CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNGDỰA TRÊN QUAN HỆ CÁ –MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MỘT 5 SỐ ĐỐI TƯỢNG CÁ KINH TẾ VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 1.1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU DỰ BÁO
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
_
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC HẢI DƯƠNG VÀ NĂNG SUẤT KHAI THÁC MỘT SỐ LOÀI CÁ
KINH TẾ Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HẢI DƯƠNG HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
_
Nguyễn Văn Hướng
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC HẢI DƯƠNG VÀ NĂNG SUẤT KHAI THÁC MỘT SỐ LOÀI CÁ
KINH TẾ Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên ngành: Hải dương học
Mã số: 62440228
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HẢI DƯƠNG HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Đoàn Văn Bộ
2 TS Nguyễn Khắc Bát
Hà Nội – 2018
ii
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các nội dung nghiên cứu, phântích, đánh giá do chính tôi thực hiện trên cơ sở tiếp cận nguồn số liệu của các đề tài,
dự án, nhiệm vụ do Viện Nghiên cứu Hải Sản thực hiện (trong đó bản thân tôi làmột trong những thành viên trực tiếp đi khảo sát và thu thập) Các số liệu, tài liệuliên quan đến luận án từ nguồn nêu trên đã được Viện Nghiên cứu Hải Sản cho phépkhai thác và sử dụng
Các tài liệu tham khảo với mục đích so sánh, phân tích và thảo luận đều đượctrích dẫn đầy đủ theo quy định
Toàn bộ nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận án đảm bảo tính trungthực, tin cậy và không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy PGS.TS Đoàn Văn Bộ và TS Nguyễn Khắc Bát đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận án Lời cảm ơn vô hạn tôi xin được gửi tới các thầy, cô trong Bộ môn, trong Khoa và Trường đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi học tập nâng cao trình độ.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể Bộ môn Khoa học và Công nghệ biển, Ban lãnh đạo Khoa Khí tượng-Thủy văn và Hải dương học, Phòng Sau đại học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải Sản, Trung tâm Dự báo Ngư trường Khai thác Hải sản và Phòng Nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản đã cho phép khai thác,
sử dụng tài liệu, tư liệu và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Khắc Bát, TS Nguyễn Quang Hùng, ThS Nguyễn Viết Nghĩa, TS Đào Mạnh Sơn, ThS Phạm Huy Sơn, TS Vũ Việt Hà, ThS Nguyễn Hoàng Minh là chủ nhiệm các Đề tài, Dự án, Nhiệm vụ mà nghiên cứu sinh sử dụng số liệu, cũng như đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia trực tiếp các chuyến điều tra khảo sát trên biển.
Lời cảm ơn chân thành cũng xin được gửi tới gia đình và bạn bè đã động viên
và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày 28 tháng 12 năm 2018
ii
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG
DỰA TRÊN QUAN HỆ CÁ –MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MỘT 5
SỐ ĐỐI TƯỢNG CÁ KINH TẾ VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
1.1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG DỰA TRÊN QUAN HỆ
5CÁ-MÔI TRƯỜNG
1.2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 14
1.2.2 Chế độ khí hậu và đặc điểm khí tượng vùng biển Đông Nam Bộ 15
PHÁP PHÂN TÍCH QUAN HỆ CÁ-MÔI TRƯỜNG
2.2.1 Lựa chọn các yếu tố môi trường biển cho phân tích tương quan 332.2.2 Phương pháp tính các yếu tố hải dương học, môi trường biển 35
2.2.4 Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính nhiều biến 39
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ YẾU TỐ HẢI DƯƠNG HỌC, MÔI TRƯỜNG
Ở VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
3.1 CÁC YẾU TỐ CẤU TRÚC NHIỆT BIỂN
3.1.1 Sự phân bố và biến đổi nhiệt độ nước biển
3.1.2 Cấu trúc nhiệt theo chiều thẳng đứng
3.2 ĐỘ MUỐI VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
3.2.1 Sự phân bố và biến đổi độ muối tầng mặt
3.2.2 Biến đổi độ muối theo chiều thẳng đứng
3.3 DÒNG CHẢY VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
3.4 HÀM LƯỢNG CHLOROPHYLL-A VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
3.4.1 Sự phân bố và biến đổi hàm lượng chlorophyll-a tầng mặt
3.4.2 Biến đổi hàm lượng chlorophll-a theo chiều thẳng đứng
CHƯƠNG 4: MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG SUẤT KHAI THÁC MỘT SỐ
LOÀI CÁ KINH TẾ VỚI CÁC YẾU TỐ HẢI DƯƠNG HỌC, MÔI TRƯỜNG Ở
VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
4.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG SUẤT KHAI THÁC CÁ NGỪ VẰN VỚI CÁC
YẾU TỐ HẢI DƯƠNG HỌC, MÔI TRƯỜNG BIỂN
4.1.1 Mối quan hệ tổng hợp cá-môi trường đối với cá Ngừ Vằn
4.1.2 Nghiên cứu xác định bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Vằn
4.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG SUẤT KHAI THÁC CÁ NGỪ CHẤM VỚI
CÁC YẾU TỐ HẢI DƯƠNG HỌC, MÔI TRƯỜNG BIỂN
4.2.1 Mối quan hệ tổng hợp cá-môi trường đối với cá Ngừ Chấm
4.2.2 Nghiên cứu xác định bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ
Chấm
4.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA NĂNG SUẤT KHAI THÁC CÁ CHỈ VÀNG VỚI CÁC
YẾU TỐ HẢI DƯƠNG HỌC, MÔI TRƯỜNG BIỂN
4.3.1 Mối quan hệ tổng hợp cá-môi trường đối với cá Chỉ Vàng
4.3.2 Nghiên cứu xác định bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Chỉ Vàng4.4 DỰ BÁO THỬ NGHIỆM NGƯ TRƯỜNG KHAI THÁC CÁ NGỪ VẰN Ở
VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ
4.4.1 Kết quả dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá Ngừ Vằn ở
vùng biển Đông Nam Bộ
4.4.2 Kết quả đánh giá kiểm chứng dự báo thử nghiệm ngư trường khai
66
6666758080
83878790
93
94
969899100
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
AIC Tiêu chuẩn AIC (Akaike information criterion)
Alti Dị thường độ cao động lực bề mặt biển
Ano Dị thường nhiệt độ nước biển tầng mặt
Chlo Hàm lượng chlorophyll-a tầng mặt
CPUE Năng suất khai thác (Catch Per Unit Effort)
CTD Máy đo nhiệt độ độ muối và chlorophyll-a (Conductivity
Temperature Depth profiler)
Grad0 Gradien cực đại theo phương ngang nhiệt bề mặt
Grad50 Gradien cực đại theo phương ngang nhiệt tầng 50m
Gz Gradien nhiệt theo phương thẳng đứng
H20 Độ sâu mặt đẳng nhiệt 20oC
H24 Độ sâu mặt đẳng nhiệt 24oC
HSI Mô hình thích ứng sinh thái (Habitat suitability index)
LCA Mô hình phân tích thế hệ dựa vào chiều dài cá
(Length-based Cohort Analysis)MULTIFAN-CL Mô hình phân tích dựa vào chiều dài và cấu trúc tuổi cá
Trang 9Nghiên cứu sinhSal0
Độ muối tầng mặtSI
Chỉ số phù hợp (Suitability index)Spd_cur
Tốc độ dòng chảySSH
Độ cao động lực bề mặtSST
Nhiệt độ nước biển bề mặtT1
Nhiệt độ biên dưới lớp đột biến nhiệtVBĐNB
Vùng biển Đông Nam Bộ
VPA Mô hình phân tích chủng quần ảo (Virtual Population
Analysis)WCPFC
Tổ chức nghề cá Trung - Tây Thái Bình Dương
DANH MỤC BẢNG
1.1 Thống kê các kết quả nghiên cứu sinh thái đối với một số loài cá
11tầng đáy và cá Nục sò
1.2 Tốc độ gió (m/s) trung bình nhiều năm tại các trạm Phú Quý, Côn
17Đảo
1.3 Nhiệt độ không khí (oC) tại trạm Phú Quý, Côn Đảo và Trường Sa 172.1 Thống kê số lượng số liệu điều tra khảo sát hải dương học tại vùng
28biển Đông Nam Bộ từ năm 1978 đến 2013
2.2 Thống kê số lượng số liệu viễn thám biển của dự án Movimar ở
29vùng biển Đông Nam Bộ từ năm 2011 đến 2016
2.3 Thống kê số lượng số liệu cá Ngừ Vằn tại VBĐNB, tính đến 2016 302.4 Thống kê số lượng số liệu cá Ngừ Chấm và Chỉ Vàng tại vùng biển
31Đông Nam Bộ, tính đến 2016
2.5 Các yếu tố được lựa chọn để nghiên cứu tương quan cá-môi trường
Trang 10độ sâu ở vùng biển Đông Nam Bộ
2.7 Các yếu tố được lựa chọn để nghiên cứu tương quan cá-môi trường
35đối với cá Chỉ Vàng ở vùng biển Đông Nam Bộ
2.8 Định dạng số liệu các yếu tố hải dương học, môi trường biển 38
vi
Trang 112.10 Định dạng số liệu đồng bộ cá-môi trường phục vụ phân tích tương
38quan
2.11 Hiệu quả khai thác tương ứng với chỉ số SI của các yếu tố môi
42trường
3.1 Kết quả tính một số yếu tố cấu trúc nhiệt ở vùng biển Đông Nam
Bộ (TB: Trung bình; Khoảng: Khoảng biến đổi; các ký hiệu khác
51như ở bảng 2.5 chương 2)
3.2 Thống kê trung bình tốc độ dòng chảy ở vùng biển Đông Nam Bộ 573.3 Một số yếu tố đặc trưng của dòng chảy vùng biển Đông Nam Bộ 584.1 Mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với các yếu tố
hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Đông Bắc và Tây
67Nam (số liệu đồng bộ tức thời)
4.2 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn và các
yếu tố hải dương học, môi trường biển, mùa gió Đông Bắc năm
672014-2015 (tương ứng với vụ cá bắc)
4.3 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với các
yếu tố hải dương học, môi trường biển, mùa gió Tây Nam năm
682014-2015 (tương ứng với vụ cá nam)
4.4 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với các
yếu tố hải dương học, môi trường biển (số liệu trung bình năm
682014-2015)
4.5 Mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với các yếu tố
hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Đông Bắc và Tây
71Nam (số liệu trung bình nhiều năm)
4.6 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với các
yếu tố hải dương học, môi trường biển mùa gió Đông Bắc (số liệu
71trung bình nhiều năm)
4.7 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn và các
yếu tố hải dương học, môi trường biển mùa gió Tây Nam (số liệu
72trung bình nhiều năm)
4.8 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với một
73
số yếu tố hải dương học, môi trường biển lớp mặt trong mùa gió
Đông Bắc
4.9 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn với một
số yếu tố hải dương học, môi trường biển lớp mặt trong mùa gió
73Tây Nam
4.10 Mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn và các yếu tố hải
Trang 12vii
Trang 134.11 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Vằn trong mùa gió Đông
76Bắc
4.12 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Vằn trong mùa gió Tây 78
tố hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Đông Bắc
4.15 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Ngừ Chấm với yếu
82
tố hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Tây Nam
4.16 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Chấm trong mùa gió
84Đông Bắc
4.17 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Chấm trong mùa gió Tây
86Nam
4.18 Mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá Chỉ Vàng với các yếu tố
hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Đông Bắc và Tây
89Nam
4.19 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Chỉ Vàng với các
89yếu tố hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Đông Bắc
4.20 Ma trận tương quan giữa năng suất khai thác cá Chỉ Vàng với các
89yếu tố hải dương học, môi trường biển trong mùa gió Tây Nam
4.21 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Chỉ Vàng trong mùa gió Đông
90Bắc
4.22 Bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Chỉ Vàng trong mùa gió Tây
92Nam
4.23 Kết quả đánh giá kiểm chứng dự báo thử nghiệm ngư trường khai
97thác cá Ngừ Vằn theo sai số tuyệt đối
Trang 142.3 Phân bố dữ liệu khai thác cá Ngừ Chấm tại vùng biển Đông Nam
32Bộ
2.4 Phân bố dữ liệu khai thác cá Chỉ Vàng tại vùng biển Đông Nam Bộ 322.5 Sơ đồ khối mô hình HSI xác định bộ chỉ số thích ứng các yếu tố
môi trường đối với cá Ngừ Vằn, cá Ngừ Chấm và cá Chỉ Vàng ở
44vùng biển Đông Nam Bộ
3.1 Biến trình năm nhiệt độ nước biển tầng mặt VBĐNB (trung bình
46nhiều năm - bên trái và trong giai đoạn 2002-2017 - bên phải)
3.2 Biến đổi qua các năm giá trị trung bình tháng 1 (trái) và tháng 7
46(phải) của nhiệt độ nước biển tầng mặt tại các điểm Đ1, Đ2, Đ3, Đ4
3.3 Phân bố nhiệt độ nước biển tầng mặt vùng biển Đông Nam Bộ
47trung bình tháng 1 (trái) và tháng 12 (phải)
3.4 Phân bố nhiệt độ nước biển tầng mặt vùng biển Đông Nam Bộ
47trung bình tháng 7 (trái) và tháng 8 (phải)
3.5 Biến trình năm nhiệt độ nước các tầng tại 4 điểm Đ1, Đ2, Đ3, Đ4 493.6 Phân bố độ dày lớp đồng nhất H0 (m) trung bình tháng 1 (trái) và
50tháng 7 (phải) tại vùng biển Đông Nam Bộ
3.7 Biến trình năm độ dày lớp đồng nhất (H0) và biên dưới lớp đột biến
51(H1) tại các điểm Đ1, Đ2, Đ3, Đ4
3.8 Biến trình năm độ muối nước biển tầng mặt VBĐNB 533.9 Phân bố độ muối nước biển tầng mặt trung bình tháng 1 (trái),
3.13 Phân bố dòng chảy tầng mặt và mật độ động năng rối trung bình
59tháng 1
3.14 Phân bố dòng chảy tầng mặt và mật độ động năng rối trung bình
59tháng 7
3.15 Phân bố dòng chảy tầng mặt và mật độ động năng rối trung bình
60tháng 4
3.16 Phân bố dòng chảy tầng mặt và mật độ động năng rối trung bình
60tháng 10
3.17 Biến trình năm hàm lượng chlorophyll-a tầng mặt VBĐNB (trung
bình nhiều năm-bên trên và trong giai đoạn từ năm 2002-2017-bên
Trang 15ix
Trang 163.18 Phân bố hàm lượng chlorophyll-a tầng mặt (mg/m3) trung bình
3.21 Phân bố hàm lượng chlorophyll-a tầng mặt (mg/m
4.1 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Ngừ Vằn và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
77môi trường biển, mùa gió Đông Bắc
4.2 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Ngừ Vằn và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
4.3 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Ngừ Chấm và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
85môi trường biển, mùa gió Đông Bắc
4.4 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Ngừ Chấm và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
87môi trường biển, mùa gió Tây Nam
4.5 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Chỉ Vàng và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
91môi trường biển, mùa gió Đông Bắc
4.6 Tần suất xuất hiện năng suất khai thác cá Chỉ Vàng và chỉ số SI
tương ứng với các khoảng dao động một số yếu tố hải dương học,
93môi trường biển, mùa gió Tây Nam
4.7 Dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá Ngừ Vằn tháng
9401/2016
4.8 Dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá Ngừ Vằn tháng
9507/2016
4.9 Dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá Ngừ Vằn tháng
9510/2016
4.10 Dự báo thử nghiệm ngư trường khai thác cá Ngừ Vằn tháng
9612/2016
Trang 17x
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết:
Vùng biển Đông Nam Bộ (VBĐNB) là ngư trường có trữ lượng và khả năngkhai thác nguồn lợi hải sản lớn nhất cả nước [5, 34] Đây là vùng biển nằm trongkhu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có mùa khô và mùa mưa tươngphản rõ rệt, khu vực biển ven bờ chịu tác động trực tiếp của hệ thống sông Mê Kông
đổ ra Vào mùa gió đông bắc, VBĐNB chịu ảnh hưởng của hệ dòng chảy lạnh từThái Bình Dương qua eo biển Đài Loan và Bashi vào Biển Đông và tiếp tục mentheo bờ biển miền Trung xuống phía nam Trong mùa gió Tây Nam, hệ thống dòngchảy có hướng ngược lại, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của nước trồi khu vực NamTrung Bộ (phạm vi về phía đông có thể tới 113oE, kéo dài từ 15oN đến 10oN, thậmchí có thể đến 8oN) [40, 47, 49, 92] Do vậy, cấu trúc các trường hải dương ởVBĐNB có nhiều nét đặc trưng theo 2 mùa gió, kéo theo môi trường sống đa dạng
và tạo nên hệ cấu trúc thành phần loài, đặc trưng phân bố và đặc tính sinh học riêngcủa khu hệ sinh vật biển nơi đây
Theo Đề án “Tái cơ cấu ngành thủy sản đến năm 2020” của Tổng cục Thủysản, sản lượng khai thác cá biển tại các vùng biển Việt Nam nói chung và VBĐNBnói riêng hàng năm tuy có tăng, nhưng số lượng tàu, số lao động trực tiếp khai thác(và các chi phí khác) cũng tăng liên tục, dẫn tới năng suất khai thác tính theo tàu,theo công suất (cả chất lượng sản phẩm, thu nhập của ngư dân ) lại giảm đáng kể(trung bình giảm 3,1%/năm) [22, 31, 33] Nguyên nhân chủ yếu là do phương tiệnkhai thác còn lạc hậu, phát triển tự phát và hoạt động theo quy mô nhỏ lẻ, dựa theokinh nghiệm của ngư dân là chính, cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá cònyếu, công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát chưa quyết liệt, đồng bộ Bên cạnh đó,việc điều tra đánh giá nguồn lợi hải sản chưa được đầu tư đúng mức, nguồn lợi hảisản gần bờ bị khai thác quá mức trong khi nguồn lợi cũng như ngư trường ở tuyếnlộng và xa bờ chưa được đánh giá, dự báo chính xác Như vậy, có thể thấy, bài toánđánh giá nguồn lợi và dự báo ngư trường chính xác nhằm đưa ra các chính sách vềquản lý, tổ chức khai thác hợp lý, hiệu quả đã và đang là vấn đề cần được quan tâm,
1
Trang 19định hướng phát triển Điều này càng có ý nghĩa đối với VBĐNB – ngư trường cótrữ lượng và khả năng khai thác hải sản lớn nhất cả nước.
Các công trình nghiên cứu về cở sở khoa học cho việc dự báo ngư trường khaithác đã chỉ ra sự cần thiết phải tuân theo các quy luật biến động của đời sống sinhvật biển nói chung, cá biển nói riêng liên quan mật thiết đến các quá trình khítượng-hải dương biến đổi theo quy mô thời gian khác nhau từ dài, trung bình, ngắn
và tương ứng với nó là quy mô không gian từ toàn cầu đến khu vực cụ thể Theohướng này, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố với nhiều
mô hình dự báo cho từng đối tượng, cho các nghề khai thác cá khác nhau từ đầu thế
kỉ 20 đến nay Trong đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu xác định được cáckhoảng thích ứng sinh thái của các yếu tố môi trường cho nhiều loài cá phục vụnghiên cứu nguồn lợi và dự báo chúng rất hiệu quả
Cũng với cách tiếp cận nêu trên, ở Việt Nam việc nghiên cứu cơ sở khoa học
và xây dựng mô hình dự báo ngư trường đã được thực hiện từ hơn 20 năm gần đây,song cho tới nay mới chỉ có duy nhất 01 mô hình và quy trình dự báo ngư trườngkhai thác cá ngừ đại dương ở vùng biển xa bờ Miền Trung do đề tài cấp Nhà nướcKC09.18/11-15 nghiên cứu xây dựng (và đã triển khai ứng dụng trong dự báonghiệp vụ) được đánh giá là hiệu quả nhất hiện nay [11] Trong khi còn nhiều đốitượng cá kinh tế khác (ngoài cá ngừ đại dương) cũng có thể được nghiên cứu và dựbáo ngư trường khai thác chúng theo hướng của mô hình và quy trình này Chính vìvậy, để có được mô hình dự báo đạt hiệu quả cao thì cần có thêm các nghiên cứu về
cơ sở khoa học cho việc thiết lập mô hình dự báo, bởi mỗi loài cá đều có những đặcđiểm thích nghi và phản ứng khác nhau với môi trường sống, hoặc ngay cả cùngmột loài nhưng sống ở các điều kiện môi trường khác nhau (mùa vụ/khu vực) lại cónhững thích nghi và phản ứng riêng Trong khi đó, do vị trí địa lý khác nhau nên cácđiều kiện khí tượng, hải dương học, môi trường ở vùng biển khác nhau hiển nhiênkhông như nhau
Như trên đã nêu, VBĐNB có những đặc trưng cấu trúc các trường hải dươngđặc thù, kéo theo môi trường sống và nguồn lợi đa dạng, đồng thời là ngư trường
Trang 20lớn nhất cả nước Luận án với đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc hải dương và năng suất khai thác một số loài cá kinh tế ở vùng biển Đông Nam Bộ"
đã được NCS lựa chọn và thực hiện, làm cơ sở khoa học cho việc thiết lập mô hình
dự báo cũng như đánh giá về nguồn lợi một số đối tượng cá kinh tế ở vùng biển này,
đó là 1) cá Ngừ Vằn (đại diện nhóm cá ngừ đại dương), 2) cá Ngừ Chấm (đại diệnnhóm cá ngừ nhỏ ven bờ) và 3) cá Chỉ Vàng (đại diện nhóm cá nổi nhỏ ven bờ)
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định được mối quan hệ giữa năng suất khai thác một số loài cá kinh tế vớicác yếu tố hải dương học, môi trường ở vùng biển Đông Nam Bộ phục vụ xây dựng
mô hình thực nghiệm dự báo ngư trường khai thác tại vùng biển này
3 Nội dung nghiên cứu:
1) Tổng quan về phương pháp dự báo ngư trường dựa trên quan hệ cá – môitrường, về điều kiện tự nhiên và một số đối tượng cá kinh tế ở vùng biển Đông NamBộ
2) Nghiên cứu, tính toán xác định cấu trúc các trường thủy động lực và môitrường biển (nhiệt độ, độ muối, chlorophyll-a, dòng chảy…) và biến động của chúngtrong vùng biển nghiên cứu
3) Xác định khoảng thích ứng sinh thái các yếu tố môi trường biển đối với một
số loài cá kinh tế (cá Ngừ Vằn, cá Ngừ Chấm và cá Chỉ Vàng) ở vùng biển Đông NamBộ
4) Nghiên cứu, đánh giá mối quan hệ giữa năng suất khai thác một số đốitượng cá kinh tế (cá Ngừ Vằn, cá Ngừ Chấm và cá Chỉ Vàng) với các yếu tố hảidương học, môi trường biển và ứng dụng trong dự báo thử nghiệm ngư trường ởvùng biển Đông Nam Bộ
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu:
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả đạt được của luận án là cơ sở khoa học cho việc
xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác hải sản ở vùng biển Đông Nam Bộ
3
Trang 21- Ý nghĩa thực tiễn: Sản phẩm của luận án sẽ đóng góp thêm về cơ sở dữ liệu
hải dương học nghề cá, cải tiến công nghệ dự báo ngư trường và phục vụ trực tiếp
công tác dự báo ngư trường tại vùng biển Đông Nam Bộ, góp phần tạo thành một hệthống hoàn chỉnh về dự báo ngư trường trên toàn vùng biển Việt Nam theo hướngtương quan cá - môi trường
5 Những đóng góp mới của luận án:
1) Xác đinh được mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá Ngừ Vằn, cá NgừChấm và cá Chỉ Vàng với các yếu tố cấu trúc hải dương đặc trưng ở vùng biển ĐôngNam Bộ làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình dự báo ngư trường khai thác các đốitượng này
2) Xác định được bộ chỉ số thích ứng sinh thái của cá Ngừ Vằn, cá NgừChấm và cá Chỉ Vàng góp phần xây dựng mô hình dự báo và nâng cao chất lượng cácbản dự ngư trường khai thác các đối tượng nêu trên
6 Bố cục của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về phương pháp dự báo ngư trường dựa trên quan hệcá- môi trường, điều kiện tự nhiên và một số đối tượng cá kinh tế vùng biển ĐôngNam Bộ
Chương 2: Dữ liệu hải dương học, nghề cá và các phương pháp phân tích mốiquan hệ giữa năng suất khai thác cá và các yếu tố hải dương học, môi trường biển.Chương 3: Đặc điểm một số yếu tố hải dương học, môi trường ở vùng biểnĐông Nam Bộ
Chương 4: Mối quan hệ giữa năng suất khai thác một số loài cá kinh tế và cácyếu tố hải dương học, môi trường ở vùng biển Đông Nam Bộ
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG DỰA TRÊN QUAN HỆ CÁ –MÔI TRƯỜNG, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MỘT SỐ ĐỐI
TƯỢNG CÁ KINH TẾ VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 1.1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU DỰ BÁO NGƯ TRƯỜNG DỰA TRÊN QUAN
HỆ CÁ-MÔI TRƯỜNG
Hiện nay trên thế giới có 3 khuynh hướng nghiên cứu đánh giá trữ lượng và dựbáo khả năng khai thác quần thể cá đó là: 1) dựa vào nguyên lý Russel và các cảitiến trên cơ sở thống kê nghề cá, 2) quá trình trao đổi năng lượng (dinh dưỡng) của
cá trên cơ chế sinh lý-sinh thái thích nghi của cá với môi trường, 3) tương tác tổnghợp cá-môi trường-khai thác dưới tác động không dừng của môi trường [41]
Theo hướng này có 2 nhóm mô hình được sử dụng đó là nhóm mô hình giảđịnh và mô hình giải tích
Mô hình giả định được phát triển dựa trên giả thiết về sự đồng nhất sinh khốicủa toàn bộ quần thể cá khai thác Trong đó, có ba phương pháp phổ biến của nhóm
mô hình này là: phương pháp thuỷ âm, phương pháp diện tích và phương pháp sảnlượng thặng dư Theo hướng này, ở Việt Nam đã có một số công trình được công bốcủa Nguyễn Khắc Bát, Bùi Đình Chung, Vũ Việt Hà, Nguyễn Viết Nghĩa, PhạmThược, Đào Mạnh Sơn…[4, 14, 15, 16, 18, 21, 33, 34, 38, 37]
Mô hình giải tích xem xét chi tiết các quá trình diễn ra trong quần thể và cáckiểu khai thác khác nhau tác động lên quần thể, bao gồm mô hình LCA, VPA,MUNTIFAL… Ở Việt Nam cũng đã có các nghiên cứu theo hướng này của Đoàn
5
Trang 23Văn Bộ, Nguyễn Phi Đính, Nguyễn Xuân Huấn, Chu Tiến Vĩnh… [7, 8, 9, 12, 20,
28, 29]
Theo hướng thứ hai:
Đánh giá biến động nguồn lợi cá thông qua các quá trình trao đổi năng lượng(dinh dưỡng) của cá với các sinh vật khác trong hệ sinh thái biển, nhằm giải quyếtcác quan hệ cơ bản trong lưới thức ăn và sự chuyển hóa năng lượng qua các bậc.Những mô hình theo hướng này thường rất chặt chẽ về logic vì phản ánh được bảnchất của các quy luật tự nhiên Ở Việt Nam cũng đã có các công trình nghiên cứucủa Nguyễn Tác An, Đoàn Văn Bộ, Nguyễn Tiến Cảnh [1, 6, 13] Tuy nhiên, dotính phức tạp của các mối quan hệ dinh dưỡng cùng với sự phức tạp của các thuậttoán trong các mô hình dẫn đến việc tính toán dự báo và đánh giá trữ lượng đàn cákhai thác theo hướng này rất khó khăn
Theo hướng thứ ba
Nghiên cứu tác động tổng hợp môi trường - sinh vật - con người đã trở thànhhướng nghiên cứu dễ dàng hơn cho việc dự báo biến động nguồn lợi cá trong vàichục năm gần đây Theo hướng này, việc nghiên cứu đánh giá biến động nguồn lợiđàn cá khai thác thì yếu tố khai thác, điều kiện hải dương học và sinh học được coi
là quan trọng như nhau Cho đến nay, hầu hết các công trình nghiên cứu dự báo biếnđộng nguồn lợi cá trên thế giới đều theo hướng này, dựa trên việc phân tích các mốitương tác phức tạp khí tượng hải dương - sinh vật
Điều này đã được khẳng định trong vài chục năm gần đây khi chúng ta đã tíchlũy được nhiều kiến thức về bản chất tự nhiên của các hệ sinh thái biển đồng thờicác kỹ thuật điều tra khảo sát biển, công nghệ viễn thám biển, công nghệ tính toántrên các máy vi tính ngày càng hiện đại, cho phép thu nhận và xử lý những chuỗi
số liệu dài, mau lẹ và đồng bộ cá-môi trường trên phạm vi không gian rộng
NCS cũng lựa chọn hướng nghiên cứu thứ 3 để thực hiện luận án Để hiễu rõhơn về hướng nghiên cứu này, luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu ởViệt Nam cũng như trên thế giới trong mục 1.1.1 và 1.1.2 dưới đây
Trang 241.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Giữa điều kiện môi trường và sự tập trung của cá khai thác có tồn tại nhữngmối quan hệ chặt chẽ Mọi thay đổi của các điều kiện môi trường đều dẫn đến biếnđộng số lượng và phân bố của đàn cá Theo hướng nghiên cứu thứ 3, trên thế giới đã
có nhiều công trình nghiên cứu thành công với việc nghiên cứu mối quan hệ giữacác yếu tố hải dương học như là nhiệt độ, độ muối, dòng chảy, ôxy hòa tan và năngsuất sinh học sơ cấp trong chuỗi thức ăn (thực vật phù du, động vật phù du,chlophyll-a ) với nhiều loài cá khác nhau và dự báo chúng rất hiệu quả cho ngưdân khai thác Đối với mỗi loài cá ở các vùng biển khác nhau người ta dùng các yếu
tố môi trường khác nhau trong mô hình dự báo Do vậy, việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa cá với các yếu tố môi trường và lựa chọn các yếu tố môi trường để dự báocho từng loài cụ thể là rất quan trọng và đã có nhiều công trình khoa học được công
bố về vấn đề này Dưới đây luận án sẽ điểm qua một số công trình công bố trongthời gian gần đây
Trong hải dương học, nhiệt độ bề mặt biển là một trong những nhân tố rấtquan trọng Đối với hoạt động nghề cá, nhiệt độ nước biển bề mặt được xem như làcác chỉ số trực tiếp liên quan đến các khu vực tập trung của đàn cá hoặc gián tiếpthông qua sự ảnh hưởng của chúng đến khu vực tập trung thức ăn cho cá [85] Nhiệt
độ bề mặt biển (SST) có thể ảnh hưởng đến phạm vi phân bố địa lý của hầu hết cácloài sinh vật biển Tuy nhiên, nhiều khi quan sát mối quan hệ giữa nhiệt độ với sựphân bố hay các tập tính sinh học của loài sinh vật nào đó không được thể hiện rõ
mà phải thông qua một mối quan hệ khác ví dụ phân tích mối quan hệ của cá NgừVây Vàng với cấu trúc nhiệt đại dương nhiều khi không thể giải thích được bằngtrực tiếp nhiệt độ, mà có thể thông qua chuỗi thức ăn [72] Đối với cá biển, nhiệt độ
là một tham số hải dương học quan trọng để nghiên cứu môi trường sống của nhiềuloài cá, mỗi loài cá đều có một khoảng thích ứng riêng với nhiệt độ như: cá NgừVằn ở vùng nhiệt đới thích ứng với nhiệt độ trong khoảng từ 14,7-30,0oC trong khi
ở vùng biển Nhật Bản thấy chúng ở dải nước có nhiệt độ là 18,0-28,0oC Hay đối
7
Trang 25với đàn cá thu lớn ở vùng biển gần bờ của miền Trung Đại Tây Dương di cư trongphạm vi khoảng nhiệt độ hẹp từ 8-13oC [55]
Việc sử dụng ngày càng nhiều dữ liệu viễn thám biển trong dự báo ngư trườngkhai thác các loài cá đã được nhiều công trình công bố với việc thiết lập mô hình dựbáo dựa trên mối quan hệ giữa sự phân bố của các loài cá với nhiệt độ nước biểntầng mặt và hàm lượng chlorophyll-a Trong đó, phải kể đến các công trình củaSilva và nnk (2000), công trình này đã chỉ ra mối quan hệ giữa sản lượng khai tháccủa các loài cá thu, cá cơm và cá trích tại vùng biển bắc của Chile có liên hệ mậtthiết với nhiệt độ nước biển bề mặt (SST) và hàm lượng chlorophyll-a [86] Ở Ấn
Độ, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp phân tích không gian chồng bàn đồhàm lượng chlorophyll-a và nhiệt độ nước biển bề mặt từ ảnh viễn thám độ phângiải cao (AVHRR) và số liệu nghề cá để tìm ra khu vực có khả năng tập trung cácđàn cá [87] Mansor và nnk (2001) đã xây dựng hệ thống dự báo ngư trường khaithác hải sản ở Biển Đông bằng việc phân tích dữ liệu ảnh viễn thám về nhiệt độnước biển bề mặt và chlorophyll-a (sử dụng GIS) tìm ra những khu vực có nướctrồi, nước chìm hay khu vực có khẳ năng tập trung cao thực vật phù du từ đó xácđịnh được khu vực tiềm năng tập trung các loài cá Trên cơ sở đó ông đã xây dựngthành công phần mềm DSS hay được gọi là TroFFS để phục vụ cho quá trình dựbáo đàn cá trong vùng biển nhiệt đới [75] Ở Indonesia, các bản dự báo ngư trườngkhai thác cá bạc má cũng được xây dựng dựa trên trường nhiệt bề mặt và hàm lượngchlorophyll-a [80] Mukti và nnk (2011) phân tích mối quan hệ giữa năng suất khaithác cá Ngừ Vằn với 2 thông số là nhiệt độ nước biển bề mặt và hàm lượngchlorophyll-a thu thập từ viễn thám biển Kết quả nghiên cứu đã xác định được cáckhoảng thích ứng sinh thái của cá Ngừ Vằn với 2 thông số này và sử dụng chúngvào xây dựng dự báo cá Ngừ Vằn ở vùng Bone Bay-Flores [78] Nhóm tác giảkhẳng định rằng, yếu tố nhiệt độ nước biển và hàm lượng chlorophyll-a là nhân tốchính so với các yếu tố khác Ngoài ra ở Đài Loan, các nhà khoa học xây dựng môhình dự báo cá ngừ đại dương dưa trên phân tích hồi quy tuyến tính mối quan hệgiữa năng suất khai thác của nghề câu vàng cá ngừ đại dương với các yếu tố hải
Trang 26dương học (nhiệt độ, chlorophyll-a và lớp đột biến nhiệt độ) trong đó có sử dụng phân tích thành phần chính (PCA) ở vùng biển xích đạo Đại Tây Dương [71].
Ở vùng biển Ấn Độ Dương, để xây dựng dự báo ngư trường khai thác của cáNgừ Vây Vàng, các nhà khoa học đến từ Học viện Công nghệ Châu Á, Nhật Bản và SriLanka đã sử dụng các thông số như: nhiệt độ nước biển (SST), hàm lượng
chlorophyll-a và độ cao động lực bề mặt biển (SSH) từ dữ liệu viễn thám củaNOAA với độ phân giải 0,25 x 0,25 độ kinh vĩ Công trình nghiên cứu đã sử dụngphương pháp xác định chỉ số thích ứng sinh thái và đã xác định được chỉ số thíchứng sinh thái của cá Ngừ Vây Vàng với SST, Chlo và SSH, mức sản lượng cao nhấtvới 3 yếu tố trên tương ứng dao động lần lượt là 28-30ºC; 0,1-0,4mg/m3 và 205-215cm [83, 84]
Các nghiên cứu của Chen và nnk (2008, 2009) đã sử dụng phương pháp hồiquy tuyến tính và mô hình thích ứng sinh thái HSI để dự báo các vùng đánh bắt tiềm
năng đối với cá Ngừ Mắt To (Thunnus obesus) ở vùng biển Ấn Độ dương và cá thu Nhật Bản (Scomberomorus niphonius) tại vùng biển Đông Trung hoa [57, 58] Trong đó, dự báo cho đối tượng cá thu Nhật Bản (Scomberomorus niphonius) ông
đã sử dụng các yếu tố môi trường là nhiệt độ nước biển tầng mặt, độ muối tầng mặt,chlorophyll-a, độ cao mực nước biển và dị thường độ cao mực nước biển; Đối với
cá Ngừ Mắt To (Thunnus obesus) các yếu tố môi trường được dử dụng là nhiệt độ
nước biển tầng mặt, chlorophyll-a và độ cao mực nước biển
Các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, dòng chảy và các khu vực nướctrồi cũng là những yếu tố rất quan trọng trong xây dựng các mô hình dự báo.O’Brien và nnk (1974) đã xây dựng thành công mô hình dự báo cho loài cá HồiCoho ở vùng biển xa bờ Oregon dựa trên mối tương quan giữa vị trí phân bố của cáHồi Coho với sự xuất hiện của vùng nước trồi gần bờ [81] Hay như nghiên cứu củaTriñanes và nnk (2002) đã xây dựng dự báo ngư trường đối với loài cá nổi trongvịnh Biscay ở phía Đông Bắc Đại Tây Dương và họ đã tìm ra các ngư trường khaithác các loài cá nổi có liên quan mật thiết đến vùng nước trồi ở đây
9
Trang 27Năm 2015, tổ chức nghề cá Trung - Tây Thái Bình Dương (WCPFC) đã sửdụng mô sinh thái biển khơi (SEAPODYM) xây dựng dự báo phân bố của cá ngừđại dương (Ngừ Vây Vàng, Ngừ Mắt To và cá Ngừ Vằn) và được cung cấp trênwebsite của WCPFC (http://www.spc.int/ofp/seapodym) [66] Mô hìnhSEAPODYM đã sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính và HSI để mô phỏng sựphát triển của sinh vật trong hệ sinh thái biển khơi thông qua chuỗi thức ăn Trongquá trình tính toán, các mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật và sinh vật với môitrường đều được xem xét và sau đó dự đoán phân bố, biến động của các nhóm sinhvật theo không gian và thời gian với sự thay đổi của các yếu tố vật lý hải dươnghoặc tác động của con người (áp lực khai thác) Các bản dự báo của mô hìnhSEAPODYM đưa ra có hạn 7 ngày và đơn vị được dự báo là mật độ (g/m2) chi tiếtcho từng loài cá ngừ đại dương ở Tây Thái Bình Dương.
Có thể nói, sự phát triển và khả năng ứng dụng các phương tiện khảo sát đođạc rất hiện đại từ vệ tinh, các tàu khảo sát và các trạm phao tự động trên biển, cácthông tin phản hồi của các đội tàu đánh bắt đã cho phép xây dựng và triển khainhiều công nghệ dự báo biến động phân bố ngư trường và trữ lượng các bãi cá chínhphục vụ công nghiệp đánh cá Sự kết hợp phân tích nhiều yếu tố bao gồm: i) Cáctrường hải dương học (nhiệt độ, độ muối nước biển, độ cao mực biển, dòng chảy,địa hình đáy biển…); ii) sức sản suất sơ cấp của thủy vực (hàm lượng chlorophyll-a,chất hữu cơ hòa tan…); iii) tập tính sinh thái, sinh học của đối tượng khai thác đãtạo ra các sản phẩm có chất lượng cao phục vụ cho ngành công nghiệp khai thác hảisản
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi và khả năng khai thác hải sản ở biển ViệtNam nói chung và vùng biển Đông Nam Bộ nói riêng đã được thực hiện từ rất sớm(từ trước năm 1954) đã cung cấp lượng số liệu lớn về các yếu tố hải dương học vàđưa ra được bức tranh tổng thể theo các mùa gió về đặc điểm cấu trúc một số yếu tốhải dương học như nhiệt độ, độ muối, dòng chảy biển…xác định được các khu vực
Trang 28nước trồi, nước chìm ở Biển Đông đồng thời cũng đã đánh giá được trữ lượngnguồn lợi, xác định các ngư trường, bãi cá khai thác.
Việc nghiên cứu thiết lập các bản dự báo ngư trường khai thác cá ở Việt Namcũng được bắt đầu khá sớm, từ những năm 1970 Công tác dự báo khai thác cá đãthu được nhiều kết quả đáng kể, đặc biệt là việc thiết lập dự báo khai thác cá biểntheo mùa vụ, theo quý và phát trên Đài tiếng nói Việt Nam Công tác dự báo đượcduy trì cho đến những năm 1980 Do không có kinh phí hoạt động, nên việc dự báongư trường khai thác hải sản bị gián đoạn vào năm 1986
Các nghiên cứu đánh giá biến động đàn cá theo khuynh hướng thứ 3 cũng bắtđầu được hình thành, đầu tiên phải kể đến kết quả nghiên cứu sinh thái đối với một
số loài cá tầng đáy và cá nục sò (bảng 1.1) của Nguyễn Phi Đính, Lê Trọng Phấn vàPhạm Thược (1991) (trích bởi Lê Đức Tố (1995) [41] Đây là công trình công bốdựa trên chuỗi dữ liệu thống kê tần suất bắt gặp năng suất khai thác cá với các yếu
tố nhiệt độ, độ muối và độ sâu mà chưa có tính toán, xác định mối quan hệ tổng hợpcủa các yếu tố mối trường hay xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự biến đổinguồn lợi cá Do vậy, kết quả này vẫn còn rất hạn chế trong việc thiết lập mô hình
dự báo cho các đối tượng trên theo hạn ngắn
Bảng 1.1: Thống kê các kết quả nghiên cứu sinh thái đối với một số loài cá tầng đáy và
cá Nục sò
Số Loài cá Giới hạn nhiệt đô Giới hạn độ muối Độ sâu phân
Trang 29Lê Đức Tố và nnk (1995) đã xây dựng được các luận cứ khoa học liên quanđến các bài toán dự báo trong lĩnh vực hải dương học nghề cá ở vùng biển ViệtNam Công trình này đã chỉ rõ vai trò quan trọng của sự biến động các trường khítượng, hải dương tới biến động phân bố và sản lượng cá khai thác và sự cần thiếtphải nghiên cứu chúng một cách cơ bản, khoa học phục vụ công tác dự báo cá.Trong đó các cấu trúc hải dương được ưu tiên quan tâm như: hoạt động nước trồi,các front, các khối nước, đối với sự phân bố nguồn lợi cá ở biển Việt Nam[41,43] Tuy nhiên, sự thiếu hụt và tính không đồng bộ của nguồn dữ liệu thống kênghề cá mà việc xây dựng dự báo môi trường và nguồn lợi còn nhiều bất cập vàchưa thực hiện được.
Đinh Văn Ưu và nnk (2004) nghiên cứu xây dựng thành công mô hình dự báo
cá khai thác cá ngừ đại dương (cá Ngừ Vây Vàng và mắt to) cho nghề câu vàng dựatrên phân tích mối quan hệ giữa năng suất khai thác cá ngừ đại dương với các cấutrúc hải dương có liên quan Kết quả của công trình này đã dự báo được các trườnghải dương và ngư trương trên quy mô lớn do đó việc thực hiện dự báo ngư trườngkhai thác nghiệp vụ (dự báo hạn ngắn và quy mô nhỏ) chưa thể thực hiện đượctrong giai đoạn này Mặc dù vậy, đây là công trình đánh dấu bước khởi đầu tronglĩnh vực nghiên cứu và xây dựng mô hình dự báo cá khai thác tại vùng biển xa bờtrên cơ sở gắn kết ngư trường với các yếu tố cấu trúc hải dương đặc trưng [50]
Để tiếp bước cho việc xây dựng cơ sở khoa học và xây dựng hoàn thiện môhình dự báo, Đoàn Văn Bộ và nnk (2010, 2015) cũng đã nghiên cứu, xây dựng vàhoàn thiện mô hình, quy trình dự báo ngư trường khai thác cá ngừ đại dương củanghề câu vàng hạn tháng và hạn 7-10 ngày Mô hình đã sử dụng phương pháp phântích hồi quy tuyến tính giữa năng suất khai thác cá ngừ đại dương vơi cấu trúc nhiệtbiển và năng suất sinh học bậc thấp Cho đến nay, mô hình này đã được triển khaithành công và đang được ứng dụng dự báo nghiệp vụ ngư trường khai thác cá ngừđại dương hạn tháng và hạn 7-10 ngày ở Việt Nam [10, 11] Tuy nhiên, trong môhình này, 26 biến môi trường (kể cả năng suất sinh học) đều được tính từ trường 3Dnhiệt độ nước biển Nghĩa là trong mô hình này việc tính toán mới chỉ dựa vào yếu
Trang 30tố nhiệt độ mà chưa tính đến các yếu tố khác như độ muối, chlorophyll-a, dòngchảy…nhưng kết quả dự báo của đề tài này cũng được đánh giá là đạt yêu cầu trên60% Bên cạnh đó, đối tượng chính của đề tài là cá Ngừ Vây Vàng và cá Ngừ Mắt
To của nghề câu cá ngừ đại dương, để áp dụng triển khai mô hình này sang các đốikhác cần phải có những nghiên cứu cơ sở khoa học xác định về mối quan hệ giữacác yếu tố môi trường với các đối tượng nghiên cứu đó
Hiện tại, theo khuynh hướng nghiên cứu đã trình bày ở trên, Viện Nghiên cứuHải sản đang tiến hành đề tài cấp Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2015 -2017) “Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật nâng cao chất lượng dự báo ngư trườngkhai thác cá ngừ đại dương ở vùng biển Việt Nam”, với mục tiêu là đưa ra các giảipháp kỹ thuật ứng dụng công nghệ viễn thám và sinh học để nâng cao độ tin cậy của
dự báo vùng khai thác tiềm năng cá ngừ đại dương ở vùng biển Việt Nam Tuynhiên, đề tài này vẫn đang trong quá trình thực hiện, chưa có kết quả công bố cụ thểnào
Như vậy có thể thấy rằng, nghiên cứu dự báo biến động nguồn lợi đàn cá khaithác theo hướng nghiên cứu tương tác tổng hợp cá-môi trường-khai thác dưới tácđộng không dừng của môi trường đã đạt được rất nhiều thành tựu trên thế giới và cả
ở Việt Nam Đây là hướng nghiên cứu đầy triển vọng để giải quyết bài toán dự báobiến động nguồn lợi cá trong thời gian gần đây và trong tương lai Ở Việt Nam, mặc dùcác kết quả nghiên cứu đã có nhiều thành tựu trong việc dự báo ngư trường khai
thác cá ngừ đại dương của nghề câu nhưng cũng còn nhiều đối tượng cá kinh tếchưa được nghiên cứu dự báo, trong đó nghiên cứu cơ sở khoa học cho xây dựng
mô hình dự báo theo loài còn ít đặc biệt là dự báo hạn ngắn phục vụ cho hoạt độngkhai thác của ngư dân theo chuyến biển Luận án cũng lựa chọn hướng nghiên cứunày trong bài toán dự báo các đối tượng cá kinh tế ở vùng biển Việt Nam mà cụ thể
là đối tượng cá Ngừ Vằn, cá Ngừ Chấm và cá Chỉ Vàng ở vùng biển Đông Nam Bộ.Đây là 3 đối tượng cá kinh tế còn ít được quan tâm nghiên cứu dự báo ở nước ta.Tổng quan nghiên cứu cụ thể cho từng đối tượng này sẽ được trình bày ở phần sau
13
Trang 311.2 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG NAM BỘ 1.2.1 Vị trí địa lý và địa hình
Phạm vi nghiên cứu là vùng biển Đông Nam Bộ được xác định từ 06o00’N đến
11o30’N, và từ 105o00’E đến 113o00’E (hình 1.1) Vùng biển này có bờ biển kéodài từ tỉnh Bình Thuận đến mũi Cà Mau, có các kiểu địa hình đường bờ biển phứctạp và đa dạng do nhiều nhân tố tác động đồng thời như thuỷ lực sông và thuỷ độnglực biển Đường đẳng sâu 10m phân bố phức tạp, khu vực có độ sâu từ 10 đến 15m
có dải rất hẹp chạy song song với đường bờ, dạng bờ dốc, vòng cung Khu vực có
độ sâu từ 15 đến 50m trải rộng, thoải và độ dốc tương đối đều Khu vực có độ sâulớn hơn từ 50m trở lên có độ dốc tương đối lớn, đường đẳng sâu 100m mở rộngcách bờ tới 300 hải lý [3, 24, 36]
Đặc điểm phân bố trầm tích bề mặt đáy biển VBĐNB bao gồm [5, 42]:
+ Trầm tích tảng ở khu vực ngoài khơi Vũng Tàu có độ sâu khoảng 30m nước.+ Trầm tích cát phân bố thành một đới dài từ Cà Ná mở rộng về phía nam:Loại cát lớn chiếm một dải hẹp và tạo thành dải cát bờ Phan Thiết- Hàm Tân và vùngBạc Liêu; Loại cát nhỏ chiếm ưu thế trong vùng
+ Trầm tích bùn chứa cát chỉ có ở khu vực ngoài khơi trước cửa sông Tiền, sông Hậu tạo thành một diện tích hẹp
+ Trầm tích bùn-cát cũng phân bố chủ yếu ở khu vực ngoài khơi với diện tích không lớn
+ Trầm tích cát chứa bùn xét phân bố thành một dải hẹp từ ngoài khơi PhanThiết xuống phía nam, phía ngoài là ranh giới của kiểu trầm tích sét biển khơi Biển Đông
+ Trầm tích bùn - sét, sét - bùn chiếm diện tích phân bố nhỏ trừ một hố vàrãnh sâu ở vùng biển khơi Ninh Thuận-Minh Hải, ranh giới ngoài của dải bùn sét này gầntrùng với đường đẳng sâu 20-22m
+ Trầm tích sét là kiểu trầm tích chủ yếu ở biển khơi Việt Nam nói chung vàĐông Nam Bộ nói riêng
Trang 32Hình 1.1: Vùng biển Đông Nam Bộ 1.2.2 Chế độ khí hậu và đặc điểm khí tượng vùng biển Đông Nam Bộ
1.2.2.1 Chế độ khí hậu
Vùng Đông Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với nền nhiệt độcao và có sự phân biệt khá rõ giữa hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từtháng 4-5 đến tháng 10-11 với lượng mưa chiếm trên 90% lượng mưa cả năm Mùakhô (các tháng còn lại) có lượng mưa chỉ khoảng 7% lượng mưa cả năm [5, 42, 44]
1.2.2.2 Chế độ khí áp
Mùa gió Đông Bắc (tháng 11 - 3 năm sau), khối áp cao cực đới hoạt động
mạnh và khống chế trên toàn đại lục Châu Á; vị trí trung tâm ở vùng cao nguyênMông Cổ - Nam Xibêri trị số khí áp trung bình xấp xỉ 1040 mb Khối khí này cótính chất lạnh và khô, làm cho nhiệt độ không khí cũng như nhiệt độ lớp mặt biểngiảm mạnh trong mùa đông Tại vùng biển nước ta trong thời gian này cũng chịu sựchi phối mạnh của hệ thống khí áp này và đạt giá trị cực đại trong trong các tháng
12, 1, 2 (1016 – 1020mb), phía Đông Bắc có trị số cao hơn các khu vực khác [44]
15
Trang 33Mùa gió Tây Nam, áp cao mùa đông được thay thế bằng hệ thống áp thấp Ấn
- Miến, trị số khí áp trung bình khoảng 1000mb Khối khí này có tính chất nóng,
ẩm, làm cho nhiệt độ nước biển tăng và cung cấp lượng ẩm rất lớn Trong mùa hè vùngbiển này còn chịu ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới (vị trí của dải hội tụ nhiệt đới nàydịch chuyển dần về phía nam từ tháng 5, 6 đến tháng 11, 12) [44] Nhìn
chung, chế độ khí áp của vùng biển Đông Nam Bộ có những thay đổi đáng kể tùythuộc vào sự chi phối của hai hệ thống khí áp mùa đông và mùa hè luân phiên nhau
và hoạt động của giải hội tụ nhiệt đới
1.2.2.3 Chế độ gió
Vùng biển nghiên cứu nằm trong phạm vi hoạt động luân phiên theo mùa của
2 hệ thống gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Chế độ sóng, gió của vùng biển mangnhững đặc trưng mùa rõ rệt
Mùa gió Đông Bắc: Từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, trên toàn bộ
vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ hướng gió thịnh hành là Đông Bắc, ngoài racón còn có hướng bắc và đông Tốc độ gió trung bình ở khu vực ven bờ thường từcấp 3 - 4 (ngoài khơi cấp 4 - 5) Khi có front cực đới tràn về, tốc độ gió mạnh lêncấp 6 - 7, có lúc cấp 8 - 9 (bảng 1.2) Các đợt gió mùa Đông Bắc thường kéo dài 3 -
4 ngày, có khi hàng tuần lễ Do trải dài trên nhiều vĩ độ nên ảnh hưởng của gió mùaĐông Bắc tới vùng biển nghiên cứu có chiều hướng giảm dần từ bắc xuống nam
Mùa gió Tây Nam: Gió mùa Tây Nam bắt đầu hoạt động vào tháng 4 tại vùng
biển phía nam của nước ta, sau đó phát triển dần lên phía bắc, đến tháng 6-7 thịnhhành trên toàn vùng biển Cường độ gió trong mùa này yếu hơn so với gió mùaĐông Bắc, tốc độ trung bình thường cấp 4-5 Do sự khác nhau về điều kiện địa hình,
vĩ độ địa lý mà hướng gió và thời gian thịnh hành có sự khác nhau giữa các địaphương Khu vực biển từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa, gió mùa Tây Nam thịnh hànhsớm từ tháng 3 đến tháng 6, gió hướng Đông- Đông Nam, tốc độ trung bình 3,0-3,5m/s, lớn nhất có thể lên tới 20,0- 25,0 m/s; từ tháng 6 đến tháng 8 gió hướngTây-Tây Nam, tốc độ trung bình 3,5m/s, lớn nhất đạt tới 20,0-30,0 m/s Khu vực từNinh Thuận trở vào, gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 10 [44]
Trang 34Bảng 1.2: Tốc độ gió (m/s) trung bình nhiều năm tại các trạm Phú Quý, Côn Đảo [47]
kê số liệu tại trạm đảo Phú Quý, Côn Đảo và Trường Sa (bảng 1.3)
Bảng 1.3: Nhiệt độ không khí ( o C) tại trạm Phú Quý, Côn Đảo và Trường Sa [47]
Trung bình nhiều năm Trạm
1.2.3 Nhiệt độ nước biển
Mùa gió Đông Bắc nhiệt độ nước biển lớp bề mặt ở vùng biển Đông Nam Bộ
có xu thế tăng dần từ bờ ra khơi và từ bắc vào nam, dao động trong khoảng từ25,0oC đến 29,0oC và ở tầng đáy từ 20,0-27,0oC [3, 42]
Mùa gió Tây Nam, nhiệt độ nước tầng mặt cao, trung bình từ 28,5-30,2oC vàtầng đáy là 20,0-29,0oC Vùng ven bờ, phạm vi dao động nhiệt độ nước nhỏ hơn(27,5 - 29,5oC) Ở khu vực nước trồi, nhiệt độ tầng mặt thường thấp hơn khu vựcxung quanh khoảng 1-2oC [3, 42]
1.2.4 Độ muối nước biển
Sự khác biệt độ muối ở VBĐNB giữa 2 mùa (mùa mưa và mùa khô) kể cảtheo mặt rộng và theo chiều thẳng đứng là không lớn Trong mùa gió Đông Bắc, độmuối tầng mặt cũng như tầng đáy dao động trong khoảng 31,0-34,0‰, sự chênh
Trang 3517
Trang 36lệch độ muối giữa tầng mặt và tầng đáy trung bình nhiều năm là 1,48‰ Trong mùagió Tây Nam do lượng mưa tăng đã làm độ muối ở vùng biển nghiên cứu giảmnhưng không nhiều, dao động trong khoảng 29,0-33,0‰ Thời kì độ muối cao và ítbiến đổi trong năm là từ tháng 12 năm trước cho đến tháng 6 năm sau với giá trị daođộng trong khoảng 31,0-34,0‰ ở tầng mặt và từ 33,0-34,0‰ ở tầng đáy [3, 31, 42].
1.2.5 Chế độ dòng chảy
Mùa gió Đông Bắc, hệ thống dòng chảy toàn VBĐNB chịu ảnh hưởng trực
tiếp của dòng ven bờ từ phía bắc đi xuống do đó dòng chảy ở khu vực ngoài khơi cóhướng Bắc – Nam với tốc độ khá lớn, trung bình trong khoảng từ 20-30cm/s Ởvùng ven bờ dòng chảy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam với tốc độ trung bìnhkhoảng 15-20cm/s Ở vùng có độ sâu từ 30m nước trở vào, hướng dòng chảy ổnđịnh từ tầng mặt cho tới đáy còn ở vùng biển sâu, hướng chảy thay đổi nhiều giữacác tầng nước, có nơi hướng chảy ở độ sâu 200m ngược hoàn toàn so với hướngtầng mặt [19]
Mùa gió Tây Nam dòng chảy ở vùng biển nghiên cứu chịu ảnh hưởng của hệ
thống gió mùa Tây Nam và chịu tác động của nước sông Cửu Long đổ ra nên cóhướng Tây Nam- Đông Bắc với tốc độ trung bình khoảng 10-15cm/s, theo độ sâuhướng dòng chảy được duy trì từ tầng mặt cho tới đáy ở khu vực gần bờ [19]
1.3 TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG CÁ KINH TẾ
Vùng biển Đông Nam Bộ là vùng rất giầu có về tài nguyên đặc biệt là tàinguyên sinh vật biển- đây là ngư trường có trữ lượng và khả năng khai thác nguồnlợi hải sản lớn nhất cả nước Trữ lượng nguồn lợi cá ở VBĐNB được ước tínhkhoảng 976.000 tấn với khả năng khai thác cho phép 425.300 tấn trong đó cá nổinhỏ có trữ lượng khoảng 349.000 tấn với khả năng khai thác cho phép 174.500 tấn
Cá đáy có trữ lượng khoảng 627.000 tấn và khả năng khai thác là 250.800 tấn.Nhóm cá nổi lớn ở VBĐNB và vùng xa bờ miền trung ước tính khoảng 300.000 tấnvới 37 loài thuộc 18 họ khác nhau trong đó cá Ngừ Vằn chiếm trên 60% [5, 35]
18
Trang 37Ở vùng biển này vẫn còn nhiều loài cá có giá trị kinh tế và khả năng khaithác còn lớn để có thể phát triển nghề cá xa bờ nhưng chưa được nghiên cứu dự báo Dovậy NCS đã lựa chọn một số đối tượng cá kinh tế làm đối tượng nghiên cứu trong luận ánbao gồm: cá Ngừ Vằn, cá Ngừ Chấm và cá Chỉ Vàng để xây dựng cơ sở khoa học choviệc thiết lập mô hình dự báo ngư trường khai thác chúng Dưới đây luận án sẽ tổng quancác kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về các đối tượng này.
1.3.1 Cá Ngừ Vằn (Katsuwonus pelamis)
Cá Ngừ Vằn thuộc họ cá thu ngừ (Scombridae) (hình 1.2), là một trong nhữngloài cá ngừ rất có giá trị kinh tế Theo số liệu thống kê của FAO, 1996, tổng sảnlượng khai thác cá ngừ nói chung của 80 nước trên thế giới đạt khoảng 4 triệu
tấn/năm, trong đó cá Ngừ Vằn chiếm khoảng 50%, tiếp đến cá Ngừ Vây Vàng
(Thunnus albacares) - 30%, cá Ngừ Mắt To (Thunnus obesus) - 10% và cá ngừ vây xanh (Thunnus thynnus) - 5%, còn lại các loại cá ngừ khác 5% [62].
Hình 1.2: Cá Ngừ Vằn (Katsuwonus pelamis)
Nhiều công trình của các tác giả trên thế giới đã chỉ ra rằng, cá Ngừ Vằn cótập tính di cư theo đàn, con nhỏ có thể di chuyển được 25-105km trong một đêm.Theo Quỹ Toàn cầu về thiên nhiên, cá Ngừ Vằn có khuynh hướng đi cùng với cácloài cá cá voi hoặc cá mập và ngừ nhỏ khác, chúng tập trung ở tầng nước bề mặt,phân bố ở vùng nước xa bờ và chuyển theo hướng từ bắc xuống nam [64, 73] Đầuthập kỷ 60, sản lượng cá Ngừ Vằn trên thế giới chiếm 25% tổng sản lượng cá ngừ
Trang 38Trong những năm gần đây, sản lượng cá Ngừ Vằn tăng lên tới 40%, trong đó đánhbắt được ở Thái Bình Dương chiếm 80% [68] Ở Thái Bình Dương sản lượng đánhbắt cá Ngừ Vằn cao nhất từ tháng 5 đến tháng 9 [89].
Cá Ngừ Vằn có phổ thức ăn rộng, ở giai đoạn cá con, chúng sử dụng các sinhvật phù du làm thức ăn chính, sau đó chuyển sang ăn thịt Chúng có thể bắt các loại
cá nổi nhỏ, giáp xác, chân đầu, sứa, v.v Bên cạnh đó, loài cá này cũng ăn thịt lẫnnhau Cá Ngừ Vằn đánh bắt được có kích thước vào khoảng 40-80cm lớn nhất cóthể đạt khoảng 108cm [67] Cá lần đầu tiên tham gia vào quá trình sinh sản có chiềudài đạt từ 40-50cm Con cái có chiều dài khoảng 45-90cm có thể đẻ từ 80.000 -2.000.000 trứng/mùa Mùa đẻ chính của chúng là vào tháng 4-5 và tháng 9-10 hàngnăm, nhưng có thể kéo dài quanh năm ở vùng Xích đạo
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc dựbáo đối tượng này như kết quả nghiên cứu của Froese và Puly (1996) thấy rằng, xuhướng di chuyển và năng suất đánh bắt cá Ngừ Vằn có mối quan hệ với nhiệt độnước biển Cá Ngừ Vằn phân bố ở ngoài khơi có nhiệt độ biến đổi từ 14,7oC đến30,0oC, đẻ trứng ở nơi có nhiệt độ thấp nhất là 25oC và có xu hướng tạo đàn [63].Mật độ cá Ngừ Vằn ở giai đoạn cá bột, có liên quan đến nhiệt độ nước xung quanh.Nhiệt độ nước thích hợp để chúng tập trung cao khoảng từ 23-28oC Vì vậy, nhiệt
độ nước tầng mặt rất quan trọng để quyết định lượng bổ sung hàng năm của loài này[68] Theo Kawasaki (1991) ở vùng biển Nhật Bản, đối với cá thể từ 2 đến 3 nămtuổi, độ biến thiên nhiệt độ môi trường thích hợp từ 18-28oC Vùng nước có nhiệt
độ cao hơn 28oC, không thích hợp với loài cá này [69]
Các nghiên cứu khác cho thấy, ở vùng biển Nhật Bản và phía tây vùng biểnPhilippin, xác định khu vực phân bố của cá ngừ có thể dựa vào yếu tố nhiệt độ tầngmặt để dự báo sản lượng vì nhiệt độ là yếu tố giới hạn sự phân bố của mỗi loài cángừ Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng giai đoạn, từng thời kỳ mà yếu tố “quan trọng”
có thể là nhiệt độ, độ mặn, chất nền đáy hay mật độ phân bố của sinh vật phù du.Cũng dựa vào yếu tố nhiệt độ, tác giả đã xác định được bãi đẻ và thời gian sinh sản
20
Trang 39của cá Ngừ Vằn ở các vùng biển thuộc khu vực Thái Bình Dương [65] PatrickLehodey và nnk (1998), bước đầu đưa ra mối tương quan giữa sản lượng đánh bắtvới mật độ phân bố của động - thực vật phù du Trong đó, động - thực vật phù duđược coi là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn [74].
Những nghiên cứu về cá biển Việt Nam, trong đó có phân tích các đặc điểmsinh học, tuy không nhiều so với các vùng nước khác trên thế giới, đặc biệt là cácvùng nước ôn đới, nhưng cũng đạt được một khối lượng đáng kể như công trình củaNguyễn Xuân Huấn (1996) [29] Ngay từ thời Pháp thuộc, một số nhà nghiên cứungười Pháp đã có các công trình nghiên cứu về cá biển Việt Nam như H.E Sauvage,1876; G.Tirant, 1883; Chabanaud, 1926; Chevey, 1932; Chevey và Lemasson,1937… nhưng hầu như chưa đề cập tới đối tượng cá ngừ Đến năm 1959
- 1960 đoàn điều tra nguồn lợi cá Việt - Trung đã xác định được 3 loài cá ngừ, năm
1960 - 1961 đoàn điều tra nguồn lợi cá Việt - Xô đã có chương trình điều tra riêng
về cá ngừ trên tàu Onda, xác định thêm 2 loài nữa, nâng tổng số cá ngừ đã phát hiệnlên 5 loài Trong chương trình điều tra cá nổi Thuận Hải - Minh Hải trên tàu BiểnĐông, cùng các điểm quan sát ven bờ biển từ Quảng Bình tới Vũng Tàu và trên cáctàu điều tra của Liên Xô (cũ) từ năm 1968-1985, và trong chương trình nghiên cứunguồn lợi cá ở biển Việt Nam giữa Viện Nghiên cứu Hải sản với Viện Nghiên cứuNghề cá và Hải dương Biển Đen (AzCHERNIRO) và Viện Nghiên cứu Nghề cá vàHải dương Thái Bình Dương (TINRO), đã xác định được 9 loài cá ngừ ở các vùngbiển Việt Nam, trong đó có cá Ngừ Vằn [15]
Các nghiên cứu về cá Ngừ Văn ở nước ta cho đến nay chủ yếu chú trọng vềnghiên cứu phân bố và đặc điểm sinh học sinh thái Bùi Đình Chung (1992) đã xácđịnh, ở vùng biển Việt Nam, cá Ngừ Vằn chủ yếu đánh bắt được có kích thước từ50-60cm, trọng lượng khoảng 2kg; khu vực phân bố từ vịnh Bắc Bộ tới vịnh TháiLan, nhưng chủ yếu gặp ở vùng biển miền Trung với kích thước từ 47-58cm, trọnglượng 2,4-2,9kg [15] Phạm Thược (1994) cũng đã xác định, cá Ngừ Vằn đánh bắtđược ở vùng biển Vũng Tàu có chiều dài chủ yếu từ 50-55cm [40] Ở vùng biểnKhánh Hòa, Nguyễn Phi Đính (1996) đã xác định chiều dài cá đánh bắt được dao
Trang 40động trong khoảng 46-68cm, trung bình là 55,6cm [20] Kết quả nghiên cứu củaNguyễn Tiến Cảnh (1997) ở vùng biển Quần đảo Trường Sa cho thấy, chiều dài cáNgừ Vằn chủ yếu ở các nhóm 42-46cm; 49-52cm; 59-64cm và 43-50cm [13].
Nghiên cứu dự báo ngư trường khai thác đối tượng cá Ngừ Vằn đã được thựchiện từ năm 2002 đến 2010 Phương pháp dự báo đối tượng trong giai đoạn này làphương pháp thống kê về sản lượng khai thác hàng năm của đối tượng này ở vùngbiển Việt Nam Do vậy, chất lượng dự báo còn nhiều tranh cãi Năm 2015, ĐoànVăn Bộ và nnk đã ứng dụng mô hình LCA dự báo trữ lượng và khả năng khai tháccho đối tượng cá Ngừ Vằn trong năm 2015 [12] Đây là kết quả dự báo thử nghiệm
và mang tính định hướng cho khai thác chứ chưa phải dự báo ngư trường hạn ngắn.Như vậy có thể thấy, các kết quả ở Việt Nam chủ yếu chú trọng đến việcnghiên cứu về phân bố, cấu trúc thành phần loài, đặc điểm sinh học, sinh thái…củađối tượng cá Ngừ Vằn Các kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng
mô hình dự báo nghiệp vụ (dự báo hạn tháng, hạn tuần và hạn ngắn hơn… phục vụtrực tiếp cho sản xuất khai thác) cho đối tượng cá này vẫn còn rất hạn chế Việcnghiên cứu ứng dụng mô hình dự báo của đề tài mã số KC09.18 cho đối tượng nàycũng đang được thực hiện nhưng kết quả dự báo vẫn chưa được đánh giá Do đó,cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa về cơ sở khoa học như mối quan hệ giữa môitrường với nguồn lợi cá Ngừ Vằn hay bộ chỉ số thích ứng sinh thái của đối tượng cánày nhằm xây dựng mô hình dự báo có chất lượng cao trong tương lai
1.3.2 Cá Ngừ Chấm (Euthynus affinis)
Cá Ngừ Chấm là một trong các loài thuộc nhóm cá ngừ ven bờ (Neritic tuna)thuộc họ cá Thu ngừ (Scombridae) (hình 1.3) Đây là nhóm đối tượng khai thác cógiá trị kinh tế, quan trọng của nghề khai thác cá ngừ của Việt Nam cũng như nhiềunước trên thế giới Cá có chiều dài tới chẽ vây đuôi tối đa khoảng 100cm và trọnglượng khoảng 13,6kg, nhưng cá khai thác phổ biến trong khoảng 40-60cm Cátrưởng thành (3-5 tuổi) ở các vùng biển khác nhau có độ dài khác nhau như ở vùng
22