1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động dạy học môn tin học tại các trường THPT – huyện yên lập – tỉnh phú thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

137 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN ANH HÒA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ THEO ĐỊNH HƯỚNG

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN ANH HÒA

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC

TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - HUYỆN YÊN LẬP -

TỈNH PHÚ THỌ THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH

GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN ANH HÒA

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC

TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - HUYỆN YÊN LẬP -

TỈNH PHÚ THỌ THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH

GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 8.140114

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRUNG KIÊN

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm

ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức quý báu về khoa học quản lý giáo dục, những bài giảng hay giúp tôi hoàn thành khoá học và luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: TS Nguyễn Trung Kiên

- người hướng dẫn khoa học – đã trực tiếp tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả cũng xin được cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô giáo các trường THPT Yên Lập, Lương Sơn, Minh Hoà đã tận tình giúp đỡ, tham gia khảo sát và cung cấp số liệu cho luận văn này Tác giả cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện cho luận văn được hoàn thành đúng kế hoạch

Tác giả đã có những cố gắng trong khi thực hiện nghiên cứu, khảo sát, tuy nhiên do nguồn lực và thời gian hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả xin tiếp thu mọi ý kiến đóng góp của các thầy giáo,

cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để tác giá hoàn thiện luận văn và đưa những giải pháp vào thực tiễn

Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Anh Hòa

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CS (Computer Science) Khoa học máy tính

DL (Digital Literacy) Học vấn số hoá phổ thông

ICT (Information –

Communication Technology)

Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các từ viết tắt ii

Danh mục các bảng vii

Danh mục các biểu đồ, hình viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN HỌC TIN HỌC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Một số khái niệm về quản lý và Quản lý hoạt động dạy học 8

1.2.2 Quá trình dạy học 10

1.2.3 Phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học 13

1.2.4 Kiểm tra đánh giá và đổi mới kiểm tra đánh giá 15

1.2.5 Môn Tin học ở trường THPT 16

1.2.6 Hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THPT 21

1.2.7 Phương pháp dạy học Tin học 22

1.3 Chương trình giáo dục phổ thông mới 25

1.3.1 Mục tiêu 26

1.3.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực 27

1.3.3 Nội dung chương trình GDPT mới cấp THPT 28

1.4 Môn Tin học trong chương trình GDPT mới 28

1.4.1 Vị trí, vai trò môn Tin học trong chương trình GDPT mới 28

1.4.2 Mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chương trình giáo dục phổ thông mới 30

Trang 6

1.4.3 Nội dung dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chương

trình giáo dục phổ thông mới 31

1.4.4 Phương pháp, hình thức dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chương trình giáo dục phổ thông mới 33

1.4.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chương trình giáo dục phổ thông mới 35

1.5 Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THPT theo định hướng chương trình GDPT mới 38

1.5.1 Quản lý nội dung, chương trình dạy học Tin học 38

1.5.2 Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên Tin học 39

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học Tin học 47

1.6.1 Tác động của chính trị, kinh tế, xã hội 47

1.6.2 Các cấp quản lý, nhất là người hiệu trưởng 47

1.6.3 Chất lượng mặt bằng của học sinh 47

1.6.4 Nội dung, phương pháp dạy học 47

1.6.5 Cơ sở vật chất thiết bị dạy học 47

1.6.6 Chương trình môn học 48

1.6.7 Học sinh 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - HUYỆN YÊN LẬP – TỈNH PHÚ THỌ THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 50

2.1 Giới thiệu về huyện Yên Lập và các trường THPT Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hòa 50

2.1.1 Giới thiệu về huyện Yên Lập 50

2.1.2 Giới thiệu các trường THPT Yên Lập, Lương Sơn, Minh Hòa 51

2.2 Thực trạng quy mô, đội ngũ, CSVC các trường THPT Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hòa 52

Trang 7

2.2.1 Về quy mô, số lượng, chất lượng dạy học 52

2.2.2 Chất lượng dạy và học môn Tin học 57

2.2.3 Về CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học Tin học 58

2.2.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý 60

2.2.5 Về đội ngũ CBQL và giáo viên dạy Tin học 60

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các trường THPT huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ 61

2.3.1 Mục tiêu, quy trình, đối tượng và phương pháp nghiên cứu thực trạng 61

2.3.2 Quản lý hoạt động dạy và nhận thức của CBQL, giáo viên về hoạt động giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông mới 62

2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động học môn Tin học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới 65

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập 82

2.4.1 Những điểm mạnh 82

2.4.2 Những hạn chế 83

2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 86

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIN HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 88

3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 88

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với hệ thống pháp lý 88

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 88

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 88

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 88

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự phát triển 89

Trang 8

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 89

3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới 89

3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức của CBQL, giáo viên về dạy và học môn Tin học trong chương trình giáo dục phổ thông mới 90

3.2.2 Biện pháp 2: Triển khai tăng cường đổi mới phương pháp dạy học khi dạy môn Tin học theo định hướng chương trình mới 92

3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức phân loại đối tượng học sinh theo năng lực nhằm giúp giáo viên có cơ sở đổi mới phương pháp giảng dạy và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 95

3.2.4 Biện pháp 4: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, đẩy mạnh tự bồi dưỡng thông qua Internet theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới 96

3.2.5 Biện pháp 5: Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học, chú trọng quản lý và sử dụng phòng máy tính 99

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp đề xuất 100

3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 102

3.4.1 Mục đích khảo sát 102

3.4.2 Đối tượng khảo sát 102

3.4.3 Nội dung khảo sát 102

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Kế hoạch dạy học môn Tin học hiện hành 20

Bảng 1.2 Định hướng nội dung Tin học ứng dụng 31

Bảng 1.3 Định hướng nội dung Khoa học máy tính 32

Bảng 2.1 Số lượng lớp học, phòng học bộ môn, phòng học Tin học 52

Bảng 2.2 CBQL, giáo viên, nhân viên 53

Bảng 2.3 Số lượng học sinh 54

Bảng 2.4 Kết quả học lực 55

Bảng 2.5 Kết quả hạnh kiểm 56

Bảng 2.6 Chất lượng môn Tin học 57

Bảng 2.7 CSVC, trang thiết bị dạy học Tin học 59

Bảng 2.8 Thực trạng cán bộ quản lý 60

Bảng 2.9 Thực trạng CBQL, giáo viên dạy Tin học 60

Bảng 2.10 Công tác quản lý dạy học 63

Bảng 2.11 Nhận thức đổi mới PPDH của CBQL, giáo viên 64

Bảng 2.12 Thực trạng hoạt động lập kế hoạch dạy học 66

Bảng 2.13 Hồ sơ chuyên môn của giáo viên 67

Bảng 2.14 Thực trạng phân công giảng dạy 68

Bảng 2.15 Thực trạng soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp 70

Bảng 2.16 Thực trạng quản lý thực hiện giờ dạy của giáo viên 71

Bảng 2.17 Thực trạng quản lý hoạt động dự giờ, đánh giá giờ dạy của giáo viên 72

Bảng 2.18 Thực trạng quản lý đổi mới PPDH 74

Bảng 2.19 Thực trạng quản lý hoạt động học của học sinh 76

Bảng 2.20 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 78

Bảng 2.21 Thực trạng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên 79

Bảng 2.22 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phòng thực hành Tin học 80

Bảng 3.1 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của đề tài 102

Bảng 3.2 Khảo sát về tình khả thi 104

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 2.1: Quy mô lớp học 53

Biểu đồ 2.2: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 54

Biểu đồ 2.3: Quy mô học sinh 55

Biểu đồ 2.4: Kết quả học lực 56

Biểu đồ 2.5: Kết quả hạnh kiểm 57

Biểu đồ 2.6: Chất lƣợng môn Tin học 58

Biểu đồ 2.7: Số lƣợng máy tính dùng trong dạy học 59

Hình 1.1: Mối quan hệ của dạy và học 12

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, trong cuộc cách mạng 4.0 đã và đang tác động to lớn đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Nó mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng cho chúng ta nhiều thách thức Đánh giá được những tác động to lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội Đảng và nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo thực hiện các

cơ quan, ban ngành chủ động tích cực vận động, đổi mới, ứng phó với cuộc cách mạng này Tại nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ chính

trị đã ghi "Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội, đồng

thời cũng đặt ra nhiều thách thức với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh

tế, xã hội đất nước" [13]

Vậy chúng ta cần làm gì để nắm bắt được những thành tựu của cuộc cách mạng này? Sau hơn 30 năm đổi mới, mở cửa, nước ta đã có những phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học kỹ thuật Nhờ sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nước ta đã và đang thay đổi Nhiều thành tựu về kinh

tế, văn hóa, khoa học công nghệ, y tế được thế giới ghi nhận Trong đó, hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa trở thành những nhân tố phát triển mạnh mẽ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ Trong những năm qua, các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới liên tiếp diễn

ra, nền kinh tế tri thức dần chiếm lĩnh thế thượng phong Đặt cho các nước nhiều thách thức không nhỏ về bài toán nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao Như ở nước ta, để đảo bảo phát triển bền vững, cần

có chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội Trong đó, điều cần làm hiện nay là đổi mới giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho thế hệ trẻ nền tảng tri thức tiên tiến, hiện đại là phù hợp và cần thiết cho xu thế toàn cầu

Trang 12

Trong bối cảnh toàn cầu hóa thay đổi chóng mặt, kinh tế thị trường thay đổi liên tục, khoa học công nghệ trên thế giới liên tục phát triển, ngày càng có nhiều công nghệ mới ra đời phục vụ đời sống Để bắt kịp với xu thế sự phát triển của thời đại, việc ra đời nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế là điều cần thiết trong bối cảnh hiện nay Việc đổi mới diễn

ra với tất cả các môn học nhằm phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh,

từ đó hình thành nên lớp thanh thiếu niên có tri thức, có năng lực phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nước

Với chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) hiện hành, đang được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn Theo mô hình này, kiến thức vừa là "chất liệu", "đầu vào" vừa là "kết quả", "đầu ra" của quá trình giáo dục Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng và đời sống thực tế rất hạn chế

Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại, các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành, phát triển những phẩm chất, năng lực mà nhà trường và xã hội kỳ vọng

Trong các môn học được đổi mới, môn Tin học đóng vai trò chủ đạo, quan trọng trong việc trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ năng của thời đại mới như: khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại thông tin, kết nối và toàn cầu hóa

Môn Tin học với sứ mạng giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tin học với mục đích to lớn là: học sinh phải biết sử dụng và quản lý các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT); học sinh biết

Trang 13

cách ứng xử phù hợp trong môi trường số; học sinh biết giải quyết vấn đề với

sự hỗ trợ của CNTT-TT; và học sinh biết hợp tác trong môi trường số

Vậy, làm thế nào công tác dạy và học của môn Tin học hiện hành tiếp cận và đáp ứng được yêu cầu của chương trình GDPT mới? Giáo viên giảng dạy môn Tin học cần phải làm gì để phát huy được năng lực, sở trường của học sinh, đồng thời giúp học sinh khai thác được nguồn tài nguyên "vô tận" của nhân loại góp phần xây dựng, hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước?

Vì những lý do trên, tác giả xin chọn đề tài "Quản lý hoạt động dạy

học môn tin học tại các trường THPT – Huyện Yên Lập – Tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới"

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng việc dạy học Tin học ở các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ hiện nay, từ những nhận định về thực trạng, điểm mạnh, điểm yếu cần khắc phục, đề xuất ra một số biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế của các nhà trường Nhằm đáp ứng yêu cầu dạy học môn Tin học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

- Hoạt động dạy học môn Tin học cho học sinh tại trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Trước những yêu cầu về mục tiêu, nội dung trong môn Tin học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, công tác quản lý dạy học môn Tin học đặt ra cho nhà quản lý những vấn đề gì và cần có những biện pháp nào để giải quyết được những vấn đề đó?

Trang 14

5 Giả thuyết khoa học

Từ thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học như: quản lý nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá trong chương trình Tin học hiện hành ở các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập – Phú thọ Nhưng, công tác quản lý dạy học Tin học theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới còn nhiều khó khăn, bất cập Nếu nghiên cứu đề xuất được những biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với điều kiện của các nhà trường sẽ khắc phục những khó khăn trong vấn

đề quản lý hoạt động dạy học môn Tin học từ đó góp phần nâng cao chất lượng và đáp ứng được với chương trình giáo dục phổ thông mới

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu về cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tin

học cho học sinh THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

6.2 Khát sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin

học tại các trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

6.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các

trường THPT trên địa bàn huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới Khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đã đề xuất

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng: Đề tài tập trung tìm ra các biện pháp quản lý chương trình, kế hoạch giảng dạy môn Tin học tại các trường THPT – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ

- Về thời gian: Dữ liệu thu thập trong 3 năm học gần nhất của các trường THPT Lương Sơn, Yên Lập, Minh Hòa

8 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả phối hợp một số phương pháp sau để triển khai các nội dung nghiên cứu trong luận văn:

Trang 15

8.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT,

Sở GD&ĐT và các cấp liên quan đến nội dung của đề tài

- Nghiên cứu các bài báo trong nước, nước ngoài, công trình khao học

đã công bố, các tạp chí, sách báo liên quan đến môn Tin học và giảng dạy Tin học trong nhà trường Từ đó phân tích, đánh giá tìm ra các cơ sở lý luận

đã được nghiên cứu và những xác định được vấn đề cần giải quyết

8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Xây dựng các phiếu điều tra học sinh, phiếu trưng cầu ý kiến của giáo viên theo các bước sau:

1) Xây dựng kế hoạch điều tra

2) Xây dựng các mẫu phiếu điều tra

3) Chọn mẫu điều tra đại diện cho số đông

4) Xử lý tài liệu, dữ liệu thu thập được

5) Kiểm tra lại kết quả nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp

Sử dụng các câu hỏi nhằm phỏng vấn giáo viên, học sinh về điều kiện dạy và học với môn Tin học mới

- Phương pháp quan sát trực tiếp, gián tiếp

Quan sát cách dạy và học của giáo viên, học sinh trên lớp và thông qua các hoạt động giáo dục khác

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Xây dựng các nội dung điều ra, hoặc những giải pháp tác giả tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhiều người trong đó có những chuyên gia, đồng nghiệp Gửi các kế hoạch hoặc các vấn đề đến những người cần xin ý kiến thông qua Email hoặc đường bưu điện, hoặc trực tiếp

Trang 16

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Tổ chức các buổi họp với giáo viên để biết ý kiến của họ về chương trình giảng dạy hiện tại, những điều cần cải tiến Ngoài ra, cũng trò chuyện với học sinh để có thông tin phản hồi về cách dạy, cách học, điều cần cải tiến trong cách dạy, cách học đó

8.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ

Từ cơ sở kết quả thu được, tác giả tổng hợp, xử lý, phân tích số liệu bằng cách sử dụng các hàm thống kê của phần mềm Microsoft Excel

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại

trường THPT theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các

trường THPT – huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại các

trường THPT - huyện Yên Lập – tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

MÔN HỌC TIN HỌC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Giáo dục là một chức năng rất quan trọng của xã hội, nó giúp định hình

hệ tư tưởng của một xã hội, nó cũng khẳng định mức độ phát triển của xã hội

Giáo dục là cách thức tổ chức việc truyền thụ những kinh nghiệm lịch

sử xã hội loài người cho một cá nhân hoặc một nhóm nhằm mục đích tạo ra một người, nhóm người chuẩn bị tham gia vào đời sống xã hội, đời sống lao động sản xuất

Sự ra đời của hình thức giáo dục "nhà trường" đòi hỏi là một bước tiến lớn trong xã hội loài người nói chung và cùng với đó là sự ra đời của Quản lý giáo dục, nhằm giúp nhà trường đạt được mục tiêu chung của giáo dục [23]

Quản lý giáo dục là một vấn đề lớn đòi hỏi nhiều nguồn lực để thực hiện Quản lý giáo dục hiện nay với nhiều khó khăn, phức tạp diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và toàn xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ Quản lý giáo dục được hình thành và phát triển tương đương với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trong xã hội loài người Nó gắn với các hoạt động giáo dục của người giáo viên và việc hoạt của người học sinh

Năm 1537, một học giả thời phục hưng tên là Johonn Sturm (Đức) đã cho ra đời tác phẩm "Phương thức tốt nhất của việc mở của các thiết chế học tập" Tuy nhiên, đến năm 1923, người ta mới nhận ra giá trị của chúng Trong tác phẩm đó đã cho "Chúng ta thấy trong công trình của Sturm những vấn đề rất hiện đại của giáo dục như: các nguyên lý giáo dục, việc tổ chức của nhà trường, các giá trị giáo dục, lương giáo viên, mối quan hệ của cha mẹ với nhà trường, kỷ luật và hành vi của học sinh, vấn đề tiếp cận giáo dục của trẻ em

Trang 18

nghèo, việc dạy học theo lớp thay vì dạy học cho từng cá thể, trách nhiệm của giáo viên và nhiều vấn đề khác" [23]

Nhà sư phạm lỗi lạc Cô-men-xki (1592-1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường mà đã tồn tại cho đến ngày nay Ông đã cho ra đời vấn

đề quan trọng trong quản lý giáo dục ngày nay là "Tổ chức hệ thống giáo dục" trên quy mô toàn xã hội [23]

Nhà sư phạm vĩ đại người Nga U-sin-xki (1824-1870) ông đã viết nhiều tác phẩm về giáo dục trong đó có nhiều quan điểm quản lý giáo dục được phát triển trong thế kỷ XX này Cũng có thể nhắc đến John Dewey (Mỹ, 1859-1952) với những quan điểm thực dụng của mình về giáo dục, tuy nhiên, John cũng có những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối quan hệ giữa nhà trường và xã hội cũng như những nhận định về một nền giáo dục hướng tới một kết quả cụ thể [23]

Trong những năm gần đây, Quản lý giáo dục tiếp tục là nền móng của giáo dục không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới Quản lý giáo dục

Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay là vấn đề không chỉ của riêng ngành giáo dục, mà là sự quan tâm của toàn xã hội

Trước sự phát triển như vũ bão của công nghệ, Tin học đóng vai trò là môn học trung tâm đã và đang ngày càng đóng vai trò quan trọng Kỹ năng sử dụng CNTT đang ngày càng trở thành kỹ năng thiết yếu cho mọi công dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kỹ năng cho công dân thời 4.0

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Một số khái niệm về quản lý và Quản lý hoạt động dạy học

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý là một khái niệm rất chung và mang tính tổng quát cho toàn xã hội; khái niệm quản lý được dùng cho cả các quá trình quản lý xã hội Có nhiều khái niệm quản lý khác nhau nhưng các khái niệm đều thể hiện ở ba yếu tố chính:

Trang 19

Một là: chủ thể quản lý: Đây là tác nhân tạo ra các tác động lên đối tượng được quản lý, tác nhân này có thể là cá nhân hay một tổ chức nào đó Các tác động lên chủ thể có thể là các công cụ quản lý, hình thức quản lý và với các phương pháp quản lý khác nhau

Hai là: đối tượng quản lý: Đây là đối tượng nhận các tác động quản lý của chủ thể quản lý

Ba là: mục tiêu của quản lý: Đây là đích tới của quá trình quản lý, tối tượng quản lý sẽ dùng các công cụ khác nhau để đạt được mục đích của quá trình quản lý

Vậy, "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan" [16]

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

Có nhiều khái niệm liên quan đến quản lý giáo dục như:

Hay, theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho

hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ

là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất"[23]

Vậy, "Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức

của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra"

1.2.1.3 Quản lý hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của nhà trường, là một trong

Trang 20

những hoạt động giữ vai trò chủ đạo Mặt khác, hoạt động dạy học còn là nền tảng cho tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường thực hiện theo

Có thể nói rằng: dạy học là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng

và chức năng chủ đạo trong quá trình giáo dục ở nhà trường

Quản lý hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học ở các nhà trường (được tiến hành bởi giáo viên

và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

1.2.2 Quá trình dạy học

Dạy học là hoạt động đặc trưng, chủ yếu nhất của mỗi nhà trường, và nó diễn

ra theo một quá trình nhất định từ 1 n được gọi là quá trình dạy học [32]

Quá trình dạy học là quá trình hoạt động tương tác hai chiều giữa giáo viên và học sinh Giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển các hoạt động học còn học sinh vừa là đối tượng bị tác động, vừa là đối tượng nằm trong các hoạt động đó nên cần tự giác, tích cực, tự tham gia, tự điều khiển các hoạt động học nhằm hoàn thành các nhiệm vụ dạy và học mà chương trình, kế hoạch đề ra Quan trọng hơn là cả hai đều đạt được mục tiêu của bài học

Như vậy, có thể thấy quá trình dạy học là quá trình hình thành tri thức, phát triển năng lực tư duy cho người học thông qua các môn học cơ bản, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện cho mỗi

cá nhân Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội Các chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt động khác nhau nhưng không đối lập với nhau mà song song tồn tại và thúc đẩy nhau cùng phát triển

+ Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học gồm có: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Mỗi hoạt động đều có mục đích thực hiện, chức năng, nội dung và

Trang 21

phương pháp riêng, nhưng mỗi hoạt động của thầy không phải là các hoạt động song song, độc lập mà nó gắn bó mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau,

bổ sung cho nhau do hai chủ thể thực hiện đó là thầy và trò; mục đích của các hoạt động này là nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo, hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất nhân cách cho học sinh

Hoạt động dạy học là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của học sinh, giúp học sinh tìm tòi khám phá tri thức, qua

đó thực hiện có hiệu quả chức năng học của bản thân Hoạt động dạy học là hoạt động lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên đối với hoạt động nhận thức, lĩnh hội tri thức, cơ hội học tập của học sinh

+ Hoạt động học

Là hoạt động mà người học phải tự giác, tích cực, chủ động, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của bản thân nhằm thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biến đổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình Tính tự giác nhận thức trong quá trình dạy học thể hiện ở chỗ người học nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu của nhiệm vụ học tập, nỗ lực nắm vững tri thức trong việc lĩnh hội tri thức

Hoạt động học có hai chức năng thống nhất với nhau là: Lĩnh hội thông tin (thu nhận thông tin) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh, xử lý (thông tin) của mình một cách tích cực, tự giác, chủ động Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học mà chương trình quy định, phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó với phương pháp nhận thức độc đáo, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức của nhân loại thành học vấn của bản thân

+ Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Từ hai hoạt động trên, ta thấy hoạt động dạy học do giáo viên làm chủ thể

Trang 22

có hai chức năng chính là truyền đạt thông tin và điều khiển quá trình nhận thức, lĩnh hội tri thức cho học sinh; còn hoạt động học do học sinh làm chủ thể có hai chức năng chính là lĩnh hội thông tin và tự điều khiển quá trình nhận thức của mình Sự tương tác của các chức năng này làm cho hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ tác động qua lại với nhau trong một hệ toàn vẹn, thống nhất

và làm xuất hiện khái niệm dạy học: Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau để truyền đạt – điều khiển và lĩnh hội

- tự điều khiển tri thức nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách của bản thân Sơ đồ sau thể hiện mối quan hệ về các chức năng của hoạt động dạy và hoạt động học như sau:

Hình 1.1: Mối quan hệ của dạy và học

Các quan niệm dạy học có sự khác nhau ở chỗ nhấn mạnh hơn yếu tố chức năng nào trong hai chức năng của hoạt động dạy và hoạt động học Theo quan niệm truyền thống về dạy học, đã nhấn mạnh chức năng truyền đạt của hoạt động dạy và chức năng lĩnh hội của hoạt động học mà chưa chú ý thích đáng chức năng điều khiển và chức năng tự điều khiển Ngược lại, theo quan niệm mới về dạy học tích cực, người ta rất coi trọng chức năng điều khiển sư phạm của giáo viên, coi trọng môi trường cộng tác giữa việc dạy và việc học, học sinh phải biết tự điều khiển quá trình nhận thức của mình thông qua việc tích cực, chủ động, tự lực chiếm lĩnh nội dung học với sự hỗ trợ của giáo viên

Trang 23

1.2.3 Phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học

1.2.3.1 Phương pháp dạy học

Trước hết có thể thấy phương pháp dạy học là con đường, là cách thức

mà người giáo viên dùng để đạt những mục đích giảng dạy nhất định

Phương pháp dạy học liên hệ mật thiết với quá trình dạy học, trong đó việc dạy (hoạt động và ứng xử của thầy) có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển việc học (hoạt động và giao lưu của trò) Những hoạt động và ứng

xử nào đó thể hiện một cách thức làm việc của thầy trong quá trình dạy học

"Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và ứng xử của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được các mục đích dạy học" [19]

Phương pháp dạy học có các đặc điểm sau:

- Vai trò của hoạt động của thầy và của trò: Đây không phải là hai hoạt động song song độc lập mà hoạt động của thầy gây nên (tác động lên bằng hình thức nào đó) hoạt động của trò Các tác động không chỉ là các hoạt động

mà còn cả sự ứng xử (thái độ) của người thầy

- Tính khái quát của phương pháp: Đó là những hành động thể hiện tính chung nhất của phương pháp dạy học, nó những phản ánh những thành tựu khoa học của giáo dục và những khoa học khác thông qua khoa học giáo dục

- Phương pháp dạy học là phương tiện tư tưởng: Phương pháp dạy học

là phương tiện để đạt mục đích dạy học, chúng là phương tiện tư tưởng mà không phải là phương tiện vật chất

1.2.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học

Sự phát triển của khoa học công nghệ trên thế giới đã kéo theo sự phát triển chung của toàn xã hội Sự phát triển của xã hội ngày nay trên thế giới và công cuộc đổi mới đất nước đang đòi hỏi cấp bách phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Một trong những cách thức để nâng cao chất lượng dạy

và học là đổi mới phương pháp dạy học, khi mục tiêu dạy học thay đổi thì cách thức dạy học cũng phải thay đổi theo để đáp ứng được mục tiêu đó

Trang 24

"Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo (hoạt động hóa người học)" [19]

Hoạt động này mang những đặc trưng như sau:

- Người học là chủ thể của hoạt động dạy và học, vậy, người học phải có tính tự giác, tích cực và sáng tạo của hoạt động học tập Tính tự giác, tích cực là đức tính mà người học cần phải có để đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ học tập

- Dạy học là quá trình truyền thụ kiến thức mới cho học sinh và quá trình nhận thức của học sinh dựa trên những kiến thức sẵn có của mình để tiếp thu, vận dụng trong cuộc sống

- Dạy việc học là truyền dạy kiến thức, kĩ năng môn học cho học sinh, dạy cách học là cho học sinh thấy mình cần phải làm gì để nhận thức được tri thức và biến tri thức thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của mình Hai việc này được thông qua toàn bộ quá trình dạy học

- Dạy tự học trong quá trình dạy học, tự học là khả năng tự tìm tòi tri thức thông qua các hoạt động mà bản thân học sinh phải tự thực hiện như: đọc sách, báo, tự thực hiện hay học hỏi về một sản phẩm hay chủ đề nào đó Tri thức nhân loại thay đổi liên tục, dạy học một lần không thể đủ tri thức cho con người có thể sống và làm việc được Do vậy, mỗi người đều phải tự học suốt đời Tự học là cách duy nhất để có được những kỹ năng phục vụ cho cuộc sống của mỗi con người

- Người thầy với vai trò mới, là người thiết kế nên các kế hoạch dạy học,

chuẩn bị nội dung các hoạt động học, chuẩn bị các phương pháp sẽ thực hiện trong mỗi hoạt động học, chuẩn bị các thiết bị dạy học sẽ được dùng trong từng nội dung bài học và chuẩn bị cả hình thức dạy học cho phù hợp (dạy trong lớp,

ngoài trời…) trong quá trình dạy học; là người uỷ thác các hoạt động học thành

từng nhiệm vụ học tập mà học sinh cần hoàn thiện trong mỗi nội dung bài học,

học sinh phải chủ động thực hiện và tích luỹ kiến thức cho bản thân mình; là

Trang 25

người điều khiển mọi mặt diễn ra trong quá trình dạy và học từ nội dung kiến

thức, dạy – học và cả tâm lý cho học sinh như sự động viên, khích lệ, hướng dẫn, giúp đỡ và đánh giá quá trình thực hiện của học sinh

1.2.4 Kiểm tra đánh giá và đổi mới kiểm tra đánh giá

Theo Từ điển Tiếng Việt (1997), kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Như vậy, việc kiểm tra sẽ là công cụ rất cần thiết nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh;

Đánh giá được hiểu là: Nhận định giá trị thực, giá trị ở đây là của đối tượng được đánh giá Các kết quả kiểm tra thành tích học tập, rèn luyện của học sinh được thể hiện trong việc đánh giá thông qua những thành tích học tập, rèn luyện đó Ví dụ: các bài kiểm tra đều đạt loại giỏi thì có những đánh giá như: học sinh đó có ý thức học tập, tích cực, sôi nổi và xếp loại môn học tốt, khá…

Do vậy, kiểm tra - đánh giá là hai khâu có quan hệ biện chứng mật thiết với nhau Kiểm tra là một kênh quan trọng nhằm cung cấp thông tin cho quá trình đánh giá và đánh giá lại dựa vào những kết quả của quá trình kiểm tra mang lại Hai khâu đó hợp thành một thể thống nhất với nhau gọi là kiểm tra - đánh giá

Mục tiêu của đánh giá:

+ Đối với học sinh:

- Đánh giá sẽ kích thích hoạt động học tập, thật vậy, đánh giá sẽ cung cấp cho họ những thông tin phản hồi về quá trình học tập của bản thân mình

để học sinh tự điều chỉnh quá trình học tập, khuyến khích họ phát triển năng lực tự đánh giá

- Đánh giá sẽ chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã lĩnh hội được những điều vừa học đến mức độ nào, còn những lỗ hổng nào cần phải bổ sung

- Đánh giá đảm bảo công bằng, khách quan sẽ kích thích học tập không những về mặt lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng mà còn về mặt phát triển năng lực, trí tuệ, sáng tạo và trí thông minh

Trang 26

- Việc kiểm tra, đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn và đặc biệt là phát triển năng lực

tự đánh giá, một năng lực quan trọng đối với việc học tập không chỉ khi học sinh học ở trong nhà trường mà còn cần thiết cho việc học tập suốt đời

+ Đối với giáo viên

- Việc đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh sẽ cung cấp những thông tin cần thiết giúp người thầy xác định đúng điểm xuất phát hoặc điểm kế tiếp của quá trình dạy học, phân nhóm học sinh, chỉ đạo cá biệt và kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học

- Việc đánh giá giúp giáo viên biết được trình độ và kết quả học tập của lớp và của học sinh để đối chiếu với những mục tiêu học tập

- Việc đánh giá còn giúp giáo viên nhận ra những sai sót điển hình của học sinh và nguồn gốc của những sai sót đó

- Việc đánh giá giúp giáo viên nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân giáo viên, hiệu quả của những điểm mạnh, điểm yếu của những phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học mà mình đang thực hiện

+ Đối với các cấp quản lý

- Việc đánh giá học sinh cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy học trong một cơ sở, đơn vị giáo dục để có thể chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

1.2.5 Môn Tin học ở trường THPT

Môn Tin học là môn học mà việc dạy và học gắn liền với việc sử dụng máy tính điện tử, ngôn ngữ lập trình, cơ sở dữ liệu và các thiết bị truyền thông khác…

Tin học là một ngành khoa học có mục tiêu phát triển và sử dụng máy tính điện tử để nghiên cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phương pháp thu

Trang 27

thập, lưu trữ, tìm kiếm, biến đổi, truyền thông tin và ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội [10]

Vậy trong Tin học ta thấy có ba thành phần là:

- Phần cứng (Hardware): là các bộ phận vật lý hữu hình của hệ thống

máy tính; các thành phần cơ khí của nó như: Bo mạch chủ, bộ xử lý trung tâm (CPU), RAM, màn hình, chuột, nguồn…; và tất cả các thiết bị liên quan khác như: ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ đĩa CR-ROM, card đồ hoạ VGA, bộ tản nhiệt; dây dẫn mạng, dây kết nối…

- Phần mềm (Software): là tất cả thông tin được xử lý bởi hệ thống máy

tính, chương trình và dữ liệu Phần mềm có thể là những chương trình đơn lẻ như phần mềm tính toán, phần mềm vẽ, phần mềm soạn thảo văn bản… có thể là những phần mềm công cụ để tạo ra các sản phẩm và phần mềm khác như các bộ công cụ hỗ trợ lập trình Visual Studio, PyCharn… hay các phần mềm làm nền cho các phần mềm khác chạy trên nó như các Hệ điều hành (Windows,iOS, Android, Linux…) Phần mềm được lưu trữ và chạy bằng phần cứng, phần mềm và phần cứng có sự tương hỗ lẫn nhau: phần mềm muốn chạy được thì phải có phần cứng tương ứng với nó và ngược lại muốn khai thác được phần cứng thì phải có phần mềm tương ứng để điều khiển nó

Con người (Human): Con người đóng vai trò sản xuất, khai thác, sử

dụng cả phần cứng và phần mềm

Môn Tin học ở trường THPT đóng một vai trò quan trọng trong việc trang bị những kiến thức cơ bản về CNTT và vai trò của CNTT trong xã hội hiện đại Đặc biệt là kỹ năng sử dụng máy tính và phương pháp dùng máy tính điện tử để giải quyết vấn đề trong việc học tập và trong cuộc sống Môn Tin học còn có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển trí tuệ, tư duy thuật toán cho học sinh, góp phần hình thành học vấn phổ thông cho học sinh

Bên cạnh đó, môn Tin học còn hỗ trợ cho hoạt động học tập của học sinh, góp phần làm tăng hiệu quả giáo dục Tin học tạo ra môi trường thuận

Trang 28

lợi cho học sinh học tập suốt đời và học từ xa, làm cho việc trang bị kiến thức,

kĩ năng và hình thành nhân cách cho học sinh không chỉ thực hiện trong khuôn khổ nhà trường mà còn có thể thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi Các kiến thức và kĩ năng trong môn Tin học có tốc độ phát triển (thay đổi) rất nhanh,

do đó nó thường xuyên được cập nhật giúp cho học sinh có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi mới nhất của xã hội

Môn Tin học được ra đời cùng với sự phát triển của Máy vi tính và các thiết bị ngoại vi, là một môn học mới, non trẻ nhưng có sự tác động đến toàn

xã hội Máy vi tính và các thiết bị điện tử được bắt đầu phát triển từ khoảng những năm 50 của thế kỷ trước Và nhờ nhiều đặc tính ưu việt của nó mà nó nhanh chóng trở thành một phần tất yếu của cuộc sống của chúng ta hiện nay Những chiếc máy tính đầu tiên trên thế giới sử dụng công nghệ bóng đèn điện

tử và công nghệ analog Khi đó máy tính có thể to bằng cả toa tàu hỏa và điều kiện tiếp cận nó là một công việc khó khăn

Thời kỳ bùng nổ phát triển máy tính điện tử là khoảng năm năm 1970 của thế kỷ trước Các máy tính bắt đầu được làm nhỏ lại và bắt đầu có hệ điều hành chạy như một phần mềm độc lập

Vào những năm 1980 khi những chiếc PC đầu tiên ra đời, nó đã đánh dấu bước ngoặt to lớn trong quá trình phát triển của thiết bị Vi điện tử và đặc biệt khi đó máy tính đã có hệ điều hành chạy độc lập và nổi tiếng là DOS Máy tính cá nhân cũng bắt đầu phát triển và dần trở thành thiết bị mà người dân dễ tiếp cận và sở hữu hơn Một số ngôn ngữ lập trình phổ biến thời kỳ này như: Basic, Algol, Pascal, C Và người ta bắt đầu đưa Tin học dạy ở các trường phổ thông, trong đó có Việt Nam Các học sinh chuyên Toán bắt đầu được làm quen và học lập trình Pascal

Những năm 1990, Bộ GD&ĐT nước ta bắt đầu tổ chức viết SGK Tin học cho cấp THPT Và đến đầu những năm 2000, học sinh cấp THPT chính thức được học môn Tin học, không quá muộn so với thế giới

Trang 29

Đến năm học 2007-2008, học sinh THCS bắt đầu được học môn Tin học với các module kiến thức tương đối rời rạc như: Làm quen máy tính, hệ điều hành, soạn thảo văn bản, lập trình Pascal, mạng máy tính Internet

Khoảng năm 2008-2020, học sinh Tiểu học bắt đầu được làm quen với các module của máy tính như: máy tính, tập chuột, tập gõ phím bằng 10 ngón, học vẽ, soạn thảo văn bản…

Như vậy có thể nói, đến thời điểm hiện nay, môn Tin học đã phủ kín các cấp học từ Tiểu học đến THPT Tuy nhiên, ở các cấp học, bậc học không

có sự liên thông với nhau, vẫn đang chỉ là các module rời rạc Môn Tin học được coi là môn phụ và môn tự chọn ở các cấp T’H THCS

Năm 2018, Bộ GD&ĐT đã công bố chương trình môn học phổ thông mới, trong đó có môn Tin học Tin học trở thành một năng lực cốt lõi mà học sinh phổ thông cần phải được hình thành và phát triển Khẳng định tầm quan trọng của việc học cũng như ứng dụng của môn Tin học với các môn học khác Tin học có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tiếp cận, sáng tạo tri thức trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 Khi mà công nghệ tạo nên công cụ làm việc, công cụ giao tiếp, mang tính chất toàn cầu hóa và là công cụ hiệu quả hỗ trợ việc học tập suốt đời Tin học là môn bắt buộc ở 3 cấp học là T'H, THCS, THPT

Môn Tin học cấp Trung học phổ thông hiện nay được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và được thực hiện từ 2006 đến nay Bên cạnh những mục tiêu chung của giáo dục trung học phổ thông như việc củng cố và phát triển những kết quả giáo dục cấp THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Trang 30

Với đặc thù môn học nên, Môn Tin học hiện tại [3] cũng có chuẩn kiến thức, kỹ năng riêng phù hợp với môn của mình:

+ Về kiến thức

- Môn Tin học sẽ cung cấp cách tương đối hệ thống các kiến thức cơ bản nhất ở mức phổ thông của khoa học tin học: các kiến thức nhập môn về công nghệ thông tin, hệ thống, thuật toán và ngôn ngữ lập trình, soạn thảo và lưu trữ thông tin trong máy tính, cơ sở dữ liệu, hệ quản trị cơ sở dữ liệu, mạng máy tính và Internet

- Học sinh biết và sử dụng ở mức cơ bản được các ứng dụng phổ biến của công nghệ thông tin trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống

- Khối kiến thức môn học Tin học gồm có 3 nhóm:

1 CS (Computer science): Khoa học máy tính

- Có ý thức, thói quen suy nghĩ khoa học và làm việc hợp lí, chính xác

- Có ý thức về một số vấn đề kinh tế, xã hội, đạo đức liên quan đến học

và sử dụng tin học

Kế hoạch dạy học cho từng khối lớp cấp THPT:

Bảng 1.1 Kế hoạch dạy học môn Tin học hiện hành

Lớp Số tiết/tuần Số tuần Tổng số tiết/năm

Trang 31

1.2.6 Hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THPT

Trước yêu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt là nhu cầu sử dụng các thiết bị công nghệ cao ngày càng phổ biến như máy vi tính, điện thoại, mạng truyền thông, công nghệ đa phương tiện… Các thiết bị công nghệ cao này đã

và đang được sử dụng rộng rãi trong mỗi lĩnh vực của cuộc sống như: sản xuất, kinh doanh, giải trí, nghiên cứu phát triển, giao thông vận tải… Từ đó đã làm cho yêu cầu của xã hội là phải đưa môn Tin học vào giảng dạy cho học sinh, nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội

Với những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thì môn Tin học ở nước

ta đã và đang được đưa vào giảng dạy từ bậc đại học đến bậc phổ thông Tuy nhiên, ở bậc phổ thông thì chỉ có cấp THPT là môn học chính thức, bắt buộc; cấp THCS, Tiểu học chỉ là tự chọn Tất cả các cấp học, bậc học đều được khuyến khích tạo điều kiện cho các em học sinh được tiếp cận máy tính, công nghệ mới, nhằm có thể áp dụng những điều mình học vào cuộc sống

Chương trình Tin học hiện hành đang gặp phải vấn đề hết sức khó khăn

đó là sự bất cập và lạc hậu của môn Tin học hiện hành với sự thay đổi như vũ bão, liên tục thay đổi của công nghệ mới nói chung và ngành Tin học nói riêng trên thế giới Chương trình Tin học của chúng ta đã được viết từ những năm 2006, tính đến nay đã 14 năm, trong khi đó chu kỳ thay đổi công nghệ của CPU (Vi xử lý của máy tính), ví dụ của Intel chỉ là 2 năm, chu kỳ phát triển các dòng điện thoại của Samsung chỉ là 1 năm… Hiện nay chúng ta vẫn đang dạy học sinh kiến thức từ những năm 2003 như phần mềm Microsoft Office Word 2003, cách đây 16 năm; hay vẫn tiếp tục học lập trình Pascal, ngôn ngữ lập trình không còn phù hợp với thời cuộc đã ra đời từ những năm

1970, cách đây gần 50 năm

Môn Tin học là một môn học rất khó giảng dạy, nó đòi hỏi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ của mình Đặc biệt là phải liên tục cập nhật những nội dung mới, kiến thức mới phù hợp với hiện tại Đây

Trang 32

cũng là đặc thù rất nổi bật của môn Tin học Xét khía cạnh của dạy trình soạn thảo văn bản Microsoft Word, giáo viên phải nắm được là hiện nay có tới hơn

16 phiên bản Office khác nhau dành cho máy tính để bàn, các bản Office Mobile dành cho các thiết bị di động, các phiên bản dành cho Web,… cách thức làm việc của chúng tuy có nhiều tương đồng, nhưng giáo viên cũng phải thường xuyên cập nhật tình hình phát triển, cũng như phải sử dụng được 1-2 loại để đôi khi giải đáp cho học sinh Hoặc khi giảng dạy về vi xử lý cho máy tính để bàn, có nhiều hãng sản xuất CPU nhưng nổi tiếng hơn cả là Intel và AMD Chỉ riêng Intel, từ bộ xử lý 4-bit tên mã là 4004 được giới thiệu vào tháng 11 năm 1971, rồi tiến hóa rất nhanh đến các phiên bản Intel 386 (32 bit) năm 1985, đến phiên bản nổi tiếng là Pentium sử dụng công nghệ 0,8 µm chứa 3,1 triệu transistor, đến công nghệ kiến trúc Core (2006) với công nghệ 65nm, rồi 45nm, và đến các thế hệ dòng Core i (đời đầu ra mắt năm 2010 gồm

9 thế hệ đến nay) cũng làm rối trí giáo viên và học sinh Chưa kể đến các loại

vi xử lý dùng cho thiết bị di động, vi xử lý cho máy chủ…[36]; Hay với hệ điều hành phổ biến nhất thế giới là Windows cũng làm cho giáo viên đau đầu

để cập nhật, từ phiên bản đầu như MS-DOS; Windows 3.1, 95, 98, XP, Vista,

7, 9, 10 [38] Khi giảng dạy thì Windows được cài ở ổ đĩa C:\, tuy nhiên, khi thực hành thì Windows có thể nằm ở một ổ đĩa tên khác Vì máy tính bây giờ hiện đại, có thể cài đồng thời 1-2 hệ điều hành khác nhau, ổ đĩa lưu trữ cũng không đơn giản có 1 mà có thể có nhiều hơn một ổ đĩa lưu trữ…

Giáo viên cần luôn là người chủ động cao nhất khi giảng dạy cả về lý thuyết lẫn khi thực hành Giáo viên cần làm chủ được những kiến thức trong sách giáo khoa, cùng với đó là phải cập nhật kiến thức mới để hướng dẫn học sinh cũng như giải đáp cho học sinh khi học sinh có nhu cầu tìm hiểu

1.2.7 Phương pháp dạy học Tin học

Môn Tin học cũng giống như các môn học khác có hai nhân vật chính

trong quá trình dạy học là: thầy và trò Và vai trò của người thầy vẫn giữ vai

Trang 33

trò chính là chuyển giao những kiến thức của môn học đến với trò, điều khiển quá trình dạy học để trò tiếp thu được kiến thức, hình thành nên kỹ năng của

mình Học trò vẫn giữ vai trò là chủ thể của quá trình học tập, là đối tượng

tiếp nhận tri thức một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo

Trong môn Tin học, nhiều hoạt động xuất hiện trước hết như phương tiện để đạt những yêu cầu về mặt tin học: kiến tạo tri thức tin học, rèn luyện

kỹ năng tin học Một số hoạt động như thế nổi bật lên do tầm quan trọng của chúng trong Tin học, trong các môn học khác cũng như trong thực tế về việc thực hiện thành thạo những hoạt động đó trở thành một trong những mục tiêu dạy học Những hoạt động này cần phối hợp chức năng mục tiêu và chức năng phương tiện theo công thức: Thực hiện chức năng mục tiêu của hoạt động trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện (Faust 1978)

Phương pháp dạy học môn Tin học vẫn kế thừa các phương pháp dạy học truyền thống tuy nhiên có tính đặc trưng riêng của môn học và nó khác với môn học khác như: Học phải đi đôi với hành, tức khi học tập lý thuyết thì cần có các bài thực hành tương ứng để học sinh được rèn luyện Đặc biệt nếu dạy lý thuyết trực tiếp trên phòng máy thì học sinh được học kết hợp giữa kiến thức và thao tác thực hành ngay trên máy tính

Phương pháp giảng dạy trong môn Tin học cần được áp dụng linh hoạt trong giữa hoạt động dạy của giáo viên như: Phương pháp dạy học bằng thuyết trình thì môn học khác có thể là những lời lẽ tượng hình, mô tả cho một hình tượng nào đó, thì trong Tin học người giáo viên phải sử dụng những ngôn ngữ đó để lập luận, giảng giải, dẫn dắt, chứng minh và đặc biệt ngôn ngữ phải được sử dụng chính xác, logic Bên cạnh đó người giáo viên cần phải linh hoạt sử dụng các hình thức dạy học trực quan chứ không chỉ sử dụng bằng cách giải thích xuông Ví dụ như: giáo viên phải thường xuyên sử dụng các hình ảnh minh họa, các ứng dụng minh họa thực tiễn để giảng giải cho học sinh Nếu giáo viên không sử dụng thì học sinh sẽ rất khó khăn trong việc

Trang 34

hiểu về một vấn đề nào đó, như thao tác soạn thảo văn bản của Microsoft Word Người giáo viên không sử dụng phần mềm trực quan, chỉ mô tả bằng lời hình là một sự thử thách rất lớn mà học sinh gặp phải khi học Tin học

Phương pháp dạy học trong Tin học cần được hướng đến việc tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng các hoạt động tích cực,

tự giác, chủ động và sáng tạo Tức là các hoạt động học của học sinh cần được liên hệ với những hoạt động nhất định như: khi học một thao tác trên máy tính thì học sinh cần được thực hành thao tác đó trên máy tính nhằm tiếp thu ngay được tri thức và kỹ năng thực hành Vì vậy, người giáo viên cần là người linh hoạt, nhanh nhạy để tìm được các hoạt động tương thích và phù hợp với người học và quan trọng hơn là đạt được mục tiêu dạy học

Theo luật giáo dục Việt Nam năm 2005: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" Và "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh" Từ đó

ta thấy, phương pháp dạy học cần phải giải quyết được bài toán cố hữu của phương pháp dạy học truyền thống ở nước ta trong giai đoạn trước là: thầy giáo là trung tâm Phương pháp dạy học ngày nay cần được đổi mới nhằm phát huy được phẩm chất, năng lực của người học nhằm đào tạo ra những con người đáp ứng được với những yêu cầu của xã hội

Và hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học là việc làm cần thiết để phát huy được hết phẩm chất năng lực của người học Phương pháp dạy học môn Tin học cũng không nằm ngoài vòng xoáy của những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học trong thời kỳ mới Có nhiều năng lực của học sinh như:

Trang 35

năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin… Trong

số đó, phát triển năng lực sáng tạo và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề của học sinh là mục tiêu quan trọng vì qua đó sẽ góp phần thúc đẩy phát triển những năng lực khác Trong môn học Tin học cũng cần hướng tới sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao nhận thức của người học và phát huy tính tích cực chủ động của người học Và người giáo viên là nhân tố quyết định trong tình huống này, giáo viên phải nỗ lực thay đổi cách dạy truyền thống

và hướng hoạt động dạy của mình vào các hoạt động như: Tổ chức phong phú các hoạt động học tập của học sinh, học tập là việc tiếp nhận tri thức từ thực tế, nên các hoạt động học cũng phải xuất phát từ thực tế để học sinh có thể quan sát, thực hành, thảo luận… để giải quyết các vấn đề đặt ra;

1.3 Chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được ra đời trong bối cảnh đất nước ta và trên thế giới đã và đang chuyển mình mạnh mẽ sang một trang

sử mới, thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 Sức ảnh hưởng của cuộc cách mạng này là rất lớn, nó tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người,

và giáo dục cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của những tác động đó

Giáo dục với vai trò quyết định trong việc phát triển chất lượng con người cho toàn xã hội, nên cũng không nằm ngoài vòng xoáy thay đổi của sự thay đổi của xã hội

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được ban hành kèm theo Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 09/12/2000 của Quốc hội Chương trình hiện hành là một bước tiến so với các chương trình GDPT trước đó Kết quả giáo dục của ta trong những năm qua cũng đạt được những bước tiến quan trọng, trong các kỳ thi quốc tế chúng ta thường xuyên đạt được những thứ hạng cao

Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới của đất nước và của nhân loại đặc biệt là sự phát triển rất nhanh của khoa học công nghệ, kinh tế, xã hội Đổi

Trang 36

mới giáo dục trở thành nhu cầu cấp thiết của đất nước ta hiện nay, đổi mới giáo dục mang một ý nghĩa rất lớn là đào tạo ra lực lượng lao động có trình độ, kiến thức cao phù hợp với sự phát triển của xã hội

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/01/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Ngày 27/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

Thực hiện các nghị quyết trên của Đảng, Quốc hội và quyết định của Thủ tướng chính phủ, Bộ GD&ĐT đã nghiên cứu, xây dựng và ban hành chương trình Chương trình GDPT mới thông qua thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của bộ GD&ĐT về việc Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông, để nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng những đòi hỏi của thực tế và bắt kịp xu thế chung của nhân loại

1.3.1 Mục tiêu

Mục tiêu chung của chương trình GDPT mới được Nghị quyết 88/2014/QH13

của Quốc hội quy định:" Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ

thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ

và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh" [36]

Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả

Trang 37

kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan

hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại [4]

Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới [4]

1.3.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực

1 Chương trình giáo dục phổ thông mới (Chương trình giáo dục phổ thông 2018) hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm [6]

2 Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:

a) Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo [6];

b) Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất [6]

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh thông qua các môn học tự chọn, giúp học sinh được thể hiện năng lực bản thân

Trang 38

1.3.3 Nội dung chương trình GDPT mới cấp THPT

Chương trình GDPT mới được ban hành năm 2018 dành cho cấp THPT gồm [6]:

+ Các môn học và hoạt động bắt buộc gồm: Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục thể chất; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp; Nội dung giáo dục của địa phương;

+ Các môn học lựa chọn gồm 3 nhóm môn:

- Nhóm môn khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật

- Nhóm môn khoa học tự nhiên: Vật lý, Hoá học, Sinh học

- Nhóm môn công nghệ và nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật)

1.4 Môn Tin học trong chương trình GDPT mới

1.4.1 Vị trí, vai trò môn Tin học trong chương trình GDPT mới

Trong chương trình GDPT mới, môn Tin học đóng vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, sáng tạo tri thức trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư và toàn cầu hoá Thật vậy, Tin học trở thành một phần tất yếu của thế giới hiện đại Tin học đã và đang thay đổi cách sống, cách nghĩ, cách làm của mỗi chúng ta Con người đang sống trong xã hội hiện nay không chỉ biết sử dụng các thiết bị công nghệ

để tránh bị tụt hậu so với thời cuộc, mà còn biết sử dụng sao cho thông thái, chủ động và còn sáng chế ra các công cụ phục vụ đời sống con người

Môn Tin học được xác định là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 9 và

Có sự phân hoá sâu ở cấp THPT Khối kiến thức mới gồm 3 mạch kiến thức là: Học vấn số hoá phổ thông (DL), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khoa học máy tính (CS) Ở cấp THPT, môn Tin học phân hoá theo

02 hướng là: Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính theo định hướng nghề nghiệp Nên, tuỳ theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của bản thân, học sinh được lựa chọn một trong hai định hướng thông qua việc chọn nhóm chủ

đề tương ứng

Trang 39

Chương trình môn Tin học mới được thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực với mục tiêu chính là nhằm hình thành và phát triển năng lực tin học, một trong những năng lực đặc thù của chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể Khác với chương trình Tin học hiện hành được thiết kế theo hướng tiếp cận nội dung, nặng về lý thuyết hàn lâm Thì chương trình Tin học mới được xây dựng với nhiều chủ đề dạy học và dành cho các đối tượng học sinh có khả năng, sở thích khác nhau Chương trình có tính mở hơn với cả những nhà quản lý, với giáo viên và học sinh Chương trình không đưa ra ràng buộc về chủng loại thiết bị hay phần mềm, không phân biệt phần mềm nguồn mở hay nguồn đóng nhằm tạo điều kiện cho mỗi nhà trường vận dụng linh hoạt tuỳ theo điều kiện Các chủ đề dạy học mang tính mở, gợi ý để người dạy và người học dễ dàng tiếp cận với những chủ đề dạy học phù hợp Trong chương trình GDPT mới, khuyến khích học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã học để tạo ra các sản phẩm cá nhân, của nhóm, khuyến khích áp dụng kiến thức đã học để phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tế Bên cạnh đó, Tin học còn tạo cơ sở vững chắc cho việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, phục

vụ phát triển, triển khai những nội dung kiến thức mới và triển khai phương thức giáo dục mới cho tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục khác như trải nghiệm sáng tạo, giáo dục địa phương Đồng thời cùng thực hiện định hướng giáo dục STEM với các môn học khác như: Toán học, Khoa học tự nhiên, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ, từ đó nâng cao năng lực tự tìm hiểu, tư duy sáng tạo và đặt người học vào vị trí một nhà phát minh, nhà quản

lý, phát hiện và giải quyết các vấn đề trên cơ sở các kiến thức liên môn và các vấn đề thực tế Thông qua các chủ đề dạy học, thông qua các sản phẩm tự làm (cá nhân hoặc nhóm) học sinh phát huy được các năng lực đặc thù của môn học và tăng cường tính giáo dục khác như: hướng nghiệp, khởi nghiệp, bình đẳng giới, tài chính, dân số, bảo vệ tôi trường…

Trang 40

1.4.2 Mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường THPT theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Mục tiêu của môn Tin học trong chương trình mới là góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được xác định trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, đồng thời là thành phần chủ yếu giúp hình thành và phát triển năng lực tin học cho học sinh

Ở cấp Trung học phổ thông, môn Tin học tiếp tục được củng cố và nâng cao năng lực tin học đã được hình thành ở cấp học trước Bên cạnh đó, chương trình còn mang tính định hướng nghề nghiệp thuộc lĩnh vực tin học hoặc ứng dụng tin học cho học sinh, trong thông tư 32/2018/TT-BGD&ĐT có nêu cụ thể là:

- Sau khi học xong chương trình này học sinh có những hiểu biết biết

cơ bản về hệ thống máy tính, một số kĩ thuật thiết kế thuật toán, tổ chức dữ liệu và lập trình; củng cố và phát triển hơn nữa cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề, khả năng đưa ra ý tưởng và chuyển giao nhiệm vụ cho máy tính thực hiện [6]

- Học sinh có khả năng ứng dụng tin học, tạo ra sản phẩm số phục vụ

cộng đồng và nâng cao hiệu quả công việc; có khả năng lựa chọn, sử dụng, kết nối các thiết bị số, dịch vụ mạng và truyền thông, phần mềm và các tài nguyên số khác [6]

- Giúp học sinh có khả năng hoà nhập và thích ứng được với sự phát

triển của xã hội số, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học

và tự học; tìm kiếm và trao đổi thông tin theo cách phù hợp, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, ứng xử văn hoá và có trách nhiệm; có hiểu biết thêm một số ngành nghề thuộc lĩnh vực tin học, chủ động và tự tin trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân [6]

Ngày đăng: 13/11/2020, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w