TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TNTN QUÁCH VĂN ĐEN XÁC ĐỊNH TIỀM NĂNG CÁC VẬT DỤNG, ĐỒ DÙNG HỌC TẬP – SINH HOẠT CÓ KHẢ NĂNG TÁI SỬ DỤNG CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG & TNTN
QUÁCH VĂN ĐEN
XÁC ĐỊNH TIỀM NĂNG CÁC VẬT DỤNG, ĐỒ DÙNG HỌC TẬP – SINH HOẠT CÓ KHẢ NĂNG TÁI SỬ DỤNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn:
NGUYỄN HỮU CHIẾM
CẦN THƠ
2010
Trang 2LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CBHD: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHIẾM
SVTH: QUÁCH VĂN ĐEN 1
LỜI CẢM TẠ
EM XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN!
Thầy Nguyễn Hữu Chiếm, thầy Dương Trí Dũng, cô Bùi Thị Nga đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ về chuyên môn và đóng góp nhiều ý kiến quý báo trong quá trình thực hiện và viết luận văn
Xin cám ơn tất cả quý Thầy Cô Bộ Môn Môi Trường và QLTNTN đã hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập để em có kiến thức chuyên môn, tạo
cơ sở ban đầu cho em làm việc, nghiên cứu và học hỏi sau này
Chân thành cảm ơn các bạn sinh viên đã cung cấp cho tôi những thông tin trong các bài phỏng vấn, các bạn học cùng lớp Khoa Học Môi Trường K32 đã hết lòng động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cần Thơ, tháng 04/ 2010 Quách Văn Đen
Trang 3LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CBHD: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHIẾM
SVTH: QUÁCH VĂN ĐEN
DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ hình thức trao đổi đồ cũ của sinh viên 15 Hình 2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ mục đích trao đổi đồ cũ của sinh viên 16 Hình 3: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ mốc thời gian trao đổi đồ cũ của sinh viên 17
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Kiến thức chung 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát về trường Đại học Cần Thơ và đối tượng nghiên cứu 3
2.1.1 Trường Đại học Cần Thơ 3
2.1.2 Sinh viên Đại học Cần Thơ 3
2.2 Các khái niệm và hoạt động của tái sử dụng vật dụng, đồ dùng 3
2.3 Các hoạt động tái sử dụng, 3R trên thế giới 7
2.3 Các hoạt động tái sử dụng, 3R tại Việt Nam 7
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Thời gian và địa điểm 8
3.2 Nội dung đề tài 8
3.3 Phương pháp nghiên cứu 8
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 8
3.3.2 Xử lý số liệu 8
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT 9
4.1 Nguồn gốc các vật dụng, đồ dụng được khảo sát 9
4.2 Hiên trạng đồ dùng, vật dụng sinh viên đang sử dụng 10
4.3 Số lượng, khối lượng đồ dùng – vật dụng có khả năng tái sử dụng trong quá trình phỏng vấn 1 2 4.4 Phương pháp xử lý vật dụng, đồ dùng đã qua sử dụng hàng năm, khi tốt nghiệp 1 3 4.5 Sự ủng hộ của sinh viên đối với dịch vụ trao đổi đồ cũ 1 5 4.6 Các hình thức trao đổi 15
4 7 Ý nghĩa mục đích trao đổi đồ cũ của sinh viên 16
4.8 Mốc thời gian trao đổi đồ dùng của sinh viên 17
4.9 Nhận định về việc sử dụng đồ tái sử dụng của sinh viên 17
4.10 Lợi ích kinh tế từ việc tái sử dụng sách cũ trong sinh viên 17
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 19
5.1 Kết luận 19
5.2 Đề xuất 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 5Chương 1 GIỚI THIỆU
Ngày nay, các sản phẩm và vật dụng dùng trong sinh hoạt, phục vụ cho cuộc sống con người, khi đã không còn sử dụng, lại không được xử lý (thu gom, tái chế) mà thải vào môi trường
là một trong những nguyên nhân góp phần làm ô nhiễm môi trường Do hầu hết người dân chưa
có những hiểu biết nhất định về giảm thải, tái sử dụng hay tái chế (Reduce, Reuse, Recycle - 3R), nên các vật dụng (bọc nilon, bàn ghế cũ - hư, quần áo cũ,…) thường được thải trực tiếp vào môi trường Từ đó đã gây ra hiện tượng sử dụng hoang phí các đồ dùng Một bộ phận cộng đồng do sự lưu trú có thời hạn Sau khi đã hoàn thành quá trình học tập hay công tác tại một địa phương, do phải chuyển đi nơi khác đã thải ra một lượng đồ dùng lớn vào môi trường do không có nơi giải phóng vật dụng cũ, cồng kềnh hay vật dụng không còn sử dụng nữa Đây là nguồn nguyên liệu cần thiết cho quá trình tái chế, tái sử dụng, đem lại lợi nhuận kinh tế, đồng thời làm giảm chi phí
xử lý chất thải cho xã hội
Trường Đại học Cần Thơ là trung tâm đào tạo nguồn tri thức cho cả nước nói chung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng Trường có số lượng sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đang theo học cũng như nghiên cứu tại trường là rất lớn với hơn 22000 sinh viên Mỗi năm, tân sinh viên trang bị đồ dùng sinh hoạt, học tập với giá thị trường rất đắt đỏ (1cái thau giặt
đồ gía thị trường trung bình là 35.000 đồng, khi bán lại cho ve chai dù còn hay không còn sử dụng được thì cũng có giá là 5.000 đồng; 1kg giáo trình mới photo có giá 40.000 đồng, khi bán 1kg giáo trình đã qua sử dụng lại cho ve chai chỉ còn giá là 1500 đồng) Trong khi đó sinh viên ra trường phải giải phóng các đồ dùng sinh hoạt sau vài năm học đại học với giá rất rẻ hoặc phải thải
bỏ sách vở, giáo trình Người thu mua lại xếp sách vở, giáo trình này vào loại giấy vụn gây lãng phí và sử dụng không đúng mục đích Thực trạng này đã tồn tại trong một khoảng thời gian dài do sinh viên không có nơi để giải phóng, phân loại, đồng thời cũng không có dịch vụ để trao đổi các vật dụng đó Nếu nhìn ở một khía cạnh khác, đó là một trong những việc làm gây ô nhiễm môi trường gián tiếp Nhu cầu sử dụng vật dụng sinh hoạt của sinh viên là điều tất yếu, nếu có thể tái
sử dụng các vật dụng của sinh viên để phục vụ sinh viên là điều cần thiết và nên làm
Trang 6Vấn đề biến đổi khí hậu là vấn đề mà thế giới đang rất quan tâm Đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, một trong những đồng bằng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Chung tay giảm thiểu tác động của biến đối khí hậu là vấn đề cấp thiết và nó cần phải được thực hiện từ những việc làm nhỏ nhất và thiết thực nhất Trong đó vấn đề giảm thiểu lượng phát thải, tái sử dụng, tái chế - 3R là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Từ những thực trạng trên đề tài: “Xác định tiềm năng các vật dụng, đồ dùng học tập –
sinh hoạt có khả năng tái sử dụng của sinh viên trường Đại học Cần Thơ” được thực hiện với
Trang 7Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về trường Đại học Cần Thơ và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Trường Đại học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ (ĐHCT) là cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm của Nhà nước
ở ĐBSCL, là trung tâm văn hóa - khoa học kỹ thuật của vùng Trường đã không ngừng hoàn thiện
và phát triển, từ một số ít ngành đào tạo ban đầu, trường đã cũng cố, phát triển thành một trường
đa ngành và đa lĩnh vực Hiện nay trường đào tạo 76 chuyên ngành đại học, 28 chuyên ngành cao học, 8 chuyên ngành nghiên cứu sinh và 1 chuyên ngành cao đẳng Trường hiện có 76 chuyên ngành đào tạo đại học và 1 chuyên ngành cao đẳng với 21.370 sinh viên hệ chính qui, 10.014 sinh viên hệ vừa làm vừa học và 3.654 sinh viên hệ khác (cử tuyển, liên thông, bằng 2 ); 28 chuyên ngành cao học và 8 chuyên ngành nghiên cứu sinh với 1.846 học viên Hàng năm, trường còn tiếp nhận sinh viên từ các truờng đại học nước ngoài (Hoa Kỳ, Bỉ, Nhật Bản, ) đến học tại Trường
trong khuôn khổ thỏa thuận hợp tác giữa hai bên (Nguồn: www.ctu.edu.vn)
Trường có khu kí túc xá chia làm hai loại: Kí túc xá trường dành cho các sinh viên ở tập trung, kí túc xá tỉnh của các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long dành cho sinh viên các tỉnh Khu kí túc xá đáp
ứng 4600 chổ ở cho sinh viên khoảng (20.9 %) sinh viên của trường ( Nguồn: Phòng Công Tác
Sinh Viên trường Đại học Cần Thơ, năm 2009)
2.1.2 Sinh viên Đại học Cần Thơ
Hiện tại trường có khoảng trên 22.000 sinh viên, chủ yếu từ các tỉnh xa: Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Long An,… đến học tập Nhưng kí túc xá chỉ đáp ứng khoảng 20.9 % chỗ ở, còn lại phải ở trọ bên ngoài Sinh viên đa phần là con nông dân, hoàn cảnh khó khăn Vì vậy việc theo học tại thành phố Cần Thơ vấn đề tài chính cho tài liệu học tập, vật dụng sinh hoạt là gánh nặng cho sinh viên và gia đình trong suốt quá trình học tập
Trang 82.2 Các khái niệm và hoạt động của tái sử dụng vật dụng, đồ dùng
3R là từ viết tắt của 3 chữ cái đầu trong tiếng Anh: Reduce- Reuse-Recycle
+ Reduce (Giảm thiểu): Giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối sống, cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch…Ví dụ: Sử dụng làn hay túi vải để đi chợ thay cho túi nilon để nhằm giảm lượng rác thải phát sinh từ túi nilon…
+ Reuse (Tái sử dụng): Sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Ví dụ: sử dụng lại chai đựng nước khoáng để đựng nước…
+ Recycle (Tái chế): Sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất có ích khác
3R là hoạt động góp phần: ngăn ngừa các vấn đề suy thoái môi trường, tiết kiệm nguồn tài
nguyên thiên nhiên, tiết kiệm chi phí thu gom và xử lý rác thải Giảm quỹ đất giành cho việc chôn lấp rác “Rác thải sẽ chỉ là rác thải nếu như chúng bị trộn lẫn, nhưng rác thải sẽ trở thành tài nguyên nếu bạn phân loại chúng đúng cách!” Đây là câu nói đầy ấn tượng của Giáo sư Kitano-
một giáo sư nổi tiếng trong lĩnh vực môi trường của Nhật Bản (Nguồn:www.3rhn.vn)
Tái sử dụng là sử dụng một sản phẩm nhiều hơn một lần Điều này bao gồm việc tái sử
dụng thông thường, nơi mặt hàng được sử dụng một lần nữa cho cùng chức năng, và sử dụng lại cuộc sống mới nơi nó được sử dụng cho một chức năng mới Ngược lại, tái chế là vi phạm xuống của sản phẩm được sử dụng vào nguyên liệu được sử dụng để thực hiện các sản phẩm mới Bằng cách tham gia các sản phẩm hữu ích và trao đổi nó, mà không cần tái chế, tái sử dụng giúp chúng
ta tiết kiệm thời gian, tiền bạc, năng lượng và nguồn lực Trong điều kiện kinh tế rộng lớn hơn, tái
sử dụng cung cấp các sản phẩm chất lượng cho người dân và các tổ chức có nghĩa là hạn chế ô nhiễm môi trường, trong khi tạo ra công ăn việc làm và hoạt động kinh doanh có đóng góp cho nền kinh tế Trong lịch sử, động lực tài chính là một trong những quy trình điều khiển chính của tái sử dụng Trong thế giới đang phát triển quy trình điều khiển này có thể dẫn đến hiệu quả rất cao việc tái sử dụng Tuy nhiên, tăng lượng và nhu cầu tiêu dùng cho sự tiện lợi của sản phẩm dùng một lần đã thực hiện tái sử dụng các giá trị thấp như đóng gói phi kinh tế ở các nước giàu hơn, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều chương trình tái sử dụng Nhận thức về môi trường hiện tại đang dần thay đổi thái độ và các quy định, chẳng hạn như các quy định bao bì mới, đang từng bước khởi đầu để đảo ngược tình hình Ví dụ điển hình của việc tái sử dụng thông thường là giao
Trang 9hàng đựng trong chai; ví dụ khác bao gồm việc sử dụng các hộp nhựa tái sử dụng (quá cảnh đóng gói) thay vì đóng hộp các tông như trước đây (Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Reuse)
Khái niệm tái sử dụng các chất/rác thải của quá trình sản xuất và sinh hoạt:
Từ xưa, ông cha ta đã tận dụng than xương động vật trong sản xuất đường hay tái sử dụng sắt vụn, đồng vụn trong sản xuất nông cụ và vật dụng sinh hoạt Những hoạt động tái chế sơ khai này đã góp phần làm giảm giá thành và giúp giải quyết vấn đề khan hiếm nguyên liệu sản xuất thời đó Ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, vai trò của tái chế như là nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu giá rẻ càng trở nên quan trọng hơn Nguồn nguyên liệu từ tái chế có thể coi
là vô tận, vì có sản xuất là có rác thải và có cơ hội cho tái chế Mặt khác, tái chế còn là một giải pháp hữu hiệu làm giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí xử lý chất thải và do đó hạ giá thành sản phẩm Bên cạnh những lợi ích kinh tế, tái chế góp phần làm giảm các thiệt hại môi trường do rác thải gây ra, đồng thời nâng cao uy tín và giúp gắn mác sinh thái cho các sản phẩm của công ty Xét trên tổng thể, thực hiện tốt biện pháp tái chế đem lại môi trường trong sạch hơn, cải thiện sức khỏe cộng đồng và là một trong những giải pháp quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của
xã hội
Ở các nước công nghiệp phát triển, tái chế có mặt trong khắp các lĩnh vực sản xuất và đời sống, đóng vai trò là một nguồn cung cấp nguyên, vật liệu quan trọng cho các chu trình sản xuất tiếp theo Thành công của các nước này trong tái chế rác thải là nhờ các chính sách đồng bộ và nhất quán của chính phủ và ý thức tự giác của người dân trong việc phân loại rác trước khi vứt bỏ Chẳng hạn như ở Nhật, luật xúc tiến sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái chế năm 1991, luật cơ bản về môi sinh năm 1993, luật xúc tiến việc thu gom, phân loại và tái chế bao bì năm
1995, luật sửa đổi về thải rác và vệ sinh công cộng các năm 1991 và 1997 đã làm thay đổi hẳn thói quen xả rác của người dân cũng như các nhà sản xuất Kể từ đó, xả rác đã trở nên đắt đỏ hơn,
và người dân cũng phải cân nhắc cẩn thận hơn trước khi vứt bỏ một món đồ Người ta thường đem bỏ những đồ không sử dụng của mình ra ngoài cổng, chẳng hạn như những chiếc radio, TV,
xe đạp, ô, xoong nồi cũ với hy vọng ai đó sẽ sử dụng chúng Tại những trung tâm xử lý rác thải, người ta tái phân loại và tân trang những đồ dùng còn có thể sử dụng được sau đó bán lại cho những khách hàng cần mua với giá rẻ
Trang 10Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất mang lại thành công cho các hoạt động tái chế rác là nhờ lợi nhuận mang lại do nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú và được hưởng các chính sách khuyến khích Lợi ích kinh tế chính là động lực quan trọng nhất thu hút dòng đầu tư vào phát triển các công nghệ tái chế rác thải hiện đại và xây dựng các cơ sở tái chế Có nhiều nguồn thu nhập đối với ngành công nghiệp tái chế: từ việc bán nguyên liệu cho các ngành sản xuất, bán các sản phẩm tiêu dùng đã qua sửa chữa, tân trang và từ việc bán điện do các lò đốt rác sản xuất ra
Việc tham khảo các mô hình tái chế rác thải của các nước phát triển có thể giúp chúng ta
xử lý các vấn đề về nguyên liệu sản xuất và ô nhiễm môi trường một cách hiệu quả hơn Bài viết này xin đề cập đến một số ví dụ tái chế điển hình đem lại lợi nhuận cho các công ty tái chế có thể
áp dụng ở nước ta Các ví dụ này có thể coi là những gợi ý cho việc đề xuất ra các giải pháp tái chế hiệu quả và phù hợp
Một trong những loại vật liệu được tái chế phổ biến nhất là nhựa (plastic) Nhựa được phân loại, thu gom, làm sạch sau đó được đưa vào một quy trình tái sinh Các nguyên liệu sợi công nghiệp làm từ nhựa tái chế được dùng để chế tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau: quần áo, giày, khăn tắm, chăn
Các vật liệu composite vốn được xem là loại vật liệu khó tái chế Tuy nhiên, một số công nghệ mới phát triển đã sử dụng composit cùng với thủy tinh trong sản xuất gạch lát vỉa hè
Trong canh tác nông nghiệp, phân bón từ rác thải nhà bếp hoặc rác thải sinh hoạt giúp giảm đáng kể lượng phân bón hóa học và cải thiện chất lượng đất Tại Nagai- Nhật Bản, kể từ năm
1998, rác thải nhà bếp cần xử lý của thành phố 33.000 dân này đã giảm 70% nhờ đưa vào sử dụng dây chuyền sản xuất phân bón từ rác
Một số nhà sản xuất còn đi xa hơn nữa trong nỗ lực tái sử dụng và tái chế các sản phẩm của mình nhằm hạ giá thành sản phẩm và thu hút sự chú ý của những khách hàng quan tâm đến vấn đề môi trường Kể từ năm 1992, công ty FujiFilm đã quyết định thiết kế lại sản phẩm máy ảnh sử dụng một lần QuickSnap của mình theo hướng tái sử dụng triệt để Trước đó, sau khi chụp, toàn
bộ chiếc máy ảnh, trừ phim, bị vứt bỏ Nhưng sau khi được thiết kế lại, kính, thân máy và đèn flash được tái sử dụng, còn các bộ phận khác được tái chế thành các hạt nhựa nguyên liệu Việc thu gom máy ảnh đã qua sử dụng cũng rất đơn giản: khách hàng chỉ việc mang cả máy ảnh lẫn
Trang 11phim đến hiệu ảnh rồi lấy ảnh về, tất cả các công việc còn lại do cửa hiệu và hệ thống thu gom của công ty đảm nhiệm
Thậm chí một số người làm nghệ thuật còn sử dụng rác thải làm chất liệu cho các sáng tác của mình, chẳng hạn giấy vẽ làm từ giấy tái chế, tranh làm từ card điện thoại hay tượng làm từ các mảnh kim loại Dĩ nhiên đây không phải là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề rác thải Điều đáng nói là cách nhìn nhận của nghệ sỹ và công chúng đối với rác thải đã thay đổi, rác đã không còn bị coi là đồ bỏ đi nữa mà đã được sử dụng vào các mục đích có ích
Các lợi ích của việc tái chế rác thải không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất Nhiều khi, những lợi ích môi trường và xã hội gián tiếp còn to lớn hơn những lợi ích kinh tế đo đếm được Chẳng hạn, tái chế giúp khôi phục và duy trì một môi trường trong sạch và lành mạnh, nhờ vậy giảm các chi phí chữa bệnh và chi phí do nghỉ ốm Môi trường trong lành cũng giúp phát triển ngành du lịch, kéo theo là các hoạt động kinh tế khác như nhà hàng, khách sạn, thương mại, cơ sở hạ tầng
Về lâu dài, việc duy trì sự phát triển bền vững quan trọng hơn nhiều so với tăng trưởng nóng trong một thời gian ngắn với chất lượng phát triển thấp, gây áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng và gây ra những vấn đề môi trường trầm trọng Một xã hội phát triển bền vững là xã hội không những đảm bảo được các nhu cầu hiện tại của mình mà còn có khả năng đảm bảo nhu cầu cho các thế hệ tương lai Điều này chỉ có thể thực hiện được khi các nguồn tài nguyên được sử dụng một cách hiệu quả và quan trọng hơn là chúng có thể được tái sinh Trong sản xuất bền vững lý tưởng, các nguyên, vật liệu được sử dụng trong những vòng khép kín với số chu kỳ vô hạn Điều hiển nhiên là chúng ta chỉ có thể tiệm cận chứ không bao giờ đạt tới khái niệm sản xuất bền vững lý tưởng này Nhưng "tiệm cận" đã là quá tốt so với tình hình hiện nay
Hy vọng rằng các ví dụ trên đây sẽ là những gợi ý cho các nhà đầu tư và sản xuất trong nước về những quan điểm và phương thức sản xuất, kinh doanh mới mẻ Một khi những suy nghĩ lạc hậu về cách thức tạo ra và sử dụng sản phẩm đã thay đổi thì những cơ hội kinh doanh mới sẽ
tự đến Chúng sẽ góp phần biến vấn đề thành giải pháp, biến rác thải thành một nguồn tài nguyên
và giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của sản xuất và tiêu thụ đến môi trường (Nguyễn Hồng
Long, Trung tâm Sản xuất Sạch Việt Nam, 2006)
Các hoạt động tái sử dụng, 3R trên thế giới:
Trang 12Đối với thế giới, mô hình 3R rất thành công và áp dụng phổ biến đa dạng dưới nhiều hình thức Đặc biệt kết hợp với kinh doanh trong cộng đồng: Các cửa hàng đồ cũ ở nước ngoài, các công ty tái chế, công ty sản phẩm thân thiện sinh thái: 3r Living tại Mỹ, Body Shop, Organic Bug,… sản phẩm các công ty này làm từ những vật dụng bị loại thải hay những nguyên liệu tự nhiên thành sản phẩm hữu dụng, sản phẩm thân thiện với môi trường Với tuyên ngôn là bảo vệ môi trường thông qua sản phẩm của mình và họ đã thành công Mô hình trao đổi đồ dùng cũ dành cho sinh
viên qua web “goinghomesale.com” của hai sinh viên người Việt đang du học tại Úc đã và đang
rất thành công, doanh thu mỗi tháng chỉ từ nguồn quảng cáo trên web đã khoảng 6000 đô la Úc
Các hoạt động tái sử dụng, 3R tại Việt Nam:
3R Hà Nội đây là tổ chức 3R đầu tiên của Việt nam, thành lập năm 2007, được sự tài trợ của
JICA&URENCO Hoạt động của 3R Hà Nội là vận động cộng đồng phân loại rác, giáo dục ý
thức môi trường cho cộng đồng, tổ chức hội chợ Mottainai trao đổi vật dụng, đồ dùng đã qua sử dụng,…
Hội chợ Mottainai ở Hà Nội, Hồ Chí Minh hay gọi là hội chợ 3R Đây là hội chợ được tổ chức để
cộng đồng đem những đồ dùng, vật dụng đã qua sử dụng đến trao đổivới nhau
(Nguồn:http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/index.aspx?ArticleID=247612&ChannelID=7)
Trang 13Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 12/2009 đến 04/2010
- Địa điểm:
Tại năm khoa: Nông nghiệp, Công nghệ, Sư phạm, Khoa Khoa học, Khoa Kinh tế trực thuộc khu I & Khu II trường Đại học Cần Thơ thuộc địa bàn quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ
3.2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, tiến hành phỏng vấn 207 sinh viên tại năm đơn
vị chuyên ngành trực thuộc trường Đại học Cần Thơ: Nông nghiệp, Công nghệ, Sư phạm, Khoa học, Kinh tế Phỏng vấn ngẫu nhiên các đối tượng theo phiếu soạn sẵn với các nội dung sau:
- Số lượng, loại, tình trạng, mức độ sử dụng, các hình thức xử lý các vật dụng, đồ dùng đã qua sử dụng có khả năng tái sử dụng của sinh viên trường Đại học Cần Thơ
- Nhu cầu sử dụng và trao đổi hoặc mua bán đối với các vật dụng, đồ dùng đã sử dụng của sinh viên trường Đại học Cần Thơ
- Xử lý các số liệu thu thập được, phân tích so sánh lợi ích của việc tái sử dụng đúng cách các vật dụng, đồ dùng đó với các vật dụng mới mua Từ đó đưa ra kết luận và kiến nghị
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Tiến hành điều tra, thu thập các số liệu về số lượng, loại, tình trạng, mức độ sử dụng, các hình thức xử lý, nhu cầu sử dụng các vật dụng, đồ dùng đã qua sử dụng của sinh viên trường Đại học Cần Thơ
- Chọn ngẫu nhiên 200 sinh viên chia đều ở năm đơn vị chuyên ngành của trường Đại học Cần Thơ: Nông nghiệp, Công nghệ, Sư phạm, Khoa học, Kinh tế Mỗi đơn vị 40 sinh viên (10
Trang 14sinh viên năm 1, 10 sinh viên năm 2, 10 sinh viên năm 3, 10 sinh viên năm 4) Phân bố số lượng phỏng vấn được tỷ lệ: 25% sinh viên trong kí túc xá, 75% sinh viên ngoài kí túc xá
- Phỏng vấn trực tiếp sinh viên bằng phiếu phỏng vấn và câu hỏi soạn sẵn
3.3.2 Xử lý số liệu
- Xử lý số liệu các mục trong bảng phỏng vấn: Số lượng, loại, tình trạng, phương pháp xử lý, nhu cầu trao đổi hoặc mua bán, bằng phần mềm Microsoft Excel 2003
Trang 15Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đa phần sinh viên ĐH Cần Thơ thuộc tầng lớp trung nông của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Điều đó cũng hợp lý khi kết quả phỏng vấn cho thấy kinh tế gia đình của sinh viên chủ yếu
rơi vào mức trung bình hoặc đủ sống (8.2% nghèo, 64.7% trung bình, 27% khá) Qua kết quả phỏng vấn nhận thấy 97.6% sinh viên phụ thuộc việc mua sắm các vật dụng sinh hoạt, đồ dùng
học tập vào gia đình Do đó, việc chăm lo học tập của sinh viên luôn là một gánh nặng cho gia đình
Đồng thời sinh viên chủ yếu ở trọ, kí túc xá nên diện tích nơi ở rất hạn chế, đòi hỏi sinh viên cần cân nhắc trong việc mua sắm vật dụng, đồ dùng thích hợp Vì vậy các đồ dùng, vật dụng trong
đề tài chỉ là những vật dụng, đồ dùng cơ bản sinh viên cần
4.1 NGUỒN GỐC CÁC VẬT DỤNG, ĐỒ DỤNG TRONG PHỎNG VẤN
Bảng 1: Nguồn gốc một số đồ dùng, vật dụng có khả năng tái sử dụng
Nguồn gốc Mua từ siêu
thị, hàng mới
Mua từ bạn; bạn hoặc người thân cho
Mua từ cửa hàng
đồ cũ Giáo trình 57.9% 33.3% 8.8%
- Giáo trình: Tái sử dụng (42.1%), mua mới (57.9%)
- Xe đạp: Tái sử dụng (50.7%), mua mới (49.3%)
Trang 16- Bàn ghế: Tái sử dụng (49%), mua mới (51%)
- Bếp ga: Tái sử dụng (37%), mua mới (63%)
- Xoong nồi, thau: Tái sử dụng (24.7%), mua mới (75.3%)
Đồ dùng của sinh viên có nguồn gốc từ vật dụng tái sử dụng (đồ dùng đã sử dụng rồi, được cho hoặc mua lại) có số lượng lớn Nhu cầu sử dụng các vật kể trên là điều kiện cần thiết và quan trọng khi xây dựng dịch vụ trao đổi đồ cũ sau này
Vật dụng tái sử dụng sinh viên đang dùng chiếm 70% là mua lại trực tiếp từ bạn bè hoặc được cho từ bạn bè và người thân, còn khoảng 30% mua từ các cửa hàng đồ cũ (chủ yếu là xe đạp
rẻ lại cho các sinh viên khác
Quần áo, chai – bọc nhựa: Quần áo chủ yếu có nguồn gốc mua mới từ siêu thị, cửa hàng Sau khi sử dụng các mặt hàng thực phẩm, thức uống và các hàng hóa công nghiệp thì chai – bọc nhựa
là các vật phát thải mà sinh viên có thể tự giữ lại để tái sử dụng Hai loại này chỉ phù hợp với mục tiêu của dịch vụ trao đổi để tái chế (chai – bọc nhựa chỉ có thể bán phế liệu)
4.2 HIỆN TRẠNG ĐỒ DÙNG, VẬT DỤNG SINH VIÊN ĐANG SỬ DỤNG
Đa phần các đồ dùng, vật dụng sinh viên đều đang được sử dụng tốt (75%), tùy từng loại có
sự khác biệt về hiện trạng sử dụng
Trang 17Bảng 2: Hiện trạng đồ dùng, vật dụng sinh viên đang sử dụng
Hiện trạng Mới mua Đang sử dụng Đã hư, không
sử dụng Giáo trình 25.2% 76.8% 0.0%
sự quan tâm đặc biệt về phần nội dung của giáo trình thì giá cả cũng là điều đáng cân nhắc Chính
vì thế cùng 1 loại sách, giáo trình mà giá nơi nào càng rẻ thì càng được ưa chuộng
Giáo trình có thể tái sử dụng trung bình từ 2 đến 3 lần, vì đa số môn học do sự thay đổi, bổ sung kiến thức của cán bộ giảng dạy Đòi hỏi khi thu mua hay trao đổi cần tìm hiểu về kiến thức trong giáo trình, sách đó còn sử dụng được hay không? Nếu không còn sử dụng lại được có thể chuyển sang tái chế giấy
Bên cạnh đó, xe đạp là phương tiện đi lại chiếm tỉ lệ lớn của sinh viên (chiếm hơn 80% tổng
số phương tiện đi lại của sinh viên) Khả năng tái sử dụng đối với loại vật dụng này là rất lớn, cần
tu sửa, tân trang một số bộ phận khi tái sử dụng Các cửa hàng xe đạp cũ làm việc này rất tốt Kết quả từ bảng 2 cho thấy có hơn 80% xe đạp sinh viên đang trong tình trạng tái sử dụng tốt Từ thực
tế cho thấy một chiếc xe đạp có thể được sử dụng từ 6 đến 7 năm nên đây là nguồn cung cấp đầu vào khả quan cho hoạt động tái sử dụng đối với sản phẩm xe đạp trong dịch vụ trao đổi
Trang 18Do tính chất của vật liệu mà bàn ghế là loại vật dụng có khả năng tái sử dụng cao Trung bình một chiếc bàn xếp đa năng khổ 50 cm x 70 cm bằng ván ép sản xuất tại Việt Nam sử dụng tốt trên 5 năm Có khoảng 94% bàn ghế đang trong tình trạng sử dụng tốt, có thể tái sử dụng của sinh viên trường
Xoong nồi và thau có thời gian sử dụng trên từ 5 năm Đây là loại vật dụng có tuổi thọ cao, 100% đang trong tình trạng sử dụng hoặc mới mua
Đèn học, bếp ga: Hai loại vật dụng này mua mới khoảng 15 - 20%, đang sử dụng khoảng 80% Vì tâm lý an toàn khi sử dụng nên đèn và bếp ga ít được tái sử dụng Đèn học, bếp ga là mặt hàng khó có khả năng tái sử dụng do tâm lý e ngại về tính an toàn khi tái sử dụng của khách hàng Bảng 2 cho thấy có khoảng 15 - 20% mặt hàng này được mua mới và khoảng 80% đang sử dụng
4.3 SỐ LƢỢNG, KHỐI LƢỢNG ĐỒ DÙNG – VẬT DỤNG CÓ KHẢ NĂNG TÁI SỬ
- Xoong nồi, thau: 799 cái
- Quần áo: 4182 cái
- Đèn học: 213 cái
- Bọc, chai nhựa: 208,6 kg
Từ kết quả trên cho thấy, có một lượng rất lớn các vật dụng có thể tái sử dụng và là nguồn cung cấp dồi dào cho dịch vụ trao đổi Nếu tính theo tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp hàng năm (6500 sinh viên/năm) của trường Đại học Cần Thơ Tương ứng sẽ có một lượng vật dụng, đồ dùng cần giải phóng rất lớn như sau:
- Giáo trình, sách: 116183.6 kg
- Xe đạp: 5087 chiếc
- Bàn, ghế: 6280 cái
Trang 19- Bếp ga: 5777 cái
- Xoong nồi, thau: 25089 cái
- Quần áo: 131318 cái
- Đèn học: 6688 cái
- Bọc, chai nhựa: 6550.2 kg
Nếu toàn bộ các vật dụng, đồ dùng trên của sinh viên được tái sử dụng hết cho sinh viên các khóa sau, sẽ tiết kiệm được một lượng tài chính khá lớn cho sinh viên Tương ứng, sức ép cho dịch vụ trao đổi các vật dụng trên cũng rất lớn về tài chính khi thu vào, kho bãi lưu trữ, tiếp thị - quảng cáo đến các sinh viên…
4.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VẬT DỤNG, ĐỒ DÙNG ĐÃ QUA SỬ DỤNG HÀNG NĂM, KHI TỐT NGHIỆP
Phương pháp xử lý đồ dùng đã sử dụng của sinh viên ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố: Kinh tế gia đình, giáo dục gia đình – nhà trường, ngành học, tính chất loại vật dụng,… Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ xét về yếu tố tính chất của loại vật dụng, đồ dùng có mặt trong quá trình phỏng vấn (thống kê số lượng các hình thức xử lý đối với các vật dụng mà sinh viên đã làm từ trước đến nay)
Bảng 3: Một số phương cách xử lý đồ dùng, vật dụng hàng năm sau khi tốt nghiệp
Phương cách Giáo
trình
Xe đạp
Bàn, ghế
Bếp
ga
Xoong nồi, thau
Quần
áo
Đèn học
Bọc, chai nhựa Đem về nhà 99 98 57 74 94 161 74 11
Trang 20Kết quả từ bảng 3 cho thấy: Khuynh hướng chung xử lý các vật dụng cá nhân sau khi tốt nghiệp là đem về nhà, sau đó là bán rẻ hoặc cho bạn bè Mỗi loại vật dụng sẽ có các phương pháp xử lý khác nhau, đòi hỏi khi dịch vụ trao đổi khi hoạt động sẽ đáp ứng tốt cả mặt kinh tế lẫn môi trường so với hình thức xử lý truyền thống sinh viên đã áp dụng Do đó, chúng ta thấy rằng tùy theo tính chất loại vật dụng, đồ dùng mà sẽ có khả năng tái sử dụng khác nhau Cụ thể,
số lượng quần áo thải ra hàng năm là rất lớn (4182/ 207 sinh viên), thế nhưng cách xử lý chủ yếu là đem về nhà 90% Mặt khác, khi muốn sử dụng mặt hàng này, sinh viên chủ yếu mua mới chứ không thích sử dụng quần áo cũ của bạn Chính vì thế mà khả năng tái sử dụng tại cộng đồng sinh viên của loại vật dụng này là không khả quan Ngược lại, giáo trình, xe đạp và bàn ghế hầu như được tái sử dụng, tái chế hoàn toàn trong quá trình học tập hay sinh hoạt của sinh viên Mặt khác, xoong nồi sau khi sử dụng đa phần sinh viên đem về nhà, đây là một phương cách tái sử dụng tốt, một số sinh viên bán phế liệu hoặc cho bạn bè sử dụng Vì vậy, nhóm hàng giáo trình, xe đạp, bàn ghế và xoong nồi là những mặt hàng rất có lợi cho dịch vụ trao đổi vì khả năng tái sử dụng là rất lớn
Bên cạnh đó, đèn học và bếp ga là loại vật dụng thường chỉ được sử dụng trong một khóa học của sinh viên (trung bình 4 năm) Vì đây là vật dụng được sử dụng xuyên suốt trong quá trình học tập của sinh viên tại nhà trọ, kí túc xá Nên khi tốt nghiệp hầu như các vật dụng này đều đã hư hỏng hay không còn sử dụng tốt Giải pháp được sinh viên chọn là chủ yếu bán phế liệu
Ngoài ra, bọc và chai nhựa cũng là một trong các loại mặt hàng được sinh viên sử dụng nhiều nhất nhưng chỉ lưu trữ để bán phế liệu, một lượng nhỏ được sinh viên tự tái sử dụng Thực
tế, đây là loại rác vô cơ phổ biến có ở khắp nơi, nhờ vào tính tiện dụng của nó mà mặt hàng này
đã được sử dụng rất phổ biến Tuy nhiên, việc tái sử dụng hay lưu trữ bán phế liệu là rất ít Đa phần bọc, chai nhựa được bỏ thùng rác hay vứt bất kì nơi nào sau khi đã sử dụng xong Chính bởi điều này đã làm ô nhiễm cảnh quan và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại một số khu vực nhất
là các khu nhà ổ chuột trên sông hay các công viên công cộng
Sinh viên chỉ tái sử dụng hoặc bán các vật dụng khi chúng mang lại lợi ích kinh tế cao Các vật dụng mà việc tái sử dụng hay lưu trữ không mang lại lợi ích kinh tế đáng kể sẽ không được thực hiện
Trang 214.5 SỰ ỦNG HỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ TRAO ĐỔI ĐỒ CŨ
Qua kết quả phỏng vấn cho thấy có 97% sinh viên trường Đại học Cần Thơ ủng hộ dịch vụ trao đổi đồ cũ
Đây là một tiềm năng rất lớn cho việc hình thành một dịch vụ mà tại đó có khả năng đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua bán vật dụng tái sử dụng trong sinh viên trường Đại học Cần Thơ Ngược lại số không ủng hộ chỉ có 3%
Đây là một dịch vụ giúp sinh viên giải phóng được các vật dụng khi vệ sinh phòng hay khi tốt nghiệp ra trường Là nơi thu mua, trao đổi tất cả các vật dụng, đồ dùng của sinh viên đã, đang
và sẽ dùng Giải quyết các chi phí phát sinh trong việc xử lý vật dụng sau khi tốt nghiệp như: giảm chi phí vận chuyển khi phải mang vật dụng về quê Hay phải bỏ thùng rác các vật dụng còn
có khả năng sử dụng, bán phế liệu…Đồng thời mang lại lợi ích kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường
4.6 CÁC HÌNH THỨC TRAO ĐỔI
Hình 1: Tỉ lệ hình thức trao đổi đồ cũ của sinh viên
Qua kết quả hình 1 cho thấy trong các hình thức trao đổi mà sinh viên chọn, hình thức trao đổi bằng tiền được ưu tiên nhất (41.55%) Sinh viên khi tốt nghiệp là giai đoạn đem đồ dùng, vật dụng trao đổi nhiều nhất, vì muốn có được một ít tài chính từ các đồ dùng đó để về quê hay giải
Trang 22quyết một số vấn đề tài chính khi ra trường Ngoài ra còn có một số sinh viên cần tiền (đóng học phí, trang trải sinh hoạt,…) nên mang đồ trao đổi lấy tiền Bên cạnh đó, hình thức lấy đồ dùng khác chiếm 32%, đây là lượng sinh viên đang theo học tại trường nên muốn trao đổi đồ đã sử dụng để lấy vật dụng mình cần thiết Ngoài ra, tỉ lệ quyên góp chiếm 26%, đây là lượng sinh viên
có ý thức cao vì cộng đồng và môi trường, muốn đem đồ dùng, vật dụng không còn dùng nữa để giúp đỡ những người khác cần
Với kết quả này, dịch vụ trao đổi đồ cũ rất có lợi về đầu vào, có đến 26% lượng sinh viên muốn quyên góp đồ cũ cho dịch vụ, 41% muốn trao đổi đồ
4.7 Ý NGHĨA MỤC ĐÍCH TRAO ĐỔI ĐỒ CŨ
49%
43%
8%
Môi trường Cộng đồng Kinh tế
Hình 2: Tỉ lệ mục đích trao đổi đồ cũ của sinh viên
Từ kết quả hình 2 cho thấy mục đích trao đổi đồ cũ của sinh viên phần lớn vì môi trường và cộng đồng (92%), còn vì mục đích kinh tế rất ít (8%) Bởi vì sinh viên là thành phần có kiến thức, nhận thức tốt về vấn đề chung của xã hội như môi trường, cộng đồng, nên các bạn hiểu về ý nghĩa việc tái sử dụng Do đó phần lớn mục đích sinh viên tham gia trao đổi vật dụng, đồ dùng cũ vì mục đích môi trường và cộng đồng
Thế nhưng khi so sánh cùng số liệu về hình thức trao đổi đồ cũ với mục đích trao đổi, ta thấy không hợp lý: Mục đích kinh tế không đến 10%, trong khi đó hình thức trao đổi bằng tiền chiếm đến 42% và hình thức quyên góp chỉ chiếm 26% Sở dĩ có sự bất hợp lý này vì sinh viên khi ra
Trang 23trường tuy có tâm lý giải phóng đồ dùng với giá rẻ, để vừa có thể ủng hộ các bạn sinh viên khác, đồng thời cũng được một phần tài chính khi về quê Đây là một việc làm vừa mang lại lợi ích bản thân vừa mang lại lợi ích cho cộng đồng
4.8 MỐC THỜI GIAN TRAO ĐỔI ĐỒ DÙNG
Hình 3: Tỉ lệ mốc thời gian trao đổi đồ cũ của sinh viên
Hình 3 đã mô tả mốc thời gian trao đổi đồ của sinh viên chủ yếu vào cuối năm học (68.6%), hay khi tốt nghiệp ra trường (22.7%) Tất nhiên vào cuối năm học là thời điểm sinh viên về quê,
vệ sinh phòng, giải phóng các đồ đạc, hoặc sinh viên khi tốt nghiệp thì muốn thanh lý hết để về nhà, đến nơi làm việc… Nên có đến hơn 90% chọn thời điểm cuối năm và tốt nghiệp để trao đổi Với số liệu này giúp chúng ta có sự chuẩn bị về nhân lực, kho bãi, tài chính đúng thời điểm để hoạt động trao đổi đồ cũ của sinh viên được thuận tiện
4.9 NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ TÁI SỬ DỤNG
Sinh viên đa phần từ các miền quê, tỉnh lẻ đến Cần Thơ để học tập, vì vậy việc tiết kiệm được đặt lên hàng đầu, mà việc sử dụng các đồ dùng cũ là một trong những hành động mà sinh viên làm được để tiết kiệm tài chính Các bạn sinh viên khi mua được hoặc được cho một cái radio cũ, tivi cũ, xe đạp cũ,… họ xem như là tài sản quý trong thời gian học tập Việc tái sử dụng
Trang 24còn mang ý nghĩa là bảo vệ môi trường nên sinh viên rất ủng hộ Kết quả phỏng vấn cho thấy 80% lượng sinh viên đồng ý sử dụng đồ dùng tái sử dụng, cùng với 97% ủng hộ dịch vụ trao đổi Như vậy, xét về tiềm năng thị trường (đầu vào và đầu ra) rất khả quan cho hoạt động tái sử dụng đồ dùng, vật dụng trong cộng đồng sinh viên
4.10 LỢI ÍCH KINH TẾ TỪ VIỆC TÁI SỬ DỤNG SÁCH CŨ
Qua các kết quả phỏng vấn và phân tích trên ta thấy vật dụng, đồ dùng có khả năng tái sử dụng rất nhiều và phức tạp Nên đề tài chỉ xin đề cập lợi ích kinh tế về tái sử dụng giáo trình, sách
là một trong những vật dụng học tập và nghiên cứu rất cần thiết, chúng luôn gắn liền với sinh viên Trước đây đa phần giáo trình, sách qua sử dụng sẽ được sinh viên giữ lại (nhưng không sử dụng) hoặc bán cho phế liệu, nhà sách cũ, mặc dù họ không thích điều này Thứ nhất, nhà sách có bán lại cho sinh viên nhưng họ không phân loại được theo chuyên ngành để bán cho sinh viên khác, đồng thời mua với giá quá rẻ , bằng giá giấy vụn = 1.500 đồng/ kg Nếu bán cho các cơ sở thu mua phế liệu, tại đây họ chỉ xem sách, giáo trình là giấy vụn và đem đi tái chế Nhiều sinh viên khi phỏng vấn có mong muốn sách, giáo trình của mình khi sử dụng xong, sẽ được các em sinh viên khóa sau sử dụng tiếp Sinh viên sẵn sàng mang đến quyên góp chứ không cần bán lấy tiền (26%) Trung bình một sinh viên sau 4 năm đại học có ít nhất 30 kg sách, giáo trình Trong đó khoảng 5 đến 10kg được giữ lại sử dụng sau này, còn lại 20 đến 25kg cần giải phóng
Dưới đây là bài toán lợi ích kinh tế từ giáo trình, sách cũ mà dịch vụ trao đổi mang lại:
+ Giáo trình, sách sinh viên bán cho nhà sách cũ, ve chai từ 1.500 – 2.000 đồng
+ Dịch vụ trao đổi thu mua thấp nhất với giá 6.000 đồng/kg giáo trình
+ Giá photo 1kg giáo trình 200 tờ: 200 tờ x 200 đồng = 40.000 đồng
+ Dịch vụ trao đổi giáo trình, sách cho sinh viên với 1/3 giá photo = 40.000/3 = 13.300 đồng
+ Nếu dịch vụ trao đổi giáo trình, sách hoạt động tốt, sinh viên sẽ tiết kiệm được:
40.000 – 13.300 = 26.700 đồng/kg giáo trình
Do đó, dịch vụ này sẽ giúp sinh viên tiết kiệm được tiền mua giáo trình :
30 (kg giáo trình) x 26.700 (VNĐ/kg giáo trình) = 801.000 đồng/năm học
Trang 25Tuy nhiên, giáo trình sau khi được sử dụng xong, có thể bán lại: 20 (kg giáo trình) x 6.000 đồng/kg giáo trình) = 120.000 đồng Vậy nếu tái sử dụng tốt giáo trình, một sinh viên sau 4 năm
đại học sẽ tiết kiệm được: 801.000 + 120.000 = 921.000 đồng
Chính điều này cho thấy trung bình mỗi năm tiết kiệm được:
921.000 đồng x 6.500 (sinh viên tốt nghiệp hằng năm)= 5.986.500.000 đồng cho cộng đồng
Ngoài ra, một số sinh viên còn yêu cầu bổ sung một số vật dụng và đồ dùng có thể tái sử dụng như: máy tính, xe máy, hộp giấy, loa, kệ sách
Thông qua các phiếu phỏng vấn, một số sinh viên đã có ý kiến sau:
- Cần có những dịch vụ trao đổi các sản phẩm tái sử dụng, đồ cũ, tái chế như thế trong cộng đồng sinh viên nói riêng và cộng đồng người dân nói chung
- Tập huấn các bạn về mô hình 3R, tái chế các phế liệu thành các vật dụng hữu ích
- Nên vận động đồ dùng, vật dụng trao đổi hoặc quyên góp từ nhà tư nhân, doanh nghiệp đến các tầng lớp cộng đồng: Dân nghèo, học sinh – sinh viên, vùng sâu – vùng xa
Trang 26Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 KẾT LUẬN
Qua kết quả phỏng vấn ta thấy số lượng, khối lượng đồ dùng, vật dụng học tập – sinh hoạt của 207 sinh viên trường ĐH Cần Thơ có thể tái sử dụng là rất lớn: 3.700kg giáo trình, 162 xe đạp, 200 bàn ghế, 184 bếp ga, 799 xoong nồi - thau, 4.182 quần áo, 213 đèn học, 208,6 kg bọc - chai Thế nhưng, do không có hoạt động của dịch vụ tái sử dụng khoa học đúng nghĩa đã làm cho một nguồn lợi về kinh tế không nhỏ đã mất đi
Nhu cầu sinh viên cần trao đổi các vật dụng, đồ dùng cũ này rất lớn: 97% sinh viên ủng hộ, 80% đồng ý sử dụng đồ dùng, vật dụng tái sử dụng
Với kết quả phỏng vấn, phân tích cho thấy các vật dụng, đồ dùng của sinh viên như: Giáo trình, xe đạp, bàn ghế, xoong nồi, thau sẽ có khả năng tái sử dụng tốt khi có sự hoạt động dịch vụ trao đổi đồ cũ (3R) của sinh viên trường Đại Học Cần Thơ
5.2 KIẾN NGHỊ
Cần nghiên cứu, điều tra thêm sâu hơn, khoa học hơn đối với các loại vật dụng để có thể tái
sử dụng triệt để các vật dụng, đồ dùng Cần nêu cao tinh thần ưu tiên tái sử dụng sau đó đến tái chế
Các vật dụng, đồ dùng không có khả năng tái sử dụng tại cộng đồng sinh viên, cần tìm cách – nghiên cứu giải quyết các vật dụng, đồ dùng cho tốt, không làm ô nhiễm môi trường Quần áo của sinh viên không tái sử dụng được trong sinh viên, có thể đem về các vùng sâu, vùng xa, đồng bào ít người,…Thu gom đèn cũ, bếp ga, bọc, chai nhựa sau khi sử dụng có thể sửa chữa, thay thế các bộ phận cần thiết để sử dụng lại hoặc bán phế liệu, không nên bỏ sọt rác, vứt bừa bãi trong kí túc xá, nơi ở
sử dụng các vật dụng, đồ dùng tại nơi ở thì sẽ làm giảm rất lớn lượng rác thải ra ngoài môi trường một cách lãng phí
Trang 27Sinh viên cần có kiến thức phân loại rác, tái chế rác cơ bản trong sinh hoạt thường nhật Sinh viên là thành phần có kiến thức, sáng tạo tương đối tốt, nhưng lại không quá 5% trong tổng số 22.000 sinh viên ĐH Cần Thơ biết cách tái sử dụng các vật dụng, đồ dùng Đây là một vấn đề đòi hỏi cần có hướng phát triển về các hoạt động cộng đồng, môi trường trong sinh viên trường ĐH Cần Thơ
Trong khi đó cả thế giới, mô hình 3R rất được phổ biến trong tất cả các thành phần của xã hội Từ các em nhi đồng đã được giáo dục về “rác là nguồn tài nguyên quý giá” làm các món đồ chơi từ phế liệu, những người phụ nữ nội trợ trong gia đình biết tái sử dụng, tái chế các loại bọc nilon, thùng giấy thành vật dụng khác… Ngày nay trong giáo dục mầm non việc khuyến khích làm đồ chơi cho trẻ em mầm non từ phế liệu không độc hại là một hành động rất có ý nghĩa, vừa giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ từ mầm non, vừa giảm được lượng rác thải,…
Các nước phát triển Hà Lan, Mỹ, Nhật,… đều có cửa hàng đồ cũ của nhà nước, tư nhân, nhà thờ là nơi các sinh viên, du học sinh, người nghèo đến để trao đổi, mua các vật dụng là chủ yếu Các đồ cũ này chủ yếu được cho không hoặc quyên góp từ những nhà giàu, doanh nghiệp ủng hộ lại cho những người cần, đồng thời giải quyết việc phát thải vật dụng vào môi trường
Thiết nghĩ một bộ phận cộng đồng sinh viên có suy nghĩ sẽ không bao giờ đem đồ dùng của mình cho người khác dùng hoặc cũng chẳng bao giờ dùng đồ của người khác dùng rồi Đó là những suy nghĩ cần được thay đổi Bởi lẽ, nếu họ vẫn giữ lấy, không tái sử dụng, cũng chẳng thải
bỏ, làm cho nơi ở chật chội do lưu giữ các đồ dùng đã qua sử dụng Ngày nay vấn đề không gian nơi ở rất hiếm, do đó việc trao đổi đồ cũ là một việc làm tốt về môi trường, cộng đồng và cho chính bản thân của mỗi người
Trang 28TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Số liệu tham khảo Phòng Công Tác Sinh Viên trường Đại học Cần Thơ
- http://en.wikipedia.org/wiki/Reuse
- http://www.ctu.edu.vn/introduction
- http://3rhn.vn/?option=mod_news&sel=detail&cid=13&view=21
- http://www.vncpc.org/newsandevent.asp?pid=1&nid=298
Trang 29PHỤ LỤC PHIẾU PHỎNG VẤN
Hướng dẫn trả lời phiếu phỏng vấn: Phiếu gồm hai phần (bảng phỏng vấn và câu hỏi phỏng vấn)
Phần bảng, bạn đọc câu hỏi phỏng vấn những thông tin bạn tự điền vào (…) (Khoa, số lượng/ khối lượng, nguồn gốc), nếu bạn đồng ý phần thông tin có sẵn trong ô bạn vào còn không
đồng ý thì để trống Mục Hiện trạng/ Nguồn gốc, Phương pháp xử lý bạn tham khảo phía
Đang ở Ktx: Nhà trọ: Người thân/ gia đình:
Sinh Viên Năm Nam: Nữ:
Sinh viên năm : 1 2 3 cuối
Gia Đình - Có bao nhiêu người: …
- Trình độ học vấn cha, mẹ (anh, chị, em):
+ Đại học (Cao Đẵng):… (….) + THPT: … (….) + THCS: … (….) + Tiểu Học: … (….)
- Hoàn cảnh gia đình:
Trang 30+ Nghề nghiệp: Làm ruộng ; Công chức ; Kinh doanh + Thuộc diện: Nghèo ; Trung bình ; Khá
Phương pháp xử lý (P?) Hàng năm Khi tốt nghiệp
(H2) Đang sử dụng tốt ( Mua bao lâu)
(H3) Đã hư, cần sữa chữa dùng lại
* Nguồn gốc
Trang 31(N1) Mua mới từ siêu thị, cửa hàng…
(N2) Mua rẻ lại từ bạn bè hoặc bạn – người thân
(N3) Mua lại cửa hàng đồ cũ
(N4) Mua lại ve chai rồi tân trang lại
* Phương pháp xử lý các vật dụng, đồ dùng đã qua sử dụng hàng năm hay khi tốt nghiệp