- Lê Hữu Thể và cộng sự, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra - Phạm Thanh Bình, Nguyễn Văn Yên, Những điều cần hiểu về bắt người, tạm giữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ DIỆU NGỌC
KIểM SáT ĐIềU TRA CáC Vụ áN HìNH Sự CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN CấP HUYệN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Tuyên Quang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ DIỆU NGỌC
KIểM SáT ĐIềU TRA CáC Vụ áN HìNH Sự CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN CấP HUYệN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Tuyên Quang)
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lấ LAN CHI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Vũ Thị Diệu ngọc
Trang 4TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 6 1.1 Khái niệm, đặc điểm, phạm vi, đối tượng của kiểm sát điều
tra vụ án hình sự 6
1.1.1 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự 6 1.1.2 Đối tượng, phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự 11
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kiểm sát điều tra vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 12 1.3 Nội dung hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự của
VKSND cấp huyện 19 1.4 Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công
tố trong điều tra vụ án hình sự 22 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG KIỂM
SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 25 2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động kiểm sát điều tra của
viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 25
2.1.1 Giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra 25 2.1.2 Kiểm sát việc phân công, thay đổi người tiến hành điều tra 27 2.1.3 Kiểm sát các quyết định tố tụng và việc lập hồ sơ của Cơ quan
tiến hành điều tra 27
Trang 52.1.4 Kiểm sát các hoạt động điều tra nhằm thu thập và củng cố chứng cứ 37 2.1.5 Kiểm sát việc áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế 50 2.1.6 Phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm trong quá trình điều tra 51
2.2 Thực trạng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện tại tỉnh Tuyên Quang 53
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang 53 2.2.2 Thực trạng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện tại tỉnh Tuyên Quang 54
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 64 3.1 Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những
hạn chế trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang 64
3.1.1 Về ưu điểm 64 3.1.2 Hạn chế trong Kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang 65
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện 69
3.2.1 Hoàn thiện một số quy định pháp luật 69 3.2.2 Nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ ngành kiểm sát 74 3.2.3 Đảm bảo sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong thực hiện
kiểm sát điều tra các vụ án hình sự 76 3.2.4 Đảm bảo chế độ khen thưởng và chế độ làm việc cho cán bộ
kiểm sát 76
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
việc khởi tố, điều tra, truy tố ban hành kèm theo quyết định số 111 ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát tối cao
của Bộ Công an về Quy định biểu mẫu, giấy tờ,
sổ sách về điều tra hình sự
04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng Quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS
VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/ 2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số vụ án, bị can đã khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết
Bảng 2.2 Số vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều
Bảng 2.3 Số vụ án tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những chức năng quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp Điều 107 Hiến Pháp 2013 quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là một phần của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có nhiều thay đổi đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm quyền con người nhằm thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, phục vụ; Quy định của bộ luật
có hướng mở rộng thẩm quyền và đề cao vai trò của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra đảm bảo hơn cho công tác điều tra đấu tranh phòng, chống tội phạm
Tuy nhiên, để vận dụng, thực thi những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra một cách đúng đắn, sáng tạo
và đầy đủ nhằm giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm phải đòi hỏi sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Lãnh đạo Viện kiểm sát cùng với việc nâng cao năng lực của các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
Trong những năm qua, Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều nỗ lực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là trong hoạt động kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự, hạn chế được oan sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nhanh chóng
và chính xác hơn, góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
Bên cạnh những kết quả đạt được thì trong hoạt động KSĐT các vụ
án hình sự vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: chưa phát huy hết vai trò,
Trang 9quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, kiểm tra viên còn chủ quan, chưa chủ động thực hiện kiểm sát các hoạt động điều tra của
cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ngay từ đầu,… đã dẫn đến những trường hợp vụ án phải trả
hồ sơ để điều tra bổ sung do còn có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, thiếu chứng cứ quan trọng
Thực tiễn trên cho thấy tầm quan trọng của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, đặc biệt là đối Viện kiểm sát cấp huyện là cấp tiếp cận rõ nhất đầu mối và tổng quan của hầu hết các vụ án hình sự Tuy nhiên luận văn không thể nghiên cứu hết về hoạt động kiểm sát điều tra của mọi đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tôi đã chọn phạm vi nghiên cứu cụ thể là địa bàn tỉnh Tuyên Quang Với mong muốn nghiên cứu, tìm hiểu sâu về công tác nghiệp
vụ của ngành kiểm sát, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
trong công việc Đây là lý do mà tôi chọn đề tài: “Kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Tuyên Quang)” làm Luận văn thạc
sĩ Đồng thời tôi mong muốn từ việc nghiên cứu này có thể đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của các đơn vị Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
KSĐT là một phần rất quan trọng của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, vì vậy đã có nhiều công trình khoa học, giáo trình giảng dạy, báo, tạp chí chuyên ngành, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ liên quan đến áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự Những nghiên cứu phần lớn đã làm rõ những vấn đề lý luận và pháp lý, có thể nêu một số công trình như sau:
Trang 10- Lê Hữu Thể và cộng sự, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
- Phạm Thanh Bình, Nguyễn Văn Yên, Những điều cần hiểu về bắt
người, tạm giữ, tạm giam… đúng pháp luật
- Viện Khoa học kiểm sát, Sổ tay Kiểm sát viên hình sự
- Đại học Quốc gia, Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
- Bùi Mạnh Cường, Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ
án ma túy ở Việt Nam
- Vũ Viết Tuấn, Nâng cao Chất lượng áp dụng pháp luật trong kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Hồ Thị Thanh Hương, Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân
- Lê Thị Bích Thủy, Áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra
các vụ án hình sự, qua thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải phòng
- Nguyễn Văn Nhật, Khám nghiệm hiện trường trong hoạt động điều
tra hình sự
- Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự
- Thế Lân (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
- Vũ Việt Hùng, Một số kinh nghiệm trong thực hành quyền Công tố và
kiểm sát điều tra các vụ án giết người
- Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, Vai trò cơ quan công tố các nước
trên thế giới trong việc kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
- Tống Kim Hương (2009), Về kiểm sát điều tra vụ án hình sự và mối
quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
- Vũ Ngọc Vụ (2018), Những điểm mới của quy định về biện pháp
khám xét trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Trang 11Mỗi công trình nêu trên nghiên cứu theo mỗi góc độ nhất định và nêu lên một số vấn đề về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT vụ án hình sự Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào làm rõ về đặc điểm riêng biệt của kiểm sát điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Về mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra quan điểm và giải pháp để việc áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự được bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
3.2 Về nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
- Phân tích góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật trong KSĐT
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự của VKSND cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác KSĐT các vụ án hình sự của VKSND cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động KSĐT các vụ án hình sự của VKSND cấp huyện dựa trên số liệu, thực tiễn tại tỉnh Tuyên Quang từ năm 2015 đến năm 2019
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sở đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê để thu thập, tổng hợp, khái quát các
số liệu dựa trên những báo cáo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang hàng năm, qua đó phản ánh hiệu quả KSĐT của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp huyện tại tỉnh Tuyên Quang; phương pháp phân tích để làm rõ về bản chất, tính chất, đặc điểm của hoạt động KSĐT và đưa ra các giải pháp cần thiết; phương pháp tổng hợp để đưa ra khái niệm, quan điểm, luận điểm đánh giá về hoạt động KSĐT; phương pháp so sánh đối chiếu
về sự thay đổi pháp luật hiện hành so với các quy định pháp luật trước đây, để làm nổi bật lên sự tiến bộ, hiệu quả của sự thay đổi đó, làm bật lên thành tích
đã đạt được của VKSND cấp huyện qua các năm
6 Tính mới và đóng góp của đề tài
- Làm rõ hơn các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về phạm vi, thẩm quyền, quyền hạn của cơ quan VKSND cấp huyện và của các chức danh
tư pháp của VKSND cấp huyện trong kiểm sát điều tra vụ án hình sự
- Các giải pháp mà luận văn đề xuất nhằm đảm bảo việc áp dụng các quy định pháp luật đúng đắn, góp phần nâng cao hiệu quả KSĐT các vụ án hình sự của VKSND cấp huyện
7 Kết cấu của luận văn
Lời mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Đánh giá và một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, phạm vi, đối tượng của kiểm sát điều tra
vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Khi các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ bị xâm phạm một cách bất bình thường, không theo quy luật tự nhiên, chưa rõ nguyên nhân gây mất trật
tự ổn định xã hội đều được xác định là sự việc có tính hình sự và cần được điều tra để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, từ đó để quy trách nhiệm cho một đối tượng cụ thể nhằm loại trừ sự nguy hiểm cho xã hội Ví dụ như phát hiện một xác chết bên bờ suối, va chạm giao thông, tài sản cá nhân
bị mất,… Đối với các sự việc mang tính hình sự, qua quá trình kiểm tra, xác minh ban đầu xác định rằng có dấu hiệu của tội phạm thì được xác định là vụ
án hình sự, thể hiện bằng văn bản tố tụng cụ thể đó là Quyết định khởi tố vụ
án hình sự Hay nói cách khác thì khi nào có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sự việc đó mới được gọi là vụ án hình sự
Để xác định được sự việc đó có dấu hiện tội phạm hay không thì cần tiến hành các hoạt động cụ thể mà pháp luật hình sự quy định, các hoạt động
đó được gọi chung là điều tra Việc điều tra nhằm mục đích là chứng minh tội phạm Vì vậy việc điều tra sẽ diễn ra từ khi có sự việc mang tính hình sự đến khi kết luận rằng có tội phạm hay không Việc điều tra đòi hỏi một chủ thể có trình độ và có uy tín thực hiện thì mới được công nhận kết quả
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam định nghĩa: Điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc
Trang 14mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự Điều tra do Cơ quan Công an tiến hành có thể dưới hai hình thức: Điều tra công khai do CQĐT hoặc một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành công khai theo quy định của luật TTHS Điều tra bí mật (điều tra trinh sát) do lực lượng trinh sát tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi
tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định Mỗi hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra [38]
Từ những điều trên có thể hiểu: Điều tra là hoạt động thu thập tài liệu,
chứng cứ theo trình tự thủ tục pháp luật quy định để chứng minh tội phạm do
cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo vệ khách thể của bộ luật hình sự
Việc điều tra thể hiện tính quyền lực của nhà nước, nhân danh nhà nước nên cần đòi hỏi phải có một cơ quan thay mặt nhà nước giám sát việc điều tra
để tránh sự lạm quyền, sử dụng quyền năng sai mục đích để trục lợi, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước Ở nước ta, Viện kiểm sát là cơ quan được giao nhiệm vụ giám sát này với chức năng là kiểm sát hoạt động tư pháp
Có quan điểm cho rằng Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những
hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp Xã hội càng phát triển, vai trò của Nhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước càng cao Quyền lực có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động Tổ chức là cách thức tạo lập và xây dựng hệ thống quyền lực, các bộ phận cấu thành quyền lực, chức năng, giới hạn quyền lực của từng
bộ phận, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự thủ tục thực hiện quyền lực… Tổ chức ở đây còn có nghĩa là tổ chức kiểm soát quyền lực:
Trang 15hệ thống kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực, hệ thống xử lý các vi phạm trong việc sử dụng cũng như thực hiện quyền lực Hoạt động kiểm soát quyền lực bao gồm các giải pháp nhằm kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực từ phía các chủ thể khác nhau, hệ thống các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sử dụng quyền lực, phục tùng quyền lực [12] Theo quan điểm này thì Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bên cạnh các hình thức
giám sát và thanh tra, kiểm tra
Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước [34] Giám sát có thể là quyền của cá nhân hoặc tổ chức, có thể mang quyền lực công hoặc tư, tác động của giám sát mang tính chất là điều khiển, chỉnh đốn, chỉ đạo mà không có vai trò là xử lý vi phạm đối với hoạt động sai lệch
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của
tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và
tổ chức, cá nhân khác [34] Khác với tính chất của Kiểm sát thì Thanh tra chỉ
có tính chất là kiểm tra, rà soát lại những hoạt động đã được thực hiện để đánh giá Thanh tra không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên
Từ những so sánh trên, có thể hiểu Kiểm sát là sự theo dõi thường xuyên, xem xét, đánh giá các hoạt động của đối tượng chịu sự kiểm sát và có tác động ngay lập tức đối với các hoạt động của đối tượng nhằm định hướng các hoạt động đó tuân thủ theo quy trình, quy định nhất định Kiểm sát mang
Trang 16quyền lực của Nhà nước, dùng quyền lực công để kiểm sát quyền lực công do chủ thể khác thực hiện Kiểm sát mang tính chủ động và thường xuyên xem xét, đánh giá, nếu phát hiện vi phạm thì có sự tác động tức thì, kịp thời nhằm khắc phục, sửa chữa và có thể yêu cầu xử lý vi phạm
Hoạt động kiểm sát được tiến hành theo hai phương thức là kiểm sát trực tiếp và kiểm sát gián tiếp vừa đảm bảo tính thường xuyên vừa kiểm tra, đánh giá lại những việc đã thực hiện
Trong giai đoạn điều tra, kiểm sát hoạt động tư pháp chính là kiểm sát hoạt động của cơ quan điều tra khi giải quyết vụ án hình sự, kiểm sát điều tra
để đảm bảo hoạt động điều tra được diễn ra đúng trình tự, thủ tục, đúng căn
cứ do pháp luật tố tụng quy định nhằm bảo vệ sự thực khách quan của vụ án,
xử lý đúng chủ thể vi phạm, đúng tội, đúng pháp luật
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra vụ
án hình sự là thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát sử dụng quyền năng pháp lý thực hiện việc theo dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để kịp thời phát hiện và có tác động ngay nhằm sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật, bảo đảm tuân theo quy định pháp luật
Từ khái niệm trên, có thể rút ra đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự như sau:
Thứ nhất, KSĐT do luật pháp quy định KSĐT là quyền năng chỉ thuộc
về duy nhất cơ quan Viện kiểm sát, mang tính quyền lực nhà nước Nhà nước chỉ giao quyền cho Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước kiểm sát quyền lực công, quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền điều tra để tránh việc quyền lực công bị lạm dụng trục lợi Song song với đó thì hoạt động kiểm sát điều tra cũng phải tuân theo quy định, trình tự nhất định mà luật tố tụng hình sự quy định để hạn chế chính quyền lực của Viện kiểm sát
Trang 17Thứ hai, kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi cơ quan điều tra ban hành Bản kết luận điều tra đề nghị truy
tố hoặc khi có Quyết định đình chỉ điều tra Quyết định khởi tố vụ án hình sự
là kết quả của quá trình tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, được ban hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, là quyết định tố tụng để hợp thức hóa vai trò chính của cơ quan điều tra được sử dụng mọi quyền năng pháp lý khi tiến hành điều tra vụ án hình sự
Thứ ba, công cụ để thực hiện KSĐT là quyền yêu cầu và quyền kiến nghị Quyền yêu cầu và quyền kiến nghị được sử dụng khi Cơ quan, người tiến hành điều tra không làm hoặc làm không đúng, làm không đầy đủ theo quy định pháp luật nhằm sửa chữa, khắc phục kịp thời những hoạt động vi phạm
Quyền yêu cầu mang tính chất là điều chỉnh và khắc phục vi phạm, được thể hiện bằng văn bản hoặc lời nói Quyền yêu cầu thường có hiệu lực ngay Ví dụ như: yêu cầu CQĐT thay đổi điều tra viên; yêu cầu CQĐT chuyển hồ sơ, tài liệu chứng cứ cho Viện kiểm sát, yêu cầu người làm chứng cho lời khai trung thực, yêu cầu bị can khai báo,… Bên cạnh đó, quyền yêu cầu còn được sử dụng để tìm kiếm, phát hiện vi phạm, ví dụ như khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan, người điều tra cung cấp tài liệu liên quan để làm rõ vi phạm
Quyền kiến nghị mang tính chất là chỉ ra vi phạm để rút kinh nghiệm khi điều tra đối với các vụ án khác, phải được thể hiện bằng văn bản Ví dụ như: Kiến nghị CQĐT vi phạm về việc giao bản kết luận điều tra cho bị can quá thời hạn quy định; kiến nghị về việc không thông báo cho Viện kiểm sát
về tiến hành khám nghiệm tử thi,… Trong KSĐT thì quyền kiến nghị sử dụng khi phát hiện vi phạm của cơ quan và người có thẩm quyền điều tra Quyền kiến nghị có thể được tổng hợp thành kiến nghị chung (với nhiều nội dung vi phạm ở một hoặc nhiều vụ án) để nhằm mục đích là rút kinh nghiệm
Trang 18Thứ tư, KSĐT nhằm mục đích là đảm bảo các hoạt động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng pháp luật, khách quan
và đúng đắn
1.1.2 Đối tượng, phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình
sự đến khi có bản kết luận điều tra hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ
án hình sự Các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra là các hoạt động điều tra được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự mà mỗi hoạt động điều tra đều có văn bản tố tụng thể hiện hoạt động đó Bản chất của KSĐT là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan, sai
Về chủ thể thực hiện KSĐT, là do Viện kiểm sát thực hiện Chủ thể trực tiếp thực hiện là các chức danh tư pháp trong cơ quan Viện kiểm sát bao gồm Kiểm sát viên và Kiểm tra viên
Đối tượng của KSĐT trước hết là chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng
và hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra Hoạt động tố tụng được thể hiện thành hai dạng là hành vi tố tụng và văn bản tố tụng Mỗi hành vi tố tụng đều được thể hiện bằng văn bản tố tụng tương ứng Hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra là hành vi của cơ quan điều tra và người tiến hành điều tra Văn bản tố tụng trong giai đoạn điều tra là các loại văn bản do cơ quan có thẩm quyền điều tra và người tiến hành điều tra ban hành, xây dựng theo thẩm quyền và theo mẫu quy định thống nhất, bao gồm: các lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, các biên bản và thông báo Kiểm sát đối với hành vi tố tụng để đảm bảo hành vi đó được thực hiện theo đúng căn cứ và trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định Còn kiểm sát đối với văn bản tố tụng là kiểm sát về nội dung và hình thức mà văn bản đó thể hiện phải theo mẫu, đúng nội dung và đúng thẩm quyền ban hành
Trang 19Chủ thể bị kiểm sát bao gồm: Cơ quan điều tra; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; điều tra viên, cán bộ điều tra
CQĐT là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, trong CQĐT có người trực tiếp điều tra - người mang chức danh tư pháp là Điều tra viên, cán
bộ điều tra
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, tuy nhiên họ được trao quyền năng điều tra vụ án hình sự do đặc điểm đặc thù về lĩnh vực công tác,
về vùng địa lý và chỉ được điều tra về loại tội phạm ít nghiêm trọng, vụ án đơn giản, tình tiết rõ ràng Trong các cơ quan này không có các chức danh tư pháp của người tiến hành điều tra, mà chỉ khi thụ lý điều tra vụ án hình sự thì các chức danh tư pháp mới được hình thành do có quyết định phân công của cấp trưởng cơ quan đó
Về phạm vi hoạt động KSĐT: bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố vụ
án đến khi CQĐT ban hành Bản kết luận điều đề nghị truy tố hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và gửi hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát Ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, một
số hoạt động điều tra đã được tiến hành nhưng chỉ mang ý nghĩa là biện pháp xác minh sự việc ban đầu, hoạt động điều tra thực sự mang ý nghĩa là điều tra thì phải được diễn ra trong giai đoạn điều tra – khi mà sự việc đã được xác định là vụ án hình sự, vì vậy chức năng kiểm sát điều tra phải được diễn ra trong giai đoạn điều tra là phù hợp với lý luận và đúng với tên gọi của nó
1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kiểm sát điều tra vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Để làm rõ khái niệm về KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện trước hết là làm rõ về thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hiện kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo phạm vi quyền năng pháp lý do pháp
Trang 20luật quy định Với vai trò là một cấp thực hiện, thẩm quyền thực hiện của VKSND cấp huyện được phân theo địa giới hành chính
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có thẩm quyền kiểm sát điều tra đối với các vụ án theo thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân cấp huyện và tương ứng với thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra trong công
an nhân dân cấp huyện Thẩm quyền kiểm sát điều tra tuân theo 3 tiêu chí: theo hệ thống tổ chức cơ quan Viện kiểm sát, theo lãnh thổ và theo cấp đơn
vị hành chính
Nguyên tắc thứ nhất là thẩm quyền kiểm sát điều tra tuân theo quy tắc
tổ chức của hệ thống cơ quan viện kiểm sát Viện kiểm sát phân thành hai nhánh hệ thống là Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự, trong đó Viện kiểm sát nhân dân chỉ kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự do Cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân điều tra, đó là mọi tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan an ninh điều tra và cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân
Cơ quan điều tra của quân đội nhân dân điều tra các vụ án mà trong đó
bị can hoặc bị hại là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân; Hoặc liên quan đến bí mật quân sự; Hoặc tội phạm xảy ra trong trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ, khu vực thiết quân luật
Nguyên tắc thứ hai là thẩm quyền kiểm sát điều tra phân theo cấp đơn
vị hành chính Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kiểm sát điều tra đối với các tội phạm do cơ quan cảnh sát điều tra công an nhân dân cấp huyện điều tra, đó
Trang 21là mọi tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, không có tình tiết phức tạp, không có yếu tố nước ngoài, không gây dư luận lớn trong
xã hội Ngoài ra các tội phạm này phải không thuộc thẩm quyền điều tra của
cơ quan an ninh điều tra và và Cơ quan điều tra VKSNDTC Các tội phạm do
cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân gồm các tội phạm quy định
tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia), Chương XXVI (các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) và các tội phạm
quy định tại các điều 207 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả); Điều 208 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 282 Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Điều
283 Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 284 Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Điều 299 Tội khủng bố; Điều 300 Tội tài trợ khủng bố; Điều
303 Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; Điều 304 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Điều 305 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ; Điều 309 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân; Điều 337 Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật hoặc tài liệu bí mật nhà nước; Điều 338 Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước; Điều 347 Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép; Điều 348 Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; Điều 349 Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép; Điều 350 Tội cưỡng ép người khác trốn đi
Trang 22nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép của Bộ luật Hình sự, do đặc thù của những tội phạm xâm hại an ninh quốc gia xảy ra ít và thường có mức độ nguy hiểm rất lớn nên cơ quan an ninh điều tra không có ở cấp huyện mà do công an cấp tỉnh phụ trách
Cơ quan điều tra VKSNDTC có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động
tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa
án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp
Nguyên tắc thứ ba là thẩm quyền kiểm sát điều tra theo lãnh thổ Vụ án hình sự xảy ra trong lãnh thổ của huyện nào thì VKSND huyện đó thực hiện Kiểm sát điều tra Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can
cư trú hoặc bị bắt
Từ ba nguyên tắc trên có thể thấy rằng thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện được xác định theo thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra trong công an nhân dân cấp huyện và phụ thuộc vào sự phân loại tội phạm Đây cũng là một trong những đặc trưng cơ bản của hoạt động kiểm sát điều tra Tuy nhiên, về tổng thể, xuyên suốt toàn bộ tố tụng hình sự, thì quy định về thẩm quyền của Toà án mới là quy định mang tính mốc, chuẩn cho việc xác định thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng khác, bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
Dựa vào thẩm quyền và những đặc điểm của KSĐT vụ án hình sự đã
nêu ở phần 1.1 có thể rút ra khái niệm về kiểm sát điều tra của viện kiểm sát
nhân dân cấp huyện như sau: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp
Trang 23huyện là việc Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện sử dụng quyền năng pháp lý theo thẩm quyền của mình thực hiện việc theo dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự nhằm kịp thời phát hiện và khắc phục các vi phạm pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp của các hoạt động điều tra và bảo vệ sự thật khách quan của vụ án
Từ khái niệm trên và đặc điểm chung của KSĐT vụ án hình sự đã nêu tại phần 1.2 có thể rút ra đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự như sau:
Một là, KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện mang đầy đủ các đặc điểm của KSĐT nói chung đã được phân tích tại mục 1.1.1 gồm: KSĐT là quyền năng chỉ thuộc về duy nhất cơ quan Viện kiểm sát và mang tính quyền lực nhà nước, do pháp luật quy định; kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi cơ quan điều tra ban hành Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án hình sự; KSĐT thực hiện bằng quyền yêu cầu và quyền kiến nghị; KSĐT nhằm mục đích là đảm bảo các hoạt động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng pháp luật, khách quan và đúng đắn; Đảm bảo phát hiện và xử lý, khắc phục kịp thời các vi phạm pháp luật
Hai là, KSĐT vụ án hình sự của VKSND cấp huyện có các đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, về tính chất các loại tội phạm mà VKSND cấp huyện kiểm sát điều tra theo thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp huyện đối với các loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng mà có tình tiết không quá phức tạp, không gây dư luận xã hội lớn, không có yếu tố nước ngoài, không thuộc các trường hợp cơ quan điều tra cấp trên lấy lên để điều tra Nói cách khác, tính chất vụ án hình sự do cấp huyện kiểm sát điều tra có hai đặc điểm: đặc điểm về loại tội phạm phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng), đặc điểm về tính chất thực hiện tội phạm (đơn giản, ít có mối liên hệ với tỉnh, huyện khác hoặc quốc gia khác)
Trang 24Thứ hai, về chủ thể kiểm sát là Kiểm sát viên, kiểm tra viên do Viện trưởng VKSND cấp huyện phân công, đó là người có chức danh tư pháp tiến hành tố tụng của cơ quan VKSND Cụ thể kiểm sát viên tiến hành tố tụng là kiểm sát viên sơ cấp phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; bảo đảm tuân theo sự phân hóa đội ngũ Kiểm sát viên về năng lực, trình độ, chuyên môn Kiểm sát viên sơ cấp có quyền hạn kiểm sát điều tra đối với các vụ án hình sự thuộc loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng [4] Kiểm tra viên là một chức danh tư pháp trong tiến hành
tố tụng, tuy nhiên chỉ có vai trò giúp việc cho Kiểm sát viên trong công tác Kiểm sát điều tra nếu được Lãnh đạo Viện phân công
Thứ ba, đối tượng kiểm sát của VKSND cấp huyện là: (i) hoạt động của
cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện và các cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong địa bàn huyện [11] Đây là những
cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, không có chức năng chuyên trách về điều tra, họ chỉ tiến hành điều tra trong những trường hợp nhất định do pháp luật quy định; (ii) Điều tra viên và Cán bộ điều tra của các cơ quan tiến hành điều tra nêu trên [37] Xuất phát từ mô hình kim tự tháp nêu trên, số lượng án của cấp huyện là lớn nhất và như vậy, VKSND cấp huyện cũng sẽ kiểm sát điều tra với số lượng đối tượng kiểm sát nhiều nhất
Thứ tư, về tính chất kiểm sát: Đối với các vụ án thuộc thẩm quyền kiểm sát thường có sự ít phức tạp, các cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng trao đổi và phối hợp trong quá trình giải quyết vụ án Hoạt động kiểm sát diễn ra trong phạm vi nhỏ hẹp, trong đó đối tượng bị kiểm sát là cơ quan tiến hành điều tra tại một đơn vị hành chính địa phương cấp huyện, mối quan hệ giữa người kiểm sát và người bị kiểm sát có sự quen biết xã hội Vì vậy mà hoạt động kiểm sát rất linh hoạt và chủ yếu thực hiện quyền yêu cầu qua phương thức bằng lời nói
Trang 25Vai trò kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện
Giai đoạn điều tra là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong giai đoạn này cơ quan có thẩm quyền điều tra được phép sử dụng toàn bộ những hoạt động điều tra được BLTTHS quy định để giải quyết vụ án Bởi quyền năng của cơ quan tiến hành điều tra trong giai đoạn là xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, mỗi hoạt động điều tra của cơ quan tiến hành điều tra đều ảnh hưởng đến sự thật khách quan của vụ án, vì vậy kiểm sát điều tra có vai trò giới hạn quyền năng của cơ quan điều tra, điều chỉnh các hoạt động điều tra tuân thủ theo quy định của pháp luật, tránh sự lạm quyền của người tiến hành điều tra Cần khẳng định rằng mọi hoạt động điều tra không tuân theo quy định pháp thì kết quả điều tra đó không có giá trị trong việc giải quyết vụ án
Kiểm sát điều tra là bảo vệ đầu mối của vụ án hình sự Trong thực tế các vụ án hình sự chủ yếu do cơ quan điều tra cấp huyện điều tra (tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng), cơ quan điều tra cấp huyện
là chủ thể tiếp nhận và tiếp xúc đầu tiên với vụ án hình sự, phải phát hiện, thu thập chứng cứ, định hướng để dần tìm ra tình tiết của vụ án, các quyết đinh, hành vi tố tụng được ban hành, thực thi trong bối cảnh cần nhanh chóng, khẩn trương, nên thiếu thời gian để bảo đảm tính có căn cứ của việc ban hành, thực thi Ngoài ra, nhiều tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lúc đầu CQĐT cấp huyện chưa thể xác định chính xác loại tội phạm mà đã tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ ban đầu, những hoạt động này có thể vô tình làm mất đi chứng cứ vật chất để chứng minh tội phạm có mức độ nghiêm trọng hơn Bên cạnh đó là sự bố trí nhân lực của cơ quan tiến hành điều tra cấp huyện còn hạn chế về số lượng và chất lượng Khi tiến hành điều tra, mọi hoạt động điều tra
do một Điều tra viên chỉ đạo nhưng người trực tiếp làm là các cán bộ điều tra, trong khi ở cấp huyện cán bộ điều tra thường là những người trẻ, mới ra
Trang 26trường, ít kinh nghiệm thực tiễn, trong khi việc điều tra yêu cầu phải thực hiện nhanh chóng, cấp bách nên khó tránh được những sai lầm Vì vậy kiểm sát điều tra không chỉ là có vai trò thay mặt nhà nước giám sát mà còn có vai trò định hướng trong hoạt động điều tra để không bỏ xót những chứng cứ chứng minh tội phạm
Giai đoạn điều tra chưa có sự hiện diện của tòa án, chưa có sự hiện diện đầy đủ của yếu tố tranh tụng, việc tìm kiếm chứng cứ buộc tội hay gỡ tội chỉ
do từ một phía cơ quan tiến hành điều tra Bên cạnh đó là trong một đơn vị hành chính cấp huyện (đặc biệt là ở các vùng sâu vùng xa, nông thôn chưa phát triển) thì sự phối hợp, trao đổi, liên hệ giữa các cơ quan đoàn thể mang tính linh hoạt và khép kín cao, ít nhiều phụ thuộc vào các mối quan hệ với chính quyền và các cơ quan, tổ chức tại địa phương, đôi khi còn bị chi phối bởi quan điểm của chính quyền địa phương dễ dẫn đến sự lạm quyền của CQĐT và vi phạm quyền của người tham gia tố tụng Vì vậy khi thực hiện kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát sẽ là cơ quan chủ động nhất quán với cơ quan điều tra để giải quyết vụ án hình sự đảm bảo thực hiện đúng tố tụng hình sự, không làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm
1.3 Nội dung hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện
Nội dung hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự được bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau:
(1) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra, là việc cần tiến hành ngay để xác định tư cách tiến hành điều tra và đảm bảo thời hạn điều tra vụ án Thẩm quyền điều tra được xác định dựa theo ba căn cứ là theo lãnh thổ, theo
hệ thống tổ chức cơ quan điều tra trong công an nhân dân và theo cấp đơn vị hành chính Trong thực tế nhiều vụ án xảy ra với nhiều tình tiết phức tạp, dấu hiệu tội phạm xuất hiện ở nhiều nơi có thể chưa xác định ngay được thẩm
Trang 27quyền điều tra dẫn đến việc nhầm lẫn hoặc đùn đẩy trách nhiệm điều tra Để đảm bảo việc điều tra nhanh chóng và thuận tiện thì Viện kiểm sát sẽ là cơ quan quyết định thẩm quyền điều tra theo ba căn cứ trên mà phải đảm bảo được sự thuận tiện nhất cho công tác điều tra
(2) Thay đổi người tiến hành điều tra Thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, cấp trưởng, cấp phó cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra, Điều tra viên, cán bộ điều tra là những người trực tiếp chỉ đạo, định hướng và thực hiện các hoạt động điều tra, mỗi hoạt động điều tra đều phản ánh ý chí của người tiến hành có tác động đến vụ án, vì vậy Điều tra viên và cán bộ điều tra phải là người có năng lực và làm việc khách quan Pháp luật đã quy định những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc phải thay đổi người tiến hành tố tụng nếu người tiến hành tố tụng với người có tham gia tố tụng có mối quan hệ thân thiết, phụ thuộc hoặc có mâu thuẫn để không làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án Nắm chắc những căn cứ này, kiểm sát viên tiến hành kiểm sát yêu cầu thủ trưởng, cấp trưởng cơ quan tiến hành điều tra thay đổi người tiến hành điều tra trong trường hợp bắt buộc và cần thiết Bên cạnh đó thì trường hợp người tiến hành điều tra vi phạm hay không
đủ năng lực thực thi nhiệm vụ cũng phải yêu cầu thay đổi
(3) Kiểm sát toàn bộ quá trình điều tra của Cơ quan tiến hành điều tra, trong đó bao gồm: việc tiến hành các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ
án Trong đó, kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra thông qua phương thức kiểm sát trực tiếp, kiểm sát viên phải có mặt tham gia các hoạt động điều tra đó Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án qua đó phản ánh các hoạt động điều tra của cơ quan có thẩm quyền điều tra Trong hồ sơ vụ án được chia thành hai phần: một phần là các văn bản tố tụng (đã được chuyển cho Viện kiểm sát, người tham gia tố tụng), một phần là các biên bản thu thập
Trang 28chứng cứ chứng minh của vụ án mà Viện kiểm sát phải kiểm sát tính khách quan của các tài liệu đó
(4) Phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm trong quá trình điều tra Viện kiểm sát được ví như tai mắt của pháp luật giám sát hoạt động điều tra, khi phát hiện vi phạm thì vai trò của Viện kiểm sát được thể hiện rõ nhất thông qua việc yêu cầu và kiến nghị về các nội dung:
+ Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết
+ Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật; Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra
+ Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng
+ Yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
+ Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra
+ Ngoài ra trong hoạt động KSĐT, VKS còn thực hiện vai trò phòng ngừa tội phạm Khi nhận thấy tình hình tội phạm mới, những thiếu sót trong công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hữu quan khác gây ảnh hưởng đến tình hình tội phạm, gây mất an ninh trật tự địa phương thì VKS có quyền ban hành văn bản yêu cầu cơ quan này có những biện pháp để khắc phục
Trang 29nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm Vì vậy mà trong nội dung kiểm sát điều tra, VKS còn có quyền kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
1.4 Mối quan hệ giữa kiểm sát điều tra và thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự
Viện kiểm sát với hai chức năng hiến định là kiểm sát hoạt động tố tụng
và thực hành quyền công tố Hai chức năng này được thực hiện nối tiếp nhau, trong đó chức năng kiểm sát được bắt đầu trước, khởi động từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố
Quyền công tố được phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa một bên
là Nhà nước và một bên là chủ thể thực hiện hành vi phạm pháp Trong
khoa học pháp lý, có quan điểm cho rằng Quyền công tố là sự cáo buộc
của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật [17], tức
là quyền công tố sẽ được thực hiện cả trong tố tụng hình sự, tố tụng dân
sự, tố tụng hành chính Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng Quyền công
tố là quyền của Nhà nước truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội [20], tức là quyền công tố chỉ thực hiện trong tố tụng hình
sự tuy nhiên theo quan điểm lập pháp của nước thì quyền công tố chỉ được thực hiện trong lĩnh vực hình sự để buộc tội và xử phạt đối với chủ thể phạm tội, còn trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thì Viện kiểm sát chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc của cơ quan tiến hành tố tụng Trong tố tụng hình sự, phạm vi quyền công tố được thực hiện từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, khi cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành quyết định phân công điều tra viên, cán bộ điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm
Trang 30Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là loại quyền lực của Nhà nước, được giao cho cơ quan Viện kiểm sát thực hiện để buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể đã có hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình khởi tố - điều tra, truy tố
và xét xử tội phạm
Vậy trong giai đoạn điều tra, quyền công tố sẽ diễn ra xuyên suốt từ khi
có quyết định khởi tố vụ án đến khi có bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Trong giai đoạn điều tra, Quyền công tố và kiểm sát luôn có mối quan
hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với nhau, hoạt động này làm tiền đề cho hoạt động kia và ngược lại, kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý cho hoạt động kia và ngược lại Mối quan hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp luôn tồn tại song song và không thể tách rời trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Mối quan hệ mật thiết thể hiện như sau:
Thứ nhất, hoạt động THQCT sử dụng chứng cứ để buộc tội đối với chủ
thể thực phạm tội Hoạt động KSĐT nhằm bảo đảm những chứng cứ này được thu thập đầy đủ, khách quan theo đúng trình tự, thủ tục của BLTTHS quy định Do vậy, hoạt động THQCT phải phụ thuộc vào chất lượng của hoạt động KSĐT [5] Ví dụ như: Quyết định khởi tố bị can A về tội trộm cắp tài sản, sau khi kiểm sát thấy rằng quyết định này là có căn cứ và hợp pháp thì Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, đưa ra các yêu cầu điều tra để làm rõ hành vi trộm cắp của bị can A,…
Thứ hai, hoạt động THQCT bắt đầu thực hiện là tiền đề phát sinh hoạt
động kiểm sát [17] Ví dụ: khi VKS phê chuẩn Lệnh bắt bị can để tạm giam sẽ làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc bắt bị can của cơ quan điều tra phải
Trang 31tuân theo trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định, đồng thời bảo đảm việc tạm giam bị can đúng thời hạn
Từ phân tích trên có thể thấy, trong giai đoạn điều tra, KSĐT và THQCT là hai chức năng độc lập, có quan hệ tương hỗ và không thể tách rời, được diễn ra một cách nối tiếp
Trang 32CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
CẤP HUYỆN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG
2.1 Quy định của pháp luật về hoạt động kiểm sát điều tra của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giải quyết vụ án hình sự, là giai đoạn mà cơ quan có thẩm quyền điều tra được sử dụng tất cả các hoạt động điều tra được quy định trong BLHS để tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm do ai thực hiện, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, làm rõ động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội…, sử dụng các chứng để truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trong phạm vi kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKSND cấp huyện, nội dung của hoạt động kiểm sát điều tra theo Điều 166 BLTTHS và Điều 15 Luật tổ chức VKSND được khái quát như sau:
2.1.1 Giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra
Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS: “Viện kiểm sát giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra” và “Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra” Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra nhằm xác định tư cách tiến hành tố tụng của cơ quan có thẩm quyền điều tra nhằm đảm bảo về thời hạn điều tra Để bảo vệ tính khách quan trong điều tra
vụ án hình sự thì một việc cần kiểm sát và tiến hành ngay là việc phân công, thay đổi người tiến hành điều tra Pháp luật đã quy định những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc phải thay đổi người tiến hành tố tụng nếu
Trang 33người tiến hành tố tụng với người có tham gia tố tụng có mối quan hệ thân thiết, phụ thuộc hoặc có mâu thuẫn để không làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án
Trong thực tế, tranh chấp về thẩm quyền điều tra thường theo hướng là đùn đẩy trách nhiệm Vì vậy khi giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra, VKS phải dựa trên các căn cứ sau:
+ Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm,
trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân
+ Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn
quản lý của mình thì các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ
án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự
Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa cơ quan CSĐT Công an huyện với Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trên địa bàn huyện, tùy vào thực tế của vụ án thì Viện trưởng VKSND cấp huyện nơi xảy ra vụ án sẽ quyết định giao thẩm quyền điều tra cho cơ quan vừa có thẩm quyền điều tra vừa có chuyên môn phù hợp để thực hiện điều tra
Trang 34vụ án thuận tiện nhất [7] Ví dụ như: trong vụ án vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ lâm sản hay vụ án hủy hoại rừng, cần xác minh lý lịch gỗ và khối lượng gỗ bị thiệt hại thì cơ quan kiểm lâm là cơ quan có chuyên môn phù hợp nhất, nếu hạt kiểm lâm tiếp nhận tin báo, tố giác từ ban đầu thì sẽ tiến hành điều tra luôn
Vì vậy cần áp dụng linh hoạt quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra để mang lại hiệu quả chất lượng điều tra tối ưu nhất
2.1.2 Kiểm sát việc phân công, thay đổi người tiến hành điều tra
Pháp luật đã quy định những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc phải thay đổi người tiến hành tố tụng nếu người tiến hành tố tụng với người có tham gia tố tụng có mối quan hệ thân thiết, phụ thuộc hoặc có mâu thuẫn để không làm ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án Quy định
tại Điều 49 BLTTHS và Điều 9 Quy chế 111, quy định về trường hợp người
tiến hành tố tụng phải từ chối thực hiện nhiệm vụ, trong đó cần chú ý về quy
định: “Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi
làm nhiệm vụ” Ví dụ như: Người bị hại là Thủ trưởng cơ quan nơi vợ của
Điều tra viên làm việc, bị can là người mà cán bộ điêu tra từng chịu ơn hoặc
có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình
cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế Điều này tùy thuộc vào
sự đánh giá của ĐTV và KSV Bên cạnh đó thì trường hợp người tiến hành điều tra cố tình vi phạm hoặc không đủ năng lực thực thi nhiệm vụ cũng phải yêu cầu thay đổi
2.1.3 Kiểm sát các quyết định tố tụng và việc lập hồ sơ của Cơ quan tiến hành điều tra
2.1.3.1 Kiểm sát việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
Sau khi có Quyết định khởi tố vụ án hình sự, có thể phát sinh các căn
cứ dẫn đến việc phải thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án làm thay đổi
Trang 35về hướng giải quyết vụ án và thay đổi về thời hạn điều tra Quy định tại điều 8 Quy chế 111 như sau: Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan của Cơ quan điều tra, nếu thấy chưa rõ căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ; nếu không có căn
cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định
đó hoặc có văn bản yêu cầu Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đó Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản khác của tội danh đã khởi tố Ví dụ: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; quá trình điều tra xác định được hành vi trộm cắp của Nguyễn Văn A phạm vào khoản 1 Điều 173
Bộ luật Hình sự hoặc phạm vào khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự, thì không phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự
Kiểm sát việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh kiểm sát việc thay đổi về thời hạn điều tra được xác định theo Điều
14 Quy chế 111:
Trường hợp đang điều tra vụ án mà xác định hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nặng hơn trong cùng một điều luật và trường hợp quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can sang tội nặng hơn ở điều luật khác, thì thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam được tính theo tội nặng hơn nhưng phải trừ thời hạn đã điều tra, tạm giam trước đó
Trường hợp đang điều tra vụ án mà quyết định bổ sung quyết định khởi
tố vụ án, khởi tố bị can về một tội phạm khác, thì thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam được tính theo tội nặng nhất Tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại Điều 172 BLTTHS; tổng thời hạn tạm giam theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng không vượt quá thời hạn điều tra
Trang 36Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can từ tội nặng hơn sang tội nhẹ hơn hoặc xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng tội danh, thì thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam được tính theo tội nhẹ hơn Ngay sau khi thay đổi quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát để xem xét, quyết định về việc áp dụng hoặc hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn đối với
bị can phù hợp với tội nhẹ hơn
2.1.3.2 Kiểm sát việc khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ
án, bị can
CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra để thu thập các tài liệu, chứng
cứ nhằm chứng minh người đã thực hiện hành vi phạm tội Trên cơ sở đánh giá các chứng cứ đã thu thập được, nếu có đủ căn cứ để xác định chính xác người đã thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT quyết định khởi tố bị can đối với cá nhân, pháp nhân thương mại để làm rõ về hành vi phạm tội Chỉ được khởi tố bị can sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự
Về kiểm sát tính có căn cứ, Kiểm sát viên phải xác định được hành vi của bị can đối chiếu với quy định của BLHS để xem xét hành vi của bị can đã phạm tội nào? đồng thời xem xét có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm hay không? Dựa vào tài liệu nhân thân bị can để xác định năng lực trách nhiệm hình sự của bị can Trên cơ sở đó mới khẳng định được tính có căn cứ của quyết định khởi tố bị can Nếu thấy hành vi của bị can có dấu hiệu của tội phạm nhưng chưa rõ căn cứ xác định bị can phạm tội gì thì KSV yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi
tố (điểm b khoản 1 Điều 16 Quy chế 111) Đối với pháp nhân, căn cứ Điều
433 BLTTHS: “Khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi
mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân”
Trang 37Kiểm sát tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can là kiểm sát về thẩm quyền của cơ quan cũng như người ký quyết định, về hình thức của quyết định theo mẫu 106 Thông tư 61 của Bộ công an, về nội dung bắt buộc phải nêu rõ lý lịch của bị can, định tội danh, điều khoản áp dụng với bị can Đối với pháp nhân kiểm sát tính hợp pháp của quyết định khởi tố bị can theo nội dung tại khoản 2 Điều 433 và đảm bảo thời hạn gửi cho quyết định cho VKS trong 24 giờ kể từ khi ra quyết định và tống đạt quyết định khởi tố bị can, giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can
Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 BLTTHS và ĐIều
9 Quy chế 111
Kiểm sát việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can có thể làm phát sinh kiểm sát việc thay đổi về thời hạn tạm giam bị can theo Điều 14 Quy chế 111:
+ Trường hợp đang điều tra vụ án mà xác định hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nặng hơn trong cùng một điều luật và trường hợp quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can sang tội nặng hơn ở điều luật khác, thì thời hạn tạm giam được tính theo tội nặng hơn nhưng phải trừ thời hạn đã tạm giam trước đó
+ Trường hợp đang điều tra vụ án mà quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về một tội phạm khác, thì thời hạn tạm giam được tính theo tội nặng nhất Tổng thời hạn tạm giam không vượt quá thời hạn điều tra
+ Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can từ tội nặng hơn sang tội nhẹ hơn hoặc xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng tội danh, thì thời hạn tạm giam được tính theo tội nhẹ hơn Ngay sau khi thay đổi quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra
Trang 38phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát để xem xét, quyết định về việc áp dụng hoặc hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn đối với bị can phù hợp với tội nhẹ hơn
2.1.3.3 Kiểm sát tạm đình chỉ điều tra
Cơ quan tiến hành điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có những những lý do khách quan mà chưa thể thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm trong thời hạn điều tra [10] Tạm đình chỉ điều tra là biện pháp tiết kiệm thời gian điều tra Về căn cứ, Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án phải căn cứ vào điều 229 BLTTHS:
- Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra Trường hợp này phát sinh thêm hoạt động kiểm sát đối với quyết định truy nã Quyết định truy nã phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này; kèm theo ảnh
có kết quả
Tạm đình chỉ điều tra đối với pháp nhân, dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 439 BLTTHS
Trang 39Nếu không có một trong các căn cứ trên thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 BLTTHS
Kiểm sát tính hợp pháp của Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự phải đảm bảo quy định về văn bản tố tụng theo khoản 2 Điều 132 BLTTHS, theo mẫu 206 kèm theo Thông tư 61, thời hạn gửi quyết định cho VKS, cho bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày
ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Nếu có vi phạm thì yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra khắc phục kịp thời
Trong thời điểm tạm đình chỉ điều tra các hoạt động tố tụng không được diễn ra, tuy nhiên CQĐT vẫn tiếp tục theo dõi, xác minh tình tiết của vụ
án, có báo cáo theo từng đợt về tình hình vụ án, nhất là đối với các vụ án mà không biết bị can đang ở đâu [35] Kiểm sát viên phải thường xuyên theo dõi, quản lý các vụ án tạm đình chỉ điều tra Khi thấy lý do tạm đình chỉ không còn thì yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra để tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Tố tụng hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Đối với những trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra
2.1.3.4 Kiểm sát đình chỉ điều tra
Đình chỉ điều tra là sự kiện pháp lý làm chấm dứt toàn bộ hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự trước đó Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định Đình chỉ điều tra vụ án hình sự khi không chứng minh được tội phạm hoặc hành vi đó không được coi là hành nguy hiểm cho xã hội ở thời điểm ra quyết định Khi đình chỉ điều tra, CQĐT buộc phải hủy bỏ ngay các biện pháp
Trang 40ngăn chặn đối với bị can bị đình chỉ điều tra, trả lại toàn bộ các tài sản, đồ vật, tài liệu có liên quan (nếu có), xử lý vật chứng,…
Quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can dựa trên căn
cứ quy định tại điều 230 BLTTHS:
Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 gồm: Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng và Điều 157 quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự (bao gồm
cả trường hợp Đối với những trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự); Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội quy định tại Điều 16 BLHS hoặc có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 của BLHS hoặc trường hợp Người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp quy định khoản 2 Điều
91 BLHS gồm: Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141,
171, 248, 249, 250, 251 và 252 của BLHS; Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168,
171, 248, 249, 250, 251 và 252 của BLHS; Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.; Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ
và hợp pháp của quyết định đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử
lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan theo quy định tại Điều 230 và