Đặc biệt khi sự du nhập của các loại gốm từ Trung Quốc, gốm từ các nhà máy sản xuất hàng loạt với giá bán thấp, chi phí làm nghề truyền thống vẫn đang tăng lên bởi sự khan hiếm các yếu t
Trang 1CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Xét về thực tế, Phát triển công nghiệp nông thôn luôn là mục tiêu hàng đầu của chính
phủ Việt Nam Có hai phương thức chính để đạt được mục tiêu này là: Hình thành các khu
công nghiệp và phát triển các làng nghề truyền thống Trong đó phát triển các làng nghề
truyền thống ở nông thôn có vai trò rất quan trọng trong giải quyết việc làm và thu nhập cho
một lượng lớn lao động nông thôn 68,1% (gấp đôi lượng lao động thành thị 31,9% - Theo
kết quả tổng điều tra dân số năm 2019)[120] Phát triển làng nghề truyền thống đáp ứng nhu
cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, phát triển kinh tế, tăng sản phẩm xuất khẩu –
tăng ngoại tệ, tăng GDP cho cả nước Lịch sử phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội Việt Nam
luôn đi liền với lịch sử phát triển của làng nghề Nghề gốm là một trong những nghề truyền
thống, lâu đời nhất tại Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
(ETA), phát huy nghề gốm không chỉ là bảo toàn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mà
còn góp phần lớn cho sự phát triển bền vững kinh tế ở nông thôn Nghiên cứu thực sự hữu
ích và cần thiết với Việt Nam khi các sản phẩm gốm làng nghề ngày càng bị cạnh tranh
mạnh bởi các sản phẩm nhập khẩu hay các sản phẩm sản xuất công nghiệp Đặc biệt khi sự
du nhập của các loại gốm từ Trung Quốc, gốm từ các nhà máy sản xuất hàng loạt với giá
bán thấp, chi phí làm nghề truyền thống vẫn đang tăng lên bởi sự khan hiếm các yếu tố đầu
vào…Không ít làng nghề, hộ gia đình đã phải từ bỏ nghề mà một trong những nguyên nhân
cơ bản là họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của tài sản thương hiệu (nhận thức và
hành vi của khách hàng đối với thương hiệu) cũng như tầm quan trọng của việc sử dụng
thương hiệu được bảo hộ như một lợi thế để gia tăng lòng trung thành, tạo ra lợi nhuận cao
hơn, mở rộng đầu tư và cạnh tranh trên thị trường
Xét về lý thuyết, trong quá trình tổng quan tài liệu tác giả nhận thấy còn rất nhiều ý kiến
trái chiều, nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về tài sản thương hiệu Ngay từ khái
niệm “Nếu bạn hỏi mười người để xác định tài sản thương hiệu là gì, bạn có thể nhận được mười
(có thể là 11) câu trả lời khác nhau” (Winters, L.C (1991)), mỗi nhà nghiên cứu lại nhìn nhận
dưới một góc độ khác nhau Việc thiếu một định nghĩa thống nhất đã tạo ra nhiều phương pháp
luận, nhiều cách tiếp cận khác nhau để đo lường tài sản thương hiệu Có những nhà khoa học tiếp
cận từ góc độ tài chính: Simon và Sullivan (1993); Srinivasan và cộng sự (2005); Farquhar và
cộng sự (1991); Ferjani và cộng sự (2009); Haigh (1999); Buil và cộng sự (2008) Bên cạnh
những nghiên cứu tiếp cận từ phía khách hàng (Tài sản thương hiệu định hướng khách hàng):
Aaker (1991); Keller (1993); Park và Srinivasan (1994); Cobb-Walgren và cộng sự (1995);
Shocker và cộng sự (1988); Yoo B., Donthu N và Lee S (2000); Yoo and Donthu (2001); Pappu
và cộng sự (2005); Villarejo-Ramos và SanchezFranco (2005); Atilgan và cộng sự (2005); Buil
2
và cộng sự (2008); Kim và cộng sự (2008); Xu & Chan (2010); Amaretta và Hendriana (2011);
Buil và cộng sự (2013);… Cùng đó cũng có những hướng nghiên cứu tiếp cận từ vị trí nhân viên:
King và Grace (2009); Youngbum Kwon (2013); Ashforth và Mael (1989) ) khi nhân viên hài lòng với công việc, môi trường làm việc họ sẽ phục vụ khách hàng nhiệt tình và tâm huyết hơn,
truyền tải sự hài lòng đó đến khách hàng Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận tài sản thương hiệu nhìn từ phía khách hàng là quan điểm chủ đạo và được đa số các nhà nghiên cứu quan tâm trong nghiên cứu tiếp thị bởi vì “nếu một thương hiệu không có ý nghĩa hay giá trị đối với người tiêu dùng thì cuối cùng nó vô nghĩa đối với các nhà đầu tư, nhà sản xuất, nhà bán lẻ, nhân viên” (Cobb-Walgre và cộng sự, 1995)
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học hàn lâm và nghiên cứu thực nghiệm về CBBE cho nhiều sản phẩm hữu hình (ti vi, máy ảnh, máy giặt, ô
tô, hàng tiêu dùng…) hay dịch vụ (bệnh viện, trường đại học, bảo hiểm…) khác nhau, cả ở trong nước và quốc tế Nhưng ở nghiên cứu của tác giả với: Đối tượng nghiên cứu mới
(chưa có nghiên cứu chính thức nào về CBBE của các thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam với nhóm khách thể là những khách hàng của các làng nghề gốm phía Bắc), với phạm vi nghiên cứu mới (các làng nghề gốm truyền thống tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam) Các tỉnh phía Bắc, Việt Nam nói riêng chính là nôi của
truyền thống văn hoá, hội tụ những nét văn hoá nổi bật của xã hội Việt Nam Từ ngôn ngữ, tín ngưỡng thờ cúng, tôn giáo đến những phong tục tập quán hay nghệ thuật…tất cả những nét văn hoá này đều được đưa vào những hình vẽ, hoa văn sản phẩm gốm như một niềm tự hào dân tộc Cộng với mạng lưới sông ngòi phát triển tương đối dày đặc ở vị trí hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình với nhiều nhánh rẽ, các làng gốm phía Bắc đã được thiên nhiên ưu đãi với nguồn nguyên liệu phong phú tại chỗ Đó chính là lý do các làng nghề gốm các tỉnh phía Bắc rất phát triển với những sản phẩm gốm phong phú, đặc sắc riêng có so với các làng nghề khu vực khác Những khác biệt về chất xương đất, lớp men, gắn liền văn hóa khác biệt của làng nghề nông thôn truyền thống miền Bắc, Việt Nam nên sẽ có những khác biệt trong việc đo lường, kiểm định ảnh hưởng các yếu tố cấu thành CBBE đến tài sản thương hiệu tổng thể Nhất định khi được đo lường trong sự điều tiết của “sở thích, độ tuổi” thì đây thực sự là chủ đề mới
Xuất phát từ đòi hỏi của cả vấn đề thực tiễn lẫn vấn đề về lý thuyết, nghiên cứu đã lựa
chọn khoảng trống: “Tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng: Nghiên cứu trường hợp điển hình về thương hiệu làng nghề gốm truyền thống tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Một là, kiểm định các yếu tố bên trong (yếu tố cấu thành) có ảnh hưởng tới tài sản
thương hiệu với trường hợp thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống các tỉnh phía
Trang 23 Bắc, Việt Nam hay không
Hai là, hoàn thiện thang đo lường các khái niệm các yếu tố ảnh hưởng tới tài sản
thương hiệu sao cho phù hợp với đặc điểm thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống
tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam
Ba là, tìm hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tới tài sản thương hiệu, đồng
thời đo lường mối quan hệ của các yếu tố này đến tài sản thương hiệu tổng thể trường hợp
cụ thể các thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống tại các tỉnh phía Bắc
Bốn là, tìm hiểu sự điều tiết của biến cá nhân độ tuổi, sở thích đến mối quan hệ giữa
nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, trung thành thương
hiệu với CBBE
Năm là, dựa trên tính chất tác động và mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới
CBBE và các yếu tố này với nhau đưa ra gợi ý các hoạt động quản trị nhằm tăng tài sản
thương hiệu tập thể của các làng nghề gốm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu là tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng với trường hợp
cụ thể các thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam
Khách thể nghiên cứu (đối tượng quan sát): Đối tượng thu thập thông tin của nghiên
cứu là từ khách hàng 18 tuổi trở lên đã mua và sử dụng sản phẩm gốm truyền thống của các
thương hiệu tập thể làng nghề tại các tỉnh phía Bắc, Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu thiết kế, phát triển thang đo và
kiểm định các yếu tố bên trong ảnh hưởng tới CBBE với trường hợp cụ thể các thương hiệu
tập thể làng nghề gốm các tỉnh phía Bắc Do đó, tác giả chỉ chọn nghiên cứu thương hiệu
các làng nghề gốm truyền thống (nhãn hiệu tập thể) đã được đăng ký tại Cục sở hữu trí
tuệ Việt Nam mà không xét đến những thương hiệu gốm của các doanh nghiệp đơn lẻ
Phạm vi thời gian: Dữ liệu được thu thập, phân tích từ năm 2015-2020
1.4 Những đóng góp mới về khoa học và thực tiễn của nghiên cứu
1.4.1 Những đóng góp mới về khoa học
- Luận án khẳng định có sự khác nhau giữa hai khái niệm nhận biết thương hiệu và
liên tưởng thương hiệu (hai biến đã được đo bằng những thang đo độc lập) Đóng góp này
4 khẳng định không thể gộp hai biến nghiên cứu này làm một để kiểm định và đo lường tài sản thương hiệu trong những nghiên cứu gây tranh cãi trong thời gian qua
- Luận án đã chứng minh được “độ tuổi” có tác động điều tiết mối quan hệ của nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, trung thành thương hiệu với tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc
- Luận án đã chứng minh được “sở thích” có tác động điều tiết mối quan hệ của nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu với tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc
- Hoàn thiện thang đo các khái niệm nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu và chất lượng cảm nhận (luận án đã bổ sung, phát triển thang đo: Nhận biết thương hiệu (BAW4), liên tưởng thương hiệu (BAS2, BAS3, BAS10), chất lượng cảm nhận (PQ3, PQ7)
1.4.2 Những đóng góp mới về thực tiễn
- Luận án khẳng định sự tác động của bốn yếu tố cấu thành tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc, mặt khác bản thân các yếu tố cấu thành cũng có những ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, nhận biết thương hiệu là yếu tố tác động tích cực nhất đến tài sản thương hiệu trong trường hợp thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc
- Luận án đã giải quyết được khoảng trống của những nghiên cứu trước đây: Đối
tượng nghiên cứu mới (chưa có nghiên cứu chính thức nào về tài sản thương hiệu tiếp cận
từ phía khách hàng của các thương hiệu tập thể làng nghề gốm truyền thống phía Bắc với nhóm khách thể là những khách hàng của các làng nghề phía Bắc (cụ thể đó là 04 làng nghề gốm đã đăng ký nhãn hiệu tập thể: Bát Tràng, Phù Lãng, Kim Lan, Đông Triều) Phạm vi nghiên cứu mới (các làng nghề gốm truyền thống phía Bắc) Đặc biệt khi được đo
lường trong sự điều tiết “độ tuổi, sở thích” thì đây thực sự là chủ đề mới
- Luận án khẳng định sự tác động của bốn yếu tố cấu thành tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc, mặt khác bản thân các yếu tố cấu thành cũng có những ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, nhận biết thương hiệu là yếu tố tác động tích cực nhất đến tài sản thương hiệu trong trường hợp thương hiệu tập thể làng nghề gốm phía Bắc
- Đơn vị quản lý thương hiệu tập thể làng nghề gốm cần khắc hoạ dấu ấn về thương hiệu tập thể làng nghề trong tâm trí khách hàng để họ có thể nhớ đến, tìm đến mỗi khi cần: Logo và các dấu hiệu thương hiệu tập thể cần điều chỉnh để đảm bảo đồng nhất và tạo ra các đặc trưng khác biệt, dễ nhận biết, dễ nhớ và phải được truyền thông hiệu quả đến với khách hàng
- Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo yếu nhất của liên tưởng thương hiệu là
“Thương hiệu gốm X khiến tôi nghĩ đến nguồn gốc quốc gia xuất xứ sản phẩm là Việt Nam” Chính vì vậy, các đơn vị sở hữu thương hiệu tập thể cần tạo ra những liên tưởng về
Trang 35 nét độc đáo và độc nhất của gốm phía Bắc (xương gốm, lớp men…), cảm giác truyền thống,
tự hào, tình yêu quê hương đến nước của người tiêu dùng
- Tăng cường các hoạt động nghiên cứu thị trường đặc biệt là các hoạt động nghiên
cứu về nhu cầu và mong muốn của khách hàng
- Những biện pháp tăng nhận biết thương hiệu tập thể làng nghề gốm chú ý nhất ở
nhóm nam giới trên 60 tuổi có sở thích xem truyền hình Những giải pháp tăng liên tưởng
thương hiệu chú ý đến nhóm đối tượng nam giới trên 60 tuổi có sở thích công nghệ Nhóm
giải pháp tăng chất lượng cảm nhận tập trung đến nhóm nam giới có độ tuổi từ 18-25
Nhóm giải pháp trung thành thương hiệu quan tâm đến nhóm nam giới ở độ tuổi 18-25 tuổi
1.6 Bố cục của luận án
Luận án được trình bày thành 5 chương:
Chương 1: Phần mở đầu
Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến tài sản
thương hiệu định hướng khách hàng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bình luận và kiến nghị
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI SẢN THƯƠNG HIỆU DỰA TRÊN
KHÁCH HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng
2.1.1 Thương hiệu và nhãn hiệu
Thương hiệu là tập hợp các dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản phẩm (doanh
nghiệp), là hình ảnh về sản phẩm (doanh nghiệp) trong tâm trí khách hàng được tạo
dựng qua thời gian Các dấu hiệu này có thể hữu hình (tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc
hiệu, kiểu dáng, bao bì, màu sắc…) hoặc vô hình (cảm nhận về tính an toàn, tin cậy,
khẳng định bản thân, hình ảnh về sự khác biệt…)
Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức,
cá nhân khác nhau Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy
được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó
được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
2.1.2 Tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng (CBBE)
“CBBE là tổng hợp những nhận thức, hành vi khác nhau của khách hàng đối với một sản
6 phẩm mang thương hiệu và một sản phẩm không có thương hiệu”
2.2 Các yếu tố tác động tới tài sản thương hiệu dựa trên khách hàng
2.2.1 Mô hình lý thuyết về CBBE
Mô hình tài sản thương hiệu Aaker, 1991:
Hình 2.1: Mô hình tài sản thương hiệu của Aaker, 1991
Nguồn: Aaker (1991, 32)
“Nhận biết thương hiệu là khả năng của người mua tiềm năng nhận ra hoặc nhớ lại rằng thương hiệu là thành viên của một danh mục sản phẩm nhất định” Aaker (1991, 78) Với
04 mức độ nhận biết : Không biết, nhận ra thương hiệu (nhớ lại nhưng có trợ giúp, gợi ý, nhắc nhớ), nhớ lại (nhớ ra không có gợi ý, nhắc nhớ), thương hiệu đặt đầu tiên trong tâm trí của khách hàng
“Liên tưởng thương hiệu là bất cứ điều gì liên kết trong bộ nhớ của khách hàng về một thương hiệu” Aaker (1991,132) Với 11 kiểu liên tưởng: Thuộc tính sản phẩm, thuộc
tính vô hình, lợi ích khách hàng, giá, hoàn cảnh sử dụng, người dử dụng, người nổi tiếng, nhân cách hoá, loại sản phẩm, đối thủ cạnh tranh và quốc gia
“Cảm nhận chất lượng là một cảm giác vô hình, tổng thể về một thương hiệu Tuy nhiên, nó thường dựa trên các kích thước cơ bản bao gồm các đặc điểm của sản phẩm mà thương hiệu được gắn vào như: Độ tin cậy và hiệu suất” Aaker (1991, 106) Được đánh giá
qua: Hiệu suất, các tính năng, phù hợp thông số kỹ thuật, độ tin cậy, độ bền, khả năng phục
vụ - bảo trì, sự phù hợp và hoàn thiện (Với dịch vụ: yếu tố hữu hình, độ tin cậy, năng lực, trách nhiệm, đồng cảm)
Aaker (1991, 55) định nghĩa: “Lòng trung thành thương hiệu là thước đo sự gắn bó
mà khách hàng có với thương hiệu Nó phản ảnh khả năng khách hàng sẽ chuyển sang thương hiệu khác, đặc biệt là khi thương hiệu đó thực hiện thay đổi về giá cả hay tính năng
Tài sản thương hiệu (Tên, biểu tượng)
Nhận biết thương hiệu
Liên tưởng thương hiệu
Chất lượng cảm nhận
Trung thành thương hiệu
TSTH độc quyền khác: Bằng sáng chế, mối quan hệ kênh
Trang 4sản phẩm” Với 05 cấp độ: người mua không trung thành, người mua không có lý do để
thay đổi, trung thành có tính đến chi phí chuyển đổi, người mua thực sự thích thương hiệu,
khách hàng cam kết
8
2.2.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về CBBE
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các yếu tố tác
động tới CBBE
1 Nhận biết thương hiệu Yoo và cộng sự (2000); Yoo và Donthu (2001); Washburn và
Plank (2002); Kim và Kim (2004); Pappu và cộng sự (2005); Atilgan và cộng sự (2005); Villarejo-Ramos và SanchezFranco (2005); Tregear và Gorton (2005); Duhan và cộng sự (2006); Buil và cộng sự (2008); Kim và cộng sự (2008); Atilgan và cộng sự (2009); Chen và Tseng (2010); Buil và cộng sự (2013); Saydan (2013) Welch (2014); Spielmann (2014); Nguyễn Viết Bằng (2015); Nguyễn Tiến Dũng (2017); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2017); Phạm Thị Minh Lý (2014) Thọ và Trang (2011); Nguyễn Trường Sơn và Trần Trung Vinh (2011); Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự (2010)
2 Liên tưởng thương hiệu
Yoo và cộng sự (2000); Chen (2001); Yoo và Donthu (2001); Washburn và Plank (2002); Pappu và cộng sự (2005); Atilgan
và cộng sự (2005); Villarejo-Ramos và SanchezFranco (2005); Tregear và Gorton (2005); Buil và cộng sự (2008); Atilgan và cộng sự (2009); Tong và Hawley (2009); Chen và Tseng (2010); Taglioni và cộng sự (2011); Buil và cộng sự (2013); Saydan (2013); Welch (2014); Spielmann (2014); Nguyễn Viết Bằng (2015); Nguyễn Tiến Dũng (2017); Lê Thanh Tâm
và cộng sự (2017); Phạm Thị Minh Lý (2014); Nguyễn Trường Sơn và Trần Trung Vinh (2011)
3 Chất lượng cảm nhận Kamakura và Russell (1993); Yoo và cộng sự (2000); Yoo và
Donthu (2001); Washburn và Plank (2002); Kim và Kim (2004); Netemeyer và cộng sự (2004); Pappu và cộng sự (2005); Atilgan và cộng sự (2005); Villarejo-Ramos và SanchezFranco (2005); Orth và cộng sự (2005); Duhan và cộng
sự (2006); Morrison và Eastburn (2006); Buil và cộng sự (2008); Atilgan và cộng sự (2009); Dopico và cộng sự (2009); Burmann và cộng sự (2009); Chen và Tseng (2010) Taglioni
Trang 5và cộng sự (2011); Buil và cộng sự (2013); Saydan (2013);
Spielmann (2014); Nguyễn Viết Bằng (2015); Nguyễn Tiến Dũng (2017); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2017); Phạm Thị Minh Lý (2014); Thọ và Trang (2011); Nguyễn Trường Sơn
và Trần Trung Vinh (2011); Hoàng Thị Phương Thảo và cộng
sự (2010)
4 Trung thành thương
hiệu
Yoo và cộng sự (2000); Yoo và Donthu (2001); Washburn và Plank (2002); Kim và Kim (2004); Netemeyer và cộng sự (2004); Pappu và cộng sự (2005); Atilgan và cộng sự (2005);
Villarejo-Ramos và SanchezFranco (2005); Buil và cộng sự (2008); Kim và cộng sự (2008); Atilgan và cộng sự (2009); Tong
và Hawley (2009); Chen và Tseng (2010); Taglioni và cộng sự (2011); Kim (2012); Buil và cộng sự (2013); Saydan (2013);
Welch (2014); Spielmann (2014); Nguyễn Viết Bằng (2015);
Nguyễn Tiến Dũng (2017); Lê Thanh Tâm và cộng sự (2017);
Phạm Thị Minh Lý (2014); Nguyễn Trường Sơn và Trần Trung Vinh (2011); Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự (2010)
5 Ấn tượng thương hiệu Kim và Kim (2004)
6 Lợi ích chức năng sản
phẩm
Vazquez và cộng sự (2002); Kocak và cộng sự (2007)
7 Lợi ích biểu tượng sản
phẩm
Vazquez và cộng sự (2002); Kocak và cộng sự (2007)
8 Lợi ích chức năng tên
thương hiệu
Vazquez và cộng sự (2002); Kocak và cộng sự (2007);
Burmann và cộng sự (2009)
9 Lợi ích biểu tượng
thương hiệu
Vazquez và cộng sự (2002); Kocak và cộng sự (2007)
10 Tính độc đáo thương
hiệu
Netemeyer và cộng sự (2004); Burmann và cộng sự (2009)
11 Sự khác biệt sản phẩm Spielmann (2014)
12 Giá bán Orth và cộng sự (2005)
13 Lợi ích xã hội Orth và cộng sự (2005)
14 Cảm xúc Orth và cộng sự (2005)
10
15 Lợi ích về mội trường Orth và cộng sự (2005)
16 Hình ảnh cá nhân Morrison và Eastburn (2006)
17 Sự lôi cuốn Morrison và Eastburn (2006)
18 Thương hiệu liên quan Shankar và cộng sự (2008)
19 Lòng tin Kim và cộng sự (2008); Burmann và cộng sự
(2009)
20 Sự hài lòng Kim và cộng sự (2008)
21 Niềm tin thương hiệu Atilgan và cộng sự (2009)
22 Thông tin Dopico và cộng sự (2009)
23 Rủi ro cảm nhận Dopico và cộng sự (2009); Kim (2012)
24 Cam kết quan hệ Kim và cộng sự (2008)
25 Sự đồng cảm thương hiệu
Burmann và cộng sự (2009)
26 Giá trị cảm nhận Kim (2012)
28 Lòng trung thành với xuất xứ sản phẩm
Spielmann (2014)
29 Cảm nhận về tính xác thực
Spielmann (2014)
30 Tính an toàn cảm nhận
Nguyễn Viết Bằng (2015)
31 Sức mạnh thương hiệu Lê Thanh Tâm và cộng sự (2017)
32 Đam mê thương hiệu Thọ và Trang (2011)
33 Hình ảnh thương hiệu Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự (2010)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.3 Xây dựng mô hình, thang đo và giả thuyết sơ bộ
Mô hình, thang đo, giả thuyết của nghiên cứu được thể hiện trong hình vẽ sau:
Trang 6H10
Chất lượng cảm nhận
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
2001; Pappu và cộng sự, 2005;
Lassar và cộng sự, 1995)
Nhận biết thương hiệu
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
2001; Buil và cộng sự, 2008)
H1
H3
Tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm
(Yoo và cộng sự, 2001)
H8 H7
H5 H6
Liên tưởng thương hiệu
(Aaker,1991; Keller,2013;
Lassar và cộng sự,1995; Buil và
cộng sự,2008; Xiao Tong và
cộng sự,2009)
Sở thích
H11c
H11d
H11a
H2
H9
Trung thành thương hiệu
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
2001; Keller, 2013; Xiao Tong
và cộng sự, 2009)
H11b
tuổi, thu nhập
Trang 7CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu của luận án
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.1.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Với dữ liệu thứ cấp tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn nhằm có được
bức tranh tổng thể về vấn đề nghiên cứu và thực trạng cũng như bối cảnh nghiên cứu của
luận án
3.1.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp nghiên cứu định tính
Nhằm thu thập những dữ liệu sơ cấp tác giả sử dụng 02 phương pháp: phỏng vấn sâu
(phỏng vấn cá nhân) với các khách hàng của các thương hiệu làng nghề gốm phía Bắc và
phỏng vấn nhóm với các chuyên gia Kết quả phương pháp này tác giả đưa ra được mô
hình, giả thuyết, các thang đo lường khái niệm nghiên cứu cho luận án
- Phương pháp nghiên cứu định lượng
Với những dữ liệu định lượng tác giả sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn Kết
quả của phương pháp này tác giả sẽ có những số liệu, bằng chứng khoa học được phân tích
từ số đông khách hàng Đó sẽ là những dữ liệu để tác giả đưa ra những kết luận khoa học và
hàm ý quản trị cần thiết
3.1.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
3.1.2.1 Phương pháp xử lý dữ liệu định tính
Dữ liệu thu được sau nghiên cứu định tính là những lời đánh giá, ý kiến, lời phát
biểu, nhận định từ các đối tượng nghiên cứu Những dữ liệu này được NCS ghi âm, lưu trữ,
và mã hoá trên máy tính sau đó gỡ băng, phân tích đưa ra kết luận chung nhất, tổng hợp từ
các đối tượng nghiên cứu định tính
3.1.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng
Nghiên cứu định lượng sẽ được tác giả thực hiện qua 02 bước:
Bước 1: Thu thập và chuẩn bị dữ liệu
- Phỏng vấn bằng phiếu khảo sát
- Phân loại dữ liệu, mã hóa, nhập liệu
- Làm sạch dữ liệu
Bước 2: Phân tích dữ liệu
Dựa trên những tiêu chuẩn xử lý dữ liệu đã được các nhà khoa học xây dựng cho từng
kiểm định (Cronbach’s Alpha, EFA, CFA, SEM), tác giả sẽ tiến hành phân tích đánh giá dữ
liệu cho từng trường hợp cụ thể
14
3.2 Thực trạng bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm nông thôn tại Việt Nam Bảng 3.2: Ma trận SWOT phân tích thực trạng làng nghề gốm phía Bắc
Điểm mạnh (S) S1: Nguyên liệu đất sét cho sản phẩm độc đáo
S2: Hệ thống sông ngòi phát triển S3: Sản phẩm gốm mang ý nghĩa văn hoá S4: Sản phẩm mang tính nghệ thuật, đơn chiếc
S5: Thương hiệu gắn với địa danh quen thuộc với người tiêu dùng
Điểm yếu (W) W1: Nguyên liệu dần khan hiếm W2: Lò nung phần nhiều chất lượng kém W3: Sản phẩm kém an toàn (chưá chì, hoá chất độc hại)
W4: Sản phẩm bị làm giả, làm nhái nhiều W5: Kênh phân phối bị bó hẹp
W6: Khu chợ bày bán hàng chất lượng cao ít W7: Giá không theo quy chuẩn
W8: Công cụ dùng để quảng bá làng nghề hầu như không cập nhật
W9: Rất ít người biết đến thương hiệu tập thể làng nghề
W10: Thành viên hiệp hội làng nghề chưa nhận thức được vai trò NHTT
W11: Chưa có bảo tàng trưng bày, lưu giữ sản phẩm
W12: Thiếu nguồn nhân lực trẻ, tay nghề cao
Cơ hội (O) O1: Nhu cầu thị trường ngày càng lớn O2: Có được sự quan tâm từ nhà nước O3: Kinh tế hội nhập, thị trường mở
Nguy cơ (T) T1: Cạnh tranh gay gắt cả trong và ngoài nước T2: Chính sách hỗ trợ còn ít
T3: Cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn
Nguồn: Thu thập của tác giả
3.3 Nghiên cứu định tính
Với 02 phương pháp: Phỏng vấn nhóm chuyên gia và phỏng vấn cá nhân, với công cụ là dàn bải thảo luận đã có sẵn tuy nhiên vẫn để mở để khai thác hết các khía cạnh Kết quả phỏng
Trang 815 vấn nhóm chuyên gia:
Thứ nhất, các khái niệm nghiên cứu đưa ra được sự đồng thuận cao của 08 chuyên
gia Tuy nhiên có 01 trong số 08 chuyên gia không thấy có sự khác biệt giữa hai biến nhận
biết thương hiệu và liên tưởng thương hiệu Tác giả ghi nhận ý kiến này để thực hiện nghiên
cứu tiếp theo
Thứ hai, mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc được kiểm tra Có
08/08 chuyên gia nhất trí thấy được mối liên hệ thuận chiều giữa nhận biết thương hiệu, liên
tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, trung thành thương hiệu đến tài sản thương hiệu
tổng thể Mối quan hệ tác giả đưa ra giữa các yếu tố nhận biết thương hiệu, liên tưởng
thương hiệu và trung thành thương hiệu cũng được 08/08 chuyên gia đồng tình
Thứ ba, về thang đo lường khái niệm nghiên cứu: Các thang đo tác giả đưa ra trên cở
sở thang đo gốc của Aaker, 1991 kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới được
sự đồng thuận của hầu hết các chuyên gia là nhận biết thương hiệu, trung thành thương hiệu
và tài sản thương hiệu tổng thể Tuy vậy một số biến nghiên cứu cũng đã được hiệu chỉnh
thang đo sao cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Tập hợp ý kiến chung của 08 chuyên gia
và 09 khách hàng cá nhân (được trình bày tại mục 3.2.3) đưa tác giả đến ý kiến chung thống
nhất thể hiện thông qua các thang đo được hiệu chỉnh trong bảng 3.2
Thứ tư, nhóm chuyên gia cũng xem xét, góp ý lại cách dịch xuôi dịch ngược của các
thang đo lường khái niệm nghiên cứu
Thứ năm, kết hợp lý thuyết (nghiên cứu của Orth và cộng sự (2005)) cùng với kết quả
sau khi phỏng vấn nhóm chuyên gia tác giả thu được ý kiến phần lớn đồng ý với nhận định
sở thích hoàn toàn có thể điều tiết mối quan hệ của nhận biết thương hiệu, liên tưởng
thương hiệu, chất lượng cảm nhận, trung thành thương hiệu và tài sản thương hiệu tập thể
làng nghề gốm Thang đo nhóm sở thích được sử dụng theo cách phân đoạn người tiêu dùng
theo sở thích của Google [99], tác giả cũng nhận thấy những thang đo này hợp lý khá bao
quát những thang đo của Orth và cộng sự (2005)
Độ tuổi được rất nhiều chuyên gia đồng thuận sẽ điều tiết mối quan hệ giữa các biến
độc lập và biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu của tác giả Trên thực tế đã có rất nhiều
nghiên cứu cho thấy độ tuổi có vai trò điều tiết Raziq và cộng sự (2017), Nguyễn Quang
Dũng (2019)…Tác giả sẽ đưa mối quan hệ này vào mô hình nhằm kiểm định thử
Thứ sáu, có sự khác biệt do các biến nhân khẩu học tạo ra đến mối quan hệ của các
yếu tố tác động đến CBBE
Tác giả ghi nhận và sẽ sử dụng dữ liệu định lượng đánh giá chất lượng thang đo và
kiểm định mối quan hệ Nhằm kiểm tra mức độ rõ ràng của từ ngữ (dễ đọc, dễ hiểu, dễ đánh
giá) đảm bảo khách hàng hiểu đúng về ngữ nghĩa của câu hỏi tác giả tiến hành phỏng vấn cá
16 nhân Tổng hợp lại tác giả có được mô hình, giả thuyết và thang đo chính thức cho luận án:
Trang 9Chất lượng cảm nhận
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
2001; Pappu và cộng sự, 2005;
Lassar và cộng sự, 1995)
Nhận biết thương hiệu
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
H1
Tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm
(Yoo và cộng sự, 2001)
H8 H7
H5 H6
Liên tưởng thương hiệu
(Aaker,1991; Keller,2013;
Lassar và cộng sự,1995; Buil và
cộng sự,2008; Xiao Tong và
cộng sự,2009)
Sở thích,
độ tuổi H11c H12c H11d H12d
H11a H12a
H2
H11b H12d
H9
Trung thành thương hiệu
(Aaker, 1991; Yoo và cộng sự,
2001; Keller, 2013; Xiao Tong
và cộng sự, 2009)
H4 Giới tính, thu nhập H10
18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ
Với mẫu bằng 25% (250) số lượng mẫu chính thức tác giả thu về được 210 phiếu hữu dụng Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy biến PQ6 không đạt yêu cầu, bị loại
bỏ Kết quả kiểm định EFA có BAS6 có hệ số factor loading < 0,5 như vậy BAS6 bị loại ra
khỏi nhóm các biến quan sát giải thích cho khái niệm nghiên cứu ) Sau khi loại bỏ những
quan sát không thoả mãn điều kiện rút trích được 05 nhân tố, 05 nhân tố này giải thích 64,171% tổng phương sai của các biến quan sát Các biến quan sát còn lại giải thích tốt cho các khái niệm nghiên cứu sẽ được đưa vào nghiên cứu tiếp theo sau
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức
4.2.1 Kết quả thống kê mẫu
Số lượng khách hàng ở mỗi làng nghề tương đối xấp xỉ nhau Trong số những người được hỏi có tới 64% đối tượng là nữ giới, điều này cho thấy đa số những người mua sản phẩm gốm là nữ giới Kết quả đó cũng có thể hiểu được bởi sản phẩm gốm đáp ứng nhu cầu rất lớn của phụ nữ như: Trang trí, chứa đựng, tin ngưỡng… Về tuổi tác, nhóm tuổi từ 26 –
35 có số lượng khách hàng nhiều nhất (276 người chiếm 32,1%), nhóm tiếp theo cũng có số lượng khách hàng khá lớn đó là nhóm tuổi từ 36 – 60 tuổi chiếm 26,2% số người trả lời Nhóm khách hàng trên 60 tuổi cũng rất quan tâm mua sắm sản phẩm gốm chiếm đến 22,3%
số khách hàng trả lời Sở sĩ có sự quan tâm này vì sản phẩm gốm đáp ứng một số nhu cầu của nhóm khách hàng ở độ tuổi này như: Tín ngưỡng, nghi lễ, cũng có thể trang trí hoặc chứa đựng Điều này là phù hợp với nhu cầu sản phẩm gốm Nhóm tuổi từ 18 – 25 có số lượng khách hàng ít nhất (167 người chiếm 19,4%) Do đặc thù sản phẩm gốm truyền thống, người trẻ có nhiều mối quan tâm và tiếp cận với những sản phẩm hiện đại hơn Về thu nhập bình quân, phần lớn các khách hàng có thu nhập từ 5 đến dưới 10 triệu, đây là mức sống cơ bản của người dân Việt Nam Tỷ lệ khách hàng có mức thu nhập khá trên 20 triệu
và mức thu nhập thấp dưới 5 triệu là tương đối thấp xấp xỉ nhau (13% và 16%) Đều này cho thấy mức thu nhập của người dân phân phối khá đồng đều và nhiều nhất vẫn ở mức trên
5 triệu đến 20 triệu đồng Thích công nghệ mới là sở thích được nhiều đáp viên chọn trả lời nhất (275 người chiếm 32,0%) Các nhóm sở thích còn lại với số lượng đáp viên chọn là tương đối đồng đều: Thích âm nhạc nghệ thuật chiếm 24,5%; thích thể thao chiếm 22%; Thích xem truyền hình, nghe tin trên đài chiếm 21,5%
4.2.2 Kết quả kiểm định thang đo
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy các biến quan sát đều đạt yêu cầu Kết quả phân tích EFA loại BL3 có hệ số tải nhỏ hơn 0.5 05 nhóm nhân tố giải thích được 61,193% sự biến động của dữ liệu Như vậy, có tất cả 29 quan sát tạo ra 5 nhân tố, đủ điều
Trang 1019 kiện để thực hiện các phân tích CFA
Phân tích CFA (kiểm định sự phù hợp của mô hình, đánh giá độ tin cậy của thang
đo, kiểm định giá trị hội tụ, tính đơn nguyên, giá trị phân biệt) đều đạt yêu cầu
4.2.3 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Kết quả kiểm định mô hình và giả thuyết
Kết quả cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu nghiên cứu vì Chi square/df= 1.583 (<
2) ; TLI, CFI, GFI >0.9; RMSEA= 0,026 (<0,08)
Kết quả phân tích mô hình SEM:
Mối quan hệ tương quan
giữa các nhân tố Estimate S.E C.R P Standardized
PQ < - BAW 0.111 0.043 2.583 0.010 0.104
BAS < - BAW 0.139 0.040 3.484 0.000 0.138
BAS < - PQ 0.112 0.036 3.060 0.002 0.118
BL < - BAW 0.126 0.045 2.831 0.005 0.112
BL < - BAS 0.146 0.043 3.403 0.000 0.131
BL < - PQ 0.135 0.041 3.316 0.000 0.129
CBBE < - BAW 0.221 0.039 5.724 0.000 0.221
CBBE < - BAS 0.210 0.037 5.654 0.000 0.212
CBBE < - PQ 0.174 0.035 4.939 0.000 0.186
CBBE < - BL 0.156 0.033 4.699 0.000 0.175
20 Sau đó tác giả đã kiểm định lại độ tin cậy của mô hình với phương pháp Bootstrap bằng cách lấy mẫu lặp lại với kích thước N = 3000 Kết quả ước lượng cho thấy, độ chệch (Bias) và sai số lệch chuẩn của độ chệch (SE-Bias) giữa ước lượng bootstrap với ước lượng tối ưu sử dụng trong nghiên cứu kiểm định có xuất hiện, nhưng không đáng kể, chứng tỏ kết quả ước lượng trong nghiên cứu này là đáng tin cậy Cụ thể trị tuyệt đối CR <= 2 nên có thể nói là độ chệch là rất nhỏ Như vậy, ta có thể kết luận là các ước lượng trong mô hình đáng tin cậy
4.2.3 Kiểm định ảnh hưởng của biến kiểm soát (Giới tính, thu nhập) đến tài sản thương hiệu tập thể làng nghề gốm
Kết quả phân tích sự tác động của biến kiểm soát
TB Độ lệch
CBBE < - TN
Dưới 5 triệu đồng 3.71 0.99
0.428
Từ 5 đến dưới 10 triệu đồng 3.64 0.99
Từ 10 đến dưới 15 triệu đồng 3.69 0.94
Từ 15 đến 20 triệu đồng 3.62 1.05 Trên 20 triệu đồng 3.57 1.05 Như vậy kết quả phân tích cho thấy có sự khác biệt về trung bình CBBE giữa nam và
nữ (p<0.05) Trong đó trung bình CBBE ở nhóm nam (3.77) cao hơn nhóm nữ (3.58) Bên cạnh đó, chưa có sự khác biệt về trung bình CBBE giữa các nhóm thu nhập (p>0.05)
4.2.4 Kiểm định ảnh hưởng của biến điều tiết (sở thích, tuổi)
Tác giả sẽ thực hiện phân tích cấu trúc đa nhóm để so sánh mô hình nghiên cứu theo các nhóm điều tiết với 02 mô hình: Mô hình bất biến và mô hình khả biến (từng phần) Kết quả bác bỏ các giả thuyết H11c, H11d các giả thuyết còn lại H11a, H11b, H12a, H12b, H12c, H12d đều được chấp nhận.Cụ thể:
Sở thích có điều tiết mối quan hệ giữa BAW và CBBE Trong đó, nhân tố BAW ảnh hưởng tích cực đến nhân tố CBBE mạnh nhất ở nhóm Thích xem truyền hình, nghe tin trên đài (0.518); ảnh hưởng mạnh thứ 2 ở nhóm Thích thể thao (0.330); tiếp theo là ở nhóm Thích âm nhạc, nghệ thuật (0.299); mối liên hệ yếu nhất ở nhóm Thích công nghệ mới (0.173)
Sở thích có điều tiết mối quan hệ giữa BAS và CBBE Trong đó, nhân tố BAS ảnh hưởng tích cực đến nhân tố CBBE mạnh nhất ở nhóm Thích công nghệ mới (0.452); ảnh