DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮTALMRV Assessment of the Living Marine Resources in Vietnam Dự án đánh giánguồn lợi sinh vật Biển Việt NamBVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản CITES The Co
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn.
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thành Nam
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cố GS.TS Vũ Trung Tạng,người thầy đã tận tình giúp đỡ và chỉ dân tôi trong cuộc sống và trong suốt thờigian tiếp cận nghiên cứu khoa học, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, luậnvăn thạc sĩ và nay là bản luận án này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyên Xuân Huấn, người đã chântình giúp đỡ và chỉ dân tôi trong quá trình học tập và công tác tại Khoa Sinh học,Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Một lời cảm ơn chân thành xin được gửi tới PGS.TS Lê Thu Hà, Chủ nhiệm
Bộ môn Động vật có xương sống cùng các cán bộ trong Bộ môn và Phòng thínghiệm Sinh thái học và Sinh học Môi trường cũng như Ban Chủ nhiệm Khoa Sinhhọc, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điềukiện và có những nhận xét, trao đổi khoa học cũng như giúp đỡ tôi trong suốt quátrình công tác và hoàn thành nghiên cứu này
Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã nhận được những lời nhận xét vàchỉ dân khoa học của GS.TS Mai Đình Yên, GS.TS Lê Vũ Khôi cùng các chuyêngia trong lĩnh vực Động vật học và Sinh thái học Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm tạchân thành đến những sự giúp đỡ quý giá ấy
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Todd William Miller đã tận tình hướng dântôi trong suốt quá trình thực tập khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Môi trườngBiển (CMES), Đại học Ehime, Nhật Bản
Trong quá trình trở về' Bình Thuận thu thập mâu vật và tài liệu, tôi đã đượccác cán bộ của Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận, Sở Thủy sản (trước đây), SởNông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài Nguyên
và Môi trường, Sở Văn hóa - Thể’ Thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận cùng Ban Quản
lý các bến cá tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành công việc Nhân dịpnày, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những sự giúp đỡ quý báu ấy, đặc biệt là sựgiúp đỡ nhiệt thành của KS Huỳnh Quang Huy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sảntỉnh Bình Thuận và KS Nguyên Nhất Bảo Quốc, Phó trưởng phòng Quản lý Khoahọc, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Thuận
Tôi cũng xin cảm ơn chú Nguyên Định cùng các anh em Lớn, Tàu anh, Tàu
em trên tàu BT99055TS; chú Phan Chín cùng các anh em trên tàu BT98774TS đãnhiệt tình giúp đỡ và chăm sóc tôi những lúc say sóng trong quá trình khảo sát vàthu mâu trên biển
Trang 3Xin cảm ơn ba má tôi, những người đã sinh ra, dưỡng dục và luôn ở bêncạnh động viên giúp tôi vững bước trong cuộc sống và phấn đấu trong học tập,công tác.
Một lời cảm ơn đặc biệt tôi muốn giành cho vợ và con gái tôi, hai nguồnđộng lực lớn lao, giúp tôi vững bước và kiên tâm trong cuộc sống
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thành viên trong đại gia đìnhcủa tôi cùng bạn bè đồ'ng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi
Nghiên cứu sinh
Trang 4MỤC LỤC
Nguyễn Thành Nam
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ BIỂN VIỆT NAM VÀ VÙNG BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN 9
1.1.1 Những nghiên cứu lớn trên vùng thềm lục địa Biển Đông 9
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954 9
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975 10
1.1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay 12
1.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản ở các hệ sinh thái tại vùng cửa sông ven biển 17
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu cá tại vùng biển Bình Thuận 21
1.1.4 Nhận xét, đánh giá chung về lịch sử nghiên cứu cá biển Việt Nam 24 1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐỊA ĐỘNG VẬT CÁ BIỂN 29
1.2.1 Các vùng sinh thái chính của biển và đại duơng 29
1.2.2 Các vùng địa động vật ở biển và đại duơng 30
1.2.3 Hệ thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW) 31
1.2.4 Những quan điểm ban đầu về địa động vật cá biển Việt Nam 35
1.3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA KHU HỆ CÁ BIỂN VIỆT NAM 37
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH BÌNH THUẬN VÀ KHU VỰC BIỂN, VEN BIỂN CỦA TỈNH 43
1.4.1 Vị trí, giới hạn 43
1.4.2 Đặc điểm địa hình 45
1.4.3 Đặc điểm khí hậu 49
1.4.4 Đặc điểm thủy - hải văn 51 1.5 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH THUẬN VÀ KHU VỰC
Trang 5MỤC LỤCVEN BIỂN 541.5.1 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận 54 1.5.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội nghề cá và khu vực ven biển 55
Trang 6CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 57
2.1 CÁC LUẬN ĐIỂM, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 57
2.1.1 Các luận điểm 57
2.1.2 Nội dung nghiêncứu 58
2.1.3 Đối tượng và phạmvi nghiên cứu 59
2.2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 60
2.2.1 Cách tiếp cận 60
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu và Kỹ thuật sử dụng 61
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 72
3.1 KHU HỆ CÁ BIỂN VEN BỜ TỈNH BÌNH THUẬN 72
3.1.1 Đa dạng sinh học cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 72
3.1.1.1 Thành phần loài cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 72
a) Thành phần loài 72
b) So sánh với thành phần loài cá biển Thuận Hải (1985) 72
c) Địa động vật cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 117
3.1.1.2 Tính đa dạng của cá biển ven bờ Bình Thuận theo các bậc phân loại 119
a) Bậc lớp 119
b) Bậc bộ 121
c) Bậc họ 127
3.1.1.3 Thảo luận 134
3.1.2 Cấu trúc của khu hệ cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 136
3.1.2.1 Cấu trúc về sinh thái 136
a) Các nhóm sinh thái 136
b) Cá cửa sông và cá di cư 139
3.1.2.2 Cấu trúc về dinh dưỡng 141
3.1.2.3 Danh sách cá trong Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN
142 3.1.2.4 Giá trị sử dụng của cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 142
a) Cá khai thác tự nhiên làm thực phẩm 143
b) Cá có tiềm năng làm cảnh 143
c) Cá có khả năng nuôi thương phẩm 144
3.1.3 Tóm tắt, thảo luận 145
Trang 73.2 NGHỀ CÁ TỈNH BÌNH THUẬN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ
BẢO VỆ NGUỒN LỢI 147
3.2.1 Thực trạng nghề cá tỉnh Bình Thuận 147
3.2.1.1 Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản 147
3.2.1.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác hải sản 150
3.2.1.3 Sản lượng, năng suất khai thác 154
3.2.1.4 Ngư trường, mùa vụ và đối tượng khai thác 158
3.2.1.5 Lao động biển và trình độ khai thác 163
3.2.1.6 Tổ chức sản xuất và ứng dụng trang thiết bị,công nghệ 165
3.2.1.7 Công tác quản lý nghề cá của địa phương 167
3.2.1.8 Nuôi trồng, chế biến thủy sản và tiêu thụ sản phẩm 168
3.2.2 Năng suất khai thác của nghề Lưới kéo đơn và Vây chà 170
3.2.2.1 Nghề Lưới kéo đơn 170
3.2.2.2 Nghề Lưới vây kết hợp chà (Vây chà) 175
3.2.3 Đề xuất giải pháp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi 176
3.2.3.1 Căn cứ khoa học và pháp lý 176
3.2.3.2 Quan điểm phát triển 177
3.2.3.3 Định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể 178
a) Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản 178
b) Nuôi trồng thủy sản 184
c) Chế biến và tiêu thụ sản phẩm 184
d) Dịch vụ thủy sản 185
e) Nâng cao đời sống cộng đồng ngư dân ven biển 186
3.2.4 Tóm tắt, thảo luận 186
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 189
KẾT LUẬN 189
KIẾN NGHỊ 190
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 192
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ALMRV Assessment of the Living Marine Resources in Vietnam (Dự án đánh giánguồn lợi sinh vật Biển Việt Nam)BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
CITES
The Convention on International Trade in Endangered Species of wildfauna and flora (Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vậthoang dã nguy cấp)
DANIDA Danish International Development Association (Cơ quan Hỗ trợ pháttriển quốc tế Đan Mạch)ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
FAO The Food and Agriculture Organization of The United Nations (Tổ chứcNông Lương Liên Hợp quốc)GDP Gross Domestic Product (Tổng sản lượng nội địa)
IOC-UNESCO The Intergovernmental Oceanographic Commission of UNESCO (Ủy ban
Hải dương học Liên chính phủ của UNESCO)IUCN The International Union for The Conservation of Nature (Liên minh
Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên)JICA The Japan International Cooperation Agency (Cơ quan Hợp tác Quốc TếNhật Bản)KHCN Khoa học Công nghệ
LĐLĐ Liên đoàn Lao động
NOAA The United States National Oceanic and Atmospheric Administration(Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ)
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP The United Nations Development Programme (Chương trình Phát triển
Liên Hợp quốc)UNEP The United Nations Environment Program (Chương trình Môi trườngLiên Hiệp Quốc)UNESCO The United Nitions Educational, Scientiíic and Cultural Organization (Tổchức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)UNIDO The United Nations Industrial Development Organization (Tổ chức Phát
triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển ven bờ ở hình 1.1 34Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu về chế độ nhiệt - ẩm của Bình Thuận giai đoạn 1998 - 2011 50Bảng 1.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số tỉnh Bình Thuận năm 2011 55Bảng 1.4 Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng GDP của tỉnh Bình Thuận (tỷ đồng) 56Bảng 1.5 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của vùng kinh tế biển so với toàn tỉnh
Bình Thuận năm 2008 56Bảng 3.1 Danh sách cá vùngbiển ven bờ tỉnh Bình Thuận và các thông tin liên quan 73Bảng 3.2 Tỷlệ cácbậc phân loại củahai lớp cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
119
Bảng 3.3 Tỷlệ cácbậc phân loại củacác lớp cá trên thế giới 119Bảng 3.4 Tỷlệ cácbậc phân loại củalớp cá Mang tấm và lớp cá Vây tia trên thế giới 119Bảng 3.5 So sánh tỷ lệ các bậc phân loại của lớp cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
và trên thế giới 120Bảng 3.6 Tỷ lệ các bậc phân loại của 28 bộ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 125Bảng 3.7 Tỷ lệ các bậc phân loại của 140 họ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 128Bảng 3.8 So sánh sự sắp xếp theo hệ thống Rass T.S & Lindberg G.U và hệ thống
Eschmeyer W.N đối với cá vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 135Bảng 3.9 Tỷ lệ các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận 137Bảng 3.10 Diễn biến phân bổ công suất tàu thuyền của Bình Thuận (2001 - 2012) 147Bảng 3.11 Một số thông tin tổng hợp về hiện trạng khai thác hải sản của Bình Thuận giai
đoạn 2001 - 2012 149Bảng 3.12 Số lượng tàu thuyền của từng nghề khai thác hải sản ở Bình Thuận năm 2012
' 150
Bảng 3.13 Bảng tóm lược thông tin về sản lượng, năng suất khai thác giai đoạn 2001
-2012 154Bảng 3.14 So sánh sản lượng và số lượng tàu thuyền các nghề khai thác năm 2012 157Bảng 3.15 Thông tin thành phần nhóm loài hải sản khai thác giai đoạn 2001 - 2012 157Bảng 3.16 Thông tin về mùa vụ và ngư trường, đối tượng đánh bắt chính của các nghề
khai thác 160Bảng 3.17 Tổng hợp số lượng chức danh lao động nghề cá đã được đào tạo, cấp chứng chỉ
’ ’ 164Bảng 3.18 Tổng hợpnhu cầu đào tạo và cấp chứng chỉ nghề trong thời gian tới 165Bảng 3.19 Thống kêcác mẻ lưới kéo đáy ở vùng biển Bình Thuận tháng 8 năm 2010 173Bảng 3.20 Thống kêcác mẻ lưới kéo đáy ở vùng biển Bình Thuận tháng 8 năm 2012 174Bảng 3.21 Thống kê các mẻ lưới vây rút chì kết hợp chà ở vùng biển Bình Thuận tháng 9
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ phân chia của những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới
(MEOW) (phần tô đậm) 33Hình 1.2 Vị trí địa lý tỉnh Bình Thuận 44Hình 2.1 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá
Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Mập 67Hình 2.2 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá
Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối 68Hình 2.3 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cáVây tia (cá Xương) 69Hình 2.4 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và cáckiểu
răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 70Hình 2.5 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vâyđuôi
dùng trong định loại cá Vây t ia (cá Xương) 71Hình 3.1 Biểu đồ so sánh các bậc phân loại của khu hệ cá Thuận Hải và khu hệ cá vùngbiển ven bờ Bình Thuận 117Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện số lượng và tỷ lệ các bậc phân loại trong 2 lớp cá ở vùngbiển
ven bờ tỉnh Bình Thuận 121Hình 3.3 Biểu đồ phân tích sự đa dạng của các bậc phân loại trong 28 bộ cá ở vùngbiển
ven bờ tỉnh Bình Thuận 122Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện số lượng và tỷ lệ các bậc phân loại của 28 bộ cá ở vùng biểnven bờ tỉnh Bình Thuận 124Hình 3.5 Biểu đồ phân tích sự đa dạng của các bậc phân loại có trong 140 họ cá ở vùngbiển ven bờ tỉnh Bình Thuận 127Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng biển ven bờtỉnh Bình Thuận 137Hình 3.7 Biểu đồ tổng hợp số lượng loài cá ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận theo bậc
dinh dưỡng 142Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện sản lượng và năng suất khai thác hải sản ở vùng biển tỉnh BìnhThuận giai đoạn 2001 - 2012 156
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.9 Sơ đồ hướng di chuyển của tàu và điểm thu mẫu cá trên tàu Lưới kéo đơn tháng8/2010 và tháng 8/2012 172Hình 3.10 Sơ đồ điểm thu mẫu cá trên tàu Lưới vây kết hợp chà tháng 9/2013 175
Trang 12MỞ ĐẦU
Với đường bờ biển khoảng 3.260 km, trải dài trên 14 vĩ độ từ Móng Cái (tỉnhQuảng Ninh) - vĩ độ 22005’ Bắc đến Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang) - vĩ độ 8033’ Bắc đãtạo cho vùng biển nước ta sự đa dạng về các hệ sinh thái và sự phong phú về thànhphần loài, mở ra tiềm năng khai thác to lớn Chính vì vậy, kinh tế biển nói chung vàngành thủy sản nói riêng đang có những bước phát triển nổi bật Nửa thế kỷ qua,ngành thủy sản từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ và lạc hậu đã trở thành một trongnhững ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước với tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷtrọng GDP ngày càng lớn, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân [40]
Tỉnh Bình Thuận có diện tích vùng biển 52.000 km2 cùng nhiều điều kiệnthuận lợi đã trở thành một trong những ngư trường lớn nhất nước Theo đánh giácủa UBND tỉnh Bình Thuận năm 2003 [53], tổng trữ lượng cá biển ven bờ của tỉnhđạt 220-240 nghìn tấn, khả năng khai thác đạt 130-150 nghìn tấn/năm; trữ lượngmực 10-20 nghìn tấn, khả năng khai thác 6.300-7.200 tấn/năm; trữ lượng tôm 10-12nghìn tấn, khả năng khai thác 7-8 nghìn/năm; trữ lượng các loài thân mềm hai mảnh
vỏ trên 50 nghìn tấn, khả năng khai thác có thể đạt 25-30 nghìn tấn, cùng tiềmnăng nuôi trồng thủy sản ven biển lớn đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp pháttriển nghề cá của cả nước
Tỉnh Bình Thuận với ngư trường rộng lớn, đa dạng và là nơi có hoạt độngtích cực của nước trồi vào các tháng gió mùa Tây Nam, tạo nên năng suất và sảnlượng khai thác hải sản cao Bên cạnh đó, khu vực đảo Cù Lao Thu (huyện đảo PhúQuý) và đảo Cù Lao Cau có hệ sinh thái rạn san hô đa dạng đã mang lại cho tỉnh lợithế lớn về đa dạng sinh học và nguồn lợi cá rạn san hô Nếu khai thác tốt tiềm năngnày sẽ mang lại hiệu quả về nguồn lợi và du lịch tốt cho địa phương
Tuy có nhiều tiềm năng và lợi thế nhưng các kết quả nghiên cứu về đa dạngsinh học biển nói chung và về nguồn lợi cá biển nói riêng của tỉnh Bình Thuận(cùng với tỉnh Ninh Thuận hợp thành tỉnh Thuận Hải trước đây) chủ yếu được tổnghợp chung trong các công trình nghiên cứu của khu vực và cả nước Nổi bật nhấttrong công tác nghiên cứu về cá biển Thuận Hải là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầnggiữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải-Minh Hải” giai đoạn 1978-1980 Tổng hợpkết quả nghiên cứu từ đề tài này cùng nhiều tài liệu khác, Viện Nghiên cứu Hải sản
Trang 13(1985) đã cho ra đời ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận
- Phân tích, đánh giá hiện trạng nghề cá của tỉnh Bình Thuận
- Đề xuất giải pháp nhằm khai thác hợp lý nguồn lợi và bảo vệ môi truờng,phát triển nguồn lợi ở vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận
Những điểm mới và đóp góp chính của luận án gồm có:
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu về khu hệ cá biểnven bờ và nghề cá của tỉnh Bình Thuận;
- Các giải pháp đuợc đề xuất giúp khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi cábiển nói riêng và thủy hải sản nói chung theo định huớng phát triển bền vững chotỉnh Bình Thuận vừa mang tính thực tiễn cho địa phuơng vừa mang tính lý luận và
có thể tham khảo, áp dụng cho các địa phuơng ven biển có điều kiện tuơng tự
Nội dung luận án đuợc chia thành các phần và các chuơng nhu sau:
- Mở đầu
- Chuơng 1 Tổng quan tài liệu
- Chuơng 2 Nội dung, đối tuợng và phuơng pháp nghiên cứu
- Chuơng 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận và Kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ BIỂN VIỆT NAM VÀ VÙNGBIỂN TỈNH BÌNH THUẬN
Những ghi chép thành văn về các loài thủy sinh vật, bao gồm các loài cá,trai, ốc, của Việt Nam được tìm thấy trong công trình của Lê Quý Đôn từ năm
1773 Việc nghiên cứu về thủy sinh vật biển nói chung và cá biển nói riêng của ViệtNam được các nhà khoa học phương Tây khởi sự rất sớm và sau đó các nhà khoahọc Việt Nam tiếp tục thực hiện [67]
1.1.1 Những nghiên cứu lớn trên vùng thềm lục địa Biển Đông
1.1.1.1 Thời kỳ trước năm 1954
Trong thời kỳ này, các nghiên cứu tập trung vào việc điều tra khu hệ, đánhgiá năng suất, sản lượng khai thác của các nghề lưới kéo đáy Kết quả đã được công
bố trong nhiều công trình nghiên cứu Nhìn chung, kết quả nghiên cứu trong giaiđoạn này phần lớn là sự đóng góp của các nhà khoa học nước ngoài với các nhàkhoa học Pháp là trung tâm
Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là đợt khảo sát của đoàn thám hiểm đứngđầu là Cook (cuối thế kỷ 18), Sauvage (1877), Vào đầu thế kỷ 20, trong thời kìPháp thuộc, những nghiên cứu về địa chất hải dương, hải văn, thủy sinh vật và nghề
cá được triển khai trên vùng thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận khá nhiều.Những công trình nghiên cứu đầu tiên về khu hệ cá đã được công bố là củaPellegrin (1905) mô tả khoảng 100 loài cá phân bố ở vùng biển vịnh Hạ Long vàcủa Chabannaud (1926) với nghiên cứu về hình thái một số loài thuộc họ cá Mù làn,trong đó chủ yếu là các kết quả điều tra khu hệ cá ở biển Trung Bộ, Nam Bộ và vịnhThái Lan [64,65,67]
Một trong những sự kiện quan trọng của giai đoạn này là sự ra đời của ViệnHải dương học Đông Dương vào năm 1922 (nay là Viện Hải dương học, NhaTrang) Từ khi thành lập, trong quá trình hoạt động của mình gắn liền với tàu DeLanessan có trọng tải 700 tấn (1000 CV) đến trước Đại chiến lần thứ II (1922-1939), Viện đã công bố 49 công trình, đại bộ phận là các công trình tập trung vàothủy sinh vật và nghề cá biển; trong đó nổi bật là công trình của Chevey vào năm
Trang 151934 đã tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu trong giai đoạn
Viện Hải duơng học Đông Duơng [64,65,67]
Tổng hợp các kết quả từ những công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật biểnnăm 1928-1929, 1929-1930, Krempf (1930) đã tập hợp đuợc danh lục gồm 961 loài
cá biển thuộc 457 giống, 162 họ, 28 bộ, trong đó có khoảng hơn 400 loài cá rạn san
hô tại vùng biển Việt Nam [64,65,67]
Vào năm 1927, Nhật Bản đã sử dụng tàu Hakuho Maru (333 BRT) để thựchiện chuơng trình đánh cá thử nghiệm tại vịnh Bắc Bộ Chuơng trình này tiếp tục
mở rộng và số luợng tàu tham gia thử nghiệm lên tới 20 chiếc vào năm 1937 Một
số kết quả của chuơng trình này đuợc công bố trong công trình của Shindo vào năm
1937 [64,65,67]
Cũng tại khu vực biển vịnh Bắc Bộ, truớc đó vào năm 1926, Gruvel cũng đãcông bố công trình nghiên cứu về khu hệ và mô tả một số loài cá [64,65,67]
1.1.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc (1954), đội ngũ các nhà khoahọc trong các lĩnh vực khoa học nói chung hay trong sinh học, thủy sinh học nóiriêng đuợc hình thành và ngày càng truởng thành Lúc này, tuy đất nuớc vẫn bị chiacắt nhung hoạt động nghiên cứu biển vẫn đuợc tiến hành trên cả hai miền
+ Ở miền Bắc, lúc này một số cơ quan nghiên cứu biển cũng đã đuợc thànhlập, nhu Trạm Nghiên cứu Biển thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nuớcthành lập vào tháng 7/1959, đến năm 1967 chuyển thành Viện Nghiên cứu Biển vànay là Viện Tài nguyên và Môi truờng Biển, Hải Phòng Tiếp đó, vào năm 1961,Trạm Nghiên cứu cá biển thuộc Vụ Ngu nghiệp, Bộ Nông Lâm đuợc thành lập (vềsau trở thành Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng vào năm 1975), cùng với sự
ra đời và hoạt động của các cơ sở đào tạo nguồn lực nhu Truờng Trung cấp NôngLâm (ở Chèm), Khoa Sinh vật (sau là Khoa Sinh học) - Truờng Đại học Tổng hợp
Hà Nội, Khoa Thủy sản của Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Từ năm 1959 đến 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp tácvới Trung Quốc thực hiện chuơng trình hợp tác “Việt-Trung” nghiên cứu tổng hợpvịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu Biển và Viện Nghiên cứu Hải duơng Trung Quốc
Trang 16nguồn lợi cá đáy và gần đáy cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học
cá đáy phục vụ cho sự phát triển nghề cá vịnh Bắc bộ trên các tàu Tiền
CV) và tàu Hải Điều (1000 CV) [64,65,67]
Cũng vào thời điểm đó (1960-1961), nước ta còn thực hiện chương trình hợptác “Việt-Xô” nghiên cứu vịnh Bắc Bộ do Trạm Nghiên cứu cá biển Việt Nam vàViện Nghiên cứu Nghề cá - Hải dương học Thái Bình Dương (Viện TINRO), Liên
Xô thực hiện Một trong những kết quả thu được trong hai chương trình hợp tácViệt-Trung và Việt-Xô là đã thành lập hai bản danh sách cá vịnh Bắc Bộ với 608loài (Trần Nho Xy và Nguyễn Nhật Thi, 1965) và 748 loài (Besednov, 1967) bêncạnh các phát hiện bước đầu về các quy luật phân bố và khu tập trung cá, đặc điểmsinh học của một số loài cá kinh tế chủ yếu và đặc điểm của các yếu tố khí tượnghải văn [64,65,67]
Ngoài ra, trong năm 1963, 1964, Trạm Nghiên cứu cá biển đã sử dụng haitàu Việt-Đức (90 CV) nghiên cứu nguồn lợi phía Tây vịnh Bắc Bộ [64,65,67]
Trong giai đoạn 1967-1972, công tác nghiên cứu biển ở miền Bắc không tiếnhành được do chiến tranh phá hoại của Mỹ Vào thời gian này, Trạm Nghiên cứu cábiển đã tổ chức các đội điều tra và tổng kết kinh nghiệm quần chúng đánh cá ven bờ
ở tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Bình [64,65,67]
Năm 1971, dựa trên tư liệu hiện có, Viện Nghiên cứu Biển đã công bố Danhlục cá vịnh Bắc Bộ bao gồm 961 loài thuộc 457 giống, 162 họ và 28 bộ Bên cạnh
đó, kết quả của các đợt khảo sát của chương trình hợp tác Việt-Xô đã được tổng kếttrong một chuyên khảo kinh điển và có giá trị khoa học lớn với tên là “Động vậtgiới vịnh Bắc bộ và điều kiện sống của nó” dưới sự chỉ đạo của giáo sư E.F.Gurijanova vào năm 1972; và đến năm 1976, công trình nổi tiếng này được dịch vàxuất bản bằng tiếng Việt trong tập “Sinh vật biển và nghề cá biển Việt Nam”
[47,64,65,67]
+ Ở các khu vực biển miền Trung, Nam bộ và vịnh Thái Lan, từ năm
1959-1961, chương trình hợp tác giữa Viện Hải dương Scripps California (Hoa Kỳ) vàHải quân Thái Lan với chính quyền Sài Gòn (chương trình NAGA) đã sử dụng tàuđiều tra Stranger của Mỹ tiến hành điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên và đánh giánguồn lợi thủy sinh vật Biển Đông và vịnh Thái Lan Kết quả của chương trình hợp
Trang 17tác nđược tổng kết trong ấn phẩm “Scientiíic result of marine
Co Ltd với 2 tàu Kyoshin Maru 52 (1000 CV) và tàu Hữu nghị (380 CV)
[64,65,67] Các kết quả của các chuyến khảo sát này đã được công bố trong 6 tậpvề
“Nguồn lợi cá biển miền Nam Việt Nam” (từ tập 1 đến 6, Sài Gòn, 1975).
Giai đoạn 1968-1971 còn có chương trình khảo sát nghề cá miền duyên hảiNam Việt Nam nhằm tìm kiếm ngư trường, mở rộng khai thác ra vùng khơi BiểnĐông Tập hợp các kết quả nghiên cứu này, J J Orsi (1974) đã thành lập Danh lục
cá biển và cá nước ngọt miền Nam Việt Nam gồm 1458 loài và phân loài thuộc 173
họ [64,65,67]
1.1.1.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Sau khi đất nước thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu biển càng đượcquan tâm và đẩy mạnh hơn, ngoài việc vẫn chú trọng vào điều tra khu hệ còn có cácđiều tra cụ thể về nghề cá cũng như các nghiên cứu về sinh học, sinh thái cá, ngưtrường, nguồn lợi và dự báo khai thác Có thể tóm tắt một số mốc thời gian và cáccông trình quan trọng như sau:
Trước hết là đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi ven bờ vịnh Bắc Bộ” đượctiến hành với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Hải sản, Hải Phòng và Viện Hảidương học, Nha Trang (1974-1976) Kết quả của Đề tài này đã cung cấp thêmnhững số liệu đáng tin cậy về điều kiện tự nhiên, môi trường biển, các bãi đẻ, đặcđiểm sinh học của một số loài cá kinh tế ở vịnh Bắc Bộ để Bùi Đình Chung tổnghợp vào năm 1976 [64,65,67]
Năm 1977-1978, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Viện Nghiên cứu
Trang 18bằng phương pháp thủy âm đầu tiên được thực hiện trên quy mô lớn
Kết quả của các chuyến điều tra này đã đưa ra được các đánh giá bước
lượng, phân bố của các đàn cá nổi nhỏ ở vùng biển vịnh Bắc Bộ
Nghiên cứu nổi bật trong thời kỳ này là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầnggiữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải - Minh Hải”, giai đoạn 1978-1980 Đây làmột đề tài nghiên cứu khá toàn diện với 12 chuyến nghiên cứu bằng tàu Biển Đông(1500 CV), trong đó có 11 chuyến nghiên cứu trên diện rộng và 1 chuyến nghiêncứu trọng điểm ở khu vực tập trung cá, với tổng số 173 mẻ lưới kéo đáy, 45 mẻ lướikéo tầng trung, 4 đợt thí nghiệm để xác định hệ số phản hồi âm của các loài cá Kếtquả của Đề tài đã đưa ra được trữ lượng ước tính của cá nổi nhỏ, các kết quả nghiêncứu về khí tượng, hải dương học, thủy sinh, và sinh học các loài hải sản, ở vùngbiển Thuận Hải-Minh Hải Ngoài ra, dựa trên các kết quả nghiên cứu của đề tài này,
về sau các cán bộ khoa học của Viện Nghiên cứu Hải sản đã tổng hợp và cho ra đời
ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” vào năm 1985 [62]
Tháng 12/1978, nước ta đã ký Hiệp định Hợp tác trong lĩnh vực nghề cá biểnvới Liên Xô Theo đó, giai đoạn 1 của Hiệp định từ năm 1979-1981 do Viện Nghiêncứu Hải sản và Viện Nghiên cứu Nghề cá - Hải dương học biển Đen “A-zốp” thựchiện; giai đoạn 2 từ năm 1982-1985 do Viện Nghiên cứu Hải sản và viện TINROthực hiện Đây là chương trình nghiên cứu được thực hiện trên quy mô lớn với 16tàu từ 800 đến 3800 CV do Liên Xô cung cấp để phục vụ công tác thăm dò vànghiên cứu khoa học nguồn lợi sinh vật ở biển Việt Nam; trong số tàu trên chỉ có 2tàu nghiên cứu là Nauka và Semen Volkov, còn lại là các tàu thăm dò Xuất phát từHiệp định Hợp tác này, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài cấp nhà nước
“Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Việt Nam” [60] với các kết quả nghiên cứu đáng ghinhận về địa hình biển Việt Nam, đặc điểm khí tượng hải văn, và đặc biệt là những
số liệu, thông tin về thủy sinh vật và nguồn lợi cá biển Việt Nam Dựa trên các kếtquả khảo sát và nghiên cứu trong giai đoạn này, năm 1985, Viện Nghiên cứu Hảisản đã phát hành ấn phẩm “Thành phần loài, sản lượng và tần số xuất hiện các loài
cá và động vật không xương sống ở các vùng biển Việt Nam” [61] Có thể nói, cáckết quả nghiên cứu và khảo sát theo Hiệp định Hợp tác và đề tài nghiên cứu nguồn
Trang 19lợi cá biển Việt Nam có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn hết
còn nhiều giá trị tham khảo, sử dụng cho đến ngày nay
Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn 1986-1990 được Vụ Quản lýKhoa học Kỹ thuật và Tạp chí Thủy sản (Bộ Thủy sản) tổng hợp trong tập “Cáccông trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật thủy sản 1986-1990” vào năm 1991 [2]
Sau năm 1990, một loạt các đề tài, dự án nghiên cứu được thực hiện trongcác Chương trình Biển, trước hết là đề tài KT.04.01 (1992-1993) về điều tra nghiêncứu nguồn lợi các loài đặc sản ở vùng biển xa bờ Việt Nam [65,67]
Tiếp đến, trong giai đoạn 1992-1995, đề tài KT.03.09 về nghiên cứu nguồnlợi cá Ngừ ở biển Việt Nam được thực hiện và đã thu được các số liệu về khu hệ cáNgừ như: thành phần loài, phân bố và đánh giá nguồn lợi cá Ngừ ở vùng biển xa bờViệt Nam [65,67]
Từ năm 1993-1997, đề tài “Điều tra tổng hợp nguồn lợi sinh vật biển và môitrường vùng biển quần đảo Trường Sa” đã tiến hành nghiên cứu nguồn lợi cá nổibằng lưới rê, khu hệ cá rạn san hô quanh các đảo và thu thập các yếu tố môi trường
ở vùng biển này Tiếp theo từ năm 1999 đến 2003, đề tài đã được tiếp tục triển khaithu thập số liệu về nguồn lợi sinh vật vùng biển quần đảo Trường Sa Kết quả củacác nghiên cứu này đã đưa ra được các đánh giá tương đối cơ bản về nguồn lợi cánổi, khu hệ cá rạn san hô ở các đảo trong khu vực này [65,67]
Cùng với các kết quả đáng ghi nhận từ các đề tài nghiên cứu về nguồn lợi cá
xa bờ khác, từ năm 1995-1997, dự án “Đánh giá nguồn lợi cá nổi lớn ở biển ViệtNam” được tài trợ của tổ chức JICA (Nhật Bản) đã sử dụng tàu Biển Đông thựchiện 4 chuyến điều tra nghiên cứu nguồn lợi cá nổi lớn bằng lưới rê ở vùng biển ven
Trang 20tỉnh nghề cá trọng điểm và đã đánh giá được thành phần loài, thành
thương phẩm và tổng sản lượng khai thác hải sản của Việt Nam [65,67]
Bên cạnh đó, giai đoạn 1996-2000, Ban Chỉ đạo Chương trình Biển
KHCN-06 đã thực hiện chương trình điều tra nghiên cứu cấp nhà nước KHCN giai đoạn
1996-2000 và đến năm 2003 đã biên tập và cho xuất bản ấn phẩm Biển Đông gồm 4
tập I, II, III và IV (in tại NXB ĐHQG Hà Nội) đề cập đến các nội dung nghiên cứurất đa dạng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của Biển Đông Việt Nam [8,65,67]
Từ năm 2000, dự án ALMRV-II kết hợp với đề tài “Nghiên cứu thăm dònguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề
cá xa bờ” (gọi tắt là “đề tài xa bờ”) (giai đoạn 2000-2002) và dự án “Điều tra cơ bảnnguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêuphát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước ta” (gọi tắt là “dự án gầnbờ”) (giai đoạn 1997-2003) đã tiến hành điều tra nguồn lợi hải sản sống đáy và gầnđáy cũng như điều kiện môi trường ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và TâyNam Bộ, ngoài ra còn điều tra thăm dò nguồn lợi cá nổi lớn ở vùng biển xa bờTrung Bộ và Đông Nam Bộ [65,67]
Những năm 2001-2003, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp với Phân việnHải dương học tại Hải Phòng, Trung tâm Khí tượng Thủy văn biển và Trường Đạihọc Khoa học Tự nhiên-ĐHQG Hà Nội tổ chức thực hiện dự án “Đánh gia nguồnlợi sinh vật và hiện trạng môi trường biển quần đảo Trường Sa” thuộc chương trìnhBiển Đông-Hải đảo [65,67]
Năm 2003 đề tài “Nghiên cứu đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cánổi nhỏ (chủ yếu là cá Nục, Trích, Cơm, Bạc má, ) ở biển Việt Nam” (gọi tắt là
"đề tài cá nổi nhỏ") đã được tiến hành với mục đích nắm bắt được thành phần loài,sinh lượng trứng cá, cá con của các loài cá nổi nhỏ kinh tế, đánh giá được trữlượng và hiện trạng khai thác cá nổi nhỏ ở vùng biển Việt Nam để tạo cơ sở cho quyhoạch, sử dụng hợp lý nguồn lợi này [64,65,67]
Từ năm 2002-2004 đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thácnguồn lợi cá nổi (chủ yếu là cá Ngừ vằn, cá Ngừ vây vàng và cá Ngừ mắt to) vàhiện trạng cơ cấu nghề nghiệp khu vực biển xa bờ miền Trung và Đông Nam bộ” đã
Trang 21được thực hiện và cung cấp những dẫn liệu về trữ lượng và khả năng
nguồn lợi cá nổi lớn tại các khu vực nghiên cứu [65,67]
Tiếp đó, năm 2005-2006, đề tài “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệmới trong nghề câu cá Ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ”cũng đã được thực hiện [65,67]
Giai đoạn 2001-2005 có “Chương trình điều tra cơ bản và nghiên cứu ứngdụng công nghệ biển”, mã số KC.09 do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý Từnăm 2005, Dự án “Điều tra liên hợp Việt-Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trongvùng khai thác chung vịnh Bắc Bộ” nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam vàTrung Quốc đã được triển khai thực hiện với giai đoạn I (2005-2007), giai đoạn II(2008 -2010) và giai đoạn III (2011-2013) [65,67]
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản cùng các
cơ quan khoa học liên quan được tổng hợp khá tốt trong các tập các công trìnhnghiên cứu nghề cá biển [63]
Một trong những kết quả nghiên cứu biển nổi bật sau năm 2005 là “Chươngtrình Khoa học Công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội”, mã sốKC.09/06-10 (2006-2010) do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý
Tiếp đó, theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01/3/2006, Thủ tướngChính phủ đã phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” (gọi tắt là “đề án 47”)
Theo danh mục các nhiệm vụ-dự án của Đề án 47, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn (trong đó có Bộ Thủy sản trước đây) đã triển khai thực hiện nhiệm
vụ số 8 với dự án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sảnvùng biển Việt Nam; quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụphát triển bền vững”
Đến tháng 9/2011, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục ra quyết định thựchiện chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước với tên gọi
“Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triểnkinh tế biển”, mã số KC.09/11-15
Trang 221.1.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản ở các hệ sinh thái tại vùng cửa sông ven biển
Ngoài các nghiên cứu lớn ở thềm lục địa, chủ yếu tại các nơi có độ sâu trên20-30 mét nuớc, trong các thời kỳ trên còn nhiều cuộc điều tra khảo sát trong cáckhu vực cửa sông ven biển, nơi có độ sâu duới 20-30 m nuớc vào bờ, bao gồm cáccửa sông, đầm phá cũng nhu các hệ sinh thái đặc thù khác (rừng ngập mặn, các đai
cỏ biển, các rạn san hô gần bờ hay quanh các hải đảo thềm lục địa) hoặc các nghiêncứu về trứng cá-cá con tại các khu vực này Những nghiên cứu này cũng xuất hiệntrong các đề tài thuộc các Chuơng trình biển hay các đề tài độc lập của các truờngĐại học, các Viện, Trung tâm nghiên cứu và các cơ sở khoa học địa phuơng liênquan đến biển
Truớc tiên phải kể đến những kết quả nghiên cứu của các cán bộ của KhoaSinh học, Truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Truờng Đại học Khoa học Tựnhiên, ĐHQGHN) [52] Nghiên cứu đầu tiên về các loài cá nuớc lợ cửa sông (sôngNinh Cơ, Nam Định) có thể tìm thấy trong công trình của Đào Văn Tiến và MaiĐình Yên (1960); nghiên cứu nghề cá ở miền Tây Thái Bình Duơng (Đào Văn Tiến,1961); sinh học và giá trị kinh tế của cá Mòi di cu vào sông Hồng (Mai Đình Yên
và Nguyễn Văn Thái, 1962), nguồn gốc và phân bố, ý nghĩa kinh tế, đặc điểm sinhvật học của khu hệ cá sông Hồng (Mai Đình Yên, 1963, 1964); cá cửa sông BạchĐằng (Mai Đình Yên và Trần Định, 1969); hình thái và phân loại cá bột và cá contrên sông Hồng (Mai Đình Yên và nnk., 1971)
Các truờng Đại học là những đơn vị tích cực triển khai nhiều đề tài nghiêncứu về khu hệ động vật, thực vật (thực vật nổi, thực vật đáy, động vật nổi, động vậtđáy, cá và các nhóm động vật có xuơng sống khác ), về nguồn lợi thủy sản cũngnhu các điều kiện môi truờng cửa sông, đầm phá thuộc dải ven biển từ Bắc đếnNam nhằm đề xuất cơ sở khoa học cho việc sử dụng tổng hợp tài nguyên cho pháttriển bền vững
Ở miền Bắc, từ đầu những năm 1972, các đề tài khảo sát nghiên cứu về cácloài cá cũng nhu thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản cửa sông ven biển đuợc triểnkhai bởi nhiều nhà khoa học của Khoa Sinh học (Vũ Trung Tạng, 1974-1976, 1977-
1980, 1980-1985, 1996-2000, 2006-2008, cùng các công bố vào các năm 1977,
Trang 23Nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông venbiển và đồng bằng Nam bộ có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Nuôi trồngThủy sản II cũng nhu các truờng Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh, Đại học NôngLâm thành phố Hồ Chí minh, Đại học Cần Thơ Các nghiên cứu nổi bật ở khu vựcnày có thể kể đến là các nghiên cứu về “Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lí hệ sinhthái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi vàphát triển nuôi trồng thủy sản” (Trần Thanh Xuân và nnk.,1998); “Nghiên cứu vềthủy sinh vùng cửa sông ven biển Tây thuộc bán đảo Cà Mau phục vụ yêu cầu pháttriển thủy sản” (Luơng Văn Thanh và Nguyễn Văn Khôi, 2002); [57,63,67].
Bên cạnh các kết quả nghiên cứu và công bố của các truờng Đại học, các cơquan nghiên cứu chuyên về biển và cá biển của Việt Nam ngoài việc vẫn chú trọngđiều tra về khu hệ cá và nghề cá tại các khu vực rộng lớn của thềm lục địa cũng đãdần thực hiện thêm các đề tài nghiên cứu cụ thể tại các khu vực cửa sông ven biểnnuớc ta
Truớc năm 1975 có Nghiên cứu về thành phần các loài cá ở ven biển QuảngNinh (Nguyễn Nhật Thi, 1971), cá ở biển Nam Hà (Hồ Sỹ Bình, 1974) Sau năm
1975, các đề tài nghiên cứu độc lập hay đề tài thuộc các chuơng trình nghiên cứucấp Nhà nuớc khác do Viện Tài nguyên và Môi truờng Biển chủ trì cũng đuợc tiếnhành trên các địa bàn khác nhu đầm Cái Tráp (Truơng Ngọc An và nnk., 1984),
Trang 24Cùng với đó, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển đã tham gia vào cácchương trình khảo sát lớn cấp nhà nước và tổng kết, công bố nhiều công trình liênquan trực tiếp đến đa dạng sinh học và nguồn lợi tại các vùng cửa sông ven biểncũng như những hệ sinh thái đặc trưng của khu vực này Tiêu biểu như các côngtrình của Nguyễn Hữu Phụng và Bùi Thế Phiệt (1987) khi nghiên cứu về khu hệ cárạn san hô vùng biển Nam Yết, Sơn Ca (Trường Sa) đã xác định được danh mụcgồm 43 loài thuộc 21 giống, 15 họ, 9 bộ Đến năm 1989, chương trình biển 48 khảosát ở các đảo Song Tử Tây, Phan Vinh, Trường Sa và các rạn đá ngầm Đá Nam,Tốc Tan, Vũng Mây, đã phân tích xác định được danh mục với 148 loài thuộc 67giống, 37 họ cá rạn (Nguyễn Hữu Phụng, 1991) Sau khi chương trình Biển Đông -Hải đảo được triển khai, Nguyễn Nhật Thi (1997) đã tổng hợp được danh mục của
414 loài thuộc 138 giống, 46 họ cá rạn phân bố ở các rạn san hô ven đảo vùng biểnTrung Bộ, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Trường Sa, [65,67]
Tổng hợp, phân tích toàn bộ các kết quả nghiên cứu liên quan đến nhóm cárạn san hô phân bố ở vùng biển Việt Nam từ năm 1987-2001, Nguyễn Hữu Phụng(2002) đã thống kê được danh mục gồm 672 loài thuộc 204 giống, 65 họ Năm
2005, Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân [44] đã xuất bản ấn phẩn “Đa dạngsinh học và giá trị sử dụng cá rạn san hô biển Việt Nam”, trong đó đã công bố danhmục của 1.206 loài, 451 giống, 118 họ cá trong đó có 779 loài cá rạn điển hình.Ngoài công bố về đa dạng thành phần loài, phân bố, ấn phẩm này còn đăng tải cácthông tin về giá trị kinh tế, khoa học, phân bố, nguồn lợi, hiện trạng khai thác, Đây có thể được coi là công trình tổng hợp có giá trị tham khảo, ứng dụng trongquản lý nhóm cá rạn cho đến thời điểm hiện tại
Trong những năm 2005-2007, Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp vớiViện Hải dương học Nha Trang và Viện Tài nguyên và Môi trường Biển triển khai
đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảotồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam,
đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” Một trong những sản phẩm nổibật của đề tài là đã thống kê được danh mục của 514 loài cá rạn điển hình, ước tínhđược mật độ, sinh khối, nhóm kích thước, biến động quần xã, cùng với mẫu vật
và trên 3.500 ảnh cá và sinh cảnh chụp dưới nước phân bố tại 10 vùng biển đảo (Cô
Trang 25Tô, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Hòn Mun, Nam Yết,
Tiếp đó năm 2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã triển khai dự
án “Điều tra tổng thể hiện trạng đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô vàvùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển bền vững” Hiện tại dự án
đã triển khai xong giai đoạn 1 (2009-2011) và đang tiếp tục triển khai giai đoạn 2(2011-2015) [67]
Ở phía Nam, Viện Hải duơng học Nha Trang cũng đã tiến hành nhiều đề tàiđộc lập khác, tập trung chính vào các thủy vực ven bờ nhu đầm Ô Loan (Bùi VănDuơng, Nguyễn Hữu Sửu, 1980; Nguyễn Văn Chung và Huỳnh Quang Năng,1980); đầm Nha Phu, Khánh Hòa (Nguyễn Ngọc Lâm và nnk., 2006); vịnh BìnhCang-Nha Trang (Nguyễn Văn Chung và nnk, 1978); vịnh Văn Phong và CamRanh, Khánh Hòa (Thái Ngọc Chiến và nnk., 2006), các rạn san hô ven bờ NamViệt Nam (Võ Sỹ Tuấn và nnk., 1996), [15,60,63,67]
Bên cạnh những nghiên cứu về khu hệ, nguồn lợi và sinh học một số đốituợng cá kinh tế chủ yếu, những vấn đề liên quan đến hoạt động của con nguời nhukhai thác các dạng tài nguyên (quai đê lấn biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản,nạo vét luồng lạch phát triển giao thông, du lịch sinh thái biển), nhất là gây ô nhiễmmôi truờng vùng cửa sông ven biển cũng đuợc nhiều nhà khoa học quan tâm, baogồm: Ô nhiễm môi truờng do sông thải ra (Phạm Văn Ninh, 1991-1995 - Chuơngtrình KT-03); đề tài KHCN.07.06 do Đặng Trung Thuận chủ trì (1997-1998); Khảosát và đánh giá các dạng tài nguyên sinh học nhằm tạo cơ sở khoa học phục vụ cho
Trang 26An, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Đức Cự-Chương trình 48-06; Nguyễn
1.1.3 Lịch sử nghiên cứu cá tại vùng biển Bình Thuận
Các kết quả nghiên cứu về nguồn lợi cá biển Bình Thuận (cùng với tỉnh NinhThuận hợp thành tỉnh Thuận Hải trước đây) chủ yếu được tổng hợp chung trong cáccông trình nghiên cứu của khu vực và cả nước Như phần trên đã trình bày, nổi bậtnhất trong công tác nghiên cứu về cá biển Thuận Hải là đề tài “Điều tra nguồn lợi cátầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải-Minh Hải” giai đoạn 1978-1980 với
ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” [62] do Viện Nghiên cứu Hảisản phát hành năm 1985 trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu từ đề tài này cùngnhiều tài liệu khác
Năm 1990, tác giả Lê Đức Tố và nnk., Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội(nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) dựa trên các kết quả khảosát của nhóm nghiên cứu và các nghiên cứu trước đã thực hiện đề tài “Nghiên cứuđiều kiện tự nhiên và nguồn lợi vùng biển Thuận Hải” [46] và đưa ra những dẫn liệu
cơ bản về mối quan hệ giữa các đặc trưng môi trường và nguồn lợi hải sản cũng nhưxây dựng được bản đồ hải dương học nghề cá cho vùng biển Thuận Hải (trước đây)
Năm 1992, hai tác giả Vũ Huy Thủ và Trần Văn Bun đã cho ra đời ấn phẩm
“Nguồn lợi hải sản vùng biển Trung Bộ Việt Nam” [45] đề cập nhiều đến nguồn lợihải sản cũng như điều kiện tự nhiên và một số vấn đề khác liên quan đến nghề cácủa vùng biển miền Trung (với Thuận Hải là tỉnh cực nam)
Tháng 5-7/1993 và tháng 4-5/1995, Viện Hải dương học Nha Trang tiếnhành khảo sát vùng biển Cù Lao Cau để tìm hiểu về ĐDSH và nguồn lợi cá RSHtrong vùng biển này Kết quả phân tích dữ liệu đã xác định được 221 loài cá RSHthuộc 87 giống và 35 họ cũng như những thông tin về kích thước từng loài và tìnhhình nguồn lợi cá RSH [55]
Trang 27Năm 1996, Nguyễn Xuân Huấn đã thực hiện luận án Phó tiến sĩ Sinh học với
đề tài “Đặc điểm sinh truởng, biến động trữ luợng và dự báo khả năng khai thácmột số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận” [19]
Năm 1997-1998, Sở Khoa học Công nghệ và Môi truờng tỉnh Bình thuận(truớc đây) cùng với Viện Hải duơng học Nha trang đã thực hiện đề tài “Xây dựng
cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học Quốc gia tại Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [29]
Từ năm 1998 đến 2000, Viện Hải duơng học Nha Trang đã thực hiện đề tài
“Điều tra các điều kiện tự nhiên, môi truờng, nguồn lợi vùng ven bờ vịnh PhanThiết và xây dựng định huớng chính phát triển bền vững kinh tế xã hội địa phuơng”[56] Kết quả thực hiện của đề tài này đã cung cấp các số liệu khá cơ bản về điềukiện tự nhiên, môi truờng vùng ven bờ vịnh Phan Thiết cũng nhu một số nhận định
về nguồn lợi và tình hình khai thác nguồn lợi thủy hải sản tại khu vực này
Trong năm 1999-2000, Xí nghiệp Khai thác Thủy sản thuộc Sở Thủy sảntỉnh Bình Thuận (truớc đây) đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu cải tiến nghề vây rútchì khơi kết hợp chà nổi theo mô hình phát triển nghề cá Đông Nam Á” [68] Đề tàinày đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát thực tế và nghiên cứu ngu truờng, nguồn lợivùng biển Bình Thuận cùng với việc so sánh thiết kê và thi công, khai thác chà tạicác nuớc trong khu vực để làm cơ sở cải tiến nghề vây rút chì khơi kết hợp chà nổitại vùng biển Bình Thuận
Năm 2001, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiêncứu biện pháp nâng cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận” [31]
Tiếp đó, từ năm 2000 đến năm 2003, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận (truớcđây) đã thực hiện đề tài “Khảo sát điều tra đánh giá thực trạng nghề cá khai thác ven
bờ tỉnh Bình Thuận” [32] Kết quả báo cáo của Đề tài đã cung cấp những thông tin
về đặc điểm tự nhiên-ngu truờng nguồn lợi vùng biển Bình Thuận cũng nhu các sốliệu điều tra có giá trị về nghề khai thác hải sản cũng nhu sản luợng khai thác tạivùng biển Bình Thuận
Đến năm 2005-2006, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận (nay thuộc Sở Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn) đã thực hiện đề án “Quy hoạch phát triển kinh tế
Trang 282020” [33] Kết quả thực hiện đề án đã đề cập nhiều vấn đề xác
Năm 2007, trong đề tài luận văn cao học, Nguyễn Thành Nam đã xác địnhđuợc 178 loài cá thuộc 137 giống, 77 họ, 17 bộ và 2 lớp ở vùng biển ven bờ thànhphố tỉnh lỵ Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận Trong đó, cá rạn san hô có 96 loàithuộc 43 họ và 10 bộ Kết quả từ nghiên cứu này đã đuợc công bố trên các Tạp chíkhoa học của ĐHQGHN vào năm 2007 và trên Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn vào năm 2008 [41,90] Tuy vậy, những kết quả nghiên cứu này chỉ làbuớc đầu và cũng chỉ đuợc thực hiện ở một vùng biển bộ phận của Bình Thuận Dovậy, nếu khảo sát trên toàn vùng biển Bình Thuận sẽ cho những kết quả đầy đủ và
có nhiều giá trị hơn nữa
Đến năm 2008, với sự tài trợ của WWF, Viện Hải duơng học Nha Trang đãtiếp tục thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học vùng biển xungquanh Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [57] Đề tài đã tiếp tục tiến hành khảo sát vùngbiển Cù Lao Cau và thu đuợc nhiều kết quả đáng ghi nhận về phân bố và diện tíchcủa các hệ sinh thái cũng nhu hiện trạng rạn san hô và quần xã sinh vật rạn san hô ởkhu vực này Kết quả của đợt khảo sát năm 2008 đã ghi nhận đuợc 246 loài, trong
đó có 133 loài trùng với các đợt khảo sát truớc đây (vào năm 1993 và 1994 nhu đãtrình bày ở trên) và bổ sung thêm 113 loài cho khu hệ cá rạn san hô tại khu vực này.Theo đó, tổng hợp số loài cá tại khu vực này là 324 loài thuộc 115 giống và 41 họ
cá rạn san hô
Những nghiên cứu chi tiết trên nhiều lĩnh vực đối với khu vực Cù Lao Cau(Hòn Cau) là một trong những cơ sở quan trọng để Sở Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn tỉnh Bình Thuận thực hiện đề án “Thành lập Khu Bảo tồn Biển Cù laoCau” từ năm 2008 đến năm 2010 và đến ngày 15/11/2010 UBND tỉnh Bình Thuận
đã ra Quyết định số 2606/QĐ-UBND thành lập Khu Bảo tồn Biển Hòn Cau - tỉnh
Trang 29Bình Thuận và ban hành Quy chế quản lý các hoạt động trong Khu
Hòn Cau, tỉnh Bình Thuận theo QĐ số 42/2012/QĐ-UBND ngày 17/10/2012
Tiếp đó, trong 2 năm 2009 và 2010, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hànhthực hiện dự án “Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu Bảo tồn Biển Phú Quý-BìnhThuận” [66] Kết quả khảo sát của dự án này đã xác định đuợc 154 loài cá rạn san
hô thuộc 42 họ, 10 bộ tại vùng biển Phú Quý
Gần đây nhất, vào tháng 12/2011, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôntỉnh Bình Thuận với sự tu vấn của Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam đãcông bố báo cáo “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản tỉnh Bình Thuậnthời kỳ 2011-2020” [30] Có thể nói, đây là các kết quả đuợc công bố tổng quát vàcập nhật nhất về điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển ngành thủy sản của tỉnhBình Thuận đến thời điểm hiện tại, đua ra các quy hoạch phát triển ngành thủy sảncủa tỉnh trong thời gian tới ở các lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản,nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thủy sản cũng nhu quy hoạch phát triển theo vùngkinh tế - xã hội biển cho toàn bộ tỉnh Bình Thuận đến năm 2020
1.1.4 Nhận xét, đánh giá chung về lịch sử nghiên cứu cá biển Việt Nam
1 Nhìn chung, những nghiên cứu truớc năm 1954 đều thuộc các tác giả nuớcngoài, đuợc tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển
kế cận trong những lĩnh vực khoa học cơ bản nhu địa chất hải duơng, khí tuợng-hảivăn, các quá trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nuớc giữa Biển Đông với TháiBình Duơng Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng đuợc chú trọngnhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thácthuộc địa
Sự kiện quan trọng của giai đoạn này là sự ra đời của Viện Hải duơng họcĐông Duơng vào năm 1922 (nay là Viện Hải duơng học, Nha Trang)
2 Thời kỳ 1954-1975, đội ngũ các nhà khoa học của đất nuớc trong các lĩnhvực khoa học nói chung hay trong sinh học, thủy sinh học nói riêng đuợc hình thành
và ngày càng truởng thành, các hoạt động khoa học đuợc chuyển dần cho các cán
bộ khoa học trong nuớc
Thời kỳ này đánh dấu sự ra đời của các cơ quan nghiên cứu khoa học biển và
Trang 30Biển (1959) (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường Biển), Trạm
biển (1961) (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản), Trường Trung cấp Nông Lâm(Chèm), Khoa Sinh vật (sau là Khoa Sinh học) Trường Đại học Tổng hợp HàNội
(nay là Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN), KhoaThủy sản của Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Công trình nghiên cứu nổi bật
Bắc trong thời kỳ này là của các dự án hợp tác Việt-Trung, Việt-Xô với
tra, khảo sát đa dạng trên quy mô lớn và có nhiều công bố quan trọng
3 Từ ngày đất nước được thống nhất (1975), các nhà khoa học Việt Nam đãtrở thành chủ nhân thực sự trong nghiên cứu khoa học vùng ven bờ và biển Cũng từđây, các chương trình nghiên cứu lớn đã ra đời: chương trình Thuận Hải-Minh Hải,các đề tài thuộc chương trình 52.02, các Chương trình Biển và các Chương trìnhnghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn như 48.06, 48B, KT.03, KT.04.01,KHCN.06, KC.09, Đề án 47,
4 Các khảo sát nghiên cứu không chỉ được trải ra trên hầu khắp các địa bànthuộc thềm lục địa, từ Bắc đến Nam, từ các cửa sông, đầm phá vũng vịnh, các hảiđảo gần bờ (Cô Tô-Cát Bà, Hòn Mê, Hòn Cau, Cù lao Chàm, Phú Quốc, Côn Đảo,Phú Quý ) mà còn ở vùng biển xa bờ (quần đảo Trường Sa)
Trước những năm 80-90 của thế kỷ trước, phần lớn các chương trình nghiêncứu biển đều được triển khai ở những vùng nước ngoài độ sâu trên 20-30 m Phíatrong còn là những khu vực trống, ít được quan tâm, trừ những đối tượng nghiêncứu riêng lẻ gắn liền với các đặc trưng vùng triều (địa chất, địa mạo bờ biển, sinhvật vùng triều ) Chính trên địa bàn này, những cơ sở nghiên cứu ít có phương tiện
đi biển như các trường Đại học và một số cơ quan khoa học khác đã triển khainhững nghiên cứu của mình một cách rầm rộ, làm thay đổi nhận thức của xã hội đốivới một vùng có giá trị khoa học độc đáo, giàu tài nguyên và các tiềm năng khoahọc khác trong phát triển kinh tế - xã hội của một nước có bờ biển dài trên 3.260 km
và thềm lục địa rộng lớn
5 Cho đến những năm 1970-1990, đại bộ phận các đề tài, chương trìnhnghiên cứu tập trung trong các lĩnh vực điều tra cơ bản thường tiến hành riêng lẻtheo các đối tượng, các vấn đề mang tính chuyên ngành, thiếu đồng bộ, phân tán cả
Trang 316.về địa điểm, thời gian, thậm chí khác nhau về cả mục đích nghiên
nghiên cứu của các ngành khác nhau
Tuy nhiên, cũng từ đầu những năm 1970, trên cơ sở những nhận thức mới vềmột vùng tiếp xúc sông - biển hay rộng hơn là tiếp xúc lục địa - đại duơng và vai tròcủa nó trong phát triển kinh tế-xã hội, một huớng nghiên cứu mới ra đời - nghiêncứu các hệ cửa sông theo quan điểm sinh thái học cùng với sự xuất hiện các đề tàinghiên cứu tổng hợp, liên ngành mang tính cấu trúc của một hệ sinh thái cửa sôngven biển nói riêng hay cả vùng biển nói chung
Dạng nghiên cứu đầu tiên nhu thế đuợc triển khai với tên “Cấu trúc sinh họccủa vùng cửa sông thuộc hệ thống sông Hồng” (Vũ Trung Tạng, 1974-1976) Theoquan điểm trên, các đề tài tiếp sau phần lớn đều mang tên điều tra, nghiên cứu tổnghợp với sự tham gia của nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau cùng với sự hợptác của các nhà khoa học trong truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội hay từ các cơ quanngoài truờng (địa chất - địa mạo, thổ nhuỡng - nông hóa, hải duơng, khí tuợng - hảivăn, sinh học, ) nhu “Điều tra tổng hợp nguồn lợi các đầm phá phía Nam sôngHuơng” (1976-1977), “Điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vậtvùng cửa sông Cửu Long” (Vũ Tự Lập & Vũ Trung Tạng, 1977-1980), “Điều tratổng hợp và đánh giá tài nguyên thiên nhiên vùng cửa sông thuộc hệ thống sôngHồng nhằm khai thác hợp lí và phát triển tài nguyên” (Vũ Trung Tạng, 1981-1985),cũng nhu các đề tài khác liên quan đến hệ sinh thái cửa sông (Vũ Trung Tạng,1996-2000, 2001-2003, 2006-2008),
Nội dung các nghiên cứu trên không chỉ cung cấp những số liệu điều tra cơbản về điều kiện tự nhiên, thành phần các loài thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản màcòn đuợc tổng kết theo quan điểm sinh thái học của một thủy vực chuyển tiếp sông -biển, nơi có cấu trúc nội bộ thống nhất cao, theo thứ bậc chặt chẽ giữa các thànhphần tồn tại và phát triển thông qua các con đuờng vận động của vật chất và năngluợng cũng nhu các mối quan hệ tuơng tác giữa toàn vùng với môi truờng của nó:lục địa-biển, đặt cơ sở cho các quy hoạch sử dụng tổng hợp tài nguyên cho pháttriển kinh tế-xã hội của các địa phuơng ven biển một cách lâu dài
Kết quả của các hoạt động trên tạo cơ sở cho sự ra đời của chuyên khảo “Các
Trang 32“Sinh thái học các hệ cửa sông Việt Nam” [39] cũng như quyển
nguyên thiên nhiên và con người” [38]
7 Kết quả của các chương trình, đề tài hoạt động trong các thập kỉ qua đãđược công bố trong 5 hội nghị Khoa học và Công nghệ biển quốc gia; Hội nghị vềcác vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học Sự sống; Hội nghị, hội thảo khoa học
về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của các Trường đại học, các Viện nghiên cứu,v.v cùng nhiều ấn phẩm khoa học ra đời: Chuyên khảo biển do Trung tâm Khoahọc và Công nghệ quốc gia ấn hành (1994); các Tuyển tập Nghiên cứu Biển (ViệnNghiên cứu biển trước đây hay Viện Hải dương học Nha Trang hiện nay) [58]; 4 tập
về Biển Đông của Chương trình biển KHCN.06; nhiều ấn phẩm của Viện Nghiêncứu Hải sản, Hải Phòng và của Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Tài nguyên vàMôi trường biển, các Viện Nghiên cứu và Nuôi trồng Thủy sản (I, II và III), cácTuyển tập hay Tạp chí Khoa học của các trường Đại học Tổng hợp trước đây, củaĐại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Thủy sản, Trung tâmNghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn và nhiều sách chuyên khảo khác của cácnhà khoa học,
Các nghiên cứu trên đã cung cấp cho chúng ta nhiều hiểu biết ngày càng sâu
về mặt lí luận, tích lũy được nhiều nguồn tư liệu cơ bản và các bài học thực tiễn đốivới việc quản lí tài nguyên và môi trường của đới biển ven bờ, bao gồm trong đó cảcác thủy vực cửa sông ven biển
đó quy định sự tồn tại và phát triển của các dạng tài nguyên tái tạo và không tái tạo;
- Giúp chúng ta hiểu biết được lịch sử hình thành và những đặc trưng về cấutrúc của khu hệ sinh vật biển cũng như vị trí địa động vật của nó nói chung hay củatừng khu vực địa lý nói riêng; bước đầu hiểu biết những quy luật biến động số
Trang 33lượng và sinh vật lượng của các nhóm loài thủy sinh vật chính, nhất là những đốitượng có giá trị trong khai thác hải sản.
+ về nguồn tư liệu cơ bản
- Cung cấp cho chúng ta các tập số liệu cơ bản về địa chất-địa mạo, các tập
số liệu về khí tượng thủy hải văn của Biển Đông nói chung hay của các thủy vựccửa sông ven biển nói tiêng;
- Cung cấp các dẫn liệu về thành phần loài, sự phân bố về số lượng và sinhvật lượng của các nhóm thủy sinh vật chính cũng như sự biến động của chúng liênquan với sự biến đổi của các nhân tố môi trường;
- Cung cấp các dữ liệu về thành phần loài, trữ lượng và khả năng khai tháccác dạng nguồn lợi hải sản trong các vực nước
+ về thực tiễn sản xuất
- Đánh giá được hiện trạng và mức độ khai thác và sử dụng các dạng tàinguyên, đặc biệt là tình trạng khai thác quá mức dẫn đến sự thất thoát đa dạng sinhhọc, suy giảm nguồn lợi sinh vật, thu hẹp hay hủy hoại các hệ sinh thái cơ bản cósức sản xuất cao (cửa sông, rừng ngập mặn, đai cỏ biển, rạn san hô), ;
- Đánh giá được mức độ ô nhiễm vùng cửa sông ven biển và những nguyênnhân gây ra sự suy thoái và ô nhiễm môi trường trong các hoạt động nhân sinh (khaithác và sử dụng đất đai, thu hẹp và hủy hoại rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển, rạnsan hô, gây ô nhiễm môi trường bởi các chất thải rắn, chất thải lỏng, dầu, các hóachất độc ), sự xuất hiện của thủy triều đỏ ở vùng nước cửa sông ven biển;
- Từ những hậu quả trên, buộc chúng ta phải nhận thức lại về các hoạt độngkinh tế-xã hội, trước hết là sự định hướng trong các hoạt động từ khai thác và sửdụng bất hợp lí tài nguyên sang khai thác và sử dụng bền vững hơn, giảm thiểu ônhiễm môi trường Điều này có thể nhận thấy được trong các hoạt động khoa học.Các đề tài, chương trình nghiên cứu chuyển dần từ nghiên cứu riêng lẻ các đốitượng sang nghiên cứu tổng hợp, đồng bộ, đa ngành và ngày càng tiếp cận với quanđiểm sinh thái học hiện đại Trên cơ sở đó, các đề tài nghiên cứu khoa học có thể đềxuất các quy hoạch, các giải pháp khoa học nhằm khai thác và sử dụng tài nguyên
Trang 34Từ nhận thức của các nhà khoa học và thực trạng suy thoái tài nguyên và môitruờng một cách nghiêm trọng hiện nay, các chủ truơng và chính sách quản lí củacác ngành và nhà nuớc cũng đang dần thay đổi từ việc quản lí đơn ngành sang đangành Nhiều đạo luật, nghị định, quyết định của các cấp quản lí ngày càng chứađựng hàm luợng khoa học cao hơn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác hợp lítài nguyên, bảo vệ môi truờng nhu Luật Môi truờng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ vàPhát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Đa dạng sinh học, Chuơng trình nghị sự 21,
Đuơng nhiên, từ nhận thức đến hành động, từ chủ truơng chính sách đếnthực tiễn còn những khoảng cách không nhỏ Đó chính là những thử thách khôngnhỏ trên con đuờng khai thác, sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học cho phát triểnkinh tế - xã hội một cách bền vững
7 Những cơ quan đóng vai trò lớn trong công cuộc nghiên cứu về đa dạngsinh học và nguồn lợi thủy, hải sản của Việt Nam có thể kể đến là Viện Hải duơnghọc (Nha Trang), Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Viện Tài nguyên và Môitruờng biển, Truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Truờng Đại học Khoa học
Tự nhiên-Đại học Quốc gia Hà Nội), Truờng Đại học Thủy sản (Nha Trang) Trong đó, Truờng Đại học Khoa học Tự nhiên-ĐHQG Hà Nội và Truờng Đại họcThủy sản (Nha Trang) không những là các đơn vị nghiên cứu mà còn đóng vai tròđào tạo, bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học to lớn
1.2 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐỊA ĐỘNG VẬT CÁ BIỂN
1.2.1 Các vùng sinh thái chính của biển và đại dương
Hiện nay, các quan điểm phân chia các vùng sinh thái của biển và đại duơng
có sự thống nhất cao bao gồm 4 vùng chính với đặc trung cho đối tuợng cá biển(khoảng hơn 16.000 loài) nhu sau [81]:
1 Cá nổi tầng mặt biển khơi (Epipelagic fishes): phân bố từ phần nuớc bềmặt vùng khơi đại duơng xuống đến độ sâu 200 m nuớc Tổng số loài cá của vùngnày vào khoảng 360 loài, chiếm 1,3% tổng số loài cá
2 Cá tầng giữa biển sâu (Deep pelagic fishes): có khoảng 1.400 loài (khoảng5% tổng số loài cá) Cá biển sâu có thể đuợc chia thành 2 nhóm dựa vào độ sâuphân bố gồm: cá tầng trung (Mesopelagic fishes) sống ở độ sâu 200-1000 m, và cátầng sâu (Bathypelagic fishes) sống ở độ sâu lớn hơn 1000 m
Trang 353 Cá đáy biển sâu (Deep benthic fishes): có khoảng 1.800 loài (khoảng 6,4%tổng số loài cá) là những loài sống ở vùng đáy biển sâu hơn 200 m.
4 Cá gần bờ hay cá thềm lục địa (Littoral or Continental fishes): là nhữngloài cá sống ở biển nông vùng gần bờ và vùng thềm lục địa, từ tầng mặt đến độ sâu
200 m nuớc Đây là nhóm cá lớn nhất với khoảng 12.600 loài (chiếm 45% tống sốloài cá)
1.2.2 Các vùng địa động vật ở biển và đại dương
Những đơn vị địa lý sinh vật biển toàn cầu đã đuợc đua ra bởi tác giả Ekmanbằng tiếng Anh năm 1953 (đã đuợc xuất bản bằng tiếng Đức năm 1935) [78], vàBriggs (1974, 1995) [73,74] Briggs cũng tập trung vào xác định những tỉnh địađộng vật ở vùng ven bờ và vùng thềm lục địa dựa vào mức độ đặc hữu của chúng.Những năm gần đây, Sherman (1994) [95], Duda & Sherman (2002) [76],vàSherman et al (2009) [96] đã phát triển khái niệm về một hệ thống gồm 64 Hệ Sinhthái Biển Lớn-Large Marine Ecosystems (LMEs) Hệ thống này đuợc mô tả dọctheo các thềm lục địa và dòng chảy ven bờ, bao gồm những đơn vị đồng quản lýnghề cá đa quốc gia và hiện có đến 80% sản luợng cá biển đuợc đánh bắt tại 64 HệSinh thái Biển Lớn này Những Hệ Sinh thái Biển Lớn (LMEs) này là những khuvực tự nhiên của biển bao gồm vùng nuớc ven bờ từ các luu vực và vùng cửa sông
ra đến biển ở đuờng ranh giới vùng thềm lục địa và các dòng chảy ven bờ Chúng lànhững vùng biển có diện tích lớn từ 200.000 km2 trở lên với ranh giới tự nhiên dựatrên 4 chỉ tiêu sinh thái học: độ sâu (bathymetry), chế độ thủy văn (hydrography),năng suất sinh học (productivity), và những quần thể có mối quan hệ dinh duỡngvới nhau [95]
Sự phân chia đơn giản nhất về các vùng địa lý đối với sự phân bố của cá biểngần bờ là sắp xếp chúng vào 6 vùng biển chính theo mức độ giảm dần về đa dạngsinh học [81]: i) Ấn Độ-Tây Thái Bình Duơng (Indo-West Paciíic), ii) Tây Đại TâyDuơng (western Atlantic), iii) Đông Thái Bình Duơng (eastern Paciíic), iv) ĐôngĐại Tây Duơng (eastern Atlantic), v) Bắc cực (Arctic) và vi) Nam cực (Antarctic).Ngoài ra còn có quan điểm phân chia ra các miền địa động vật đại duơng nhu sau: 1)
Trang 36Bắc Đại Tây Dương hay miền Bắc Đại Tây Dương (Boreo-Atlantic), 4)
ấm Ản Độ-Thái Bình Dương hay miền Ản Độ-Thái Bình Dương nhiệt đới(Tropical-Indo-Pacific), 5) Miền nước ấm Đại Tây Dương hay miền Đại TâyDương
nhiệt đới (Tropical-Atlantic), 6) Miền nước lạnh phía Nam hay miền Namcực
(Antarctic)
1.2.3 Hệ thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW)
Mark D Spalding et al (2007) [97] đề xuất hệ thống Vùng Sinh thái Biểncủa Thế giới (Marine Ecoregions of the World-MEOW) cho các vùng biển gần bờ
và thềm lục địa Việc phân chia các miền địa động vật và các đơn vị cấp dưới theonguyên tắc sau:
- Miền (Realms hoặc Regions): là đơn vị phân chia lớn nhất và dựa vào
thuật ngữ về miền được sử dụng cho các khu vực trên cạn do Udvardy đề xuất năm
1975 [99] như sau: “miền là khu vực có diện tích lục địa hoặc á lục địa với các đặcđiểm thống nhất về địa lý và khu hệ động, thực vật” Đối với biển, phạm vi “miền”được xác định như sau:
“Miền là những vung có diện tích rất lớn ở vung gần bờ, vung đáy hoặc vùng nước mặt đại dương với những khu hệ sinh vật có mối quan hệ nội tại với nhau ở các bậc phân loại cao, là kết quả của lịch sử tiến hóa Các miền có mức độ đặc hữu cao, có
cả ở bậc giống và bậc họ ở một số nhóm Những yếu tố quyết định đến sự thống nhất của khu hệ sinh vật ở các miền là nhiệt độ nước (yếu tố sinh thái), sự cách ly về khoảng cách hoặc do lịch sử, và nền đáy (yếu tố lịch sử)”.
Ở đây, miền chỉ tập trung vào vùng gần bờ và thềm lục địa, không đề cậpđến các miền của bề mặt đại dương và vùng đáy sâu
- Tỉnh (Provinces): là những đơn vị nằm trong miền, được xác định như sau:
“Tỉnh là những vùng có diện tích lớn, đặc trưng bởi các khu hệ sinh vật ít nhất
có mối quan hệ về lịch sử tiến hóa Bậc tỉnh chứa đựng một vài bậc đặc hữu, đặc biệt là
ở bậc loài Mặc dù sự cách ly lịch sử vẫn có vai trò nhất định, nhưng nhiều khu hệ sinh vật phân biệt được hình thành là do các nhân tố phi sinh vật đã tạo nên các đường ranh giới Những nhân tố này bao gồm những yếu tố về địa mạo (liên quan đến hệ thống đảo
và rạn, những biển nửa kín), những yếu tố về thủy văn (dòng hải lưu, nước trồi, trạng thái động lực của băng), hoặc những ảnh hưởng của địa hóa học (phổ chất dinh dưỡng được cung cấp, phổ độ muối)”.
Trang 37Tỉnh là những đơn vị hoàn chỉnh, ví dụ như bao trọn ranh giới vòng đời củanhiều bậc phân loại thành viên, bao gồm các loài có khả năng di chuyển hoặc pháttán Tại nhiều khu vực, giới hạn của tỉnh có thể xem là tương tự với hệ thống địa lýsinh vật biển toàn cầu được đề xuất bởi Ekman (1953) [78] và Briggs (1974, 1995)[73,74], và hệ thống Hệ Sinh thái Biển Lớn (LMEs) được đề xuất bởi Duda &Sherman (2002) [76] và Sherman et al (2009) [96].
- Vùng sinh thái (Ecoregions): là đơn vị địa lý sinh vật nhỏ nhất trong hệ
thống những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới (MEOW) và được xác định là:
“Vùng sinh thái là những khu vực mà thành phần loài có mối quan hệ về nguồn gốc, phân biệt rõ ràng với những vùng sinh thái lân cận Thành phần loài ở những vùng này có vẻ như được xác định bởi sự ưu thế của một số ít hệ sinh thái và/hoặc một tập hợp yếu tố riêng biệt về hải dương hoặc địa hình Những sự tác động mạnh của các yếu
tố hải dương ưu thế đến các vùng sinh thái rất khác nhau theo từng khu vực nhưng có thể bao gồm những yếu tố sau: do sự cách ly, các dải nước trồi, nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, dòng chảy nước ngọt, chế độ nhiệt, chế độ băng/trạng thái động lực của băng, yếu tố thời tiết cực đoan, nền đáy, dòng hải lưu, và phức hợp về sự phân bố ở các
độ sâu khác nhau hoặc tổng hợp các yếu tố ở vùng bờ”.
Vùng sinh thái ở đây là những đơn vị có sự liên quan chặt chẽ, có diện tích
đủ để hình thành các quá trình sinh thái hoặc vòng đời cho hầu hết các loài ít dichuyển Mặc dù một số vùng sinh thái ở biển có mức độ đặc hữu quan trọng nhưngđây không phải là yếu tố để xác định một vùng sinh thái ở biển (tiêu chuẩn về mức
độ đặc hữu là chỉ tiêu của vùng sinh thái trên cạn)
Từ những quan điểm trên, Mark D Spalding et al (2007) [97] đã đề xuấtmột hệ thống theo cấp bậc bao gồm 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển (thểhiện cụ thể ở bảng 1.1), bao hết toàn bộ vùng nước ven bờ và thềm lục địa của thếgiới có độ sâu nhỏ hơn 200 m Những vùng được tô đậm ở các sơ đồ ở hình 1.1được xác định ra đến 370 km (200 hải lý) tính từ bờ (hoặc là vùng nối các đườngđẳng sâu 200 m nếu những đường này xa hơn khoảng cách 370 km nêu trên)
Trang 38Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ phân chia của những Vùng Sinh thái Biển của Thế giới
(MEOW) (phần tô đậm)
a Miền, b Tỉnh, c, Vùng sinh thái [97]
Trang 39Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển ven bờ ở hình 1.1
Tên miền được thể hiện chữ in đậm, tên tỉnh (từ 1 đến 62) là chữ nghiêng và tên vùng sinh
thái (từ 1 đến 232) dạng chữ thường [97]
Arctic
1 Arctic rno provìnces identitied)
1 North Greeniand
2 North and East Iceland
3 East Greeniand Shelt
4 West Greemand Shelt
5 Northern Grand Banks-Southem
55 North American Pacitĩc Fijordíand
56 Puget Trough/Georgia Basln
57 Oregon yvashington Vancouver Coast and Sheiỉ
58 Northern Calitomia
11 Warm Temperate Northeast Pacltìc
59 Southern Callíornla Bight
109 Andaman and Nlcobar Islands
110 Andaman Sea Corai Coast
Trang 40Bảng 1.1 Bảng mô tả 12 miền, 62 tỉnh và 232 vùng sinh thái biển gần bờ ở hình 1.1
Tên miền được thể hiện chữ in đậm, tên tỉnh (từ 1 đến 62) là chữ nghiêng và tên vùng sinh
thái (từ 1 đến 232) dạng chữ thường (tiếp theo) [97]
Ghi chú: 1.Arctic-miền Bắc cực; 2.Temperate Northern Atlantic-miền nước ấm Bắc Đại Tây Dương;
3.Temperate Northern Pacific-miền nước ấm Bắc Thái Bình Dương; 4.Tropical Atlantic-miền nhiệt đới
Đại Tây Dương; 5.Western Indo-Pacific-miền Tây Ân Độ-Thái Bình Dương; 6.Central Indo-Pacific-miền Trung Ân Độ-Thái Bình Dương; 7.Eastern Indo-Pacific-miền Đông Ân Độ-Thái Bình Dương; 8.Tropical
Eastern Pacific-miền nhiệt đới Đông Thái Bình Dương; 9.Temperate South America-miền nước ấm Nam
Mỹ; 10.Temperate Southern Africa-miền nước ấm Nam Phi; 11.Temperate Autralia-miền nước ấm Châu Úc; 12.Southern Ocean-miền Phương Nam.
1.2.4 Những quan điểm ban đầu về địa động vật cá biển Việt Nam
Nhìn chung, các nghiên cứu về địa động vật học cá biển của Việt Nam còn hạnchế và gần như không tìm thấy tài liệu, công trình nào đề cập trực tiếp đến vấn đềnày Các nghiên cứu về cá biển Việt Nam hiện nay tập trung vào việc nghiên cứukhu hệ, nghề cá (trữ lượng, khả năng khai thác, ), sinh học, sinh thái học cá Do
đó, việc tập hợp các kết quả nghiên cứu này chỉ cho chúng ta những số liệu cơ bản
về thành phần loài và các thông tin liên quan đã trình bày ở phần trên
Trong quyển “Nguồn lợi Thủy sản Việt Nam” do Bộ Thủy sản (trước đây)tổng hợp và NXB Nông nghiệp phát hành năm 1996 [3] đã đưa ra một số nhận xétnhư sau về yếu tố địa động vật của khu hệ cá biển Việt Nam:
Tropỉcal Eaetern Paciric
43 Tropìcat East Paátic
172. Northern Gaiapagos Isiands
173. Eastern Gaiapagõs Isiands
174. Western Galapagos Islands
Temperate South America
45 VVarm Temperate Southeastern Pacitĩc
175. Central Peru
176. Humboidtlan
177. Central Chile
178. Araucaman
46 Juan Fernándeỉ and Desventuraaas
179. Juan Pernándei and Oesventuradas
47 ttarm Temperate Southwestern Atlantic
196 Northeastern New Zealand
197 Three Kings-North Cape
54 Southern New ĩeaiand
198 Chatham Island
199 Central New Zealand
200 South New Zealand
57 Southwest Australian Shelt
207 South Austranan Gulfs
208 Great Australlan Bight
221 South Orknẽy Islands
222 South Shetlãnd Islands
223 Antarctic Peninsuia
61 Continental High Antarctic
224 East Antarctic Wilkes land
225 East Antarctic Enderby Land
226 East Antarctlc Dronnmg Maud Land
227 VVeddell Sea
228 Amundsen/Belllngshausen Sea
229 Ross Sea
62 Subantarctíc New ĩealand
230 Bounty and Antpodes Isiands
231 Campbell Isiand
232 Auckiand Isend