1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học cụm bài phong cách ngôn ngữ

123 84 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ Đề tài đã khái quát các nghiên cứu các nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài: Các nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ và vấn đề phát triển năng lực ngôn ngữ, dạy học phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy học tiếng Việt nói riêng. Tìm hiểu thực trạng dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT thông qua tiến hành điều tra và đánh giá thực trạng. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất những biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT nhằm kích thích được hứng thú học tập, phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinh

Trang 1

.ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 10 THÔNG QUA DẠY HỌC CỤM BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 10

THÔNG QUA DẠY HỌC CỤM BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 8140111

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Ban, người đã trực tiếp hướng dẫn, cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Lý Thái Tổ và trường THPT Ngô Gia

Tự đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn

Để hoàn thành luận văn này, em còn nhận được sự quan tâm, động viên rất lớn từ gia đình, bạn bè Một lần nữa, em xin được gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến tất cả mọi người!

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2020

Người viết

Nguyễn Thị Phương Dung

Trang 4

Năng lực Năng lực ngôn ngữ Phong cách ngôn ngữ Sách giáo khoa

Tiếng Việt Trung học cơ sở Trung học phổ thông

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Nội dung phân phối cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT năm học 2018-2019 .24 Bảng 1.2 Khảo sát mức độ hiểu biết của giáo viên về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS 26 Bảng 1.3 Khảo sát mức độ cần thiết của việc phát triển NLNN trong dạy học tiếng Việt .27 Bảng 1.4 Khảo sát giáo viên về việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tiếng Việt cho HS 27 Bảng 1.5 Khảo sát những phương pháp dạy học mà giáo viên thường áp dụng 27 Bảng 1.6 Khảo sát giáo viên về những khó khăn khi xây dựng hệ thống bài tập vào dạy học cụm bài PCNN .27 Bảng 1.7 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh về cụm bài PCNN 29 Bảng 1.8 Khảo sát mức độ nhớ của học sinh về các PCNN đã học 29 Bảng 1.9 Khảo sát mức độ nhớ của học sinh về các đặc trưng của từng loại phong cách ngôn ngữ 29 Bảng 1.10 Khảo sát học sinh về các phương pháp dạy học mà các thầy/cô đã

áp dụng 29 Bảng 1.11 Khảo sát học sinh về các phương pháp kiểm tra đánh giá mà thầy/cô áp dụng .30 Bảng 1.12 Khảo sát mức độ mong muốn được thay đổi cách học của HS 30 Bảng 1.13 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh qua bài tập 30

Sơ đồ 2.1 Hệ thống bài tập tiếng Việt theo định hướng năng lực học sinh 43 Bảng 2.1 Tiêu chí HS tự đánh giá lẫn nhau 62 Bảng 3.1 Số lượng HS lớp thực nghiệm và đối chứng của hai trường THPT

Lý Thái Tổ và THPT Ngô Gia Tự 72 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 94

Trang 6

ở trường trung học phổ thông Lý Thái Tổ 94 Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 95 Bảng 3.4 Khảo sát học sinh về mức độ hứng thú của HS đối với giờ học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ 96 Bảng 3.5 Khảo sát HS về những lợi ích nhận được khi thực hiện việc đổi mới PPDH tiếng Việt thông qua hệ thống bài tập phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS 97 Bảng 3.6 Khảo sát HS về những khó khăn gặp phải trong quá trình học tập……… 97 Bảng 3.7 Khảo sát học sinh về mức độ mong muốn được thầy cô áp dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực cho HS thông qua hệ thống bài tập… .98

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ iii

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

2.1 Những nghiên cứu về năng lực 4

2.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 9

2.3 Tình hình nghiên cứu việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

3.1 Mục đích nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

4.1 Đối tượng nghiên cứu 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 13

5.3 Phương pháp điều tra, khảo sát 13

5.3 Phương pháp chuyên gia 14

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 14

5.5 Phương pháp xử lí số liệu 14

6 Cấu trúc luận văn 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1.1 Cơ sở tâm lí 16

Trang 8

1.2 Đặc điểm nhận thức và thái độ học tập của học sinh lớp 10 17

1.2.1 Về đặc điểm nhận thức 17

1.2.2 Về thái độ học tập 18

1.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 19

1.4 Năng lực ngôn ngữ của học sinh trung học phổ thông 20

1.5 Thực trạng dạy học cụm bài phong cách ngôn ngữ ở trường phổ thông hiện nay 22

1.5.1 Về cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 22

1.5.2 Thực trạng dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ ở trường phổ thông ………26

Kết luận chương 1 34

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 10 THÔNG QUA DẠY HỌC CỤM BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ 35

2.1 Tăng cường luyện tập thực hành thông qua hệ thống bài tập 35

2.1.1 Vai trò của bài tập trong phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học tiếng Việt 35

2.1.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 37

2.1.3 Hệ thống bài tập 43

2.1.4 Sử dụng hệ thống bài tập trong phát triển năng lực ngôn ngữ 51

2.2 Tổ chức cho học sinh làm việc nhóm để trau dồi giao tiếp ngôn ngữ……… 67

2.3 Chú trọng việc tổ chức cho học sinh so sánh, đối chiếu các loại

phong cách ngôn ngữ 67

Kết luận chương 2 70

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 71

Trang 9

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 71

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 71

3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm 71

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 71

3.2.2 Địa bàn và thời gian thực nghiệm 72

3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 73

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 73

3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 73

3.4 Giáo án thực nghiệm……… 74

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 94

3.5.1 Về mặt định tính 94

3.5.2 Về mặt định lượng 96

3.6 Đánh giá chung 98

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội loài người,

là công cụ của tư duy, nó là đặc trưng chỉ có ở loài người để phân biệt với các loài động vật khác Trong quá trình phát triển của xã hội, ngôn ngữ có vai trò

vô cùng quan trọng bởi nó giúp các nền văn hóa có thể giao thoa, trao đổi với nhau, đảm bảo sự đa dạng về văn hóa Ngôn ngữ cũng giúp tăng cường hợp tác, xây dựng xã hội tri thức toàn diện, bảo tồn các di sản văn hóa và tạo điều kiện tiếp cận với một nền giáo dục có chất lượng cho mọi người Do đó, vấn đề phát triển năng lực ngôn ngữ là một vấn đề hết sức quan trọng, cần thiết của tất

cả các quốc gia trên thế giới và đã được nền giáo dục nước nhà quan tâm nhiều hơn trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học đã rất chú trọng việc phát triển năng lực ngôn ngữ trong chương trình giáo dục trung học phổ thông (THPT) theo định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất,

năng lực Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh trong Đề án “Đổi mới chương

trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015”: “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực người học” [3]; Nghị quyết

về “Đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông số 88/2014/QH13”

(Thông qua ngày 28/11/2014 tại kì họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII) cũng đã

nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát

triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập…” [12] Vấn đề phát triển năng

lực, trong đó năng lực giao tiếp chính là một trong những mục tiêu chính của chương trình dạy học theo định hướng kết quả đầu ra, nhằm hướng đến một môi trường giáo dục hiện đại, chuẩn hóa và hội nhập quốc tế, giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ ở tất cả các hình thức: đọc, viết, nói, nghe, giúp HS sử dụng tiếng Việt chính xác, mạch lạc, có hiệu quả và sáng tạo

Trang 11

trong ngữ cảnh đa dạng, nghĩa là không chỉ hình thành ở người học năng lực ngôn ngữ mà quan trọng hơn là phát triển năng lực giao tiếp

Trong các môn học ở trường phổ thông, Ngữ văn (bao gồm các hợp phần: Văn học - Làm văn - Tiếng Việt) là môn học quan trọng Cùng với sự phát triển giáo dục, hợp phần tiếng Việt (TV) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu trong nhà trường, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh (HS) những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, những quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp, giúp HS sử dụng đúng và linh hoạt vốn ngôn ngữ của mình, ứng dụng một cách phù hợp,

có hiệu quả vào mọi tình huống giao tiếp trong học tập và cuộc sống Chất lượng dạy - học tiếng Việt ở trường phổ thông có quan hệ trực tiếp tới việc phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy của các thế hệ nối tiếp và ảnh hưởng trực tiếp đến vận mệnh tiếng Việt, vận mệnh văn hóa Việt Nam bởi tiếng Việt còn có một chức năng vô cùng quan trọng nữa là trang bị cho HS công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường Vì thế, phát triển NLNN cho HS trong dạy học TV có vai trò vô cùng quan trọng

và là việc làm vô cùng cần thiết,thiết thực

Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) rất chú trọng việc phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, năng lực ngôn ngữ được xác định là một năng lực đặc thù cần được phát triển, nâng cao dần ở các cấp học Cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chương trình và sách giáo khoa mới đã

có sự thay đổi theo hướng lấy thực hành làm trọng tâm, xây dựng nhiều dạng bài tập khác nhau nhằm nâng cao luyện tập thực hành, hướng vào chủ thể học sinh

Dạy tiếng Việt là dạy cho học sinh các phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp; các cách thức thể hiện, tập hợp thành những kiểu phương tiện ngôn ngữ, đó chính là phong cách ngôn ngữ (PCNN) Do đó, mục

đích hướng tới của việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ là hướng dẫn

Trang 12

người học cách giao tiếp như thế nào cho phù hợp với từng PCNN nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cũng như thể hiện được những phẩm chất năng lực của

HS Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các phương pháp dạy học Làm văn, Tiếng Việt ở trường phổ thông như: Phương pháp giao tiếp, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác (thảo luận nhóm) tất

cả đều nhằm hướng đến mục đích phát triển năng lực ngôn ngữ để đạt hiệu quả

giao tiếp cho HS Tuy nhiên, phần tiếng Việt nói chung và cụm bài Phong cách

ngôn ngữ nói riêng được biên soạn trong chương trình THPT hiện hành còn

mang tính chất khô khan, nặng về lí thuyết nên khó tiếp cận đối với HS mà thời lượng dành cho việc dạy tiếng Việt, nhất là các bài phong cách học vẫn còn hạn chế Hơn nữa, nhiều giáo viên (GV) vẫn chỉ chú trọng dạy văn hơn là dạy tiếng Việt, khi dạy tiếng Việt, GV vẫn còn chưa thực sự chú trọng đến việc dạy tiếng Việt theo định hướng giao tiếp nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS Vì thế, chất lượng dạy và học chưa thực sự đạt hiệu quả so với mục tiêu đề ra Thực tế, năng lực tiếng Việt của HS chưa đủ đáp ứng yêu cầu giao tiếp trong học tập cũng như trong cuộc sống, khả năng trình bày, diễn đạt của phần đông

HS còn chưa tốt Việc dạy học tiếng Việt chỉ thật sự có ý nghĩa khi HS có thể

sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong học tập và giao tiếp

Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao hiệu quả dạy học

tiếng Việt ở bậc THPT, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10 thông qua dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ”

để nghiên cứu như một sự đòi hỏi cấp thiết từ bản thân trước thực tế đổi mới phương pháp dạy học Văn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Trong đề tài này, chúng tôi đề xuất một số biện pháp cụ thể trong dạy học cụm

bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng và tiếng Việt 10 nói chung để nhằm phát

triển năng lực sử dụng ngôn ngữ (nói-nghe-đọc-viết, đặc biệt là kĩ năng nói và viết) cho HS trong học tập cũng như trong đời sống, giúp các em có thể vận dụng linh hoạt, hiệu quả các kĩ năng ngôn ngữ này trong từng tình huống

Trang 13

giao tiếp cụ thể, nói và viết phù hợp với từng loại phong cách ngôn ngữ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về năng lực

Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh được xuất hiện trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: Tâm lý học, Triết học,

Xã hội học, Giáo dục học, Kinh tế học, Hiện nay, trên thế giới có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về năng lực (NL) Phần lớn, các cách hiểu

về NL của các nhà nghiên cứu nước ngoài đều hiểu NL là khả năng của con người như: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm NL chính là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể; Christian Delory cho rằng NL là tập hợp các kiến thức, kĩ năng làm việc, kĩ năng sống giúp thích nghi, giải quyết vấn đề

và thực hiện dự án trong một tình huống nào đó; Denysen Tremblay thì cho rằng NL là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống; F E Weinert hiểu NL là tổng hợp các khả năng và

kĩ năng sẵn có hoặc học được của con người để giải quyết những vấn đề nảy sinh Còn theo Chương trình Giáo dục phổ thông Quescbec - Bộ Giáo dục

Canada, 2004 định nghĩa năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng

sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, bao gồm cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm, những kĩ năng, thái độ và hứng thú của

HS Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp để đạt hiệu quả; Chương trình Giáo dục phổ thông của New Zealand cũng nêu ngắn gọn NL

là một khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các

tình huống phức tạp nào đó

Ở Việt Nam, khái niệm NL cũng được định nghĩa khá phong phú

- Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên định nghĩa NL là: “Khả

năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động

Trang 14

nào đó”; là “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người có khả năng hình thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [34, tr.816]

- Theo Nguyễn Quang Uẩn: NL là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá

nhân phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó có kết quả [48, tr.21]

- Nguyễn Minh Thuyết trong “Một số vấn đề về đánh giá chương

trình, SGK Ngữ văn hiện hành và đề xuất định hướng biên soạn chương trình, SGK mới định nghĩa: “Năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của học sinh để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [42]

- Trong Chương trình GDPT tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo,

khái niệm NL được hiểu là: “thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển

nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [5, tr.36]

- Trong cuốn Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả

học tập theo định hướng phát triển NL học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

có định nghĩa: “Một NL là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và

thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động” [4, tr.27]

- PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã chỉ ra: “Năng lực là sự tổng hợp của

nhiều yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí, kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác); năng lực tức là phải có khả năng thực hiện, phải thông qua làm, qua hành động để đo đếm và năng lực là phải tính đến hiệu quả của việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và hiểu biết nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống” [39,tr.7]

Trang 15

Như vậy, ta có thể thấy tuy có nhiều các cách hiểu khác nhau về NL nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ đều khẳng định NL trước tiên là một tập hợp các yếu tố: kiến thức-kĩ năng-thái độ để thực hiện một việc gì đó (giải quyết vấn đề hay thực hiện dự án) nhưng phải đặt trong một tình huống cụ thể NL không chỉ là biết và hiểu mà quan trọng là khả năng thực hiện, phải biết làm Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm NL là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và biết vận dụng chúng một cách hợp lí để thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết vấn đề đặt ra trong cuộc sống Mỗi NL gắn với một hoạt động và được thể hiện qua hoạt động Trong dạy học tiếng Việt, đó là NL giải quyết một nhiệm vụ giao tiếp cụ thể

2.2 Những nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ và vấn đề phát triển năng lực ngôn ngữ

2.2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Vấn đề Năng lực ngôn ngữ (language competence) từ lâu đã được các học giả trên thế giới nghiên cứu kĩ và đã có nhiều quan điểm khác nhau

Lado,R khi nghiên cứu về lĩnh vực kiểm tra ngôn ngữ đã trình bày một

mô hình NLNN gọi là mô hình “kĩ năng-yếu tố” với lí giải ngôn ngữ là một

hệ thống phức tạp với các cấp độ liên quan đến việc lựa chọn và sắp xếp các đơn vị của kiến thức ngôn ngữ (được hiểu đơn giản chỉ gồm âm vị, cấu trúc,

từ vựng) và sự lắp ráp các đơn vị đó với nhau theo các kĩ năng: viết

nghe-nói-đọc-Chomsky, N đã đưa ra hai khái niệm phân biệt là “ngữ năng” -kiến thức ngôn ngữ của người nói và người nghe (biết) và “ngữ thi” (làm) [5] khi bàn về tính sáng tạo, tính duy nhất của các câu riêng lẻ cũng như sự phân tách ngữ năng với ngữ thi là tiền đề để khởi xướng sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học ứng dụng đến khía cạnh chức năng và giao tiếp khi nhận ra rằng NLNN không phải chỉ là nắm vững các cấu trúc ngữ pháp mà còn là sự thành thạo trong giao tiếp

Trang 16

Firth, J.R coi ngôn ngữ là sự tương tác, là hoạt động liên nhân và có mối quan hệ rõ ràng với ngữ cảnh Theo quan điểm của ông thì học ngôn ngữ

là phải xem xét đến sự sử dụng (chức năng) của ngôn ngữ trong ngữ cảnh, cả ngữ cảnh ngôn ngữ (các phát ngôn trước và sau) và ngữ cảnh xã hội (ai nói, vai xã hội của họ, tại sao họ cùng tham gia giao tiếp)

Halliday, M.A.K nhận thấy sự phát triển ngôn ngữ chính là khả năng làm chủ ba chức năng ngôn ngữ cơ bản mà ông gọi là “siêu chức năng”, trong

đó, “chức năng tạo ý” diễn đạt nội dung, giúp xác định cách thức nhìn sự vật của người nói; “chức năng liên nhân” thiết lập và duy trì mối quan hệ, phân định các nhóm xã hội, nhận dạng và củng cố đặc điểm cá nhân; “chức năng tạo văn bản” giúp tạo ra mối liên kết giữa bản thân ngôn ngữ với các đặc điểm tình huống mà nó được sử dụng, giúp người nói (người viết) xây dựng các đoạn văn của diễn ngôn phù hợp với tình huống và cho rằng bất cứ một đơn vị ngôn ngữ nào đều là sự hiện thực hóa của ba chức năng trên Theo Halliday, M.A.K ngôn ngữ là một hệ thống tam tầng với ba cấp độ lựa chọn: ngữ pháp, ngữ nghĩa và hành vi xã hội Lựa chọn ngữ pháp là hệ thống của “cái

mà người sử dụng có thể nói ra” Hệ thống ngữ pháp này hoạt động như là sự hiện thực hóa của các lựa chọn ngữ nghĩa “cái mà người sử dụng có thể muốn nói” Nhưng hệ thống ngữ nghĩa này không phải là đích cuối vì khi vượt ra khỏi phạm vi ngôn ngữ, “có thể muốn nói” là hiện thực hóa của các lựa chọn hành vi

xã hội “có thể làm”

Quan tâm đến ý nghĩa giao tiếp, Hymes,D – Nhà ngôn ngữ học, xã hội học người Mỹ - đã đưa ra khái niệm “năng lực giao tiếp” khi thể hiện sự không đồng tình với quan điểm của Chomsky,N về thuật ngữ “ngữ năng” và

“ngữ thi” Ông phản đối sự phân tách “ngữ năng” đối lập với “ngữ thi” và cho rằng cần xem xét chúng như hai mặt của đồng tiền: ngữ thi là là phần quan sát được và ngữ năng là khả năng để sản sinh ra ngữ thi Hymes,D cho rằng mục tiêu của một lí thuyết về NLNN là chỉ ra cách thức mà tính khả năng về mặt

Trang 17

hình thức, tính khả thi, và tính phù hợp được liên kết với nhau để sản sinh và diễn giải một hành vi văn hóa thực sự có xuất hiện

Các nhà giáo dục học ở Indonesia đã đưa ra bốn yêu cầu cần đạt được đối với người học bao gồm: NL đề cập đến khả năng của HS khi làm một cái

gì đó trong những bối cảnh khác nhau - NL thể hiện kinh nghiệm học tập, ở

đó HS phải là người thành thạo - Kết quả học tập theo NL thể hiện ở việc giải thích sự vật thông qua phương pháp học tập của HS - Những HS có NL khi làm một cái gì đó cần xác định rõ khả năng trong một tiêu chuẩn rộng, có thể đạt được kết quả thông qua việc thực hiện và có thể đo đếm được

Trên cơ sở các quan điểm nghiên cứu của các tác giả, ta có thể thấy rằng NLNN bao gồm một vốn các đơn vị và kết cấu ngôn ngữ học đã được tích lũy cùng những kĩ năng thực tại hóa các đơn vị kết cấu đó trong quá trình nghe, nói, đọc, viết và trong quá trình hoạt động ngôn từ Một người được đánh giá là có NLNN khi họ hội tụ được đầy đủ các yếu tố sau: có kiến thức

về lĩnh vực ngôn ngữ (nắm vững các đơn vị ngôn ngữ, các quy tắc kết hợp giữa các đơn vị ngôn ngữ ấy ); có kĩ năng tiến hành các hoạt động ngôn ngữ, biết vận dụng ngôn ngữ trong việc tiếp nhận, lĩnh hội văn bản (nghe - hiểu, đọc - hiểu) và tạo lập văn bản (nói, viết); có sẵn điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện các tri thức, kĩ năng trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng cụ thể, rõ ràng (ý chí, niềm tin, thái độ của người đó đối với nội dung

mà mình đề cập đến)

Có thể nói, những mô hình NLNN của các tác giả trên đã có ảnh hưởng rất lớn đến dạy học, xây dựng chương trình và đánh giá NLNN của người học Dạy tiếng/ ngôn ngữ không chỉ dạy cho người học kiến thức ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà còn cần phải hướng dẫn người học cách thức sử dụng những kiến thức ngôn ngữ đó hiệu quả và phù hợp với những cảnh huống giao tiếp đa dạng trong thực tế Điều này đòi hỏi người giáo viên (GV) không chỉ nắm vững kiến thức ngôn ngữ mà còn phải có nền kiến thức rộng và

Trang 18

thói quen sử dụng ngôn ngữ, kiến thức văn hóa xã hội Đánh giá NLNN của người học là phải đánh giá qua các hoạt động tương tác của họ trong các tình huống giao tiếp thực tế hoặc mô phỏng thực tế chứ không phải là đánh giá các kiến thức ngôn ngữ có trong đầu óc họ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Từ

đó cho thấy dạy học phát triển NLNN là nhiệm vụ thiết yếu, phù hợp với yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nước ta trong giai đoạn hiện nay

2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu mới về đổi mới chương trình dạy học, tiêu biểu phải kể đến chương trình dạy học theo định hướng kết quả đầu ra (định hướng phát triển năng lực) Chương trình chú trọng đề cao vai trò của người học với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức nhằm thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Theo chương trình, mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục-đào tạo của Đảng (9/2013) và Nghị quyết 88 (2014) của Quốc hội đã nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực của người học hơn là cung cấp tri thức cho

họ Và dự thảo Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cũng trên

quan điểm phát triển phẩm chất và năng lực người học Theo quan điểm của

chương trình thì giáo dục phải hướng tới người học làm được gì mà không

hướng tới mục tiêu người học biết gì, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Vì thế, nhiệm vụ của HS

là không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm; phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình

Trang 19

huống do cuộc sống đặt ra Dạy học Ngữ văn nói chung và đặc biệt là đối với phân môn tiếng Việt thì càng phải tuân thủ triệt để quan điểm này bởi mục tiêu cuối cùng của môn học là phải làm cho người học sử dụng được và sử dụng hiệu quả tiếng Việt như một công cụ giao tiếp quan trong trong đời sống

đó chính là NLNN

Các nhà giáo dục Việt Nam cũng rất quan tâm nghiên cứu đến vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm phát triển NL, điển hình phải kể đến các

công trình nghiên cứu như: Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt của

tác giả Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (Nxb Giáo

dục); Bài viết “Xây dựng năng lực giao tiếp ngôn ngữ”, của PGS.TS Nguyễn

Thành Thi, trên trang Nhịp sống học đường (19/12/2015); Bài viết của TS

Nguyễn Thị Hiền “Đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ” trên Tạp chí Khoa học ĐHSP TPCHM; Bài viết “Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo

năng lực trong giáo dục: Một số vấn đề cơ bản” của Nguyễn Thu Hà trên Tạp

chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứa Giáo dục, Tập 30, Số 2 (2014) 56-64;

Nguyễn Minh Thuyết (2013), “Một số vấn đề đánh giá chương trình SGK

Ngữ văn hiện hành và đề xuất định hướng biên soạn chương trình, SGK mới”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ

thông Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, (1196), (35-48) Các công trình này đều khẳng định mục đích của dạy tiếng Việt không phải là cung cấp tri thức lý thuyết ngôn ngữ một cách bị động mà cần hình thành ở HS những

kĩ năng hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, không chỉ dừng lại ở quá trình tổ chức ngôn ngữ để giao tiếp mà phải tiến tới quá trình tổ chức giao tiếp bằng ngôn

ngữ Tiến sĩ Tôn Quang Cường cũng có bài nghiên cứu “Thiết kế hệ thống bài

tập tiếng Việt lớp 11 theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh” đã đề xuất cả

một hệ thống bài tập tiếng Việt nhằm phát triển năng lực người học ở các mức

độ nhận biết- thông hiểu-vận dụng với đa dạng các loại bài tập…Đó là cơ sở thiết thực để chúng tôi tham khảo nghiên cứu cho đề tài của mình

Trang 20

2.3 Tình hình nghiên cứu việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ

Việc dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học cụm bài phong cách ngôn ngữ (PCNN) nói riêng ở trường THPT đã được các nhà nghiên cứu và nhiều GV quan tâm Đã có rất nhiều những cuốn sách liên quan trực tiếp đến những phương pháp dạy học phân môn tiếng Việt nói chung và cụm bài về

PCNN nói riêng trong nhà trường như: cuốn Mấy vấn đề lí luận và phương pháp

dạy học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường của tác giả Nguyễn Đức Tồn Trong

cuốn này, tác giả đề cập đến những vấn đề lý thuyết chung về tiếng Việt và ngôn

ngữ, đặc biệt là vấn đề dạy học từ ngữ; Tác giả Bùi Minh Toán trong “Tiếng Việt

ở trung học phổ thông” đã hệ thống lại toàn bộ các chủ đề trong phân môn tiếng

Việt THPT bao gồm các kiến thức cơ bản, kiến thức mở rộng, sau đó là các bài tập thực hành có gợi ý lời giải Đó là cuốn sách rất thiết thực đối với HS; Ngoài

ra, không thể không kể đến cuốn giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt của

tác giả Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (NXB Giáo dục), cung cấp cho người đọc những vấn đề lí luận chung về phương pháp dạy học tiếng Việt và phương pháp dạy học các hợp phần tiếng Việt ở THPT, trong đó nội dung dạy học cụm bài PCNN được trình bày rất khoa học, cụ thể Có thể nói, những cuốn sách này sẽ hỗ trợ trực tiếp cho việc dạy học của GV từ khâu bao quát kiến thức đến khâu thiết kế giáo án, phương pháp dạy học hiệu quả

Bên cạnh đó phải kể đến một số cuốn sách chuyên sâu về PCNN như:

Phong cách học và đặc điểm tu từ của tiếng Việt (Cù Đình Tú); Phong cách học tiếng Việt do tác giả Đinh Trọng Lạc chủ biên; Dẫn luận phong cách học của tác

giả Nguyễn Thái Hòa; Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học

của hai tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa và Đỗ Việt Hùng Đó là những cuốn sách

về lí luận có giá trị rất lớn cho việc nghiên cứu những kiến thức chuyên sâu về PCNN, góp phần cung cấp cho GV những kiến thức lí luận cơ bản nhất về PCNN Trong mỗi công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đều có những đóng góp cần thiết, bổ ích cho GV trong quá trình dạy học Tuy nhiên vì các lí

Trang 21

do khác nhau, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có điều kiện để bàn kĩ đến các biện

pháp phát triển NLNN cho HS trong quá trình dạy học cụm bài về Phong cách

ngôn ngữ Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn đi sâu vào việc dạy học cụm

bài về Phong cách ngôn ngữ ở chương trình Ngữ văn 10 để phát triển NLNN

cho HS trong quá trình học tập và giao tiếp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về năng lực

ngôn ngữ và việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong nhà trường

phổ thông, luận văn đề xuất các biện pháp dạy học cụm bài Phong cách ngôn

ngữ ở chương trình Ngữ văn 10 nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học

sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học cụm bài Phong cách

ngôn ngữ nói riêng và nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt trong nhà

trường nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về vấn đề dạy học phát triển năng lực và phát

triển năng ngôn ngữ cho học sinh THPT trong dạy học tiếng Việt ở trường THPT

- Tìm hiểu thực trạng dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường

THPT

- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến việc

phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh THPT qua dạy học cụm bài

Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT

- Đề xuất một số biện pháp dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ

(Ngữ Văn 10) nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10

- Thực nghiệm kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu các vấn đề lí luận và một số

Trang 22

biện pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh

trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ trong sách Ngữ văn 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề dạy học cụm

bài Phong cách ngôn ngữ ở sách Ngữ Văn 10; trong đó, tập trung xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS lớp 10, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt trên cả hai bình diện: tiếp nhận và tạo lập ngôn ngữ

- Phạm vi khảo sát: Trường THPT Lý Thái Tổ - Đình Bảng - Từ Sơn -

Bắc Ninh và trường THPT Ngô Gia Tự - Tam Sơn – Từ Sơn – Bắc Ninh

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài

đặc biệt là các tài liệu viết về phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS, dạy học Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực được những căn cứ làm cơ sở

lý luận ban đầu để tiếp tục nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tìm hiểu thực trạng dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở một số

trường THPT hiện nay nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu bài của học sinh,

giờ dạy và PPDH của giáo viên

5.3 Phương pháp điều tra, khảo sát

- Tiến hành dự giờ, quan sát các giờ dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực nhằm bổ sung cho lí luận và có cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất một số biện pháp sư phạm

- Sử dụng phiếu điều tra khảo sát, phân tích kết quả khảo sát để đưa ra những đánh giá sơ bộ tình hình dạy và học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ

- Phỏng vấn, tham khảo giáo án, phương pháp của giáo viên…

Trang 23

5.3 Phương pháp chuyên gia

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm: chuyên gia, cán bộ quản lý, GV, HS về phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS lớp 10 thông qua dạy học phân môn Tiếng Việt nói chung và dạy cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng; và những thuận lợi, khó khăn khi dạy học phân môn tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực trong thời

điểm hiện nay

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra; so sánh đối chiếu kết quả trước và sau quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp, chiều hướng biến đổi năng lực của học sinh giữa các lớp đối chứng và các lớp thực nghiệm

- Lớp thực nghiệm: là lớp được dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ theo hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ

- Lớp đối chứng: là lớp không được dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ theo hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm các chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Về cơ sở lí luận, luận văn đề cập đến các vấn đề: Năng lực; NL ngôn ngữ, việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS

Trang 24

Về cơ sở thực tiễn, bên cạnh việc khảo sát nội dung chương trình, SGK, chúng tôi sử dụng các phương pháp của khoa học giáo dục để khảo sát, đánh giá năng lực GV, HS trong hoạt động DH ngôn ngữ tiếng Việt

- Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh lớp 10 trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ

Ở chương này, luận văn đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS, trong đó tập trung vào việc xây dựng hệ thống bài tập và định hướng tổ chức thực hành bài tập theo định hướng phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS lớp 10

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Hoạt động thực nghiệm gồm thực nghiệm giảng dạy và đo nghiệm bằng phiếu bài tập nhằm kiểm tra, đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong luận văn và các bài tập thực hành phát triển năng lực ngôn ngữ tiếng Việt cho HS

Trang 25

và người học phải xác định được mình chính là chủ nhân của quá trình lĩnh hội kiến thức, mình phải làm chủ hoạt động của chính mình, phải tự giác, chủ động, phải chịu trách nhiệm về sự tiến bộ của mình Có như vậy, HS mới trở thành chủ thể của quá trình học tập

Tâm lí lứa tuổi chia các giai đoạn tâm lí của HS ra làm ba thời kì: Thời

kì lứa tuổi nhi đồng (từ 6 đến 11, 12 tuổi); thời kì tuổi thiếu niên (từ 11, 12 tuổi đến 14,15 tuổi); thời kì đầu tuổi thanh niên (từ 14, 15 tuổi đến 16,17 tuổi) Mỗi thời kì có sự phát triển tâm lí đặc trưng riêng Theo sự phân chia các giai đoạn phát triển của Tâm lí học thì HS lớp 10 thuộc giai đoạn đầu tuổi thanh niên Đây là giai đoạn phát triển toàn diện về mọi mặt về thể chất cũng như tâm lí, nhận thức, trí tuệ và nhân cách của HS tuy nhiên, ở lứa tuổi này, các em cũng rất nhạy cảm, dễ bị kích thích, tò mò, nhất là đối với HS lớp 10 khi các em vừa chuyển từ giai đoạn HS THCS sang giai đoạn HS THPT, được tiếp xúc với nhiều cái mới mẻ, bỡ ngỡ (môi trường học tập, bạn bè, thày cô,

Trang 26

phương pháp giảng dạy, kiến thức mới ) vì thế tâm lí chung của HS lớp 10 là

rất hào hứng, sôi nổi, thích khám phá trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực trong

học tập và đời sống Đó là một điều kiện rất thuận lợi cho việc dạy học phát

triển năng lực

Từ thời xa xưa, ông tổ Nho gia Khổng Tử đã từng rất chú trọng đến

việc thực hành trong quá trình học tập khi nói: tôi nghe-tôi quên, tôi nhìn-tôi

nhớ, tôi làm-tôi hiểu Ngày nay, chúng ta cũng đã và đang kế thừa và phát

triển quan điểm đó của Khổng Tử Cuốn Tạp chí Giáo dục, số 229, 1/2010 đã

đưa ra số liệu nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục Mĩ về tỉ lệ tiếp thu

trung bình của người học từ các phương thức dạy học như sau: thuyết giảng

(0,5%); đọc (10%); nghe, nhìn (20%); mô tả, trình bày (30%), thảo luận nhóm

(50%); thực hành (75%) và dạy cho người khác hoặc ứng dụng ngay vào việc

học (90%) theo Điều đó cho thấy họ rất chú trọng đến các hoạt động học tập của

người học Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động học tập cho người học trong dạy

học là vô cùng quan trọng và cần thiết

1.2 Đặc điểm nhận thức và thái độ học tập của học sinh lớp 10

1.2.1 Về đặc điểm nhận thức

Ở giai đoạn lứa tuổi học sinh THPT, hệ thần kinh của các em phát triển

mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ, hoạt động tư duy Ở

giai đoạn này, các năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa phát

triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng, các em có thể nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Các mối

quan hệ ngày càng được mở rộng, các em tích lũy thêm được những kinh

nghiệm sống và khả năng giao tiếp ứng xử xã hội cũng trở nên phong phú,

nhạy cảm hơn Vì vậy thái độ, ý thức của các em đối với việc học tập và rèn

luyện nhân cách ngày càng sâu sắc hơn Đây là những điều kiện rất thuận lợi

cho sự phát triển năng lực của các em Đối với môn Ngữ văn, sự phát triển về

trí tuệ, vốn sống cùng với thái độ, ý thức về nhân cách phong phú hơn là một

Trang 27

điều kiện thuân lợi giúp HS toàn diện Sự phát triển về năng lực văn học, phát triển tư duy và năng lực sử dụng ngôn ngữ của các em cũng được nâng lên một cấp độ mới Ở lứa tuổi này HS có nhu cầu khẳng định mình rất cao, các

em có sự nhanh nhạy trước những cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương hay một sự vật, hiện tượng trong đời sống Các em muốn khám phá thể giới quan vượt ra ngoài khả năng và sự hiểu biết của mình, muốn tìm hiểu

và lí giải những vấn đề trong cuộc sống bằng những kinh nghiệm của mình Nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi cũng như sự phát triển trí tuệ, tư duy của HS THPT là điều cần thiết trong quá trình dạy học của GV, giúp GV có thể sử dụng các phương pháp dạy học và giáo dục phù hợp, hiệu quả

1.2.2 Về thái độ học tập

Cùng với sự phát triển về tư duy, trí tuệ thì thái độ học tập của HS cũng được nâng cao ở giai đoạn này Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn, các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Các em ý thức được rằng vốn những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo hiện có của mình, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống, xã hội, là hành trang để các

em bước vào tương lai một cách vững vàng, nhất là trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay Vì vậy, các em có ý thức học tập rất nghiêm túc Tuy nhiên, hiện nay số HS đạt được mức tư duy theo đặc trưng lứa tuổi còn hạn chế Điều đó không phải do các em không có khả năng phát triển mà cái chính là do các em thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới, chưa có điều kiện để phát huy hết khả năng vốn có và năng lực của bản thân mình làm cho quá trình học tập và rèn luyện năng lực, phẩm chất của các em chưa đạt kết quả như mong muốn

Với những đặc điểm của tâm lí học lứa tuổi, ta có thể nhận thấy HS THPTcó nhu cầu nhận thức, khả năng về trí tuệ và thái độ học tập ngày càng

Trang 28

phát triển và hoàn thiện hơn Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển NLNN của HS

1.3 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển NL là chương trình dạy học nhằm phát triển tối đa NL của người học với bốn đặc trưng cơ bản: Dạy học thông qua các hoạt động của HS; chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò, nhằm mục đích phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học, nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, đem lại hứng thú học tập cho người học Trong chương trình dạy học theo định hướng phát triển NL, GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo định hướng chú

ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin để sau mỗi giờ học, HS không chỉ lĩnh hội được tri thức

mà còn biết cách tìm ra tri thức đó, biết tri thức đó giúp ích được gì cho mình trong học tập và trong cuộc sống

Dạy học theo định hướng phát triển NL là chương trình dạy học rất tích cực, được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau GV có vai trò quan trọng trong việc giao nhiệm vụ, tổ chức điều khiển các hoạt động học, là người định hướng, trọng tài trong quá trình hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng Còn HS có vai trò trung tâm, chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động học, tự tìm kiếm, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, nghĩa là phải đảm bảo được nguyên tắc

“HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV” Về kiểm tra, đánh giá, điểm mới của DH theo định hướng này là HS được tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau Có thể nói, dạy học theo định hướng phát triển NL là quá trình giáo dục chuyển từ trang bị kiến thức là chủ yếu sang phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học

Trang 29

Trong trường phổ thông, định hướng phát triển NLNN trong dạy học tiếng Việt, văn học thể hiện rõ ở mạch kiến thức và kĩ năng cơ bản, thiết yếu về tiếng Việt và văn học, phù hợp với lứa tuổi và các yêu cầu cần đạt về phẩm chất cũng như năng lực của HS ở từng bậc học Ở bậc tiểu học và THCS, mục đích hướng tới của môn học là HS có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt các môn học khác Các em có thể đọc, viết, nói, nghe các dạng văn bản phổ biến và thiết yếu, phù hợp với trình

độ và lứa tuổi; đồng thời thông qua nội dung văn học và tiếng Việt để giáo dục phẩm chất, nhân cách HS Đến bậc THPT, NL sử dụng tiếng Việt của HS được phát triển và nâng cao trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống, đồng thời tiếp cận với một số nội dung học tập có liên quan đến định hướng nghề nghiệp, đáp ứng sở thích và nhu cầu học tập của HS

1.4 Năng lực ngôn ngữ của học sinh trung học phổ thông

Mục tiêu chủ yếu trong dạy học tiếng Việt trong trường phổ thông là nhằm phát triển NL giao tiếp cho HS, trong đó NLNN là một bộ phận của NL giao tiếp Hiệu quả giao tiếp đều phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sử dụng ngôn ngữ (tiếng Việt) Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu chung của môn Ngữ văn là “giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống” [5] Chương trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học

Theo PGS.TS ĐỗViệt Hùng, năng lực ngôn ngữ (năng lực tiếng Việt)

“là năng lực sử dụng tiếng Việt hiệu quả trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực của

Trang 30

đời sống xã hội – giao tiếp gia đình, giao tiếp nhà trường, công sở giao tiếp hành chính, khoa học, văn chương nghệ thuật” [50] Theo PGS.TS ĐỗViệt Hùng, các NL tiếng Việt cụ thể cần được hình thành và phát triển ở học sinh

phổ thông là: năng lực nói, năng lực nghe, năng lực đọc và năng lực viết.Mỗi năng lực bộ phận lại được chia tiếp tục thành các năng lực cụ thể theo các mức độ từ đơn giản đến phức tạp Để hình thành và phát triển tốt bốn NL bộ phận này cần hình thành cho HS NL nhận thức về các quy tắc ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ (gọi tắt là NL nhận thức) như: dùng từ, đặt câu, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ v.v trong đó có những NL có thể rèn luyện độc lập nhưng cũng có những NL phải rèn luyện tổng hợp Cụ thể:

- Năng lực nói bao gồm các NL cụ thể: NL phát âm chuẩn theo đúng

chuẩn mực tiếng Việt; NL đặt câu đúng ngữ pháp để nói được ý trọn vẹn, đúng ngữ điệu, thể hiện đúng suy nghĩ cá nhân, bộc lộ tình cảm thích hợp;

NL thực hiện các hành động ngôn ngữ một cách hiệu quả (kể, trình bày, báo cáo, hỏi, yêu cầu, đề nghị, khuyên ); NL độc thoại, đối thoại trong giao tiếp;

NL nói về một nội dung cho trước, nói đúng chủ đề, lập luận logic, nhất quán; NL phát biểu ý kiến, thuyết trình, thuyết minh, giải thích trước đám đông;

NL đàm phán, trao đổi, thỏa thuận

- Năng lực nghe bao gồm các NL cụ thể: NL nghe-hiểu nghĩa tường

minh, nghĩa hàm ẩn trong hội thoại, giao tiếp; NL đánh giá nhận xét lời nói của người khác; NL nghe-phản hồi ý kiến của người khác; NL nghe-cảm nhận văn bản văn chương nghệ thuật

- Năng lực đọc bao gồm các NL cụ thể: NL đọc đúng, đọc diễn cảm các

loại văn bản khác nhau; NL đọc thầm, đọc nhanh, đọc lướt để xác định nội dung chính của văn bản; NL đọc - hiểu các loại văn bản thuộc các lĩnh vực giao tiếp khác nhau trong đời sống (văn bản hành chính, báo chí, xã luận, phổ biến khoa học ); NL đọc-hiểu, cảm nhận, phân tích hình tượng trong văn bản văn chương nghệ thuật; NL đọc để tóm tắt văn bản, thu thập thông tin

- Năng lực viết bao gồm các NL cụ thể: NL viết đúng chính tả,

Trang 31

sử dụng dấu câu thích hợp; NL viết câu, đoạn văn bản phản ánh đúng tư

tưởng, suy nghĩ của cá nhân, bộc lộ cảm xúc phù hợp; NL viết văn đúng thể loại làm văn (miêu tả, kể chuyện, nghị luận, phân tích, bình giảng); NL viết các loại văn bản (công văn, báo cáo, tờ trình, văn bản văn chương nghệ thuật ) [50]

Dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển NL thực chất là chuyển

từ quỹ đạo dạy học tiếng Việt trong nhà trường theo lối nhận diện, mô tả, phân loại sang quỹ đạo giao tiếp, dạy tiếng Việt như dạy một hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy, chúng tôi nhận thấy rằng phát triển NLNN cho

HS THPT chính là phát triển NL giao tiếp với việc phát triển toàn diện bốn năng lực cụ thể: nói – nghe - đọc – viết

1.5 Thực trạng dạy học cụm bài phong cách ngôn ngữ ở trường phổ thông hiện nay

1.5.1 Về cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông

1.5.1.1 Vị trí

Trong chương trình Ngữ văn phổ thông, HS đã dần dần được làm quen với các khái niệm phong cách, phong cách ngôn ngữ Các em đã nhận thức được Phong cách học là “một bộ môn khoa học nghiên cứu những nguyên tắc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để truyền đạt một nội dung, tư tưởng tình cảm nhất định nhằm đạt được những hiệu quả thực tiễn, cụ thể trong những điều kiện giao tiếp cụ thể” [1, tr.160]

Ngay từ bậc cơ sở, HS đã được cung cấp những kiến thức cơ bản, mang tính sơ lược, khái quát về các vấn đề tu từ học, phong cách học SGK Ngữ văn lớp 6, 7, 8 tập trung vào các vấn đề tu từ học, còn SGK lớp 9 đã bắt đầu định hướng cho HS tiếp xúc những kiến thức về phong cách học Lên bậc THPT các vấn đề này tiếp tục được đề cập ở mức độ cao hợn cả về nội dung và chất lượng Trong cả ba lớp 10, 11, 12, HS được làm quen và

Trang 32

tìm hiểu cụ thể sáu loại phong cách ngôn ngữ ở các khía cạnh: khái niệm, đặc trưng về mặt ngôn ngữ và phương tiện tu từ Điều này cho ta thấy việc học tiếng của HS không thể chỉ dừng lại ở từ, ở câu mà còn tiến tới giúp

HS biết cách tổ chức giao tiếp, tổ chức văn bản mà văn bản bao giờ cũng thuộc về một phong cách nhất định nên nói và viết đều phải đúng phong cách ngôn ngữ Điều đó chứng tỏ vị trí hết sức quan trọng của cụm bài PCNN trong chương trình

Thứ nhất là nhằm hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung

và tiếng Việt nói riêng Trên cơ sở những kiến thức đã có ở THCS, sách Ngữ văn 10 nhằm hình thành và nâng cao những kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, về sản phẩm của hoạt động giao tiếp là văn bản, về đặc điểm của hai dạng ngôn ngữ nói và viết, về những yêu cầu đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Từ đó đi đến những kiến thức về hai phong cách ngôn ngữ là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Chương trình cũng giúp cho HS tìm hiểu về lịch sử của tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt; Thứ hai là nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi nói, khi viết và năng lực phân tích, lĩnh hội văn bản khi nghe, đọc Những kĩ năng này được luyện tập, củng cố và nâng cao qua các hoạt động thực hành Đồng thời với các kĩ năng ngôn ngữ là các kĩ năng nhận thức, tư duy cũng được phát triển và hoàn thiện Ngoài ra, kiến thức, kĩ năng có được trong phần tiếng Việt còn giúp HS có điều kiện thuận lợi để học các môn học khác; Thứ ba là bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt qua các bài học tiếng Việt cụ thể

Trang 33

Trên cơ sở những mục tiêu chung của dạy học tiếng Việt, ta có thể nói một cách chung nhất mục tiêu của việc giảng dạy và học tập phong cách học

ở nhà trường THPT hiện nay là: cung cấp cho HS những tri thức về phong cách học đã được hệ thống hóa, được nâng cao so với các lớp dưới, đảm bảo cho các em có cơ sở lí thuyết cần thiết để rèn luyện kĩ năng lĩnh hội văn bản,

kĩ năng sản sinh văn bản và kĩ năng nói, viết phù hợp với các điều kiện giao tiếp [1, tr.161] Phần phong cách ngôn ngữ ở THPT nhằm hướng tới việc giúp

HS củng cố các tri thức về phong cách học, tu từ học đã được tiếp thu ở lớp dưới, từ đó nâng cao dần lên hình thành cơ sở lí thuyết và vận dụng chúng vào việc tự xây dựng văn bản của mình, tự sửa, chữa những sai sót và hình thành dần năng lực nói, viết một cách có phong cách, có nghệ thuật Nói cách khác, phần phong cách ngôn ngữ nhằm đạt đến mục tiêu giúp HS thưởng thức được cái hay, cái đẹp của một văn bản viết, nói đúng phong cách và tự mình biết cách xây dựng cách viết, cách nói cho đúng chuẩn mực Cụm bài phong cách ngôn ngữ sẽ góp phần tích cực trong quá trình hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS HS không chỉ nắm vững được chuẩn mực ngôn ngữ mà còn phải biết cách giao tiếp, tạo lập văn bản theo từng phong cách nhất định

1.5.1.3 Phân tích nội dung dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ

Nội dung phân phối cụm bài về Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT năm học 2018-2019 như sau:

Bảng 1.1 Nội dung phân phối cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương

trình Ngữ văn THPT năm học 2018-2019

Trang 34

Phong cách ngôn ngữ chính luận 2 Tiết 105 + 106

Nhìn chung, số lượng tiết của cụm bài phong cách ngôn ngữ là khá

nhiều, chiếm 9 tiết trong tổng số toàn bộ chương trình phần tiếng Việt ở

THPT (37 tiết) Trong đó một nửa số bài là chiếm hai tiết Đây là nhóm bài

hình thành tri thức kĩ năng mới cho HS vì vậy ngoài việc cung cấp những đơn

vị kiến thức mới, GV còn phải củng cố cho HS qua hoạt động thực hành,

luyện tập

Theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT, các bài học tiếng Việt nói chung và cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng được chia

thành hai loại: bài hình thành kiến thức và bài luyện tập Bài hình thành kiến

thức thường có cấu tạo 3 phần: phân tích ngữ liệu được cung cấp, rút ra nhận

xét/ ghi nhớ và luyện tập Phần phân tích ngữ liệu được tổ chức với các nhiệm

vụ cụ thể như đọc ngữ liệu, trả lời các câu hỏi nhằm hình thành kiến thức mới

Phần rút ra nhận xét, ghi nhớ là phần chốt lại những kiến thức quan trọng, HS

đã hiểu rõ sau khi phân tích ngữ liệu Phần luyện tập là những câu hỏi, bài tập

nhằm củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức đã học Quy trình này có thể

khái quát thành các hoạt động sau:

- Hoạt động khởi động: Mục đích của hoạt động này là giúp HS huy

động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm về mặt ngôn ngữ/ tiếng Việt mà HS đã

được học để có thể kết nối với kiến thức mới trong bài học đồng thời tạo tâm

lí tích cực giúp HS sẵn sàng các nhiệm vụ mới của bài học

- Hoạt động hình thành kiến thức: Mục đích của hoạt động này là giúp

HS từng bước chiếm lĩnh kiến thức mới dựa trên những kiến thức, kĩ năng kinh nghiệm đã có về ngôn ngữ tiếng Việt để đọc, phân tích, xử lí các ngữ

liệu có liên quan Hoạt động này gồm những nhiệm vụ cụ thể:

+ Phân tích ngữ liệu: GV hướng dẫn HS đọc và phân tích ngữ liệu để

Trang 35

1.5.2 Thực trạng dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ ở trường phổ

thông

Để thấy rõ thực trạng dạy của GV và thực trạng học của HS về cụm bài PCNN ở trường phổ thông, chúng tôi tiến hành khảo sát cả GV và HS ở hai trường: Trường THPT Lý Thái Tổ ở Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh và trường THPT Ngô Gia Tự ở Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh bằng phiếu khảo sát

1.5.2.1 Về thực trạng dạy cụm bài Phong cách ngôn ngữ

 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi đã đưa ra phiếu điều tra để khảo sát tình hình dạy học cụm bài PCNN của GV theo hướng tích cực tại các trường THPT Chúng tôi tiến hành phát 20 phiếu cho 20 GV dạy Ngữ văn tại 2 trường THPT gồm:

+ 10 GV tại trường THPT Lý Thái Tổ - Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh + 10 GV trường THPT Ngô Gia Tự - Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh

 Nội dung khảo sát

- Khảo sát thầy/cô về tình hình dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS trong phân môn tiếng Việt

- Hình thức: Phát phiếu điều tra, xem giáo án trao đổi phỏng vấn với GV [Phụ lục 1]

 Kết quả sau khi khảo sát:

Bảng 1.2 Khảo sát mức độ hiểu biết của giáo viên về phương pháp dạy học

theo định hướng phát triển năng lực HS

Trang 36

Bảng 1.4 Khảo sát giáo viên về việc xây dựng hệ thống bài tập nhằm phát

triển năng lực tiếng Việt cho HS

Bảng 1.6 Khảo sát giáo viên về những khó khăn khi xây dựng hệ thống bài

tập vào dạy học cụm bài PCNN

Trang 37

Khó khăn

Mức độ khó khăn giảm dần (Số lượng phiếu)

Tốn thời gian, công sức để đầu tư thiết kế 20 0 0 0 0

HS lười tư duy, trình độ hạn chế 17 3 0 0 0 Tâm lí quen với cách dạy truyền thống, ngại thay đổi 13 4 3 0 0 Bản thân lúng túng khi xây dựng những bài tập

Nội dung bài học cần dạy nhanh để kịp chương

Cơ sở vật chất thiếu thốn không đáp ứng được

1.5.2.2 Về thực trạng học cụm bài phong cách ngôn ngữ

 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi đã đưa ra phiếu điều tra tình hình học cụm bài về PCNN của

HS theo hướng tích cực tại các trường THPT Chúng tôi tiến hành phát 160 phiếu cho 160 HS (HS ban cơ bản) thuộc 4 lớp tại 2 trường THPT gồm:

+ 80 HS lớp 11A7 và 11A9 tại trường THPT Lý Thái Tổ-Đình

Bảng-Từ Sơn - Bắc Ninh

+ 80 HS lớp 11A7 và 11A9 tại trường THPT Ngô Gia Tự-Tam Sơn-Từ Sơn - Bắc Ninh

 Nội dung khảo sát:

- Khảo sát tình hình học tập và nhận thức của HS khi học cụm bài về PCNN

- Hình thức: Phát phiếu điều tra HS [Phụ lục 2]

 Kết quả sau khi khảo sát:

Trang 38

Bảng 1.7 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh về cụm bài PCNN

Bảng 1.8 Khảo sát mức độ nhớ của học sinh về các PCNN đã học

Trang 39

Bảng 1.11 Khảo sát học sinh về các phương pháp kiểm tra đánh giá mà

thầy/cô áp dụng

Phương pháp kiểm tra, đánh giá Số lượng

HS

Tỉ lệ (%)

Lồng ghép vào bài kiểm tra định kì (giữa kì, cuối kì) 157/160 98,1% Đánh giá năng lực HS trong quá trình tham gia các

HS đánh giá các bạn và tự đánh giá bản thân 29/160 18,1%

Bảng 1.12 Khảo sát mức độ mong muốn được thay đổi cách học của HS

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

Bảng 1.13 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh qua bài tập

HS làm đúng với đáp án HS làm sai với đáp án

Trang 40

(85,6%) Tuy nhiên khi hỏi đến đặc trưng của từng loại PCNN thì đa phần HS lại lúng túng không nhớ được (chiếm 75%) Điều đó cho thấy rằng, còn đi sâu vào kiến thức trọng tâm của bài thì hầu như các em lại không nhớ được Việc không nhớ được những đặc trưng của từng PCNN có ảnh hưởng rất lớn đến việc phân biệt và sử dụng từng PCNN trong từng hoàn cảnh giao tiếp khác nhau

Theo như kết quả, tất cả HS cho rằng GV vẫn sử dụng những phương pháp dạy học thông thường như thuyết trình, vấn đáp (100%) trong quá trình dạy học Điều này cho thấy rằng GV vẫn chưa áp dụng thường xuyên việc đổi mới phương pháp dạy học và sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học trong tiết dạy của mình Do vậy đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho HS thụ động, có sức ì rất lớn, khả năng sáng tạo cũng bị hạn chế

Về các phương pháp kiểm tra - đánh giá thì các em cho rằng hầu hết các thầy

cô vẫn áp dụng kiểm tra lý thuyết khi kiểm tra miệng đầu giờ và đánh giá kết quả HS qua những bài kiểm tra viết thông qua điểm số; việc đánh giá quá trình tham gia hoạt động học tập của HS và HS tự đánh giá vẫn chưa được thực hiện một cách thường xuyên, tích cực

Khi được hỏi về mong muốn được thay đổi cách học để một giờ học sôi nổi, tích cực, đạt hiệu quả cao hơn thì phần đông HS (81,9%) mong muốn được thay đổi Vì theo như tâm lý lứa tuổi, các em đang ở độ tuổi ham học hỏi,thích khám phá, muốn khằng định mình nên việc thay đổi cách học theo hướng tích cực, chủ động là một việc làm hết sức cần thiết, tạo được động lực, hứng thú học tập từ chính HS

Chúng tôi có đưa ra một bài tập và yêu cầu HS vận dụng kiến thức đã học để nhận biết về PCNN của văn bản mà chúng tôi đưa ra Tuy nhiên kết quả cho thấy chỉ có 42,5% HS là xác định được đúng PCNN so với đáp án còn lại có tới 57,5% HS xác định sai Phần lớn HS làm sai vì các em chưa nhớ

và hiểu được các đặc trưng của từng PCNN nên việc vận dụng để làm bài tập

Ngày đăng: 13/11/2020, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w