1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001- 2013)

114 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)(Luận văn thạc sĩ) Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Xuân Minh

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001- 2013), dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Xuân Minh là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của các tác giả khác đều được tác giả trích dẫn rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm Luận văn và Nhà trường

về sự cam đoan này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thu Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn TS Nguyễn Xuân Minh đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác giả trong quá trình hoàn thành Luận văn

Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Lịch sử Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban Mặt trận

Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Phú Lương, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phú Lương, Chi cục Văn thư - Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Thống kê huyện Phú Lương,… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này

Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo

vệ Luận văn

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 7

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp mới của Luận văn 8

6 Cấu trúc Luận văn 8

Chương 1: HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ 11

1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên 11

1.1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 11

1.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 13

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Phú Lương 15

1.2.1 Đặc điểm kinh tế 15

1.2.2 Đặc điểm xã hội 19

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN (2001-2013) 30

2.1 Chủ trương của Trung ương và sự vận dụng của địa phương 30

2.2 Quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương (2001-2013) 41

2.2.1 Giai đoạn (2001-2007) 41

Trang 6

2.2.2 Giai đoạn (2008-2013) 50

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3: THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ 71

3.1 Thành tựu 71

3.1.1 Nhận thức của các cấp ủy, chính quyền, của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được nâng cao 71

3.1.2 Tinh thần đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới được phát huy 73

3.1.3 Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng lành mạnh, phong phú 75

3.1.4 Sự nghiệp giáo dục, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện Dân số - Kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh 82

3.1.5 Môi trường sinh thái được cải thiện 83

3.1.6 Dân chủ từng bước được phát huy, ý thức chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, Chính sách Pháp luật của Nhà nước trong nhân dân được nâng cao 83

3.1.7 Truyền thống Tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cộng đồng và đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” được phát huy 86

3.2 Hạn chế 90

3.2.1 Nguyên nhân của những hạn chế 90

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương 90

Tiểu kết chương 3 92

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê các thành phần dân tộcở huyện Phú Lương - Thái Nguyên 20

Bảng 1.2 Kết quả thực hiện các mục tiêu của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết

xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đến hết năm 1998 25

Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu cuộc vận độngQuỹ “Vì người nghèo” và Quỹ “Đền

ơn đáp nghĩa” giai đoạn 2001-2007 46Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu cuộc vận độngQuỹ “Vì người nghèo” và Quỹ “Đền

ơn đáp nghĩa” giai đoạn 2008-2013 52Bảng 2.3 Tổng hợp số liệu cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa ở khu dân cư” từ năm 2009 đến năm 2013 53Bảng 3.1 Kết quả thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa ở khu dân cư 76Bảng 3.2 Tổng hợp số liệu cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời

sống văn hóa ở khu dân cư” từ năm 2001 đến năm 2013 81Bảng 3.3 Tổng hợp số liệu cuộc vận độngQuỹ “Vì người nghèo” và Quỹ “Đền

ơn đáp nghĩa” giai đoạn 2001-2013 88

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn hoá luôn là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội,

thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nước, một thời đại Đời sống văn hoá là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc; có tác động tích cực đối với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Nhận thức được điều này, ngay trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến lĩnh vực văn hóa Năm 1943, Hồ Chí Minh đã nêu

một định nghĩa về văn hóa Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng khác Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [32, tr.431]

Nhận thức rõ về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá, Đảng ta đưa ra

văn kiện nổi tiếng, đó là Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943) Trong văn kiện này xác định rõ Văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá) Sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Nhà

nước ta rất chú trọng tới công tác vận động nhân dân xây dựng đời sống mới

Hồ Chí Minh chỉ ra trong phát biểu của Người tại Đại hội văn hoá toàn quốc

lần I (năm 1946) Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi

Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII

khẳng định Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng [2, tr.58] Vậy, xây dựng đời sống văn hóa là một nhiệm vụ không kém

phần quan trọng và đó cũng là một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, đòi hỏi phải có quyết tâm cao của toàn xã hội và của cá nhân từng con người

Trang 9

Công cuộc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong cả nước nói chung, cũng như ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hết sức quan tâm Đây là một chủ trương quan trọng, đúng đắn mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp văn hoá, giáo dục, kinh tế, chính trị của đất nước, tạo nên một lối sống mới, phù hợp với con người mới, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Ban

Chấp hành Trung ương V khoá VIII đã đề ra Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nêu rõ 5 quan điểm

chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn mang tính cấp bách trong công cuộc xây dựng đời sống văn hoá ở các khu dân cư Một trong 4 giải pháp lớn đó là phát huy tinh thần Đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân

cư trong cả nước nói chung, và các khu dân cư trên địa bàn huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên nói riêng Huy động mọi nguồn lực sẵn có từ trong nhân dân

và của cả hệ thống chính trị các cấp từ trung ương đến cơ sở, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể ngoài xã hội tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong cả nước nói chung và huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên nói riêng

Phú Lương là huyện miền núi ở phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 22 km; diện tích tự nhiên 368,94 km2; có 16 đơn vị hành chính gồm

14 xã, 2 thị trấn và 274 xóm, bản, tiểu khu; dân số trên 106.000 người thuộc 8 thành phần dân tộc anh em cùng chung sống Nhân dân các dân tộc huyện Phú Lương có truyền thống cách mạng, đoàn kết xây dựng quê hương

Cùng với cả tỉnh, công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ở huyện Phú Lương đã được triển khai Trong điều kiện nền kinh tế đất nước chuyển sang cơ chế thị trường, việc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân

cư có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có nhiều khó khăn Huyện Phú Lương đã quán triệt và vận dụng chủ trương của cấp trên vào hoàn cảnh cụ thể của địa

Trang 10

phương Nhờ đó, công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư ở huyện Phú Lương đã đạt được nhiều kết quả

Để góp phần đánh giá đúng quá trình thực hiện công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, làm rõ hơn truyền thống lịch sử văn hóa của nhân dân Phú Lương trong quá khứ và hiện tại, từ đó giáo dục thế hệ trẻ biết trân

trọng, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tôi lựa chọn đề tài Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013) làm Luận văn Thạc sĩ Sử học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa mới ở Việt Nam từ trước tới nay đã từng được đề cập dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau Năm 1943, Đảng ta

đưa ra văn kiện nổi tiếng, đó là Đề cương văn hóa Việt Nam, nêu rõ văn hoá là

một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá) Đề cương đã xác định nền văn hóa dân chủ mới của Việt Nam phải được xây dựng theo ba tính chất cơ bản: Dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng

đã rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đời sống mới Năm 1946, Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương được thành lập Một năm sau, ngày 20/3/1947,

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới và được Ủy ban Vận động

đời sống mới Trung ương cho xuất bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các cấp chỉ đạo và của toàn dân

Năm 1946 tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã nói: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi Tiếp đó, từ ngày 16 đến

ngày 20/7/1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông qua

bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng Trường

Chinh trình bày Bản báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của

Trang 11

những người làm công tác văn hóa kháng chiến Mọi hoạt động văn hóa trong

kháng chiến đều hướng theo phương châm “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng ta đã chỉ ra sự cần thiết phải tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cách mạng kĩ thuật và cách mạng quan hệ sản xuất Đại hội IV năm 1976 và Đại hội

V năm 1981 tiếp tục xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa, có hình thức dân tộc, có tính Đảng và nhân dân Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII; các nghị quyết của Bộ Chính trị và Hội nghị Trung ương không ngừng hoàn thiện các tư tưởng văn hóa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở

Năm 1986 báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định vai trò to lớn của văn hóa trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người Toàn bộ các văn kiện Hội nghị Trung ương đều khẳng định văn hóa sẽ phát triển theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong nhiều năm gần đây, một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về văn hóa đã được công bố:

Năm 1998, cuốn sách Một số giá trị văn hóa truyền thống và đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn của tác giả Phạm Việt Long được ra đời Tác giả đã

phân tích và làm rõ một số giá trị văn hóa truyền thống và đời sống văn hóa cơ

sở ở nông thôn

Năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phối hợp với Ủy ban Mặt

trận Tổ quốc Việt Nam xuất bản cuốn Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư Đây là cuốn sách tuyển chọn các bài báo cáo tiêu biểu, đại

diện cho địa bàn dân cư ở các vùng, miền, thành thị cũng như nông thôn, địa bàn

có các dân tộc, các tôn giáo…để bồi dưỡng điển hình và nhân rộng điển hình

Trang 12

Năm 2001, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng Đại học Quốc gia Hà Nội công bố một số bản báo cáo khoa học tại Hội thảo Quốc tế lớn với

chủ đề: Việt Nam trong thế kỉ XX được tổ chức tại thủ đô Hà Nội (19 -

21/9/2000) Đáng chú ý có một số báo cáo sau đây:

- Củng cố các nền văn hóa truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa của TS Frank Proschan, Trường Đại học Indiana, Hoa Kì Tác

giả đề cập nhiều vấn đề về văn hóa; trong đó nhấn mạnh vấn đề văn hóa truyền thống của Việt Nam trước những biến đổi văn hóa đang diễn ra với tốc độ

chóng mặt "Trong bối cảnh này, rất cần xác định xem các cơ quan văn hóa của Việt Nam đang được áp dụng có đủ để đối mặt với những thách thức mới của xu hướng toàn cầu hóa đang tăng lên hay không " [62, tr 271], để "đóng góp vào mục tiêu chung là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [62, tr 272]

- Văn hóa truyền thống và hiện đại hóa xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ

XX của TSKH Lương Việt Hải, Viện Triết học Tác giả chỉ rõ: "Các giá trị của truyền thống văn hóa là yếu tố cấu thành quan trọng của động lực hiện đại hóa xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ vừa qua cũng như trong những thập kỉ tới của thế kỉ XXI" [63, tr 304]

- Tác động của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển của con người Việt Nam trong thế kỉ XX của PGS.TS Đỗ Long, Viện Tâm lí học Trên cơ sở trình

bày các vấn đề: Giao lưu và sự phát triển của con người; Giao lưu văn hóa và

sự chuyển biến từ con người nông dân đến con người chiến sĩ; Con người Việt Nam bước vào thế kỉ XXI trong bối cảnh giao lưu văn hóa và phát triển thông tin, tác giả phân tích sự chuyển biến trong đời sống văn hóa từ sau Cách mạng

tháng Tám 1945 Tác giả nêu rõ: "Phong trào xây dựng Đời sống mới đề ra nhiệm vụ trước hết là cải tạo đời sống văn hóa cũ, khẳng định đời sống văn hóa mới trong các tầng lớp quần chúng nhân dân, chống hủ tục, xây mĩ tục, chống mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, xây nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa học, chống hành vi xâm phạm, bạo lực đối với con người, trước hết là đối với

Trang 13

phụ nữ, xây quan hệ ứng xử tốt đẹp giữa người với người từ trong gia đình, làng xã, phố phường đến toàn xã hội" [63, tr 421], v.v

Luận văn Thạc sĩ: Công cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa (1991-1995) của Bùi Thị Oanh khoa lịch sử Việt

Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội bảo vệ năm 2006 đã trình bày một cách có hệ thống quá trình xây dựng Làng văn hóa và kết quả của công cuộc này

Luận văn tốt nghiệp Xây dựng đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay - thực trạng và giải pháp của sinh viên Trần Thị Kim Nhẫn (2008); Luận văn Xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Hậu Giang hiện nay- Thực trạng và giải pháp của sinh viên Đỗ Thị Huyền Trang, khoa

Khoa học chính trị- Trường Đại học Cần Thơ (2009); các Luận văn đã đánh giá thực trạng công cuộc xây dựng đời sống văn hóa, từ đó đưa ra những phương hướng giải pháp cho những giai đoạn sau này

Năm 2012, Nhà xuất bản Giáo dục phát hành cuốn sách: Cơ sở Văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về

tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam, bao gồm các lớp văn hóa và các giai đoạn văn hóa

Năm 2013, sinh viên Phạm Thị Liên chuyên ngành Giáo dục Công dân khoa Khoa học Chính trị Trường Đại học Cần Thơ đã bảo vệ thành công Luận

văn Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn ở thành phố Cần Thơ trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp Qua đó tác giả đã đưa ra những

phương hướng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa nông thôn cho những giai đoạn sau này

Luận văn Thạc sĩ Đời sống kinh tế - văn hóa của người Mông ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên từ năm 1979 đến năm 2000 của Hứa thị Hoàng

Anh, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên (2013) đã làm rõ những đổi thay trong đời sống vật chất tinh thần, xác định những đặc điểm cần bảo tồn

và phát huy trong quá trình gìn giữ những bản sắc văn hóa của dân tộc

Trang 14

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên Mặc dù vậy, tất cả các công trình nghiên cứu về văn hóa đã được công bố là những nguồn tài liệu quý giá giúp tôi hoàn thành Luận văn này

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001- 2013)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Huyện Phú Lương (Thái Nguyên) với diện tích tự nhiên

368.94 km2 có16 đơn vị hành chính gồm 14 xã, 2 thị trấn và 274 xóm, bản, tiểu khu

- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2013 Tuy nhiên, để làm nổi bật

những thành tựu của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên trong công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, Luận văn đề cập tình hình kinh

tế, xã hội của huyện những năm trước đó

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

Thứ nhất, khái quát về huyện Phú Lương: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài

nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Phú Lương trước năm 2001 Thứ hai, nghiên cứu quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013), rút ra một số nhận xét về thành tựu, hạn chế của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013) Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo các nguồn tài liệu sau:

Trang 15

- Các văn kiện của Đảng, Chính phủ, các bài viết, bài nói của Chủ tịch

Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, của Huyện ủy Phú Lương

- Các kế hoạch, báo cáo tổng kết, sơ kết của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Phú Lương, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Phú Lương, Chi cục Thống kê huyện Phú Lương

- Các sách và bài báo khoa học liên quan đến đề tài

- Tài liệu khảo sát thực tế tại huyện Phú Lương

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so sánh, điều tra, điền dã, phân tích

5 Đóng góp mới của Luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá, khẳng định tính đúng đắn của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương nói riêng và cả nước nói chung Từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể tham khảo vận dụng trong những năm tiếp theo

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương

6 Cấu trúc Luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết Luận, Phụ Lục và Tài liệu tham khảo, Luận

văn gồm 3 chương nội dung:

Chương 1: Huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên trước khi tiến hành

công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư

Chương 2: Quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời sống

văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái nguyên (2001-2013)

Chương 3: Một số nhận xét về công cuộc vận động xây dựng đời sống

văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái nguyên (2001-2013)

Trang 16

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH THÁI NGUYÊN

Nguồn [57, tr.9]

Trang 17

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN PHÚ LƯƠNG

Nguồn [57, tr.968]

Trang 18

Chương 1 HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC KHI

TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG

VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ

1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Phú Lương là huyện miền núi nằm ở vùng phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, trong tọa độ địa lí từ 210 36’ đến 210 55’ vĩ Bắc, 1050 37’ đến 1050 46’ kinh Đông; phía bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía nam và đông nam giáp thành phố Thái Nguyên, phía tây giáp huyện Định Hóa, phía tây nam giáp huyện Đại Từ, phía đông giáp huyện Đồng Hỷ [57, tr 969]

Từ ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái được chia tách thành 2 tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên Huyện Phú Lương là 1 trong 9 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên; các xã Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Quảng Chu, Như Cố, Bình Văn, Yên Cư, Yên Hân, Nông Hạ và thị trấn Chợ Mới tách khỏi huyện Phú Lương, sáp nhập về huyện Bạch Thông (tỉnh Bắc Cạn)

Hiện nay, huyện Phú Lương có 14 xã (Ôn Lương, Phú Đô, Yên Lạc, Tức Tranh, Sơn Cẩm, Động Đạt, Phủ Lý, Vô Tranh, Phấn Mễ, Yên Ninh, Hợp Thành, Cổ Lũng, Yên Đổ, Yên Trạch) và hai thị trấn (Đu, Giang Tiên), huyện lị đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 22 km về phía bắc

(theo Quốc lộ 3)

Về địa hình: Nằm trong hệ thống kiến tạo hình thành địa hình của tỉnh

Thái Nguyên, huyện Phú Lương thuộc phần cuối của cánh cung Ngân Sơn Cho nên, đồi núi của Phú Lương có độ cao vừa phải, ngoài một số núi đá vôi thì phần nhiều là các đồi núi thấp được cấu tạo bằng các loại sa phiến thạch, sườn thoải, dạng đồi bát úp, hoặc đã được khai phá thành các ruộng bậc thang như

hiện nay Địa hình của Phú Lương bao gồm ba vùng rõ rệt:

Trang 19

- Vùng núi cao, nằm ở phía Bắc của huyện Đây là vùng có độ cao từ 500-1000 mét, độ dốc khoảng 25-300; phân bố chủ yếu ở một số xã như Yên Ninh, Yên Lạc, Yên Trạch, Phủ Lý, Hợp Thành, Ôn Lương…

- Vùng đồi cao và núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao ở phía Bắc và vùng gò đồi ở phía Nam, được phân bố chủ yếu ở 2 thị trấn Đu, Giang Tiên, các xã Động Đạt, Phấn Mễ, Vô Tranh… Vùng này thường có độ cao trung bình từ 100 đến 300 mét, độ dốc khoảng từ 150 – 250

- Vùng gò đồi thường tập trung ở phía Nam huyện, là vùng thấp và đồng bằng, được phân bố chủ yếu ở các xã Cổ Lũng, Sơn Cẩm Độ cao trung bình từ 30- 50 mét, độ dốc khoảng dưới 100

Sự phân bố địa hình khá rõ nét thành các khu riêng biệt đã tạo điều kiện thuận tiện cho việc phân vùng kinh tế trong huyện với ba vùng:

Vùng Tây Bắc, gồm 6 xã Hợp Thành, Ôn Lương, Phủ Lý, Yên Đổ, Yên Ninh, Yên Trạch, tập trung phát triển kinh tế đồi rừng, mở rộng diện tích chè, trồng cây ăn quả, đảm bảo diện tích trồng cây lương thực

Vùng phía Đông, gồm 4 xã Vô Tranh, Tức Tranh, Phú Đô, Yên Lạc, mở rộng diện tích chè, tăng diện tích chè cao sản, cải tạo diện tích chè hiện có, trồng cây ăn quả, cây lương thực

Vùng phía Nam, gồm 2 thị trấn Đu và Giang Tiên, các xã Sơn Cẩm, Động Đạt, Cổ Lũng, Phấn Mễ tập trung đầu tư thâm canh cây lương thực, ổn định diện tích chè, cây ăn quả, phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Về khí hậu: Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa

nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới 30C, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220 C, tổng tích nhiệt khoảng 80000 C) Lượng mưa trung bình từ 1800 – 2000 mm/năm, độ ẩm trung bình 80% Đặc biệt gió mùa đông bắc trung bình mỗi năm có khoảng từ

Trang 20

21- 22 đợt tràn qua làm cho nhiệt độ giảm xuống đột ngột, nhất là vào đầu tháng chín, tháng mười, cuối tháng tư, tháng năm Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, cây trồng và vật nuôi Ngoài ra, Phú Lương còn chịu ảnh hưởng của thời tiết nồm vào mùa xuân, nóng khô vào mùa hè Với khí hậu

trên, xưa kia các châu huyện Vân Lãng, Đại Từ và Phú Lương có cấy lúa bốn mùa, cứ ba tháng một lần thu hoạch, đấy là một điều hơi khác Các huyện Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Lương và Bình Xuyên, khí lam chướng hơi nhẹ còn các huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ và Võ Nhai nặng hơn cả [53, tr.162 -163]

Về giao thông đường bộ, huyện Phú Lương có 3 tuyến chính: Quốc lộ số

3 (Hà Nội- Cao Bằng) chạy suốt từ vùng phía Nam lên vùng phía Bắc huyện qua địa bàn 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ, Đu, Động Đạt, Yên Đổ, Yên Ninh); Đường 254 từ Km 31 lên Định Hóa; Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ đậu (xã Cổ Lũng), qua địa bàn huyện Đại Từ sang tỉnh Tuyên Quang…Các tuyến giao thông này mang lại cho huyện Phú Lương nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng

1.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất của Phú Lương khá đa dạng, chủ yếu là đất Ferarit, đất đá

vôi, đất ruộng Ngoài ra, ở Phú Lương còn có các loại đất cát, đất thịt, đất bùn, Khu vực đất đồi rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp như: cà phê, chè, …và các loại cây dược liệu khác như: quế, hồi, …Trong đó, cây chè

là một loại cây rất thích hợp với thổ nhưỡng của Phú Lương Ngoài ra, đây còn

là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây lấy gỗ khác như: keo, bạch đàn, mỡ…Vùng đồi còn là nơi rất thuận lợi cho việc chăn nuôi đại gia súc như: Trâu, bò, dê ….Vùng đất ruộng và những bãi bồi ven sông là nơi thuận lợi cho việc trồng các loại cây lương thực trong đó quan trọng nhất là cây lúa nước, ngoài ra là ngô, khoai, sắn, lạc…

Tài nguyên nước: Phú Lương có mật độ sông suối khá lớn, bình quân

0,2km/km2, nên nguồn tài nguyên nước ở đây khá dồi dào

Trang 21

Sông Đu và các nhánh của nó nằm ở khu vực phía Bắc huyện, nhánh chính dài khoảng 10km Sông Đu được tạo bởi hai nhánh chính, một nhánh được bắt nguồn từ đông bắc xã Hợp Thành, một nhánh bắt nguồn từ phía bắc

xã Động Đạt Hai nhánh này hợp lưu ở phía trên thị trấn Đu, chảy dọc theo địa bàn huyện, qua thị trấn Giang Tiên và đổ vào sông Cầu tại xã Sơn Cẩm Tổng chiều dài của hệ thống sông Đu khoảng 45 km Sông Đu có vai trò quan trọng đối với đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân Phú Lương Hằng năm, con sông này cung cấp cho đồng bào Phú Lương nhiều cá, tôm; từ xa xưa nhân dân

đã lưu truyền câu thành ngữ Cơm làng Giá, cá làng Đu Hơn nữa, nguồn nước

của sông Đu có vai trò tưới tiêu cho những cánh đồng nhiều xã của huyện Sông Cầu, xưa còn gọi là sông Phú Lương, với tổng chiều dài 17 km chảy qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm, là nguồn cung cấp nước chủ yếu đảm bảo sinh hoạt và sản xuất của các xã phía Nam huyện Dưới thời thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông thủy quan trọng của huyện Phú Lương và của cả tỉnh Thái Nguyên

Tuy nhiên do hầu hết các sông trên địa bàn huyện Phú Lương đều hẹp và dốc nên trong mùa mưa thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân trong huyện

Tài nguyên rừng: Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, ở Phú Lương Cỏ tranh, lá cọ, các loại mây, hậu phác sa nhân, tre nứa, tre gai, tre hoa (tức ban trúc có vân tròn, hình trôn ốc, rất cứng rắn, người ta dùng làm đòn càng), gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ táu, gỗ xoan Chè nam,

củ nâu, nhung hươu, mật gấu, sáp ong, chim công đều có [53, tr.181- 182] Tuy

nhiên, trải qua thời gian, rừng cây bị phá, những sản vật quý cũng khan hiếm dần Hiện nay, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, phong trào trồng cây gây rừng được mở rộng, nhờ đó môi trường sinh thái được bảo

vệ và cải thiện

Tài nguyên khoáng sản: Theo tài liệu của Liên đoàn Địa chất Đông Bắc,

Phú Lương có các loại khoáng sản sau:

Trang 22

Nhóm khoáng sản nguyên liệu: Than có ở nhiều xã, điển hình là mỏ than

Phấn Mễ có trữ lượng 2.177.000 tấn Than Phấn Mễ rất nhiều chất bay hơi, có giá trị cao Từ năm 1905, thực dân Pháp đã tiến hành thăm dò và sau đó tiến hành khai thác than ở xã Phấn Mễ một cách ồ ạt [57, tr.970] Trong Tiểu chí Thái Nguyên, quan Công sứ Pháp Echinard viết ở mỏ than Phấn Mễ trung bình có 2000 tấn được xuất ra ngoài tỉnh mỗi tháng [57, tr.970]

Nhóm khoáng sản kim loại: Sắt, mangan, titan, thiếc…đặc biệt Titan thuộc xã Động Đạt có trữ lượng 48,3 triệu tấn

Nhóm nguyên liệu và vật liệu xây dựng: Đá vôi, sét ximăng, sét gạch ngói mà điển hình sét gạch ngói có ở các xã Cổ Lũng, Sơn Cẩm, Vô Tranh

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Phú Lương

1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Trong không khí tưng bừng, phấn khởi sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng bộ, nhân dân Phú Lương bắt tay vào công cuộc tái thiết quê hương Từ tình trạng nghèo đói sau chiến tranh, sản xuất nông nghiệp mất mùa, năng suất thấp, đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế huyện Phú Lương từng bước ổn định và phát triển toàn diện Nhờ sự cố gắng

nỗ lực của nhân dân trong huyện, năm 1977 sản lượng lúa của huyện đạt 12.982,342 tấn, diện tích trồng màu là 2.163,2 ha Chăn nuôi được duy trì, đàn trâu là 14.187 con, đàn bò là 307 con, ngựa 400 con, lợn 19.570 con, dê 414 con, cá thu hoạch được 30.786 kg [33,tr.1-2] Từ khi có Chỉ thị số 100-CT/TW

(13/12/1981) về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm

và người lao động trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; sản xuất nông

nghiệp trên địa bàn huyện phát triển mạnh hơn trước Năm 1980, diện tích lúa 1.762 ha, đến năm 1982 đã tăng lên 2.020 ha Sản lượng lúa xuân các năm cũng đều tăng từ 3.167 tấn (năm 1980) lên 3.554 tấn (năm 1981) và 3.526 tấn (năm 1982) Diện tích cấy lúa mùa năm 1980 đạt 4.718 ha, năng suất 21,7 tạ, sản lượng đạt 10.206 tấn; đến năm 1982, năng suất đạt 27 tạ/ha, sản lượng đạt

Trang 23

13.159 tấn [1, tr.205] Năm 1985, tổng sản lượng lương thực của huyện đã đạt 25.071 tấn (vượt 2%, riêng năng suất lúa vượt 4,7% so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ huyện đề ra [1, tr 218] Năm 1989, sản lượng quy thóc đạt 26.245 tấn, tăng 13,4 % so với 1986 [36, tr.1] Năm 1994, sản lượng lương thực đạt 28.000 tấn, tăng 23,86% so với năm 1990, là năm đạt sản lượng lương thực cao nhất từ trước đến nay [37, tr.1] Từ năm 1995 đến năm 1999, tuy diện tích trồng cây lương thực giảm gần 500 ha nhưng sản lượng quy thóc vẫn tăng bình quân

106 tấn mỗi năm, vượt 60 tấn so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ đề ra [1, tr.268] Cây chè được xác định là cây công nghiệp mũi nhọn của huyện Trong 5 năm (từ năm 1996 đến năm 2000), toàn huyện đã trồng được 585 ha, đưa tổng diện tích trồng chè lên 3.368 ha, trong đó 2.865 ha đang thu hoạch Năng suất bình quân là 5,8 tạ chè búp khô trên 1 ha, tổng sản lượng chè toàn huyện là 13.800 tấn, đứng thứ hai toàn tỉnh [1, tr.268]; Cây chè tập trung ở bốn xã phía Đông của huyện: Vô Tranh, Tức Tranh, Yên Lạc, Phú Đô; Với việc tăng diện tích và sản lượng chè đã tạo nhiều điều kiện để cải thiện đời sống của nhân dân Năm 1986, huyện trồng được 183 ha rừng, chăm sóc 440 ha, khoanh nuôi rừng 103 ha/300 ha, gieo ươm cây con vụ đông 800.000 [34, tr.2] Từ năm

1991 đến năm 1995, huyện đã khoanh nuôi, bảo vệ gần 5700 ha rừng, giao gần 10.000 ha đất rừng cho các hộ quản lí, tổ chức trồng mới gần 4000 ha rừng các loại [34, tr.251] Năm 2000, huyện thành lập được 15 ban quản lí bảo vệ rừng ở

xã, thị trấn, xây dựng 220 tổ, đội quản lí bảo vệ rừng của các xóm, bản; tiến hành đo giao 1.016,5 ha đất lâm nghiệp, hoàn chỉnh hồ sơ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1570 hộ tại 11 xã [82, tr.2] Nhờ thực hiện tốt các Chương trình 327, Dự án 661, diện tích trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ tốt, độ che phủ cao Về cơ bản, huyện Phú Lương không còn hiện tượng phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy Tuy nhiên, tình trạng khai thác chế biến, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn xẩy ra Năm 2000, huyện đã xử lí

172 vụ, thu nộp vào ngân sách 84.237.00 đồng tiền phạt [82, tr 2]

Trang 24

Các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn đầu của thời kì đổi mới gặp nhiều khó khăn, mặt hàng ít, chưa tương xứng với tiềm năng nguyên liệu sẵn có của địa phương Mặt hàng chủ yếu là các loại mây, tre đan, mành cọ Năm 1986, mành cọ đạt 47.913 m2, mành nứa 3.912m2, tăm mành 13 tấn, chảo gang 888 cái, gạch nung 13 triệu viên, ngói 50 vạn viên, than 1.500 tấn [34, tr.2] Từ năm 1991 đến năm1995, ngành sản xuất vật liệu xây dựng phát triển mạnh do nhu cầu xây dựng ngày càng tăng Gạch làng Phan không chỉ nổi tiếng trong tỉnh mà còn sang các tỉnh khác bởi chất lượng bền, đẹp Sản lượng gạch sản xuất không ngừng tăng, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động của địa phương Mười năm đổi mới (từ năm 1986 đến năm 1995), được sự quan tâm của Tỉnh và Trung ương, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển ở một số lĩnh vực như: sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, chế biến chè, chế biến gỗ…Đến năm 1999, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vươn lên đạt 87,6 tỉ đồng; năm 2000, đạt 90,3 tỉ đồng Tuy nhiên, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do huyện quản lí còn nhỏ

bé về quy mô và tỉ trọng đầu tư về cơ bản còn ít; toàn huyện có khoảng 390 cơ

sở sản xuất, bình quân 2 - 3 lao động/cơ sở [81, tr.7]; Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng được mở rộng về quy mô, đa dạng về ngành nghề, thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho người lao động

Các ngành Thương mại - Dịch vụ, Tài chính, Ngân hàng, Giao thông vận tải trong những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90, do những tác động của tình hình thế giới cũng như khó khăn của đất nước, nên hoạt động đều gặp nhiều khó khăn về định hướng kinh doanh, vốn, thị trường…Năm 1992, thực hiện chủ trương của Tỉnh về sắp xếp lại các đơn vị kinh tế quốc doanh đã bàn giao các đơn vị về Tỉnh theo ngành Các đơn vị sau khi được bàn giao về ngành

đã tổ chức khẩn trương ổn định tổ chức, đáp ứng được những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân trên địa bàn huyện Giá cả thị trường được giữ vững và ổn định

Trang 25

Giai đoạn 1991-1995, kinh tế huyện Phú Lương đã từng bước vượt qua khó khăn, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước Bắt đầu từ năm 1992, hoạt động thương nghiệp, dịch vụ không chỉ phát triển ở các thị trấn, thị tứ mà đã lan rộng về nông thôn Các hoạt động thương nghiệp phát triển góp phần cung cấp những hàng hóa thiết yếu cho đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa Chợ phiên là nơi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng đã có từ xưa, lớn nhất là chợ Đu Hệ thống chợ trên địa bàn hoạt động sôi nổi Các thành phần kinh tế chấp hành tương đối tốt các chế độ của Nhà nước về kinh doanh thương mại Giá cả các mặt hàng tương đối ổn định Điều này đã góp phần nâng cao chất lượng sống của nhân dân trong huyện Ngành tài chính, ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực;

tổ chức tốt công tác huy động và phát công trái xây dựng Tổ quốc, công trái giáo dục, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế, đảm bảo vốn vay

an toàn, không có nợ xấu, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương

Năm 2000, toàn huyện có 650 km đường liên xóm, 90 km đường liên xã Một số tuyến đầu tư cải tạo có chất lượng tốt, chỉ còn 15 xóm xe vận tải cơ giới chưa vào được Tổng các loại vốn đầu tư cho giao thông trong 5 năm (từ năm

1995 đến năm 2000) là 6,7 tỉ đồng [42,tr.4] Đến tháng 6 năm 2000, điện lưới quốc gia đến 12 xã, thị trấn, 15.641 hộ được dùng điện, đạt 70% tổng số hộ được dùng điện Tổng số vốn đầu tư cho mạng lưới điện nông thôn là 4.813 triệu đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 1.964 triệu đồng, nhân dân đóng góp 2.849 triệu đồng [1, tr.271] Một số xã tạo điều kiện để nhân dân vay vốn đầu

tư xây dựng điện đạt kết quả tốt Đây là một trong những biện pháp quan trọng,

có hiệu quả để phủ nhanh mạng lưới điện trên địa bàn Toàn huyện đã xây dựng mới 4 công trình, khôi phục 2 công trình thủy lợi, đưa diện tích tưới nước chủ động lên 224,3 ha, tăng 204,3 ha so với năm 1996

1.2.2 Đặc điểm xã hội

Trước năm 1945, Phú Lương có chưa tới 10.000 người; trong thời kì kháng chiến chống Pháp có khoảng: 13.700 người, trong những năm 70 của

Trang 26

thế kỉ XX là: 54.676 người, năm 1989: 107.390 người, năm 1996: 110.000 người Đến năm 2000, Phú Lương có 101.297 người [42, tr.6] gồm 8 thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống

Bảng 1.1 Thống kê các thành phần dân tộc

ở huyện Phú Lương - Thái Nguyên

(Nguồn Chi cục Thống kê huyện Phú Lương)

Mật độ dân số trung bình toàn huyện là: 271,05 người/km2, trong đó xã Yên Ninh có mật độ dân số thấp nhất (135 người/km2); thị trấn Đu có mật độ dân số cao nhất (1.892 người/km2) [43, tr.5]

Từ năm 1996 đến năm 2000, ti lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hằng năm toàn huyện là 1,2% Số lao động nông nghiệp chiếm 82,6%, bình quân 1,9 lao động trên 1 ha đất nông- lâm nghiệp [43, tr 5-6]

Cư dân Phú Lương gồm nhiều bộ phận hợp thành Một bộ phận vốn là dân bản địa định cư từ lâu đời, một bộ phận là dân phu được tư bản Pháp tuyển

mộ vào làm thuê trong các hầm mỏ, đồn điền; Một bộ phận khác vốn là đồng bào ở các tỉnh miền xuôi di cư lên khai phá đồi nương, mở rộng làng bản, sinh

cơ lập nghiệp Cũng tương tự như đặc thù dân cư của tỉnh Thái Nguyên là điểm

Trang 27

chuyển tiếp giữa miền xuôi và miền ngược, huyện Phú Lương cũng có nhiều dân tộc sinh sống, đây là một trong những nét cơ bản tạo nên những nét văn hóa chung của cư dân ở đây, là điểm hội tụ giao thoa văn hóa giữa các dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn huyện

Dân tộc Kinh: Chiếm 58,1% dân số trong huyện, cư trú ở hai thị trấn (Giang Tiên và Đu) và các xã Sơn Cẩm, Tức Tranh, Vô Tranh, cùng sống xen

kẽ với các dân tộc khác Vốn cư trú ở vùng thấp, người Kinh quen với việc trồng lúa nước kết hợp với một số nghề thủ công truyền thống Ngày nay, họ còn mở rộng thêm một số nghề khác, như buôn bán tại nhà, tại chợ Người Kinh không những giàu kinh nghiệm sản xuất mà còn có khả năng tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kĩ thuật Văn hóa tín ngưỡng quan trọng nhất của người Kinh là thờ thần Thành hoàng Người Kinh sinh sống trên đất Phú Lương đã có sự giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, điều này làm cho Phú Lương có nền văn hóa đa dạng, phong phú

Dân tộc Tày: Chiếm tỉ lệ 19,4% dân số trong huyện, sống chủ yếu ở các

xã giáp ranh với huyện Định Hóa và Đại Từ như: Yên Ninh, Yên Trạch, Yên

Đổ, Ôn Lương, Hợp Thành Họ cư trú ven thung lũng, triền đồi núi thấp nơi có cánh đồng nhỏ phì nhiêu, thuận lợi nguồn nước, người Tày có nền kinh tế nông nghiệp khá phát triển, bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi người Tày còn có một

số nghề thủ công truyền thống như đan lát, dệt vải…Người Tày có đời sống tinh thần đặc sắc, trong đó tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái tự nhiên được duy trì khá bền vững Ngoài ra, họ còn có vốn văn nghệ dân gian, trò chơi dân gian truyền thống phong phú và đặc sắc

Dân tộc Sán Chay: Chiếm 10,5% dân số huyện Phú Lương Họ sống chủ yếu bằng nghề nông và chăn nuôi gia súc, gia cầm Đời sống văn hóa tinh thần của họ cũng rất phong phú như: thơ ca, hò vè, múa…

Dân tộc Nùng: Chiếm 4,5%, cùng hệ ngôn ngữ với người Tày; Do đó, đời sống văn hóa và vật chất của người Nùng có nhiều nét tương đồng với người Tày

Trang 28

Dân tộc Sán Dìu: chiếm 4,5% dân số của huyện, sống chủ yếu ở các xã

Cổ Lũng và Sơn Cẩm Người Sán Dìu sống chủ yếu bằng nghề nông và chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, làm gạch ngói, đan lát Người Sán Dìu chịu tác động mạnh mẽ văn hóa của người Kinh, điều này thể hiện khá rõ trong tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng cùng các lễ hội dân gian diễn ra ở đình làng trong mỗi dịp lễ tết

Dân tộc Dao: Chiếm tỉ lệ nhỏ trong dân số huyện 2,5%, sống ở các xã vùng cao như: Phú Đô, Yên Lạc Văn hóa của người Dao có nhiều nét độc đáo như tục cấp sắc, thờ cúng Bàn Vương

Dân tộc Mông và dân tộc Hoa chiếm tỉ lệ nhỏ nhất trong huyện (0,5%) Người Mông cư trú duy nhất ở xã Phú Đô, chủ yếu trồng lúa nương và ngô; chăn nuôi trâu, bò, ngựa Họ có hai nhạc cụ đặc sắc là khèn và đàn môi

Mỗi dân tộc có những sắc thái riêng về phong tục tập quán Mặc dù vậy, đồng bào không sống biệt lập mà thường sống xen kẽ nhau trong các làng, bản trên khắp địa bàn huyện Mỗi làng bản có từ 20 đến 40 nóc nhà Mỗi nóc nhà là một gia đình sinh sống thường là 2 đến 3 thậm chí đến 4 thế hệ Quan hệ gia tộc dòng họ trong mỗi gia đình được biểu hiện rất rõ ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau Họ có trách nhiệm cưu mang nhau về mặt vật chất, hỗ trợ nhau về mặt trí tuệ, tinh thần, dìu dắt nhau, là chỗ dựa cho nhau trong cuộc sống Mối quan hệ dòng tộc trong xã hội Phú Lương còn thể hiện qua tính tôn

ti, trật tự của các thế hệ sống trong mỗi dòng tộc Câu tục ngữ của người Tày Pì noọng tam tó, bó tày pì noọng só rườn, cũng có nghĩa như câu tục ngữ của người Kinh Bán anh em xa mua láng giềng gần đã nói lên sự gắn bó lẫn nhau

giữa các gia đình trong cùng một xóm bản Sự đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau không chỉ thể hiện trong đời sống hằng ngày (các dịp ma chay, cưới xin, làm nhà,…) mà cả trong sản xuất

Trong quá trình lao động sản xuất và chế ngự thiên nhiên, nhân dân các dân tộc huyện Phú Lương luôn thể hiện đức tính cần cù, chịu khó, thông minh,

Trang 29

sáng tạo Họ đã tự chế tạo được các loại cung, nỏ, súng kíp,…để săn bắn thú rừng, tự rèn đúc được các loại dao, cuốc,…làm dụng cụ và đồ dùng sinh hoạt cũng như sản xuất Từ xưa, người dân Phú Lương đã biết dệt lấy vải mặc, biết làm cọn nước, đào đắp mương phai để dẫn nước vào ruộng

Ngoài kĩ thuật làm ruộng nước, đồng bào còn rất thạo làm nương, rẫy Nhờ những kinh nghiệm tích lũy từ lâu năm, nên đồng bào dễ dàng chọn rừng, đất làm rẫy trồng lúa, ngô Trong kĩ thuật canh tác, người dân Phú Lương từ lâu

đã biết trồng luân canh, xen canh gối vụ làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng Đồng bào đã biết chọn và giữ gìn những giống lúa thơm ngon nổi tiếng

Câu ca Cơm làng Giá, cá làng Đu từ xa xưa đã nói lên điều đó

Cư dân Phú Lương có rất nhiều lễ hội trong năm, như: Tết Nguyên đán,

Lễ hội Khai xuân, Cầu mùa, Tết Thanh minh, Lễ Thượng điền, Lễ Hạ điền…tùy theo mỗi xóm mà có một ngày hội chính

Cư dân Phú Lương có đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, đa dạng

Họ có tục thờ cúng tổ tiên, thổ công và các vị thần Trên địa bàn huyện có một

số công trình văn hóa, nghệ thuật thể hiện đời sống tâm linh của nhân dân như: đền Đuổm, đền Trình Giang Tiên…

Bên cạnh văn hóa vật chất, nhân dân các dân tộc huyện Phú Lương đã góp phần xây dựng, gìn giữ và phát triển những tinh hoa văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Đó chính là những điệu hát lượn của người Tày, hát Sli của người Nùng, những làn điệu dân ca của người Sán Chay…, cùng với đó là những câu truyện kể được lưu truyền trong trong đồng bào các dân tộc Tất cả đều là những tài sản quý giá, chứa đựng những yếu tố tích cực, lành mạnh Nó thể hiện tư tưởng, tình cảm trong sáng, ước mơ cao đẹp của nhân dân các dân tộc trong huyện

Cùng với việc chế ngự thiên nhiên, bảo vệ và phát triển mùa màng, xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp nhân dân các dân tộc huyện Phú Lương còn

có lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha với độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc

Trang 30

Năm 1986, khi nước ta bước vào thời kì đổi mới, Nghị quyết Đại hội

Đảng bộ tỉnh Bắc Thái lần thứ V vòng 1 (11/1986) đã khẳng định Sự nghiệp văn hóa, xã hội vừa trực tiếp xây dựng con người mới và nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, vừa thúc đẩy kinh tế

Thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước, tất cả con em đến tuổi đi học

đều được đến trường; ở hệ thống giáo dục mầm non, tỉ lệ huy động số cháu trong độ tuổi đến lớp đã có sự tăng dần; năm 1991, toàn huyện chỉ có 12 trường mẫu giáo, đến năm 2000 đã có 14 trường, đạt 81,2% các xã, thị trấn có trường mầm non [42, tr.7] Năm học 1998-1999, ở bậc tiểu học là 26 trường; số học sinh tiểu học 13.111 em, học sinh trung học cơ sở là 9517 em Riêng bậc trung học phổ thông số lượng học sinh liên tục tăng, đến năm 1999 - 2000 là 1466 em [42 tr.7] Năm 1994, quy mô, mạng lưới trường lớp đã được sắp xếp lại hợp lí, phù hợp điều kiện kinh tế của địa phương Việc tách trường phổ thông cấp 1, cấp 2 ra thành trường tiểu học và trung học cơ sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện phổ cập tiểu học; thành lập các trường trung học cơ sở liên xã với điều kiện cơ sở vật chất được tăng cường hơn, đã nâng cao chất lượng dạy và học; công tác xóa mù đạt hiệu quả rõ rệt; có 10 xã, thị trấn được công nhận phổ cập cấp 1 Kết quả thi tốt nghiệp cấp 1, cấp 2 đạt trên 97%, cấp 3 là 54% [37, tr.2]

Từ năm học 1998 - 1999, ngành Giáo dục huyện thực hiện việc đa dạng hóa loại hình trường học, xây dựng mạng lưới trường trọng điểm chất lượng cao và trường đạt chuẩn Quốc gia (trường Mầm non thị trấn Đu, Tiểu học Tức Tranh, Trung học cơ sở thị trấn Đu, Trung học cơ sở Động Đạt); Huyện đạt chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, tỉ lệ huy động lớp 1 và lớp 6 đều đạt 98%, trung học cơ sở tăng 20,63% [39, tr.4] Số học sinh giỏi bậc trung học

cơ sở là 427 em (đạt 70,8%) Trường trung học phổ thông Phú Lương, riêng khối

12 có 31 em đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh Năm 2000, huyện Phú Lương đã hoàn

Trang 31

thành phổ cập giáo dục tiểu học, 16/16 xã, phường đã được công nhận xóa mù chữ

và phổ cập giáo dục tiểu học tiêu chuẩn Quốc gia, huy động mọi nguồn lực cho giáo dục Năm học 1993 - 1994, huyện đã có 319 giáo viên dạy giỏi cấp trường,

48 giáo viên dạy giỏi cấp huyện và 8 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh [39, tr.2]

Từ năm 1996 đến năm 2000, huyện Phú Lương xây dựng thêm 160 phòng học, trong đó có 60 phòng học từ cấp 4 trở lên Giá trị xây dựng đạt 3.852 triệu đồng, trong đó vốn Ngân hàng phát triển Châu Á ADB là 1.395 triệu đồng Toàn huyện có 433 phòng học các loại, trong đó phòng học từ cấp 4 trở lên là 322 phòng, còn lại 111phòng học bằng tranh, tre Các xã, thị trấn có trạm xá xây dựng kiên cố, có sân thể thao Trụ sở các xã có máy điện thoại, mạng lưới thông tin liên lạc được mở rộng đến cơ sở, 87 xóm có nhà văn hóa, 5 xã có nhà Bưu điện – Văn hóa [42,tr.4] Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, ngành Giáo dục huyện Phú Lương vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục Đó là, chất lượng đào tạo chưa vững chắc Sự quan tâm tới giáo dục vùng sâu, vùng xa còn nhiều hạn chế Giáo dục học sinh giỏi nhằm đào tạo nhân tài chưa được chăm lo đúng mức Chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các khu vực

Năm 1996, huyện Phú Lương tiến hành triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; các nét đẹp văn hóa dân gian, xây dựng thí điểm tại 12 làng bản tự quản thông qua việc phục hồi quy ước, hương ước, sưu tầm các nét đẹp văn hóa của địa phương để bổ sung vào Quy ước để xây dựng Làng văn hóa thí điểm Năm 1998, huyện kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện nếp sống văn minh, thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang và lễ hội Các cấp bộ Đảng, Chính quyền, đoàn thể và nhân dân trong

huyện tích cực thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động và triển khai rộng rãi Đề án Xây dựng Gia đình, Làng bản văn hóa

Trang 32

Bảng 1.2 Kết quả thực hiện các mục tiêu của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đến hết năm 1998

218 78.7%

396 87,2%

277 100%

166 54,6%

252 91,6%

Số KDC đã có quy ước

(Tỉ lệ %)

1.592 61,4%

128 46.2%

312 68,7%

215 77,6%

150 49,3%

153 55,6%

Số hộ đã kí cam kết

(Tỉ lệ %)

113.484 51,4%

6.056 27.5%

16.800 48,5%

17.193 78,8%

11.611 42,4%

29,991 65,4%

Số KDC không có hộ đói

(Tỉ lệ %)

1.217 45,9%

103 37,1%

454 100%

166 59,9%

64 21%

222 80,7%

Số KDC không có hộ

nghèo (Tỉ lệ %)

635 24,5%

28 10,1%

214 47,1%

33 11,9%

48 15,7%

20 7,3%

Số KDC không có người

sinh con thứ ba (Tỉ lệ %)

1.713 66%

149 53,7%

295 64,9%

207 74,7%

204 67,1%

232 84,3%

Số KDC không có trẻ

suy dinh dưỡng (Tỉ lệ %)

1.520 60,2%

103 37,1%

255 56,1%

170 61,3%

204 67,1%

193 70,1%

Số KDC không có trẻ

thất học (Tỉ lệ %)

2.076 80%

156 56,3%

380 83,7%

245 88,4%

255 83,8%

255 92,7%

Số KDC không có người

mê tín dị đoan (Tỉ lệ %)

2.267 87,4%

230 83%

406 89,1%

253 91,3%

265 87,1%

224 81,4%

Số KDC không có vi

phạm pháp luật (Tỉ lệ %)

1.745 67,3%

98 35,3%

323 71%

164 59,2%

208 68,4%

205 74,5%

Số KDC không có tệ nạn

xã hội (Tỉ lệ %)

1.531 59%

172 64,2%

286 63%

111 40,07%

209 68,7%

99 36%

Số KDC không có đường

lầy lội (Tỉ lệ %)

2.229 85,9%

202 72,9%

405 89,2%

262 94,5%

301 99%

244 88,7%

(Nguồn Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên)

Trang 33

Nhìn vào bảng kết quả thực hiện một số mục tiêu của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đến hết năm 1998 ở một số

địa phương trong tỉnh Thái Nguyên, có thể thấy so với các huyện trong tỉnh, Phú Lương đạt kết quả khá thấp Đầu tháng 12/1997, toàn tỉnh Thái Nguyên có 177

xã, phường, thị trấn; 2.242 khu dân cư có Ban chỉ đạo cuộc vận động (đạt

86,4%); 1.036 thôn, bản đăng ký xây dựng Làng văn hóa Trong số đó có 986 làng đã xây dựng được Quy ước, 154 làng đạt tiêu chuẩn Làng văn hóa; 84.984

hộ gia đình đăng kí xây dựng Gia đình văn hóa Phú Lương là một trong những huyện có số lượng đăng kí tham gia xây dựng Làng văn hóa và Gia đình văn hóa

rất thấp [4, tr.3] Năm 1996, huyện Phú Lương mới chỉ có 12 làng đăng kí xây

dựng Làng văn hóa, 1.515 hộ đăng kí xây dựng Gia đình văn hóa Qua bình xét,

có 9/12 làng đạt danh hiệu Làng văn hóa (đạt 75%); có 1085 hộ/1515 hộ đăng kí đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (đạt 71,6%); năm 1997, có 85 làng đăng kí xây dựng Làng văn hóa, 2.786 hộ đăng kí xây dựng Gia đình văn hóa Năm 1998, có 2.792 hộ đăng kí xây dựng Gia đình văn hóa Đến năm 2000, có 20.025/23.753

hộ đăng kí xây dựng Gia đình văn hóa, qua bình xét có 8.201 hộ/20.025 hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (đạt 40,9%) Như vậy, số lượng thôn, bản, gia đình đăng ký xây dựng Làng văn hóa và Gia đình văn hóa của huyện năm sau tăng

cao so với những năm trước [4, tr.3] Năm 1996, toàn huyện Phú Lương mới chỉ

có 150 xóm có nhà văn hóa, hầu hết không đảm bảo theo quy định của Bộ Văn hóa và Thông tin; công trình đài truyền thanh huyện chưa hoàn thành, chỉ có một

số tăng âm cũ của Phòng Văn hóa và Thông tin Đến năm 2000, có 41 xóm, bản

đạt tiêu chuẩn Xóm, Bản văn hóa (tăng 2,1% so với năm 1998), 15.522/22.142 Gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa (chiếm 70,1%) [50, tr.2]

Thông qua phong trào Xây dựng đời sống văn hóa, huyện đã nhân rộng

được nếp sống mới trong nhận thức nhân dân, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, hạn chế các hủ tục mê tín dị đoan Công tác thông tin tuyên truyền ngày càng được tăng cường, đội ngũ cán bộ thông tin cấp cơ sở được kiện toàn bổ

Trang 34

sung, nâng cao trình độ chuyên môn Hoạt động của hệ thống thông tin tuyên truyền được duy trì và nâng cao, bám sát chủ trương đường lối chính sách của Đảng, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đến hết năm

2000, toàn huyện có 6 cụm loa truyền thanh; có 8 xã đạt 100% số xóm có cụm loa FM là Động Đạt, Hợp Thành, Ôn Lương, Phấn Mễ, Phú Đô, Vô Tranh, Tức Tranh, Sơn Cẩm [49, tr.3]

Năm 1999, Xóm Đồng Tâm và xã Tức Tranh được công nhận đạt danh

hiệu Làng văn hóa cấp tỉnh năm 1999 (cả tỉnh có 9 làng, xóm đạt) [5, tr 2]

Năm 2000, xóm Thâm Đông, xã Ôn Lương, và xóm Cọ 1, xã Phấn Mễ đạt tiêu

chuẩn Làng văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh Gia đình ông Nguyễn Phan Hiền, xóm

Thâm Đông, xã Ôn Lương và gia đình ông Nông Văn Suối, xóm Cọ 1, xã Phấn

Mễ [47, tr 3] vinh dự được công nhận gia đình đạt tiêu chuẩn Gia đình văn hóa tiêu biểu cấp tỉnh năm 2000

Trên địa bàn huyện có 122 điểm di tích lịch sử, văn hóa và thắng cảnh; trong đó, có 3 di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp Quốc gia gồm Đền Đuổm, Địa điểm Xưởng Quân giới nghiên cứu, chế tạo thành công súng Bazôka của quân đội ta ở Giang Tiên và địa điểm tổ chức Đại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất ở Khuôn Lân, xã Hợp Thành

Những năm đầu sau khi thực hiện công cuộc đổi mới, ngành Y tế gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất nghèo nàn, thuốc chữa bệnh khan hiếm, có người ốm chết do không được cứu chữa kịp thời, tình trạng chuyển người bệnh lên tuyến Tỉnh, Trung ương diễn ra thường xuyên, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch đạt tỉ lệ thấp Tính đến tháng 4/1989, tỉ lệ sinh đẻ trên địa bàn huyện là 2,45% [1, tr.231] Đến năm 2000, công tác Y tế đã được chú trọng củng cố kiện toàn bộ máy tổ chức, 100% xã đã có y, bác sĩ, có y tế thôn, bản Công tác Dân

số Kế hoạch hóa Gia đình được tập trung chỉ đạo, vận động ở các xã miền núi, nông thôn, đồng bào dân tộc, nơi trình độ dân trí thấp, tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu Với các hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú như: câu lạc bộ

Trang 35

phụ nữ không sinh con thứ ba, hướng dẫn sử dụng các biện pháp tránh thai, phong trào mỗi gia đình chỉ có 1- 2 con đã thu được nhiều kết quả; năm 2000, tỉ

lệ sinh con thứ 3 là 6,7 % [81, tr.5]

Tiểu kết chương 1

Phú Lương là một huyện miền núi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát

triển kinh tế Đảng bộ và chính quyền các cấp trong huyện đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội của địa phương Từ ngày đất nước thống nhất, Đảng bộ Phú Lương đã lãnh đạo nhân dân Phú Lương trong huyện thi đua sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, tạo nên sự đổi thay rõ rệt trên quê hương giàu truyền thống cách mạng Đối chiếu với nội

dung của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân

cư do Trung ương Đảng chỉ đạo và 8 mục tiêu mà Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

tỉnh Thái Nguyên đề ra, huyện đạt được kết quả khá thấp:

Khu dân cư không có hộ đói: Đạt 37,1%; Khu dân cư không có hộ nghèo: Đạt 10,1%

Khu dân cư không có người sinh con thứ ba: Đạt 53,7%

Khu dân cư không có trẻ em suy dinh dưỡng: Đạt 37,1%

Khu dân cư không có trẻ em thất học mù chữ: Đạt 56,3

Khu dân cư không có người mê tín dị đoan: Đạt 83%

Khu dân cư không có người mắc tệ nạn xã hội: Đạt 64,2%

Khu dân cư không có người vi phạm pháp luật: Đạt 35,3%

Khu dân cư không có đường làng, ngõ xóm lầy lội, nhà tranh vách đất: Đạt 72,9%

Những kết quả nêu trên là tiền đề tạo điều kiện cho nhân dân các dân tộc

huyện Phú Lương phát huy ở những chặng đường thực hiện mục tiêu Công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trong giai đoạn tiếp theo

Trang 36

Chương 2 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ HUYỆN PHÚ LƯƠNG,

TỈNH THÁI NGUYÊN (2001-2013)

2.1 Chủ trương của Trung ương và sự vận dụng của địa phương

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo thống kê của Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), đến năm

1982 đã có khoảng 200 định nghĩa

Trong Tuyên bố về những chính sách văn hóa, UNESCO thống nhất định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển của mình trong quá trình lịch sử [54, tr.7] Trên ý nghĩa

đó, văn hóa phản ánh mức độ phát triển của toàn xã hội cũng như của một cá nhân về trình độ sản xuất, khoa học, kĩ thuật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, phong tục tập quán…

Trong mục đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943) lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu định nghĩa về văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [32,tr 431]

Con người là sản phẩm của văn hóa đồng thời cũng là chủ thể của văn hóa, chỉ

có con người mới có văn hóa Văn hóa là một kiểu ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội, con người với tự nhiên Chính con người mới

có văn hóa, mới nâng cao chất lượng sống con người và tự mình bảo vệ quyền lợi của mình

Trang 37

Trong cuốn giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng,

nhóm tác giả trường Cao đẳng Văn hóa Hồ Chí Minh cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn

hoá cá nhân; văn hoá của các tế bào trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người [64, tr.8-9]

Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới công tác vận động nhân dân xây dựng đời sống mới, nhằm xóa

bỏ dần những tàn dư lạc hậu của chế độ cũ đồng thời giáo dục nhân dân tư tưởng cần, kiệm, liêm, chính, và trách nhiệm của mỗi người đối với cộng đồng, đối với xã hội

Ngày 3/4/1946, Ủy ban Vận động đời sống mới của Trung ương được

thành lập để chỉ đạo; ngày 20/3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới, Ủy ban Vận động đời sống mới Trung ương đã xuất bản tác phẩm này

và coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các cấp chỉ đạo và của toàn dân

Tại Hội nghị lần thứ 5 (7/1998), Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa

VIII đã đề ra Nghị quyết Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết đã khẳng định văn hóa là rất cần thiết đáp

ứng nhu cầu thực hiện công cuộc phát triển đất nước; phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập đoàn và cộng đồng dân cư Kết luận Trung ương X khóa IX (7/2014), tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân và từng cá nhân gia đình, thôn, xóm, đơn vị tổ chức cơ sở

Trang 38

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:

Điều 30: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân [52, tr.1]

Điều 31: Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới

Nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của địa bàn khu dân cư trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cũng như các cuộc vận động, các phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới, ngày 3/5/1995, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tri số 04/TT-MTTƯ hướng dẫn triển khai cuộc

vận động với tên gọi Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư

Để góp phần thực hiện Chỉ thị 35/CT-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5

(khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị 40/CT-TW của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Về tăng cường lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; Chỉ thị 23 CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tăng cường phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ Việt Nam đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; ngày 15/1/1999, Ban Thường trực Ủy ban Trung

ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tri số 01/MTTW hướng dẫn

tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây

Trang 39

dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, bổ sung và cụ thể hóa những nội dung, yêu cầu

mới vào cuộc vận động để thực hiện các Chủ trương, Nghị quyết của Đảng

Ngày 12/6/2001, Chính phủ và Ban Thường trực Đoàn Chủ tịch Ủy ban

Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quyết định: Từ nay trên địa bàn khu dân cư như: Thôn, ấp, bản, làng, buôn, sóc, xóm, cụm dân cư khu phố, thống nhất cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thành tên gọi mới là cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn chủ trì [76, tr.3]

Căn cứ Quyết định số 01/2002/QĐ – BVHTT ngày 2/1/2002 của Bộ Văn

hóa Thông tin về ban hành quy chế công nhận Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, Khu phố văn hóa, Cơ quan văn hóa, ngày 10/10/2002, Ủy ban Mặt trận Tổ

quốc tỉnh Thái Nguyên ra Kế hoạch số 258/KH-MT tiếp tục mở rộng và nâng

cao chất lượng Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nêu rõ: Cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư là cuộc vận động của thời kì

đổi mới đất nước, đổi mới công tác Mặt trận, được hình thành trên cơ sở: Kế thừa, phát huy, quy tụ, mở rộng và nâng cao các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được tiến hành ở khu dân cư dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, do Mặt trận Tổ quốc chủ trì, phối hợp thống nhất hành động Cuộc vận động không phủ định, không triệt tiêu, không chồng chéo với các cuộc vận động, các phong trào yêu nước khác của các đoàn thể, các ngành Trái lại, nó góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho các phong trào, các cuộc vận động, các chương trình kinh tế, xã hội của Nhà nước, nâng cao vai trò quản lí Nhà nước với vai trò làm chủ của nhân dân Đây là cuộc vận động mang tính toàn dân, toàn diện, toàn quốc và lâu dài trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ và giữ gìn kỉ cương; phát huy ý chí tự lực tự cường, khơi dậy mọi tiềm năng và sức mạnh

Trang 40

của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tập thể và của cả cộng đồng tạo thành sức mạnh

to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Cuộc vận động là kết tinh sức mạnh đoàn kết của cả hệ thống chính trị cùng chuyển động về một hướng là khu dân cư; giúp cơ sở xây dựng địa bàn dân cư có cuộc sống no ấm, an toàn, văn minh, hạnh phúc, thực hiện khẩu hiệu

Mỗi dân cư là một mặt trận đoàn kết, thống nhất, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần thực hiện nền dân chủ trực tiếp của nhân dân, nâng cao ý thức tự quản ở cơ sở với phương châm Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, góp phần tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính

quyền, xây dựng hệ thống chính trị ở khu dân cư, như chi bộ, Ban công tác Mặt trận, các chi hội đoàn thể…tạo ra sự gắn bó chặt chẽ trong cộng đồng và trách

nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng

Động lực của cuộc vận động là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ

sở lấy lợi ích chung của cộng đồng dân cư làm điểm tương đồng, lấy sự tiến bộ

và quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống ở khu dân cư làm mục đích; chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề dân sinh, dân chủ, dân trí, kỉ cương ở khu dân cư

là đại đoàn kết Tư tưởng chỉ đạo của cuộc vận động là Lấy sức dân xây dựng cuộc sống cho dân, trên cơ sở phát huy truyền thống đoàn kết, dựa vào sức

mạnh nội lực, có sự hỗ trợ của Nhà nước; phát động phong trào thực hiện 6 nội dung của cuộc vận động Địa bàn của cuộc vận động là thôn, làng, bản, ấp, khu phố (xóm, bản và tổ nhân dân)

Cuộc vận động nhằm xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, bao gồm

6 nội dung:

1 Đoàn kết giúp đỡ nhau phát triền kinh tế, phát huy các thành phần kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế huy động được nhiều nguồn lực, tạo nhiều việc làm để phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo Bảo đảm ở mỗi khu dân cư ngày càng có nhiều hộ khá giả, không còn hộ đói, giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu hợp pháp

Ngày đăng: 14/11/2020, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm