NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH.... Các nghiên cứu ứng dụng mô hình DNDC đánh giá ảnh hưởng của thay
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THANH TUẤN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ ĐẾN
LƯỢNG CÁC BON TRONG ĐẤT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC ĐẤT
Hà Nội, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THANH TUẤN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ ĐẾN
LƯỢNG CÁC BON TRONG ĐẤT
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC ĐẤT
MÃ SỐ: 62620103
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC ĐẤT
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải
PGS.TS Trần Văn Ý
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Luận án đã sử dụng một
số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin đều được trích dẫn rõnguồn gốc
Tôi xin cam đoan các nội dung nghiên cứu và kết quả, số liệu trong luận án này làtrung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa được ai công bốtrong bất kì một công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án, NCS đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡcủa các Thầy, Cô trong khoa Môi trường, đặc biệt là các Thầy, Cô ở Bộ môn Thổnhưỡng và Môi trường đất, trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thông qua các buổihội thảo, bảo vệ, báo cáo chuyên đề, tham gia các môn học NCS đã nhận được nhiều
ý kiến, nhận xét quý báu của các Thầy, Cô, cũng như học hỏi được thêm nhiều kiến thức bổ ích Qua đây, NCS xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các Thầy, Cô
NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TSKH Nguyễn Xuân Hải
và PGS.TS Trần Văn Ý đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý, quan tâm giúp đỡ tận tình vàtạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình thực hiện luận án và công tác
NCS xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến GS Li Changsheng, GS Donan Giltrap,
TS Jia Deng vì những giúp đỡ vô cùng to lớn trong suốt quá trình thực hiện luận ánliên quan đến mô hình DNDC
NCS xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Bảotàng Thiên nhiên Việt Nam trước đây cũng như hiện nay, các đồng nghiệp trongPhòng Địa lý, Thổ nhưỡng và Môi trường, KS Nguyễn Hữu Tứ, Viện Địa lý trongsuốt thời gian thực hiện luận án
NCS xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình nội ngoại hai bên, đặc biệt là
vợ và 2 con đã tạo mọi điều kiện tốt nhất, luôn động viên để có thể hoàn thành tốt mọicông việc trong quá trình thực hiện luận án
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận án không thể tránhkhỏi những thiếu sót NCS mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè.Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thanh Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC HÌNH 7
MỞ ĐẦU 0
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 0
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 2
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT VÀ CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Chu trình các bon 4
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng các bon hữu cơ trong đất 6
1.1.4 Mối quan hệ giữa C hữu cơ và N trong đất 8
1.1.5 Các biện pháp nâng cao hàm lượng các bon hữu cơ trong đất 9
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT 12
1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước 12
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 15
1.3 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH 17
1.3.1 Các mô hình tính toán, mô phỏng lượng các bon hữu cơ trong đất 17
1.3.2 Các nghiên cứu ứng dụng mô hình DNDC đánh giá ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp đến lượng các bon hữu cơ trong đất 20
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU23 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 23
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 23
2.3 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.3.1 Quy trình nghiên cứu 25
2.3.2 Nhóm phương pháp liên quan đến mô hình DNDC 26
2.3.3 Nhóm phương pháp liên quan đến điều tra bổ sung dữ liệu 29
2.3.4 Nhóm các phương pháp khác 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 ĐẶC TRƯNG KHÍ HẬU, THUỶ VĂN, THỔ NHƯỠNG, CHẾ ĐỘ CANH TÁC VÀ CƠ SỞ DỮ LIỆU 33
Trang 63.1.1 Dữ liệu về khí hậu 33
3.1.2 Dữ liệu đất 34
3.1.3 Dữ liệu hệ canh tác 38
3.2 KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DNDC XÁC ĐỊNH LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT Ở CÁC HỆ CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 46
3.2.1 Các thông số đầu vào sử dụng kiểm chứng mô hình 46
3.2.2 Kiểm chứng mô hình DNDC 48
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC CANH TÁC GIỮA CÁC HUYỆN TRONG VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN ĐẾN LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT 51
3.3.1 Các phương thức canh tác hiện tại 51
3.3.2 Hàm lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp năm
2010 giữa các huyện vùng nghiên cứu 55
3.4 ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT Ở CÁC HỆ CANH TÁC NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 60
3.4.1 Ảnh hưởng của thay đổi cây trồng hàng năm theo không gian đến lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp năm 2000 60
3.4.2 Ảnh hưởng của thay đổi cây trồng hàng năm theo không gian đến lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp năm 2010 65
3.4.3 Ảnh hưởng của thay đổi cây trồng hàng năm trong giai đoạn 2000 - 2010 đến lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị 71
3.5 MÔ PHỎNG SỰ THAY ĐỔI LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT THEO CÁC KỊCH BẢN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 97
3.5.1 Các kịch bản áp dụng 97
3.5.2 Kết quả ước lượng các bon hữu cơ trong đất theo các kịch bản và đề xuất một số giải pháp nâng cao lượng các bon hữu cơ trong đất 99
KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN 123 PHẦN PHỤ LỤC 124
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CANDY: Carbon and Nitrogen Dynamics (Động học nitơ và các bon)
CENTURY: Mô hình chu trình dinh dưỡng đất – thực vật
DAISY: Mô hình mô phỏng sản lượng cây trồng, động học nước và nitơ trong đấtDNDC: Denitrification - Decomposition (Khử nitrat - Phân huỷ)
DSSAT: Decision Support System for Agrotechnology Transfer (Hệ thống trợ giúp
ra quyết định cho chuyển đổi kỹ thuật nông nghiệp)
ITE: Mô hình mô phỏng dòng C và N trong các hệ sinh thái đồng cỏ và rừng
ISEOP: Institute for the Study of Earth (Viện nghiên cứu Trái đất)
MSF: Phương pháp nhân tố nhạy cảm nhất
NCSOIL: Nitrogen Carbon Transformation in Soil (Mô hình thay đổi C và N trongđất)
ROTHC: Rothamsted Các bon
SOC: Các bon hữu cơ trong đất
SOM: Chất hữu cơ trong đất
SOMM: Soil Organic Matter Model (Mô hình chất hữu cơ trong đất)
SNNPTNTQT: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị
VQHTKNN: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số phương thức canh tác duy trì và nâng cao hàm lượng các bon
hữu cơ trong đất 11
Bảng 3.1 Phương thức canh tác lúa - lúa ở các huyện hiện tại 41
Bảng 3.2 Phương thức canh tác lạc hiện tại 42
Bảng 3.3 Phương thức canh tác lạc - khoai lang hiện tại 42
Bảng 3.4 Phương thức canh tác sắn hiện tại 43
Bảng 3.5 Các vị trí được lựa chọn khảo sát để kiểm chứng mô hình 47
Bảng 3.6 Kết quả ước lượng và đo đạc các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác vùng nghiên cứu 49
Bảng 3.7 Năng suất theo mô hình và năng suất cây trồng thực tế ở các hệ canh tác vùng nghiên cứu 50
Bảng 3.8 Phương thức canh tác lạc ở vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị 52 Bảng 3.9 Phương thức canh tác lạc - khoai lang ở vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị … 53
Bảng 3.10 Phương thức canh tác lúa - lúa ở các huyện 54
Bảng 3.11 Chênh lệch giữa lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 so với năm 2000 ở các hệ canh tác nông nghiệp không chuyển đổi ở các huyện 57
Bảng 3.12 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2000 ở các hệ canh tác trên đất cát biển 62
Bảng 3.13 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2000 ở các hệ canh tác trên đất mặn 63
Bảng 3.14 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2000 ở các hệ canh tác trên đất phù sa được bồi 63
Bảng 3.15 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2000 ở các hệ canh tác trên đất phù sa không được bồi, đất phù sa có tầng loang lổ, đất phù sa cổ 64
Bảng 3.16 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2000 ở các hệ canh tác trên đất phù sa glây, đất lầy, đất dốc tụ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa 65
Bảng 3.17 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 ở các hệ canh tác trên đất cát biển 68
Trang 9Bảng 3.18 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 ở các hệ canh tác trên đấtmặn 69
Bảng 3.19 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 ở các hệ canh tác trên phù
sa được bồi hàng năm 69
Bảng 3.20 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 ở các hệ canh tác trên đấtphù sa không được bồi hàng năm, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa cổ Bảng 3.21 Lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2010 ở các hệ canh tác trên đấtphù sa glây, đất dốc tụ, đất lầy và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa 71
Bảng 3.22 Sự biến động diện tích các hệ canh tác nông nghiệp và tốc độ thay đổilượng các bon hữu cơ trong đất từ năm 2000 đến năm 2010 vùng đồng bằng ven biểntỉnh Quảng Trị 73
Bảng 3.23 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển đổi trên đất cát biển 75
Bảng 3.24 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển đổi trên đất mặn 77
Bảng 3.25 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển đổi trên đất phù sa được bồi hàng năm 79
Bảng 3.26 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển đổi trên đất phù sa không được bồi hàng năm, đất phù sa có tầng loang lổ đỏvàng, đất phù sa cổ 81
Bảng 3.27 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển đổi trên đất phù sa glây, đất dốc tụ, đất lầy và đất đỏ vàng biến đổi do trồnglúa 83
Bảng 3.28 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác chuyểnđổi trên đất cát biển 86
Bảng 3.29 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác chuyểnđổi trên đất phù sa được bồi hàng năm 88
Bảng 3.30 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác chuyểnđổi trên đất phù sa không được bồi hàng năm 91
Trang 10Bảng 3.31 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác chuyển
đổi trên đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng và đất phù sa cổ 92
Bảng 3.32 Sự thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác chuyển đổi trên đất dốc tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa 95
Bảng 3.33 Chuỗi số liệu tổng lượng mưa năm tại trạm Đông Hà 97
Bảng 3.34 Lượng phân đạm và phân chuồng bón theo kịch bản 1 98
Bảng 3.35 Lượng phân đạm bón theo kịch bản 3 99
Bảng 3.36 Sự biến động diện tích các hệ canh tác và tốc độ thay đổi lượng các bon hữu cơ trong đất từ năm 2010 đến năm 2020 vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị 101
Bảng 3.37 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lạc theo các kịch bản 102
Bảng 3.38 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lạc không chuyển đổi theo các kịch bản 103
Bảng 3.39 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lạc -khoai lang theo các kịch bản 104
Bảng 3.40 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lạc -khoai lang không chuyển đổi theo các kịch bản 105
Bảng 3.41 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lúa - lúa theo các kịch bản 106
Bảng 3.42 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác lúa - lúa không chuyển đổi theo các kịch bản 106
Bảng 3.43 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác ngô -đậu theo các kịch bản 107
Bảng 3.44 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác ngô -đậu không chuyển đổi theo các kịch bản 107
Bảng 3.45 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác sắn theo các kịch bản 108
Bảng 3.46 Khối lượng các bon hữu cơ trong đất năm 2020 ở hệ canh tác sắn không chuyển đổi theo các kịch bản 109
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Tỷ lệ giữa các hợp phần của chất hữu cơ trong đất (nguồn: [43]) 4Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu ảnh hưởng của sử dụng đất nông nghiệp đến cácbon hữu cơ trong đất 25Hình 3 1 Các nhóm đất chính vùng đồng bằng tỉnh Quảng Trị (Nguồn [23]) 38Hình 3 2 Bản đồ các hệ canh tác chính vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị
2000 44Hình 3 3 Bản đồ các hệ canh tác chính vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị
2010 45Hình 3 4 Bản đồ các hệ canh tác chính vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị
2020 46Hình 3 5 Tương quan giữa giá trị các bon hữu cơ trong đất ước lượng và đo đạctại các điểm nghiên cứu 49Hình 3 6 Tương quan giữa năng suất cây trồng trung bình theo mô hình và thực
tế tại khu vực nghiên cứu 51Hình 3 7 Lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp vùngđồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị năm 2000 61Hình 3 8 Lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác nông nghiệp vùngđồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị năm 2010 66Hình 3 9 Cân bằng giữa tổng khối lượng các bon hữu cơ bổ sung vào đất vàmất từ đất ở các hệ canh tác nông nghiệp vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trịtrong giai đoạn 2000 - 2010 67Hình 3 10 Biểu đồ so sánh lượng các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tácnông nghiệp vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị năm 2000 và 2010 73Hình 3 11 Mối quan hệ giữa biến động diện tích hệ canh tác nông nghiệp và biếnđộng khối lượng các bon hữu cơ trong đất vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trịgiai đoạn 2000 - 2010 74Hình 3 12 Mức độ suy giảm các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác khôngchuyển vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2000 - 2010 74
Trang 12Hình 3 13 Tốc độ thay đổi các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác trên đất cát
ven biển vùng ven biển tỉnh Quảng Trị 77
Hình 3 14 Tốc độ suy giảm các bon hữu cơ trong đất hàng năm ở các hệ canh táctrên đất phù sa được bồi hàng năm vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Trị 79
Hình 3 15 Tốc độ suy giảm các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác trên đấtphù sa không được bồi hàng năm, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, đất phù sa cổ Hình 3 16 Mối quan hệ giữa biến động diện tích sử dụng đất nông nghiệp vàbiến động khối lượng cacbon hữu cơ trong đất giai đoạn 2010 -2020 101
Trang 13MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp hiện vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của nước ta,không chỉ là nền tảng cho phát triển kinh tế mà còn đảm bảo ổn định xã hội và bảo vệmôi trường Hoạt động canh tác nông nghiệp ở nước ta đã có nhiều thay đổi cùng với
sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt ở các vùng chuyên canh Phương thức canhtác giữa các vùng, miền có sự khác nhau đáng kể về bón phân, lượng phụ phẩm nôngnghiệp để lại đồng ruộng Lượng phân chuồng bón cho đồng ruộng đang có xu hướng
ít đi, thay vào đó là các loại phân bón vô cơ nhằm tăng năng suất cây trồng, đặc biệtsau năm 2000 (theo điều tra khảo sát tại địa bàn nghiên cứu) Những thay đổi này đã
và đang gây ra sự suy giảm lượng các bon hữu cơ trong đất (SOC) ở các hệ canh tácnông nghiệp, giảm độ phì của đất, tăng lượng khí nhà kính trong khí quyển
Chất hữu cơ nói chung, các bon hữu cơ trong đất nói riêng có vai trò rất quantrọng đối với độ phì, mức độ ổn định của đất và sản xuất nông nghiệp Hơn thế nữa,SOC đóng một vai trò quan trọng đối với quá trình cân bằng các bon trong chu trìnhcác bon toàn cầu Các hoạt động canh tác nông nghiệp giúp hấp thụ và thu giữ cácbon trong đất được xem là một giải pháp nhằm giảm lượng các bon trong không khí,
là một biên pháp ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả ở các nước đang phát triển
Những ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp như sự thay đổi diện tíchđất nông nghiệp trong không gian, theo thời gian và phương thức canh tác đều tácđộng đến lượng các bon trong đất Để đảm bảo được nền nông nghiệp bền vững cầnthiết phải có các biện pháp quản lý hợp lý không những duy trì và nâng cao năng suấtcây trồng mà còn phải duy trì và nâng cao lượng các bon trong đất Nghiên cứu ảnhhưởng của sử dụng đất trong nông nghiệp đến lượng các bon trong đất là một trong
Trang 14các hướng được nhiều nước quan tâm Tuy nhiên, vấn đề trên ở nước ta vẫn còn bỏ ngỏ.
Quảng Trị cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước đã có nhiều thay đổi về kinh
tế, xã hội và môi trường Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã và đang được ápdụng rộng rãi trên địa bàn tỉnh nhằm tăng năng suất cây trồng Đất nông nghiệp củatỉnh tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng ven biển (ĐBVB) Diện tích đất vùng ĐBVBchiếm 9,53% diện tích đất tự nhiên của tỉnh Vùng ĐBVB gồm 5 hệ canh tác chính:(1) lúa - lúa - để trống (lúa - lúa); ngô - đậu - để trống (ngô - đậu); lạc - để trống (lạc);lạc - khoai lang - để trống (lạc - khoai lang); sắn - để trống (sắn) Cùng với xu thếchung của cả nước, diện tích đất nông nghiệp vùng ĐBVB có xu hướng giảm trongnhững năm gần đây do quá trình đô thị hoá, áp lực gia tăng dân số Bên cạnh đó, điềukiện nhiệt ẩm và thổ nhưỡng ở khu vực này rất thuận lợi cho quá trình phân huỷ chấthữu cơ trong đất
Hiện nay ở nước ta việc xác định lượng SOC theo các hệ sinh thái nông nghiệp ởquy mô vùng vẫn chưa được nghiên cứu Nói cách khác sự thay đổi lượng SOC theokhông gian trong các hệ sinh thái nông nghiệp của Việt Nam vẫn chưa được nghiêncứu chi tiết và tính toán một cách định lượng Thêm vào đó sự thay đổi lượng SOC ởcác hệ sinh thái nông nghiệp theo thời gian cũng cần phải được dự báo Đây là cơ sởxem xét khả năng sản xuất của đất trong tương lai cũng như mức độ bền vững của hệsinh thái nông nghiệp đó Xuất phát từ những lý do trên đề tài “NGHIÊN CỨU ẢNHHƯỞNG CỦA SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÙNG ĐỒNG BẰNG VEN BIỂNTỈNH QUẢNG TRỊ ĐẾN LƯỢNG CÁC BON TRONG ĐẤT” đã được thực hiện
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Định lượng hóa lượng SOC ở các HCT nông nghiệp (HCT cây trồng hàng năm) ởĐBVB tỉnh Quảng Trị và những ảnh hưởng của sử dụng đất nông nghiệp đến lượngcác bon trong đất
Các mục tiêu cụ thể:
- Mô phỏng và tính toán được lượng các bon trong đất cho các hệ canh tác câytrồng hàng năm năm 2010 nhằm xác định những thay đổi theo không gian lượng cácbon trong đất nông nghiệp ở ĐBVB tỉnh Quảng Trị
Trang 15- Mô phỏng và tính toán được lượng các bon trong đất cho các hệ canh tác câytrồng hàng năm trong quá khứ (năm 2000) nhằm xác định những thay đổi theo thờigian lượng các bon trong đất nông nghiệp ở ĐBVB tỉnh Quảng Trị.
- Mô phỏng và tính toán được lượng các bon trong đất cho các hệ canh tác câytrồng hàng năm theo một số kịch bản canh tác trong tương lai, trên cơ sở đó đưa ramột số khuyến nghị nhằm phát triển bền vững các hệ sinh thái nông nghiệp trong địa bàn nghiên cứu
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Các kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xác định các giải pháp của ngành sản xuấtnông nghiệp trong xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CHẤT HỮU CƠ TRONG ĐẤT VÀ CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT
1.1.1 Khái niệm
Chất hữu cơ trong đất (SOM) nói chung, các bon hữu cơ trong đất (SOC) nóiriêng đóng vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái cạn SOC ảnh hưởng đến cấutrúc đất, khả năng giữ nước của đất, khả năng hình thành các phức chất với các ionkim loại, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng Hiện nay, thuật ngữ SOC
và SOM thường được sử dụng thay đổi nhau trong một số nghiên cứu Tuy nhiên,trong những năm gần đây thuật ngữ SOC được sử dụng nhiều hơn khi nghiên cứuvòng tuần hoàn các bon toàn cầu Vòng tuần hoàn này có ảnh hưởng lớn đến giới sinhvật nói chung, loài người nói riêng
Thuật ngữ SOM được sử dụng để mô tả thành phần hữu cơ của đất SOM gồmcác nguyên tố C, H, O, N, P và S Do vậy khó có thể đo đạc chính xác hàm lượngSOM, nên SOC được xác định, từ đó ước lượng hàm lượng SOM thông qua hệ sốchuyển đổi
Theo Stevenson, chất hữu cơ trong đất là toàn bộ vật liệu hữu cơ trong đất gồmcác tàn tích sinh vật ở giai đoạn phân huỷ khác nhau, sinh khối vi sinh vật, chất hữu
cơ hoà tan, và chất mùn [77] Trong khi đó, Baldock và Skjemstad cho rằng SOM làthành phân hữu cơ ở trong đất gồm các tàn tích thực vật và động vật ở các giai đoạnphân huỷ khác nhau, các sản phẩm phân huỷ từ các mô động vật và thực vật chết, sinhkhối của vi sinh vật đất [28], [81] Ingham cho rằng SOM bao gồm tất cả các chất hữu
cơ trong hoặc trên đất và tỷ lệ giữa các hợp phần SOM được thể hiện trong Hình 1 1[43]
Trần Văn Chính cũng có cùng quan điểm với Ingham, ông cho rằng hất hữu cơtrong đất cũng được hiểu là toàn bộ các hợp chất hữu cơ có trong đất [9] Trần VănChính đã chia SOM thành 2 phần gồm: (1) tàn tích hữu cơ chưa bị phân giải (rễ, thân,
lá cây, xác động vật) và những chất hữu cơ đã được phân giải (các chất hữu cơ ngoàimùn có cấu tạo đơn giản: protit, gluxit, lipit, linhin, tanin, sáp, nhựa, este, rượu, axithữu cơ, anđehit… và (2) các chất hữu cơ mùn có cấu tạo phức tạp
Trang 17Hình 1 1 Tỷ lệ giữa các hợp phần của chất hữu cơ trong đất (nguồn: [43])
Như vậy, SOM có thể chia thành sinh khối của vi sinh vật đất, tàn tích thực độngvật ở giai đoạn phân huỷ khác nhau, chất hữu cơ hoà tan và mùn (chất hữu cơ phânhuỷ triệt để và có tính ổn định cao) Chú ý, thân và lá rụng trên mặt đất không phải làmột phần của SOM
Các bon trong đất tồn tại ở 2 dạng: vô cơ và hữu cơ Ngoài đất tích vôi, các bontrong đất tồn tại chủ yếu ở dạng hữu cơ, hay còn gọi là SOC [64] Các bon là một hợpphần của SOM Thông thường chất hữu cơ trong đất chứa khoảng 58% lượng các bonhữu cơ Hệ số Van Bemmelen (1,724) đã được sử dụng nhiều để thể hiện mối quan hệgiữa SOC va SOM, mặc dù Jain và nnk [47] và Westman và nnk [82] đã khẳng định
hệ số này không phù hợp cho tất cả các loại đất và theo độ sâu tầng đất Như vậy cóthể hiểu SOC là lượng các bon tồn tại trong chất hữu cơ ở trong đất
Hàm lượng SOC được quyết định bởi tỷ lệ giữa lượng các bon hữu cơ đầu vào vàđầu ra Lượng các bon hữu cơ đầu vào gồm phân bón hữu cơ và/hoặc tàn tích sinhvật Lượng các bon đầu ra là do hoạt động phân huỷ của vi sinh vật và quá trình rửatrôi (theo chiều ngang và chiều thẳng đứng của phẫu diện đất) [28]
1.1.2 Chu trình các bon
Chu trình các bon là quá trình chuyển đổi liên tục các hợp chất hữu cơ và vô cơbởi thực vật, sinh vật giữa đất, thực vật và khí quyển [35] Thực vật, nấm, rêu, vikhuẩn tự quang hợp, tảo sử dụng ánh sáng mặt trời để chuyển đổi CO2 từ khí quyển
Trang 18thành hydratcacbon Sau đó, các tàn tích sinh vật trên và trong đất, các chất hữu cơđược giải phóng vào đất khác trong quá trình phát triển của sinh vật sẽ trải qua quátrình phân huỷ chất hữu cơ.Theo Brussaard, quá trình phân huỷ chất hữu cơ là quátrình sinh học phụ thuộc vào yếu tố sinh vật đất, môi trường tự nhiên, và chất lượngchất hữu cơ [29] Trong quá trình phân huỷ, CO2, năng lượng, nước, các chất dinhdưỡng và các hợp chất các bon hữu cơ được giải phóng Quá trình phân huỷ các chấthữu cơ ở giai đoạn tiếp theo hình thành chất mùn (quá trình mùn hoá) Vi sinh vật đất
sử dụng SOM làm thức ăn và phá vỡ các chất hữu cơ này, từ đó các chất dinh dưỡngnhư N, P, S được giải phóng vào trong đất ở dạng thực vật có thể hấp thu được (quátrình khoáng hoá) Các chất thải được tạo ra bởi các vi sinh vật cũng là SOM nhưngkhả năng phân huỷ kém hơn, và chúng có thể được sử dụng bởi các sinh vật kháctrong đất
Theo Phan Tuấn Triều, các bon hữu cơ trong đất biến đổi theo chu trình sinh địahoá gồm nhiều quá trình khác nhau [19] Các bon hữu cơ trong các tàn tích sinh vật bịchuyển hoá dưới tác động trực tiếp của vi sinh vật, động vật, oxy không khí và nướctrong đất thành các hợp chất hoạt tính hơn và dễ hoà tan hơn Sau quá trình chuyểnhoá xảy ra 3 quá trình tiếp theo gồm: (1) quá trình khoáng hoá hoàn toàn một số hợpchất thành một số hợp chất khoáng đơn giản, nước và một số khí, cung cấp dinhdưỡng cho sinh vật; (2) quá trình tổng hợp protit, lipit, gluxit và một số hợp chất mớicủa các vi sinh vật đất, khi chết xác vi sinh vật tiếp tục quay trở lại tàn tích sinh vật;(3) quá trình mùn hoá tạo thành các hợp chất cao phân tử có cấu tạo phức tạp (mùn).Hợp chất mùn trong đất gồm 3 thành phần chính là axit humic, axit fulvic và hợp chấthumin (có khả năng phản ứng với ion kim loại, các oxit, hydroxit, các hợp chất hữu
cơ, khoáng, cả chất ô nhiễm để hình hành các phức chất tan và không tan)
Quá trình khoáng hoá tàn tích sinh vật là quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơthành các hợp chất khoáng đơn giản, nước và một số chất khí Quá trình khoáng hoánày gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các tàn tích sinh vật (protit, gluxit, lipit, linhin, tanin, nhựa) dướitác động của các men do vi sinh vật tiết ra bị thuỷ phân tạo ra sản phẩm có cấu tạođơn giản hơn gồm đường hexoza, pentoza, sacaroza, xenluloza, axit amin mạch vòng
Trang 19và mạch thẳng, amin, các gốc purin và pirimidin, axit uronic, axit béo, glixerin,
polyphenol
- Giai đoạn 2: Dưới tác động của phản ứng oxy hoá khử, các sản phẩm của giaiđoạn 1 tiếp tục biến đổi thành các axit hữu cơ mạch vòng và mạch thẳng, axit vô cơ,axit béo, axit hữu cơ dạng bay hơi, axit không no, andehit, rượu, các sản phẩm oxyhoá khử dạng phenol, quinol
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng các bon hữu cơ trong đất
Li và nnk đã kết luận động học các bon hữu cơ trong đất ở các hệ canh tác đượcđiều chỉnh bởi 2 quá trình: (1) nhận các bon thông qua lượng tàn tích cây trồng, phânbón hữu cơ được sử dụng và (2) mất các bon do phân huỷ SOC và xói mòn đất [54]
a Nhiệt độ
Nhiệt độ được xem như là nhân tố điều chỉnh tốc độ phân huỷ các tàn dư thực vật.Tốc độ phân huỷ ở vùng nhiệt đới nhanh hơn vùng ôn đới [35] Nhiệt độ thích hợpcho hoạt động của vi sinh vật 25° - 30°C, do đó khoáng hoá xảy ra mạnh mẽ Đâycũng là nhiệt độ thích hợp cho quá trình mùn hoá [19] Như vậy điều kiện nhiệt độcủa nước ta rất thích hợp để quá trình khoáng hoá diễn ra mạnh làm cho chất hữu cơ
và mùn trong đất bị phân giải nhanh chóng
b Độ ẩm và mức độ bão hoà nước trong đất
SOM có xu hướng tăng khi lượng mưa trung bình năm tăng [35] Không khí trongđất và độ ẩm đất quyết định hoạt động sinh học trong đất Điều kiện ẩm tối ưu chohoạt động của vi khuẩn trong đất là gần với độ ẩm đồng ruộng, tương đương khoảng60% không gian lỗ hổng trong đất chứa nước [60] Đất bão hoà nước làm giảm khôngkhí trong đất, ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật, đặc biệt là các vi sinh vật hiếukhí
Trang 20Điều kiện thoáng khí, độ ẩm đất thích hợp có ảnh hưởng tích cực đến quá trìnhkhoáng hoá Độ ẩm quá cao gây ra yếm khí, vi sinh vật khó hoạt động Theo PhanTuấn Triều, độ ẩm không khí khoảng 70% là thích hợp cho quá trình khoáng ho á
[19]
Trong điều kiện thường xuyên ngập nước, quá trình mùn hoá được thực hiện dướitác động của vi sinh vật yếm khí Kết quả là các axit hữu cơ và các chất khử như CH4,H2S được hình thành Các chất này kìm hãm sự hoạt động của vi sinh vật làm cho tốc
độ mùn hoá chậm hẳn và than bùn dần được hình thành
c Thành phần cơ giới đất
SOM có xu hướng tăng khi hàm lượng sét trong đất tăng [35] Liên kết giữa bềmặt hạt sét và chất hữu cơ làm giảm quá trình phân huỷ chất hữu cơ Thêm vào đó,đất có hàm lượng sét cao làm tăng khả năng hình thành đoàn lạp đất Theo Rice, cácđại đoàn lạp có tác dụng bảo vệ các phân tử chất hữu cơ trong quá trình khoáng hoáchất hữu cơ bởi các vi khuẩn [74] Prasad và Power đã kết luận, trong cùng điều kiệnkhí hậu, hàm lượng chất hữu cơ trong đất có thành phần có giới mịn (hàm lượng sétcao) sẽ cao hơn 2 đến 4 lần hàm lượng chất hữu cơ trong đất có thành phần cơ giớithô (đất cát - hàm lượng sét thấp) [70]
Khoáng sét kaolinit có diện tích bề mặt, khả năng trao đổi dinh dưỡng thấp hơnnhiều so với hầu hết các khoáng sét khác Do vậy đất kaolinit chứa ít phức sét mùnhơn Khoáng sét kaolinit rất phổ biến ở khu vực đất đồi núi vùng nhiệt đới
Theo Phan Tuấn Triều, quá trình phân giải xác hữu cơ trong đất sét và sét phachậm hơn ở đất cát và cát pha Nghĩa là các chất hữu cơ từ tàn dư sinh vật trong đấtcát và cát pha sẽ bị phân giải nhanh hơn trong đất sét và sét pha Nhưng hàm lượngmùn lại được tích luỹ nhiều hơn trong đất sét và sét pha vì quá trình khoáng hoá trongđất sét, sét pha yếu hơn nhiều, giữ mùn tốt hơn trong phức mùn sét [19]
d Địa hình
Sự tích luỹ chất hữu cơ thường xảy ra ở chân đồi, hay ở nơi thấp trong một cảnhquan nào đó Ở vị trí thấp, độ ẩm đất cao hơn vị trí cao và chất hữu cơ được vậnchuyển đến các điểm thấp trong một khu vực bởi dòng chảy và xói mòn TheoQuideau, hàm lượng SOM ở sườn bắc (ở Bắc bán cầu) thường cao hơn ở sườn nam
Trang 21do nhiệt độ ở sườn bắc thấp hơn và ở Nam bán cầu thì ngược lại [73].
e Độ mặn và độ chua của đất
Độ mặn và độ chua của đất liên quan đến pH đất, ảnh hưởng đến năng suất sinhkhối và lượng chất hữu cơ bổ sung vào đất pH cũng ảnh hưởng đến quá trình hìnhthành mùn trong đất Trong đất có tính axit hoặc bazơ cao không thuận lợi cho vi sinhvật đất phát triển Theo Phan Tuấn Triều, pH 6,5 - 7,5 thích hợp cho sự hoạt động của
Thực vật và năng suất sinh khối
Mức độ tích luỹ chất hữu cơ trong đất phụ thuộc nhiều vào số lượng và chấtlượng chất hữu cơ bổ sung vào đất Tốc độ phân huỷ chất hữu cơ trong đất tuỳ thuộcvào cấu trúc, thành phần hoá học của chất hữu cơ Các chất hữu cơ phân huỷ nhanhgồm đường, tinh bột, protein (cấu trúc đơn giản, sinh vật có thể tiêu thụ trực tiếp); cácchất hữu cơ phân huỷ chậm gồm xenlulo, chất béo, sáp, nhựa; các chất hữu cơ phânhuỷ rất chậm là linhin
Trong vùng nhiệt đới, các chất hữu cơ có tỷ lệ C:N thấp thuận lợi cho phân huỷ
và làm tăng hàm lượng nitơ trong đất trong thời gian ngắn Các chất hữu cơ có tỷ lệC:N cao (thân cây ngũ cốc, cỏ) thuận lợi cho quá trình cố định chất dinh dưỡng, tíchluỹ chất hữu cơ và hình thành mùn
1.1.4 Mối quan hệ giữa C hữu cơ và N trong đất
C hữu cơ và N trong đất có quan hệ mật thiết với nhau C và N là vật liệu cơ sởcho xây dựng cấu trúc và sự chuyển hoá của các dạng sống trên trái đất Khi thực vậtphát triển thông qua đồng hoá CO2, chúng cần có N để hình thành các axit amin vàcác hợp chất quan trọng khác Khi các mô thực vật chết được kết hợp với đất, cácsinh vật phân huỷ tách C và N thành CO2 và N vô cơ
Nitơ trong đất tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, ở dạng ion (NH4+, NO3-…) vàtrong SOM (dạng protein, axit amin) Các axit amin trong đất được phân giải thànhNH3 hoặc NH4+ nhờ vi khuẩn amon hoá axit amin Các protein được phân giải nhờquá trình amon hoá protein thành axit amin, một phần axit amin được các vi sinh vật
sử dụng để tổng hợp protein của chúng, một phần được phân giải thành NH3, CO2 vànhiều sản phẩm trung gian khác NO3- có thể bị khử thành N phân tử thông qua quá
Trang 22trình khử nitrat Ngoài ra, hàm lượng N trong đất còn ảnh hưởng đến năng suất câytrồng và điều này ảnh hưởng đến lượng chất hữu cơ bổ sung vào trong đất.
Trong đất, tỷ lệ C:N có ảnh hưởng quan trọng đối với nhóm vi sinh vật phân huỷprotein Nếu như tỷ lệ C:N quá cao, trong khi đó trong đất quá ít đạm thì vi sinh vật sẽtranh chấp thức ăn đạm với cây trồng, chúng phân huỷ được bao nhiêu là hấp thụ hếtvào tế bào Khi tỷ lệ C:N quá thấp, lượng đạm dư thừa thì quá trình phân huỷ chấthữu cơ sẽ chậm lại, dẫn đến cây trồng không có đạm khoáng để hấp thụ
Li và nnk đã kết luận sự suy giảm SOC ở các hệ canh tác ảnh hưởng đến chu trìnhnitơ trong đất, lượng SOC và lượng phụ phẩm nông nghiệp để lại đồng ruộng thấplàm giảm quá trình khoáng hoá nitơ [55] Nếu tăng lượng phụ phẩm nông nghiệp đểlại đồng ruộng (được đưa vào trong đất) từ 15% lên 90% thì tỷ lệ khoáng hoá nitơtăng khoảng 10 - 25% (phụ thuộc vào khí hậu, đất, cây trồng) trong năm tiếp theo
[54]
1.1.5 Các biện pháp nâng cao hàm lƣợng các bon hữu cơ trong đất
Để chỉ ra các biện pháp nâng cao hàm lượng SOC trước tiên cần tìm hiểu các hoạtđộng và các biện pháp sử dụng đất làm giảm hàm lượng SOC FAO đã chỉ ra 3 nhómyếu tố làm giảm SOC: (1) giảm năng suất sinh khối, (2) giảm nguồn cung cấp các bonhữu cơ, (3) làm tăng tốc dộ phân huỷ SOC [35]
(1) Giảm năng suất sinh khối biểu hiện rất rõ khi chuyển đổi, thay thế thảm thựcvật tự nhiên (hỗn hợp gồm nhiều tầng tán) bằng HCT đơn canh hoặc đồng cỏ Quátrình chuyển đổi làm mất lớp vật liệu rơi rụng ở thảm thực vật tự nhiên, làm giảm sự
đa dạng khu hệ động vật đất Dịch rễ tiết ra ở HCT đơn canh chỉ hấp dẫn được ít loài
vi khuẩn, nhiều loại bệnh ở rễ cây có nhiều cơ hội để phát triển
(2) Giảm nguồn cung cấp các bon hữu cơ
Giảm nguồn cung cấp các bon hữu cơ cho đất có thể do đốt thảm thực vật tựnhiên hoặc phụ phẩm cây trồng Hoạt động đốt phụ phẩm cây trồng có thể làm giảmnguy cơ dịch bệnh và thuận lợi cho hoạt động làm đất, trồng trọt ở vụ tiếp sau Tuynhiên hoạt động này cũng làm mất lớp vật liệu rơi rụng bề mặt đất và loại bỏ mộtlượng đáng kể chất hữu cơ bổ sung vào đất Các sinh vật sinh sống ở lớp vật liệu rơirụng bề mặt và ở mặt đất cũng bị loại bỏ
Trang 23Hoạt động chăn thả quá mức và đưa các phụ phẩm nông nghiệp ra khỏi đồngruộng sau thu hoạch cũng làm giảm nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất Do tập quáncanh tác nên người nông dân, đặc biệt ở các nước đang phát triển thường tận thu cácphụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch phục vụ nhu cầu năng lượng hoặc chăn nuôi.(3) Các hoạt động làm gia tăng mức độ phân huỷ SOC
- Cày bừa là một trong hoạt động chính làm giảm lượng SOC Khi đất được càybừa, các phụ phẩm cây trồng được vùi kết hợp trong đất, cùng với không khí và nhiều
vi sinh vật tiếp xúc với các phụ phẩm này Hệ quả là quá trình phân huỷ các bon hữu
cơ nhanh hơn, hình thành các chất mùn kém ổn định và quá trình giải phóng CO2 vàokhí quyển cũng tăng lên Kết quả là lượng SOC giảm Ngược lại, các phụ phẩm câytrồng trên mặt đất (trường hợp không cày bừa) hạn chế tiếp xúc với vi sinh vật đất,quá trình phân huỷ sẽ chậm hơn, hình thành các chất mùn ổn định hơn, lượng CO2giải phóng vào khí quyển cũng giảm
- Mức độ thoát nước, quá trình phân huỷ các bon hữu cơ sẽ chậm hơn ở đấtthoáng khí và ngược lại Do đó, chất hữu cơ tính luỹ nhiều trong môi trường ẩm ướt.Khả năng thoát nước của đất bị ảnh hưởng mạnh do địa hình Vùng đất thấp thường
ẩm hơn vùng đất cao
- Bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: sử dụng phân bón và thuốc bảo vệthực vật giúp nâng cao năng suất cây trồng Mặc dù vậy, việc sử dụng phân bón, đặcbiệt phân đạm và thuốc trừ sâu có thể làm tăng hoạt động của vi sinh vật đất, làm quátrình phân huỷ SOC tăng Phân đạm bón cho cây trồng có thể được vi sinh vật đất sửdụng dễ dàng, đặc biệt trong đất có tỷ lệ C:N cao Nhóm vi sinh vật phân huỷ protein
sẽ tranh chấp thức ăn đạm đối với cây trồng trong đất có tỷ lệ C:N cao vì chúng phânhuỷ được bao nhiêu là hấp thụ hết vào tế bào
Milne đã đưa ra một số phương thức canh tác duy trì và nâng cao hàm lượng SOC như trong Bảng 1.1 [64]
Nâng cao năng suất cây trồng: để nâng cao năng suất cây trồng, trước tiên cần
phải cải thiện hệ thống thuỷ lợi, đảm bảo nguồn nước cho canh tác Từ đó năng suấtcây trồng được cải thiện, phụ phẩm nông nghiệp, rễ cây trồng, môi trường hoạt độngcủa sinh vật đất được cải thiện Sử dụng phân bón hợp lý để tăng năng suất cây trồng,
Trang 24đặc biệt ở các HCT trên các loại đất bạc màu, hàm lượng dinh dưỡng thấp [17].
Bảng 1.1 Một số phương thức canh tác duy trì và nâng cao hàm lượng các bon hữu cơ
trong đất
Giảm cày bừa hoặc không cày bừa Sử dụng phân bón hữu cơ, phân ủ (compost)
Sử dụng cây trồng tạo bóng Sử dụng cây trồng tạo bóng
Phương pháp giảm xói mòn (sử dụng lớp Để lại nhiểu phụ phẩm nông nghiệp tại đồngphủ bề mặt, canh tác theo đường bình độ) ruộng
Giảm thời gian để đất trống Nâng cao năng suất cây trồng
Giảm đốt các phụ phẩm nông nghiệp
Nguồn [64]
Cây trồng tạo bóng, giúp ngăn chặn xói mòn, rửa trôi, làm giảm tác động trực
tiếp của hạt mưa vào đất Cây trồng tạo bóng bổ sung chất hữu cơ vào đất, cung cấpnơi ở cho các loài cồn trùng và sinh vật có ích Một số cây trồng tạo bóng họ đ ậu còn
bổ sung lượng đạm cho đất thông qua các vi khuẩn cố định đạm
Giảm thời gian để đất trống, thực hiện luân canh hợp lý, đặc biệt kết hợp luân
chuyển cây trồng với cây trồng họ Đậu để tận dụng nguồn đạm mà cây trồng họ Đậumang lại, giảm sử dụng phân đạm vô cơ Hoạt động luân canh làm giảm thời gian đểđất trống, làm giảm tốc độ phân huỷ SOM, quá trình khoáng hoá SOC [34]
Giảm cày bừa hoặc không cày bừa, nhằm mục đích giảm sự xáo trộn sinh vật
đất, nơi sinh sống và cung cấp thức ăn cho sinh vật đất để tăng số lượng và khả nănghoạt động của sinh vật đất
Để lại nhiều phụ phẩm nông nghiệp tại đồng ruộng và sử dụng phân bón hữu cơ: sử dụng phân ủ để nâng cao lượng các bon hữu cơ trong đất, cung cấp nguồn
thức ăn cho sinh vật đất đã được nhiều nghiên cứu khuyến cáo Li và nnk đã khẳngđịnh việc quản lý phụ phẩm cây trồng là yếu tố quyết định đến trữ lượng các bon vànitơ của hệ sinh thái nông nghiệp [55] Phụ phẩm cây trồng để lại đồng ruộng vừa lànguồn bổ sung trực tiếp các bon và nitơ cho đất, vừa là nguồn nitơ vô cơ gián tiếpthông qua quá trình khoáng hoá Lal đã khẳng định việc kết hợp phụ phẩm cây trồng
để lại đồng ruộng vào trong đất là một trong các biện pháp hiệu quả nhất để ngănchặn đà suy giảm SOM [51] Trong nghiên cứu “Nâng cao lượng các bon bằng cáchkết hợp phụ phẩm cây trồng trong các vùng đất canh tác ở Trung Quốc”, Li đã kết
Trang 25luận phụ phẩm cây trồng và phân hữu cơ là các nguồn các bon đầu vào duy nhất chođất nông nghiệp, do vậy việc quản lý các phụ phẩm nông nghiệp hoặc phân bón hữu
cơ đã ảnh hưởng đến động học SOC trong vùng [58]
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất, biện pháp quản lý tốt nhất để nâng cao lượngSOC là tăng lượng các bon hữu cơ bổ sung vào đất và/hoặc giảm mức độ phân huỷSOM, [50], [51], [64], [67]
1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT
1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
a Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất đến lượng SOC
Nghiên cứu ảnh hưởng của thay đổi (không gian và thời gian) sử dụng đất đếnlượng SOC đã được thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới như Lal [50],[51], Guo và Gifford [39], Fisseha và nnk [36], Ciric và nnk [32], Lei và nnk [52],
Drewniak và nnk [33] Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ xem xét chuyển đổi sửdụng đất từ đất rừng, đất trồng cỏ thành đất nông nghiệp hoặc ngược lại Ví dụ, trongnghiên cứu của Lal, biến động sử dụng đất được xem xét gồm phá rừng, đốt cây (rừng
và nông nghiệp), chuyển đổi hệ sinh thái rừng thành nông nghiệp, cải tạo khả năngthoát nước của vùng đất ngập nước và hoạt động canh tác
Drewniak và nnk đã nghiên cứu tác động của phương thức quản lý gồm sử dụngphân bón, tỷ lệ phụ phẩm cây trồng để lại đồng ruộng đối với lượng SOC trong đấtcanh tác ở Mỹ trong khoảng thời gian gần 170 năm Kết quả đã chỉ ra lượng SOC của
Mỹ bị giảm khoảng 10% do hoạt động canh tác so với đất trồng cỏ Các tác giả cũngcho rằng việc quản lý phụ phẩm cây trồng có ảnh hưởng lớn đến lượng SOC Lượngphụ phẩm cây trồng để lại đồng ruộng ở mức trung bình và thấp đã làm cho lượngSOC tại vị trí canh tác ở Mỹ giảm khoảng 3,5 - 5% so với vị trí trồng cỏ, lượng phụphẩm cây trồng để lại đồng ruộng ở mức cao đã làm cho lượng SOC tại vị trí canh tác
ở Mỹ tăng 2% Nghiên cứu cũng chỉ ra, phân đạm cũng có tác động tới lượng SOC.Với lượng phụ phẩm cây trồng để lại đồng ruộng hiện tại của Mỹ, nếu không bónphân đạm sẽ làm cho lượng SOC giảm 5% [33]
Guo và Gifford đã dựa trên 74 kết quả nghiên cứu đã công bố để đánh giá ảnh
Trang 26hưởng của thay đổi sử dụng đất đối với lượng SOC Các tác giả đã chỉ ra lượng SOCgiảm khoảng 10% khi chuyển đổi từ trồng cỏ thành rừng trồng, giảm khoảng 13% khichuyển đổi từ rừng tự nhiên thành rừng trồng, giảm 42% khi chuyển từ rừng tự nhiênthành cây trồng, giảm 59% khi chuyển từ trồng cỏ thành cây trồng Ngược lại lượngSOC tăng khoảng 8% khi chuyển từ rừng tự nhiên thành trồng cỏ, tăng 19% khichuyển từ cây trồng thành trồng cỏ, tăng 18% khi chuyển từ cây trồng thành rừngtrồng và tăng 53% khi chuyển từ cây trồng thành rừng tái sinh [39].
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ sử dụng đất khác nhau (đất canh tác,đất trồng cỏ, đất rừng) và loại đất khác nhau ở vùng bán khô hạn, Ciric và nnk đã chỉ
ra loại đất là yếu tố chính ảnh hưởng đến lượng SOC Các tác giả đã sắp xếp các loạiđất theo mức độ giảm hàm lượng SOC như sau: đất nứt nẻ (Vertisols) có lượng SOC
là 93 tấn/ha, đất đen (Chernozems) 68 tấn/ha, đất kiềm mặn (Solonetz) 65 tấn/ha, đấtphù sa (Fluvisols) 48 tấn/ha Hơn nữa, các tác giả cũng khẳng định việc chuyển đổi hệsinh thái rừng và đồng cỏ (hệ sinh thái tự nhiên) thành hệ sinh thái nông nghiệp làmcho lượng SOC giảm mạnh, mức độ giảm tuỳ thuộc vào từng loại đất Chuyển đổi từ
hệ sinh thái tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp trên đất đen làm cho lượng SOCgiảm 16 - 18%, trên đất nứt nẻ giảm 15 - 17%, đất phù sa giảm 13 - 22% và trên đấtkiểm mặn giảm 1 - 3% [32]
Lei và nnk đã tổng hợp 135 công trình công bố gần đây về sự chuyển đổi đấtcanh tác thành đất trồng cỏ, cây bụi hoặc đất lâm nghiệp ở Trung Quốc và ảnh hưởngcủa sự chuyển đổi đến lượng SOC Kết quả đã chỉ ra sự chuyển đổi đã tạo ra sự thayđổi tích cực về lượng SOC Lượng SOC giảm trong 5 năm đầu sau chuyển đổi, sau đótăng dần theo sự phục hồi và phát triển của thảm thực vật Tốc độ thay đổi lượng SOC
ở bề mặt (0 - 20cm) nhanh hơn ở dưới bề mặt (20 - 100cm) [52]
b Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp đến lượng SOC
Nghiên cứu ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt là ảnhhưởng của phương thức canh tác đến lượng SOC đã được thực hiện từ khá sớm Cácnghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của phương thức canh tác đến lượng SOC ở các
hệ sinh thái nông nghiệp đã được các nhà khoa học trên thế giới triển khai từ nhữngnăm đầu của thế kỷ 20 như trạm nghiên cứu ở Rothamsted (Anh), Urbana, Illinois
Trang 27(Mỹ) Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở trạm nghiên cứu ở Rothamsted,năm 1991, Jenkinson đã chỉ ra, lượng SOC tăng lên gấp 3 lần ở ô bón phân hữu cơtrong thời gian 140 năm [48] Odell và nnk đã cho rằng luân canh và bón phân hợp lýlàm tăng năng suất cây trồng, duy trì hàm lượng SOC ở mức cao [68] Kết luận dựatrên kết quả thực nghiệm 70 năm ở HCT ngô tại Urbana, Illinois.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác của các nhà khoa học trên thế giới đã chỉ rarằng lượng SOC có thể tăng thông qua thay đổi phương thức canh tác như giảm mức
độ cày bừa, sử dụng cây trồng tạo bóng, bón phân hữu cơ, tăng lượng phụ phẩm câytrồng để lại đồng ruộng như Lal [50], [51], Li và nnk [55], Milne [64]
Ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp đến SOC cũng được nhiều nhàkhoa học quan tâm, nghiên cứu như Cai [30], Qiu và nnk [71], Tang và nnk [80], Shi
và nnk [75], Zhang và nnk [88], Xu và nnk [84] Các nghiên cứu đã đánh giá sự thayđổi lượng SOC theo không gian, thời gian ở các vùng đất canh tác của Trung Quốc.Cai xem xét ảnh hưởng của sử dụng đất đến giá trị SOC trung bình dựa trên kết quảđiều tra, phân tích mẫu đất lần 2 của Trung Quốc Ông đã nhận thấy giá trị SOC tr ungbình ở đất trồng lúa nước bằng 1/2 giá trị này ở thảm thực vật tự nhiên Giá trị SOCtrung bình ở đất trồng lúa nương bằng 1/2 giá trị SOC ở đất trồng lúa nước [30] Su
và nnk dựa trên kết quả điều tra, phân tích mẫu đất ở vùng Dongguan, phía namTrung Quốc đã kết luận phương thức quản lý có tác động to lớn đến hàm lượng SOC,đặc biệt là lớp đất bề mặt [78]
Liu và nnk đã kết luận biện pháp cày bừa ảnh hưởng chủ yếu đến sự phân bố cácbon, nitơ trong đất và tốc độ phân huỷ SOM và quá trình khoáng hoá nitơ Bên cạnh
đó, việc luân canh hợp lý có thể làm tăng và duy trì chất lượng, số lượng SOM, cảithiện tính chất hoá, lý đất Việc bón phân vô cơ, phân ủ hợp lý và đầy đủ có thể làmtăng dinh dưỡng đất, hàm lượng SOC Các tác giả cũng khẳng định nếu chỉ sử dụngphân hữu cơ (phân chuồng, phân ủ) hoặc chỉ sử dụng phụ phẩm cây trồng để lại đồngruộng thì sẽ không đủ để duy trì SOC Lượng SOC được duy trì tốt nhất khi luâncanh, kết hợp với giảm mức độ cày bừa, bổ sung phân vô cơ và hữu cơ hợp lý [61],[62]
Trang 281.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng củaphương thức canh tác đến năng suất cây trồng hoặc/và dinh dưỡng trong đất ở quy môđiểm (sites) [14], [16], [18], [21] Các kết quả nghiên cứu được đúc rút từ các nghiêncứu, đo đạc thực nghiệm ngoài thực địa Trong công trình “Nghiên cứu các biện phápbảo vệ đất, chống xói mòn cho cà phê và một số cây ngắn ngày trên đất dốc vùng TâyNguyên”, Lương Đức Loan và nnk đã đưa ra kết luận về ảnh hưởng của các biện phápcanh tác đến tích chất hoá học đất ở hệ canh tác cà phê trên đất bazan Kết quả phântích mẫu đất trước và sau 6 năm thí nghiệm (1992 - 1996) cho thấy ở các ô trồng càphê không bảo vệ, hàm lượng SOM giảm 0,4%, ở các ô trồng cà phê áp dụng các biệnpháp bảo vệ như cà phê trồng xen ngô, lạc, hàm lượng SOM tăng 0,41% (tầng đất 0 -20cm) [14] Năm 1998, Trần Đức Toàn và nnk đã chỉ ra, ở các ô trồng sắn xen đỗ đentrên đất đồi thoái hoá ở Tam Đảo, hàm lượng SOC đều tăng (0,21 - 0,4%), trong khi
đó ở các ô trồng sắn thuần của người nông dân, hàm lượng SOM giảm 0,09% trongthời gian 6 năm (1992 - 1996) Ở các ô thí nghiệm trên, lượng phân chuồng bón là 4 -
8 tấn/ha, lượng phân đạm bón là 15 - 60 kg N/ha [18] Trong đánh giá hiệu quả củamột số biện pháp canh tác, bón phân đến bảo vệ đất và năng suất cây trồng trên đấtđồi thoái hoá, Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên đã kết luận phân bón có hiệu lực vàhiệu quả kinh tế cao trên đất đồi (hàm lượng SOC thấp) Các tác giả khẳng định cácloại phân bón hữu cơ và vô cơ không thể thay thế hoàn toàn cho nhau, trên nền hữu
cơ được cải thiện cần sử dụng một lượng phân khoáng hợp lý Phân bón hữu cơ cóảnh hưởng quan trọng đến chất hữu cơ và đạm trong đất [16] Các tác giả khẳng địnhquá trình canh tác làm cho chất hữu cơ chuyển biến theo hướng bị giảm dần dokhoáng hoá và xói mòn rửa trôi hoặc theo hướng cải thiện, duy trì và nâng cao hàmlượng chất hữu cơ trong đất Các tác giả cũng kết luận: phân hữu cơ có tác dụng duytrì và nâng cao độ phì nhiêu đất thông qua tăng C, N tổng số, P, K dễ tiêu, giảm nhẹ
độ chặt của đất; bón phối hợp NPK với phân chuồng hoặc với vôi trên đất phiến thạchđều tăng chất hữu cơ, đạm tổng số, độ dễ tiêu của lân và kali trong đất; phân hữu cơtăng năng suất cây trồng đáng kể ở cơ cấu lạc xen sắn Trong nghiên cứu “Ảnh hưởngcủa sử dụng phụ phẩm nông nghiệp đến lý, hoá tính đất và năng suất lúa,
Trang 29ngô trên đất phù sa sông Hồng và đất xám bạc màu”, Hoàng Ngọc Thuận đã kết luậnviệc vùi phụ phẩm nông nghiệp liên tục gồm rơm, rạ, thân, lá ngô, trên đất phù sasông Hồng và đất bạc màu Bắc Giang, trên hệ canh tác lúa - lúa - ngô đã làm SOCtăng Nghiên cứu cũng đưa ra sự gia tăng của các yếu tố dinh dưỡng đất khác như N,P2O5, K2O… , và việc vùi phụ phẩm, bón NPK và phân chuồng có thể giảm lượngphân khoáng 20% mà vẫn đạt năng suất lúa, ngô cao so với chỉ bón NPK [17].
Ngoài các nghiên cứu theo hướng trên, một số nghiên cứu khác tập trung vào ảnhhưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp (theo không gian) đến lượng các bontrong đất Đáng lưu ý nhất là công trình của Phạm Quang Hà, tác giả nghiên cứu khá
kỹ mối quan hệ giữa thay đổi đất nông nghiệp và hàm lượng các bon trong đất ở mộtdiện tích giới hạn Trong công trình “Các bon trong các loại đất của Việt Nam và cáckinh nghiệm cải tạo lượng các bon trong đất” được công bố năm 2010, Phạm Quang
Hà đã xác định hàm lượng các bon trong đất phù sa (Fluvisols) ở Việt Nam của 6 hệcanh tác cây trồng hàng năm gồm: dâu tằm, rau - ngô - đậu, lúa - rau hoặc ngô hoặcđậu, lúa - lúa, lúa - lúa - rau hoặc ngô hoặc đậu, lúa - lúa - lúa bằng phương pháp thuthập mẫu đất và phân tích trong phòng thí nghiệm Kết quả chỉ ra rằng hàm lượng cácbon trong đất phù sa lớn nhất của Việt Nam là ở hệ canh tác lúa - lúa (2,09%), thấpnhất ở hệ canh tác rau - ngô - đậu (0,76%) Điều này đã cho thấy ảnh hưởng của hệcanh tác đến hàm lượng các bon trong đất phù sa Cũng trong nghiên cứu này PhạmQuang Hà đã dựa vào 1271 mẫu đất được thu thập từ 6 nhóm đất chính của Việt Namgồm đất phù sa (Fluvisols), đất xám (Acrisols), đất đỏ vàng (Ferrasols), đất cát(Arenosols), đất phèn (Thionic Fluvisols), đất mặn (Salic Fluvisols) được sử dụng chocanh tác nông nghiệp để xác định hàm lượng các bon trung bình trong 6 nhóm đấttrên Kết quả là nhóm đất phèn có hàm lượng các bon lớn nhất (trung bình là 3,8%) vàđất cát có hàm lượng các bon thấp nhất (0,68%) [40] Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa
ra được khối lượng cụ thể về lượng các bon trong đất (bao nhiêu tấn) của các nhómđất chính trong các hệ canh tác cho toàn vùng nghiên cứu Tác giả mới chỉ đưa ranhững so sánh về hàm lượng các bon giữa nhóm đất trên
Như vậy, ở quy mô vùng với sự không đồng nhất về không gian về đất đai, khíhậu, cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác cần phải được quan tâm khi nghiên
Trang 30cứu cũng như tính toán lượng các bon trong đất Để giải quyết được vấn đề này nhiềutác giả trên thế giới đã áp dụng các mô hình để tính toán và dự báo lượng các bontrong đất để giảm chi phí về công sức, thời gian, tiền khi triển khai các thí nghiệmnông nghiệp ngoài đồng ruộng theo các phương thức canh tác khác nhau ở quy môlớn Một trong những mô hình được áp dụng khá phổ biến và đã được kiểm chứngbởi nhiều nhà khoa học là mô hình DNDC (Denitrification - Decomposition) (khửnitrat - phân huỷ).
1.3 NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN LƯỢNG CÁC BON HỮU CƠ TRONG ĐẤT BẰNG PHƯƠNG PHÁP MÔ HÌNH
1.3.1 Các mô hình tính toán, mô phỏng lƣợng các bon hữu cơ trong đất
Hiện nay có nhiều mô hình tính toán, mô phỏng SOC ở các hệ sinh thái cạn Theonhư thống kê của Smith và nnk năm 1997, một số mô hình tính toán, mô phỏng lượngSOC ở các hệ sinh thái cạn tiêu biểu gồm CANDY, CENTURY, DAISY, DNDC,NCSOIL, RothC, SOMM, ITE, Verberne [76] Những năm 2000, mô hình DSSATđược hoàn thiện và tham gia vào hệ thống các mô mình tính toán, mô phỏng lượngSOC ở các hệ sinh thái cạn Tuy nhiên, mô hình DSSAT cũng sử dụng mô hìnhCENTURY như là một mô đun trong mô hình Như vậy, hiệu quả sử dụng của môhình DSSAT tính toán, mô phỏng lượng SOC tương tự như mô hình CENTURY
Mô hình CANDY (Carbon and Nitrogen Dynamics - động học nitơ và các bon),CANDY là mô hình động học C và N trong đất, bao gồm một hệ thống các mô đun và
hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL) các thông số mô hình, các giá trị đo đạc, các giá trịban đầu, dữ liệu về thời tiết và quản lý đất đai [37] Mô hình CANDY thường được ápdụng cho các hệ sinh thái cạn
Mô hình CENTURY tính toán, mô phỏng động học SOM, sự phát triển của thựcvật, chu trình N, P và S ở các hệ sinh thái cạn (đồng cỏ, nông nghiệp, rừng, savan)
[69]
Mô hình DAISY cho phép tính toán, mô phỏng sản lượng cây trồng, động họcnước và nitơ trong đất ở các hệ sinh thái nông nghiệp [41] Mô hình này áp dụng phùhợp cho hệ sinh thái nông nghiệp và đồng cỏ
Trang 31Mô hình DNDC tính toán, mô phỏng sự phát thải khí nhà kính từ các hệ sinh tháinông nghiệp như CO2, CH4, N2O, N2, và SOC [45] Mô hình DNDC phù hợp cho tínhtoán SOC ở các hệ sinh thái nông nghiệp và đồng cỏ Mô hình DNDC là mô hình sinhđịa hóa trong đất Cấu trúc của mô hình gồm 2 hợp phần: (1) hợp phần phụ gồm môhình khí hậu, đất, cây trồng và mô hình phân huỷ; (2) hợp phần phụ gồm mô hìnhnitirat hoá, khử nitirat và mô hình oxy hoá khử Hợp phần thứ nhất được sử dụng đểước lượng nhiệt độ, độ ẩm, thế oxy hoá khử của đất và biến trình của các yếu tố trongphẫu diện đất, trong đó có lượng C Các thông số này chịu sự tác động của đặc trưngkhí hậu, đất, cây trồng và hoạt động của con người Hợp phần thứ hai giúp ước lượng
sự phát thải các khí CO2, CH4, NH3, NO, N2O, N2 từ các hệ canh tác nông nghiệp.Mối quan hệ giữa các chu trình sinh địa hoá của C, N và các yếu tố sinh thái đã được
mô hình hoá trong mô hình DNDC
Mô hình ITE là sự kết hợp của mô hình Hurley Pasture và Forest của Viện Sinhthái cạn - Edinburgh Mô hình Hurley Pasture và Forest cùng chung mô hình phụ đất,ngoài ra còn có các mô hình phụ tiêu thụ của động vật chăn thả, mô hình phụ sự pháttriển của thực vật và mô hình phụ SOM Mô hình ITE giúp tính toán, mô phỏng cácdòng C và N trong các hệ sinh thái đồng cỏ và rừng [76]
Mô hình NCSOIL là mô hình động học C và N trong đất cho phép tính toán, môphỏng N và C thông qua sinh vật đất các hợp phần hữu cơ [66] Mô hình CNSOILphù hợp cho tất cả các hệ sinh thái cạn
Mô hình ROTHC (Rothamsted Các bon), ban đầu được xây dựng để tính toán,
mô phỏng động thái SOC trong tầng đất bề mặt ở hệ sinh thái nông nghiệp từ trạmnghiên cứu thực nghiệm Rothamsted, Anh Sau này, mô hình này được kiểm chứng và
áp dụng ở một số loại đất ở điều kiện khí hậu Trung và Tây Âu [38]
Mô hình SOMM, được áp dụng để tính toán, mô phỏng SOM ở các hệ sinh tháirừng Mô hình gồm 3 hợp phần: vật liệu rơi rụng chưa phân huỷ, vật liệu rơi rụng đãphân huỷ một phần, mùn và các quá trình khoáng hoá, mùn hoá chịu ảnh hưởng củahàm lượng N, C trong vật liệu rơi rụng, điều kiện nhiệt, ẩm đất, tỷ số C/N đất [31]
Mô hình Verberne mô phỏng cân bằng N và nước trong hệ sinh thái đồng cỏ đểtính toán năng suất, lượng N được hấp thụ, lượng N bị rửa trôi, lượng N khoáng hoá
Trang 32và lượng N hữu cơ tích luỹ trong đất [49].
Các mô hình trên đã được kiểm chứng và áp dụng để tính toán SOC bởi nhiềunhà khoa học trên thế giới, tuy nhiên các công trình nghiên cứu so sánh độ chính xác,hiệu quả của các mô hình đối với việc tính toán SOC ở các hệ sinh thái cạn khôngnhiều Công trình điển hình nhất là “So sánh hiệu suất của 9 mô hình SOM sử dụngtập dữ liệu từ 7 trạm nghiên cứu dài hạn” của Smith và nnk [76] Trong công trìnhnày, Smith và nnk đã đưa ra các kết luận quan trọng sau:
Mô hình CANDY, CENTURY, RothC không thể hiện xu hướng so với kết quả đođạc Kết quả tính toán SOC của mô hình DNDC có xu hướng lớn hơn giá trị đo đạcnhưng không đáng kể, trong khi đó kết quả của mô hình DAISY, SOMM và Verberne
có xu hướng nhỏ hơn giá trị đo đạc nhưng không lớn Kết quả của mô hình NCSOILthấp hơn giá trị đo đạc, mô hình ITE cao hơn giá trị đo đạc Dựa vào giá trị sai sốbình phương trung bình, Smith và nnk đã chia 9 mô hình trên thành 2 nhóm:
(1) các mô hình có kết quả ước lượng SOC chính xác hơn gồm CANDY, CENTURY,NCSOIL, DNDC, DAISY và RothC; (2) các mô hình có kết quả ước lượng kém chính xácgồm: Verberne, ITE và SOMM Các tác giả cũng đưa ra lý do dẫn đến kết quả trên chính làmức độ hiệu chỉnh mô hình ở các vị trí nghiên cứu, nghĩa là mức độ cho phép hiệu chỉnh củamỗi mô hình có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả tính toán
Như vậy, mô hình DNDC là một trong các mô hình phù hợp cho tính toán, môphỏng lượng SOC trong các hệ sinh thái nông nghiệp, tuy nhiên khi áp dụng cho mỗiđối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu cần thiết phải kiểm chứng lại khả năng
áp dụng của mô hình dựa trên các thông số hiệu chỉnh từ chính đối tượng và địa bànnghiên cứu đó Hơn nữa, các tổng kết ở phần tiếp theo về các nghiên cứu ứng dụng
mô hình DNDC đánh giá ảnh hưởng thay đối sử dụng đất nông nghiệp đến SOC cũng
bổ sung cơ sở khoa học lựa chọn mô hình DNDC để thực hiện luận án
Kiểm nghiệm mô hình DNDC để tính toán hàm lượng các bon trong đất đầu tiênđược thực hiện bởi Li và nnk, năm 1994 ở Mỹ [54] Tiếp sau đó nhiều nhà khoa họckhác đã áp dụng và kiểm chứng mô hình này như Smith và nnk [76], Qiu và nnk [71],[72], Yunhui và nnk [86], Ligang và nkk [59], Syeda [79]
Cho đến nay, việc áp dụng các mô hình DNDC ước lượng hàm lượng SOC ở
Trang 33nước ta chưa được áp dụng Một số nghiên cứu ứng dụng mô hình DNDC để đánh giá
sự phát thải khí nhà kính từ các hệ sinh thái nông nghiệp đã được một số nhà nghiêncứu Việt Nam áp dụng như Mai Văn Trịnh và nnk [20]
1.3.2 Các nghiên cứu ứng dụng mô hình DNDC đánh giá ảnh hưởng của thay đổi
sử dụng đất nông nghiệp đến lượng các bon hữu cơ trong đất
Mô hình DNDC đã được nhiều nhà khoa học sử dụng để nghiên cứu ảnh hưởngcủa thay đổi sử dụng đất nông nghiệp đến SOC như Li và nnk [54], Smith và nnk
[76], Qiu và nnk [71], Liu và nnk [61], Tang và nnk [80], Zhang và nnk [87], Shi vànnk [75], Syeda [79], Zhang và nnk [88], Xu và nnk [84] Các nghiên cứu trên đãđánh giá sự thay đổi lượng SOC theo không gian, thời gian ở các vùng đất canh tác
Li và nnk đã sử dụng phương thức canh tác năm 1990 để đánh giá sự thay đổiSOC ở các vùng đất canh tác của Trung Quốc Các tác giả đã kết luận đất canh tác củaTrung Quốc mất 1,6% lượng SOC (0 - 30cm) năm 1990, trong khi đó đất canh tác của
Mỹ chỉ mất 0,1% năm 1990 Lý do được các tác giả đưa ra là 25% phụ phẩm câytrồng trên mặt đất ở Trung Quốc được để lại đồng ruộng sau thu hoạch, nhưng ở Mỹ
là 90% [55]
Năm 2005, Qiu và nnk đã sử dụng mô hình trên để dự báo lượng các bon trongđất của các vùng đất canh tác nông nghiệp ở phía bắc Trung Quốc và trên phạm vitoàn bộ Trung Quốc Các tác giả đã chỉ ra tổng lượng SOC trong đất nông nghiệp ởcác tỉnh Heilongjiang, Jilin và Liaoning là 1.243,48 × 10 6 tấn (0 - 30cm); với điềukiện canh tác hiện tại, lượng SOC mất hàng năm là 31,22 x 106 tấn/năm [71] Nghiêncứu cũng đưa ra kết luận với các biện pháp như bón phân hữu cơ, để lại nhiều phụphẩm cây trồng tại đồng ruộng sau thu hoạch, giảm cày bừa rất hữu ích cho việc nângcao lượng SOC trong vùng Tang và nnk đã kết luận hàng năm các vùng đất canh táccủa Trung Quốc mất khoảng 78,89 x106 tấn các bon [80] Liu và nnk đã áp dụng môhình DNDC để dự báo hàm lượng các bon trong đất cũng như đánh giá mức độ thayđổi lượng các bon trong đất khi thay đổi sử dụng đất ở tỉnh Quzhou, Trung Quốc Họcũng kết luận mô hình DNDC mang lại kết quả có thể chấp nhận được khi được ápdụng ở quy mô tỉnh [61] Năm 2006, Zhang và nnk đã sử dụng mô hình DNDC đểđánh giá tác động của các phương thức canh tác đến lượng SOC ở các vùng nông trại
Trang 34phía bắc Trung Quốc [87] Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng phương phápnhân tố nhạy cảm nhất (MSF) của Li đưa ra năm 2004 để xác định khoảng biến thiêncủa kết quả ước lượng SOC Tổng lượng SOC (0 - 50cm) ở 3 triệu ha đất nông trạivới 45 hệ canh tác ở Shaanxi năm 2000 đã được xác định bằng mô hình DNDC ở quy
kỷ đầu (vùng đất trồng ngô trước đây đồng cỏ hoặc đất ngập nước) do mức độ hô hấp
di dưỡng của vi khuẩn cao và lượng chất hữu cơ để lại đồng ruộng thấp Lượng SOCtiếp tục giảm với tốc độ trung bình (giai đoạn 1970 - 2010) do mức độ hô hấp dịdưỡng của vi khuẩn trong đất giảm Mức độ hô hấp của vi khuẩn trong đất và lượngchất hữu cơ kết hợp vào đất tiến đến cân bằng sau năm 2010 Với kịch bản 50%,lượng các bon kết hợp ở trong đất lớn hơn lượng CO2 phát thải từ hệ canh tác sau năm
2010 dẫn đến các bon hữu cơ được tích luỹ trong đất Quá trình hô hấp dị dưỡng của
vi khuẩn đất gây ra sự phát thải khí CO2 cũng tăng dần cùng với sự gia tăng hàmlượng SOC Hàm lượng SOC đạt đến mức cân bằng vào khoảng năm 2060 do sự cânbằng giữa lượng SOC kết hợp ở trong đất bằng sự kết hợp phụ phẩm cây trồng để lạiđồng ruộng vào đất và lượng SOC bị mất do hoạt động hô hấp di dưỡng của vi khuẩntrong đất
Sau những nghiên cứu trên, các nghiên cứu áp dụng mô hình DNDC ở quy mô
Trang 35vùng tập trung vào các nghiên cứu chuyên sâu hơn cho đất trồng lúa ở Trung Quốc.
Cụ thể, năm 2010, Shi và nnk đã mô phỏng lượng SOC trên bề mặt đất (0 - 15cm) ởquy mô vùng cho đất trồng lúa nước ở vùng Wixi và Changzhau từ năm 1982 đếnnăm 2000 Kết quả xác định lượng SOC dao động trong khoảng 10,26 to 50,40 tấn/ha,
độ lệch chuẩn 1,6 và 2,5 tấn/ha [75] Họ cũng khẳng định rằng lượng phụ phẩm nôngnghiệp để lại đồng ruộng và phân chuồng sử dụng điều chỉnh lượng SOC Zhang vànnk đã áp dụng mô hình DNDC để tính toán SOC ở vùng đất trồng lúa ở Tai-Lake,Trung Quốc Các tác giả cũng kết luận độ phân giải không gian của dữ liệu đất có ảnhhưởng lớn đến kết quả của mô hình [89] Kết quả sử dụng mô hình DNDC đã chỉ ralượng SOC ở 45 triệu ha đất trồng lúa nước ở Trung Quốc là 2,51x109 tấn năm 1980(22,22 tấn C/ha) và 2,65x109 tấn năm 2008, tốc độ cố định các bon trung bình 5x106tấn/năm [88] Trong nghiên cứu về động học SOC trong HCT lúa ở Trung Quốc, Xu
và nnk đã kết luận 83,3% diện tích đất trồng lúa cố định các bon, 16,1% diện tích đấttrồng lúa mất các bon, 0,6% diện tích đất trồng lúa ở trạng thái cân bằng trong khoảngthời gian 28 năm [84]
Trong nghiên cứu mới nhất về việc áp dụng mô hình DNDC ở quy mô vùng,Zhang và nnk đã kết luận, kết quả ước lượng SOC ở quy mô vùng bị ảnh hưởng rấtlớn bởi đơn vị cơ sở (khoanh vị) và mức độ chi tiết của các số liệu của các khoanh viđất đầu vào [88] Kết luận này cũng đã được một số tác giả đề cập đến trong cácnghiên cứu áp dụng mô hình DNDC ở quy mô vùng như Xu và nnk [85]
Ngoài các nghiên cứu trên một số nghiên cứu ứng dụng mô hình DNDC đã được
áp dụng ở châu Âu Leip và nnk đã xây dựng khung mô hình liên kết giữa mô hìnhkinh tế và mô hình DNDC để dự báo dòng phát thải khí nhà kính, sự thay đổi lượngcác bon và quỹ nitơ trong các HCT nông nghiệp ở châu Âu [53]
Ở các nghiên cứu trên, lượng SOC được tính toán dựa trên đơn vị cơ sở là đơn vịhành chính Kết quả là tổng khối lượng SOC cho đơn vị hành chính đó, không phảicho từng đơn vị canh tác Các nghiên cứu trên chưa chỉ ra được khi một HCT chuyểnđổi thành HCT khác trong một giai đoạn thì lượng SOC sẽ thay đổi thế nào? Nghĩa là
sự tăng giảm diện tích các HCT tác có ảnh hưởng như thế nào đến lượng SOC
Trang 36CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Rà soát các tài liệu, số liệu và dữ liệu liên quan hiện có, điều tra, thu thập bổsung các dữ liệu liên quan đến thông số đất đầu vào (lấy mẫu đất), khí hậu (tại cáctrạm khí tượng) và cây trồng (thời gian gieo trồng, năng suất, phân bón, thủy lợi, biệnpháp làm đất) nhằm kiểm chứng mô hình DNDC và tính toán lượng SOC ở các HCTvùng nghiên cứu
- Xây dựng CSDL (đất: đơn vị đất, pH, hàm lượng sét, hàm lượng các bon ; khíhậu: nhiệt độ ngày, lượng mưa; HCT: thời gian gieo trồng, phân bón, thủy lợi ) phục
vụ việc mô phỏng và tính toán lượng các bon trong đất cho các HCT chính vùngnghiên cứu năm 2000, 2010, 2020
- Xác định lượng các bon trong đất của HCT cây trồng hàng năm 2000, 2010 và một số kịch bản trong tương lai bằng mô hình DNDC
- Đánh giá sự thay đổi theo không gian và thời gian về lượng các bon trong đất của các HCT cây trồng hàng năm tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá một số kịch bản canh tác trong các HCT cây trồng hàng năm trongtương lai và đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển bền vững các hệ sinh tháinông nghiệp này
2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
- Các HCT nông nghiệp vùng ĐBVB tỉnh Quảng Trị;
- Lượng SOC ở các HCT nông nghiệp chính vùng ĐBVB tỉnh Quảng Trị;
- Mối quan hệ giữa thay đổi sử dụng đất với lượng SOC ở các HCT nông nghiệpvùng ĐBVB tỉnh Quảng Trị;
- Mối quan hệ giữa thay đổi phương thức canh tác với lượng SOC ở các HCT nông nghiệp vùng ĐBVB tỉnh Quảng Trị
Phạm vi nghiên cứu:
-Về không gian, luận án tập trung vào khu vực ĐBVB tỉnh Quảng Trị do khu vựcnày là một vùng nông nghiệp quan trọng của tỉnh ĐBVB ở đây gồm vùng cát venbiển và vùng đồng bằng ngập lụt của 3 hệ thống sông chính của Quảng Trị (Bến Hải,
Trang 37Thạch Hãn, Ô Lâu) Lượng SOC được tính ở tầng bề mặt 0 - 30cm, đây là tầng đất ở
đó lượng SOC thay đổi nhanh theo hoạt động canh tác
- Về thời gian
Nghiên cứu tính toán sự thay đổi lượng SOC ở các HCT nông nghiệp vùngĐBVB tỉnh Quảng Trị trong hai giai đoạn 2000 - 2010 và 2010 - 2020
- Về nội dung
Đất nông nghiệp trong nghiên cứu này được hiểu là đất trồng cây hàng năm Theo
hệ thống phân loại sử dụng đất của nước ta hiện nay, đất nông nghiệp gồm đất trồngtrọt, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất lâm nghiệp, đất làm muối, đất đồng cỏ chăn nuôi vàđất nông nghiệp khác Đất trồng trọt gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâunăm Luận án chỉ tập trung chủ yếu vào lượng các bon hữu cơ trong đất ở các HCTcây trồng hàng năm vì các HCT này thay đổi nhanh theo thời gian (do chu kỳ canh tácngắn), và lượng các bon trong đất ở khu vực này chủ yếu là các bon hữu cơ Do đólượng các bon trong đất của các HCT này thay đổi nhanh và ảnh hưởng trực tiếp đếnchất lượng đất và năng suất cây trồng Ảnh hưởng của sử dụng đất nông nghiệp đượcxem xét dưới 3 khía cạnh: (1) ảnh hưởng của thay đổi phương thức canh tác cây trồnghàng năm, (2) ảnh hưởng của thay đổi cây trồng hàng năm theo không gian; (3) ảnhhưởng của thay đổi cây trồng hàng năm theo thời gian Các kết quả nghiên cứu cũngđược trình bày theo 3 khía cạnh này
Trang 382.3 QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ quy trình nghiên cứu ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nông nghiệp đến lượng SOC được thể hiện trong Hình 2.1
Bản đồ HCT 2000 Bản đồ HCT 2010 Bản đồ HCT 2020
GIS: Arcview 3.2;
Arcgis 10.1Thay đổi SDĐ giai đoạn
2000 - 2010, 2010 - 2020
GIS: Arcgis 10.1, Bản đồ cácMapinfo 8.5 đơn vị đấtPhương thức canh tác của
các HCTCác đơn vị tính toán với giá trị SOC đầu vào, hàm lượng sét, pH, dung trọng min và max
Mô hình DNDC đãkiểm chứng
Ảnh hưởng thay đổi sử dụngđất nông nghiệp đến SOC
Bản đồ SOC ở các HCT năm 2000, 2010, 2020
hữu cơ trong đất
Hình 2.1 cho thấy để có được kết quả nghiên cứu cần phải triển khai 3 bước: (1)chuẩn bị các dữ liệu cần thiết cho các đơn vị tính toán SOC ở các HCT; (2) kiểmchứng mô hình DNDC và tính SOC cho mỗi đơn vị tính toán; (3) liên kết kết quả tínhtoán với các đơn vị tính toán trong môi trường GIS và xem xét ảnh hưởng của thayđổi sử dụng đất nông nghiệp đến SOC Các đơn vị tính toán được xác định qua 2 giaiđoạn: (1) xác định biến động sử dựng đất trong giai đoạn 2000 - 2010 và giai đoạn
2010 - 2020; (2) dữ liệu về biến động sử dụng đất được kết hợp với dữ liệu các đơn vị
Trang 39đất, ranh giới huyện để xác định các đơn vị tính toán Trên mỗi đơn vị tính toán giá trịlớn nhất và nhỏ nhất của các thông số đất đầu vào gồm lượng SOC đầu vào, hàmlượng sét, pH đất được xác định dựa trên kết quả phân tích mẫu đất ở các phẫu diệnnăm 2000 Sau khi mô hình được kiểm chứng, với các dữ liệu đầu vào ở các đơn vịtính toán và dữ liệu khí hậu, SOC của mỗi năm sẽ được tính cho mỗi đơn vị tính toántrong giai đoạn 2000 - 2020 Kết quả tính cho mỗi đơn vị tính toán sẽ được liên kếttrở lại trong môi trường GIS để xem xét ảnh hưởng của thay đổi sử dụng đất nôngnghiệp đến SOC Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, các phương pháp sau đây đã được
sử dụng trong luận án:
2.3.2 Nhóm phương pháp liên quan đến mô hình DNDC
2.3.2.1 Phương pháp mô hình hoá
Thực chất việc áp dụng mô hình DNDC để tính toán lượng SOC là phương pháp
mô hình hóa vì các quá trình sinh địa hóa trong đất đã được mô hình hóa trong môhình này thông qua các phương trình thực nghiệm Hai phương trình chính được sửdụng trong mô hình DNDC là phương trình nhiệt động học Nernst và Michaelis-Menten Phương trình Nernst là phương trình nhiệt động học nhằm xác định hiệntrạng thế oxy hoá khử (Eh) của môi trường dựa vào nồng độ chất oxy hoá và chất khửchiếm ưu thế cùng tồn tại trong hệ thống (Pt1)
Eh = E0 + RT/nF x ln([O]/[W]) (Pt1)
Trong đó, Eh là thế oxy hoá khử (v), E0: thế oxy hoá khử chuẩn (v), R: hằng sốkhí, T: nhiệt độ (K), n: số electron trao đổi trong phản ứng oxy hoá khử, F: hằng sốFaraday, [O]: Nồng độ chất oxy hoá (mol/l); [W]: Nồng độ chất khử (mol/l)
Phương trình Michaelis-Menten là phương trình được áp dụng rộng rãi để mô tảđộng học phát triển của vi khuẩn với các chất dinh dưỡng kép trong sinh học (Pt2)
R: tốc độ phản ứng, Rmax: tốc độ phản ứng lớn nhất, DOC: Nồng độ các bon hữu
cơ hoà tan, [O]: Nồng độ chất oxy hoá (mol/l), Ka, Kb: hằng số bán bão hoà cho cácchất nền DOC, chất oxy hoá
2 phương trình trên đều sử dụng nồng độ chất oxy hoá trong các công thức tính,
do đó một hệ thống động học “anaerobic balloon - quả bóng kỵ khí” đã được tạo ra
Trang 40trong mô hình DNDC để tích hợp 2 phương trình trên với nhau “Anaerobic balloon”
là phần thể tích của vi vị trí kỵ khí trong đất hoặc phân bón Kích thức của balloon(quả bóng) thay đổi từ 0 đến 1 0 là điều kiện thoáng khí hoàn toàn, 1 là điều kiện kỵkhí hoàn toàn [58] Dựa vào kích thước của “anaerobic balloon”, các chất nền (nhưDOC, NH4+, NO3- ) sẽ được phân chia vào các phần thoáng khí (vi vị trí ngoàiballoon) hay kỵ khí (vi vị trí trong balloon) Các chất nền được phân chia vào trongphần kỵ khí sẽ tham gia trong các phản ứng khử (denitrification, tạo CH4), các chấtnền được phân chia vào trong phần thoáng khí sẽ tham gia trong các phản ứng oxyhoá (nitrification…) Hàm lượng chất nền trong phần thoáng khí và kỵ khí, tốc độ củacác phản ứng khử, oxy hoá được tính toán dựa trên phương trình Michaelis-Menten.Cùng với các phản ứng oxy hoá khử, các chất nền sẽ tham gia phản ứng dẫn đến thayđổi Eh của môi trường, được tính toán theo phương trình Nernst Do đó, quá trình tínhtoán theo vòng lặp “Xác định Eh - phân phối chất nền - phản ứng oxy hoá khử - tiêutốn chất nền - Xác định lại Eh”, DNDC chỉ ra tiến trình Eh và các phản ứng oxy hoákhử với trung gian là các vi khuẩn để tạo ra CO2, N2O hoặc CH4
Để đảm bảo độ chính xác và hiệu quả sử dụng phương pháp mô hình hoá, cầnthiết phải tìm hiểu các dữ liệu đầu vào của mô hình và các dữ liệu có ảnh hưởng quantrọng đến kết quả của mô hình Ở mô hình DNDC, dữ liệu đầu vào của mô hình gồmnhóm dữ liệu khí hậu, đất, cây trồng và phương thức canh tác Các dữ liệu khí hậuquan trọng nhất gồm dữ liệu nhiệt độ trung bình ngày, lượng mưa ngày Trong nhóm
dữ liệu đất, dữ liệu về loại sử dụng đất, thành phần cơ giới đất, dung trọng đất, pHđất, hàm lượng sét, hàm lượng SOC đầu vào, độ dốc có ảnh hưởng quan trọng đến kếtquả của mô hình Dữ liệu về số lần cày bừa, độ sâu cày bừa, nước tưới, số lần bónphân đạm, phân chuồng, lượng phân đạm, phân chuồng được bón, tỷ lệ C/N của phânchuồng, số lần ngập lụt, độ sâu ngập lụt là các dữ liệu rất quan trọng trong nhóm dữliệu về phương thức canh tác, có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả của mô hình Tỷ
lệ hạt, thân, lá, rễ, gốc cũng như tỷ lệ C/N của các hợp phần thân, lá, rễ, gốc quyếtđịnh đến nguồn C đầu vào của mô hình, đến nguồn thức ăn của vi sinh vật đất Các dữliệu khí hậu, đất, phương thức canh tác ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ, độ ẩm, thếoxy hoá khử của đất và biến trình của các yếu tố trong phẫu diện đất, ảnh hưởng