coi là thực tiễn thương mại thiếu lành mạnh và là rào cản đối với thị trường tự do và mở cửa Vì khi các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đó không cần đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D), có thể bắt chước, sao chép và bán các sản phẩm với giá rẻ hơn nhiều, và vì thế chiếm chỗ và loại các sản phẩm hợp pháp và chính hiệu ra khỏi thị trường đó Kết quả là các nhà sản xuất chân chính không có khả năng thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận cần thiết để tiếp tục duy trì hoạt động cải tiến và sáng tạo, bao gồm cả việc tạo ra các sản phẩm mới, làm thiệt hại đối với các quyền lợi thương mại và đầu tư của họ

+ Có thể khẳng định rằng, hiện nay không có hàng hoá có giá trị nào được thị trường chấp nhận mà lại không chứa các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một điều kiện không thể thiếu để các nhà sản xuất có thể duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, có thể nói các đối tượng sở hữu công nghiệp được tạo ra để đáp ứng nhu cầu nhất định của người tiêu dùng và việc đảm bảo thực thi quyền sở hữu công nghiệp cũng chính là bảo đảm cho người tiêu dùng

được sử dụng sản phẩm chính hiệu, đảm bảo chất lượng đúng bản chất của nó ( Đây là ý nghĩa người tuyết trình tự đọc trong word)

2 Để bảo vệ quyền lợi của mình, Gedeon Richter còn có thể sử dụng các biện pháp nào? Các yêu cầu nào từ phía công ty Gedeon Richter sẽ được giải quyết?

A Căn cứ pháp lý:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 198, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 ;

- Căn cứ Khoản 2, Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006;

- Căn cứ Khoản 5 Điều 202 Luật SHTT;

- Căn cứ Khoản 2 Điều 202 Luật SHTT 2005;

- Căn cứ theo khoản 4 Điều 2002 Luật SHTT;

- Căn cứ Khoản 3 Điều 205;

B Phân tích tình huống:

Căn cứ Khoản 1 Điều 198, Luật Sở hữu trí tuệ 205 về Quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền

sở hữu trí tuệ:

“Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền

sở hữu trí tuệ của mình:

Trang 9

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”

=> Như vậy, ngoài các biện pháp mà Gedeon Richter (GR) đã sử dụng để bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của mình, GR còn có thể áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Biện pháp công nghệ nhằm bảo vệ quyền SHTT:

(Khoản 2, Điều 21 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, được sửa đổi, bổ sung theo quy định của Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010, sau đây gọi là Nghị định 105/NĐ-CP):

a) Đưa các thông tin chỉ dẫn về căn cứ phát sinh, văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi, thời hạn bảo hộ và các thông tin khác về quyền sở hữu trí tuệ lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, bản gốc và bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (sau đây gọi chung là sản phẩm) nhằm thông báo rằng sản phẩm là đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ và khuyến cáo người khác không được xâm phạm;

b) Sử dụng phương tiện hoặc biện pháp kỹ thuật nhằm đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ.

C Kết luận:

*Các yêu cầu được giải quyết:

Thứ nhất, là thu hồi và tiêu hủy tất cả các hộp thuốc có chỉ dẫn thương mại, cụ

thể là hình hoa hồng mẫu hồng, chữ số 2 màu hồng được bố trí trên bao bì theo khoản 5

Điều 202 Luật SHTT: “ Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không

nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được

sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với

Trang 10

điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.”

=> Còn việc công khai xin lỗi trên báo Tuổi trẻ và Thanh niên trong 3 kỳ liên tiếp theo khoản 2 Điều 202 Luật SHTT 2005: “ Buộc xin lỗi, cải chính công khai” Yêu cầu này được giải quyết

Thứ hai, là bồi thường thiệt hại số tiền là 85.348 USD căn cứ theo khoản 4 Điều

202 Luật SHTT: “ Buộc bồi thường thiệt hại” nhưng với số tiền 85.348 USD thì trên

trường hợp trên công ty GR phải căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm QSHTT theo Điều 205 của Luật này nếu công ty GR chưa xác định được mức bồi thiệt hại theo khoản a, b, c của Điều 205 LSHTT thì Tòa án sẽ được ấn định tùy thuộc vào mức độ thiệt hại nhưng không quá 500 triệu đồng Nên số tiền 85.348 USD của công ty

GR đưa ra phải có căn cứ rõ ràng thì mới buộc bên Trung Nam và Bình Dương bồi thường thiệt hại được và yêu cầu này vẫn được Tòa án giải quyết.

Thứ ba, là chi phí luật sư là 9,496 USD Theo quy định tại khoản 3 Điều 205 của

Luật sở hữu trí tuệ, thì chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý

để thuê luật sư

Chi phí hợp lý để thuê luật sư là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ phức tạp của vụ việc; kỹ năng, trình độ của luật sư và lượng thời gian cần thiết để nghiên cứu vụ việc Mức chi phí bao gồm mức thù lao luật sư và chi phí đi lại, lưu trú cho luật sư Mức thù lao do luật sư thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý dựa trên các căn cứ và phương thức tính thù lao quy định tại Luật Luật sư

*Yêu cầu chưa được giải quyết:

Thứ tư, là bồi thương tổn thất về tinh thần với mức tối thiểu là 10 tháng lương cơ

bản Tòa án quyết định bồi thường thiệt hại về tinh thần nếu nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình Tùy từng trường hợp cụ thể, tùy mức độ tổn thất về tinh thần như tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và các tổn thất khác về tinh thần do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra cho chủ thể quyền mà Tòa án quyết định trong giới hạn từ 5 triệu đến

50 triệu đồng

Ngày đăng: 15/11/2020, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w