Sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) và khả năng ứng dụng tại Việt Nam Mô hình sản phẩm báo chí số thu phí từ người sử dụng đã được hình thành từ lâu tại thị trường quốc tế và vẫn đang tồn tại ở thị trường Việt Nam dưới nhiều hình thức: cả độc lập và cộng sinh kết hợp. Dựa trên quy luật cung cầu của thị trường, các mô hình sản xuất báo chí truyền thông số thu phí mới đang dần được thử nghiệm và cũng có những mô hình nhận được phản hồi tốt từ khách hàng. Tồn tại trên môi trường kỹ thuật số nhưng vẫn kế thừa các mô hình kinh tế báo chí truyền thống, như định giá sản phẩm, phát hành dựa vào địa chỉ của người mua… Đề tài Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) và khả năng phát triển tại Việt Nam góp phần làm rõ các thuật ngữ chuyên ngành, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và mối quan hệ giữa khả năng phát triển của các mô hình kinh doanh mới với nền báo chí truyền thống có bề dày thành tích. Đề tài nghiên cứu đã chỉ ra những thuật lợi, khó khăn và thách thức mà mô hình thu phí sản phẩm truyền thông số tại Việt Nam phải đối mặt cũng như đưa ra sự phân tầng về khách hàng để tối ưu hóa giá trị nội dung thông tin đem lại. Từ đó rút ra bài học về sự hoàn thiện bộ máy chuyên môn, tối ưu hóa các nền tảng kỹ thuật số để phù hợp với nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Trang 1.ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-BÙI THU THỦY
SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ
TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG (SUBSCRIBER) VÀ
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THU THỦY
SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ
TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG (SUBSCRIBER) VÀ
KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TẠI VIỆT NAM
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 8320101.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI CHÍ TRUNG
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Bùi Chí Trung (Trường đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn) Các số liệu, trích dẫn nêu trong luận văn là trung thực, được dẫn nguồn đầy đủ Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020
Tác giả luận văn
BÙI THU THỦY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đến nay tôi
đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ Báo chí, chuyên ngành Báo chí học với đề
tài “Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng
(subscriber) và khả năng ứng dụng tại Việt Nam”
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông và các thầy cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng cần thiết ở bậc đào tạo sau đại học
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS,TS Bùi Chí Trung, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn đến ông Lê Quốc Minh - Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, ông Bùi Quang Ngọc - Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị FPT và các đồng nghiệp tại trung tâm VAS - Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn chắc chắn còn những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành của các nhà khoa học, thầy cô giáo
và các bạn đồng môn, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2020
Tác giả luận văn
BÙI THU THỦY
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH 7
MỞ ĐẦU 9
1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Tình hình nghiên cứu 12
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 17
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
5 Phương pháp nghiên cứu 18
6 Kết cấu luận văn: 19
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ LUẬN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VÀ SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG (SUBSCRIBER) 20
1.1 Cơ sở lý luận kinh tế báo chí truyền thông về sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) 20
1.1.1 Khái niệm về báo chí, sản phẩm báo chí, truyền thông 20
1.1.2 Một số khái niệm về mô hình, kinh tế báo chí 22
1.1.3 Một số khái niệm về kỹ thuật số và báo chí, truyền thông số 25 1.2 Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng 28
1.2.1 Nền tảng công nghệ và quá trình phát triển của sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí người sử dụng 28
1.2.2 Sản phẩm báo chí, truyền thông trên nền tảng số 30
1.2.3 Đặc điểm của sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí 34
Trang 61.3 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất, sản phẩm, hệ thống phân phối
và người tiêu dùng trong thị trường nội dung số 37
1.3.1 Về dây chuyền sản xuất và phân phối sản phẩm báo chí, truyền thông truyền thống 37 1.3.2 Dây chuyền sản xuất và phân phối sản phẩm báo chí, truyền thông trong môi trường kỹ thuật số 39 1.4 Những biểu hiện và đặc điểm của thị trường báo chí, truyền thông
số thu phí từ người sử dụng 42 1.4.1 Những biểu hiện mới của thị trường báo chí, truyền thông số
42
1.4.2 Một số đặc điểm của thị trường báo chí, truyền thông số 43 1.4.3 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất nội dung, nhà phân phối và khách hàng trên thị trường báo chí truyền thông số 45 1.5 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển và hiệu quả sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí từ người sử dụng 48 1.5.1 Các tiêu chí dựa trên thuật toán thống kê 48
1.5.2 Các tiêu chí dựa trên hiệu quả tác động của sản phẩm truyền thông 52 1.5.3 Các tiêu chí dựa trên khả năng đảm bảo quyền lợi các bên liên quan 54
1.5.4 Các tiêu chí đánh giá dựa trên hiệu quả kinh tế 55
Tiểu kết chương 1 57 Chương 2 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ CÁC SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ NGƯỜI DÙNG TẠI VIỆT NAM 60 2.1 Sơ lược về các sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí
người sử dụng khảo sát tại Thông tấn xã Việt Nam, Viettel và FPT
60
2.1.1 Thông tấn xã Việt Nam 60
Trang 72.1.2 Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) 61
2.1.3 Tập đoàn FPT 63
2.2 Thực trạng triển khai mô hình sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam hiện nay 65
2.2.1 Tình hình phát triển của hạ tầng kỹ thuật 67
2.2.2 Tình hình phát triển về hoạt động nội dung 78
2.2.3 Tình hình phát triển về sản xuất, đóng gói thông tin 83
2.2.4 Tình hình phát triển về hoạt động dịch vụ 85
2.3 Đánh giá ưu điểm và hạn chế của sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam 91
2.3.1 Ưu điểm của sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam 91
2.3.2 Hạn chế của sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam 93
Tiểu kết chương 2 97
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔ HÌNH SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ TỪ NGƯỜI DÙNG TẠI VIỆT NAM 101
3.1 Những vấn đề đặt ra trong sự phát triển thị trường báo chí số trong thời gian tới 101
3.2 Những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển mô hình kinh doanh nội dung mới tại Việt Nam và thế giới 107
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị cho sự phát triển sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam 116
Tiểu kết chương 3 119
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
NYT : New York Time – Thời báo New York
PGS.TS : Phó Giáo sư, Tiến sĩ
TS : Tiến sĩ
Tr : Trang
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
1 Danh mục Bảng
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phát thanh truyền hình 72
Bảng 2.2 Thị trường dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền 76
2 Danh mục biểu đồ Biểu đồ 1.1 Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) 33
Biều đồ 1.2 Dây chuyền sản xuất trong ngành công nghiệp truyền thông 36
Biểu đồ 1.3 Mô hình nhà cung cấp dịch vụ viễn thông chào bán gói sản phẩm báo chí truyền thông số tới độc giả 45
Biểu đồ 1.4 Mô hình khách hàng chủ động tìm kiếm sản phẩm thông tin số 45 Biểu đồ 2.1 Tình hình phát triển thuê bao băng di động Quý I năm 2020 tại Việt Nam 65
Biểu đồ 2.2 Số liệu nội dung đẩy lên hệ thống từ nhà cung cấp và mức độ tương tác của khách hàng từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2019 của Myclip.vn 67
Biểu đồ 2.3 Tần suất sử dụng và loại thiết bị mà người Việt Nam dùng để xem các chương trình truyền hình số 68
Biểu đồ 2.4 Sự tăng trưởng các sản phẩm truyền hình, trong đó có sản phẩm thu phí tại Việt Nam, mức tăng trưởng của các thuê bao truyền hình trả phí tỉ lệ thuận với sự phát triển của các nền tảng viễn thông 70
Biểu đồ 2.5 FPT Play đứng đầu danh sách truyền hình trả tiền trực tuyến tại thị trường Việt Nam nhờ các chỉ số do người dùng bình chọn liên quan đến nội dung sản phẩm và chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin 71
Biểu đồ 2.6: Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số có sự phối hợp giữa các nhóm ngành kinh tế đã phát huy được thế mạnh của các đơn vị đối tác 73
Biểu đồ 2.7: Thị trường truyền hình số trả tiền tại Việt Nam 79
Biểu đồ 2.8: Chỉ số người dùng trong vòng 90 ngày trên Myclip.vn 82
Biểu đồ 2.9: Thống kê các chỉ số liên kết trên sản phẩm myclip.vn 84
Trang 103 Danh mục hình ảnh
Hình 1.1: Các thông số Source code của trang nytimes.com 47 Hình 1.2: Báo cáo chi tiết người dùng trong 7 ngày của Google Analytics 48 Hình 1.3: Báo cáo về lượng tăng trưởng của subscriber tại NYT từ năm 2011-2018 49 Hình 1.4: Báo cáo đánh giá lượng người xem trên hệ thống 49 Hình 1.5: Báo cáo tỷ lệ phần trăm thể loại tin tức của NYT được chia sẻ trên mạng xã hội 50 Hình 2.1: Top 5 dịch vụ truyền hình trực tuyến thu phí tại Việt Nam 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự bùng nổ kỷ nguyên số đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới hoạt động truyền thông trên thế giới và Việt Nam trên nhiều phương diện, trong
đó có sự xuất hiện các mô hình sản phẩm nội dung số thu phí từ người sử dụng thông qua các hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông công nghệ cao Trong làn sóng số hoá, các cải tiến, thay đổi trong công cụ sản xuất và phương thức sản xuất đã tạo ra các sản phẩm báo chí, sản phẩm truyền thông mới đáp ứng những đòi hỏi cao hơn cả về hình thức lẫn nội dung truyền thông của công chúng Không chỉ đòi hỏi về chất lượng nội dung thông tin, công chúng còn mong muốn thụ hưởng những sản phẩm đem lại hiệu ứng khác biệt, để khám phá và thỏa mãn trải nghiệm của mình và sẵn sàng chi trả tiền bạc, thời gian cho những sản phẩm chất lượng cao Từ nhu cầu thực tiễn đó, các mô hình sản phẩm thông tin mới đã xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ thể hiện những bước đột phá về chất lượng nội dung, hình thức trình bày mà còn cả trên phương thức truyền tải tới công chúng
Sự hình thành, phát triển của các sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí
từ người sử dụng dựa trên tiền đề đó
Những đổi mới này góp phần quan trọng cho sự phát triển của một
nền kinh tế mang tên kinh tế tri thức (the knowledge economy), với những
tác động mạnh mẽ vào các xu hướng phát triển của xã hội Sự vận động và phát triển của kinh tế nền tri thức trong bối cảnh hội nhập quốc tế đã được
ra đặt trong chiến lược phát triển chung của Việt Nam qua các cương lĩnh của Đảng, toàn văn phát biểu của lãnh đạo nhà nước Kinh tế tri thức là cơ
sở để hiện đại hóa nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó cũng là một “môi trường” mới, một động lực mới để phát triển hoạt động kinh tế báo chí truyền thông Sự phát triển sinh động của thực tiễn cho thấy rằng cần thiết phải
Trang 12nghiên cứu, tìm hiểu một cách kỹ lưỡng hơn, toàn diện hơn về sự phát triển của các sản phẩm báo chí truyền thông có thu phí từ người sử dụng để góp phần làm sáng rõ thêm về các thành tố trong sự vận động của nền kinh tế tri thức cũng như kinh tế báo chí trong bối cảnh cuộc cách mạng số tại Việt Nam và Thế giới
Thông tin báo chí và tin tức truyền thông đã và đang là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt khi nó đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của công chúng trong quá trình sản xuất thông tin; nó có đầy đủ các yếu tố cấu thành của một sản phẩm hàng hóa theo mô hình kinh tế thị trường Nguồn cung của mặt hàng thông tin rất phong phú, đa dạng, và có liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, giải trí Nhu cầu và công chúng của các loại hình thông tin cũng theo
đó mà đông đảo, thuộc nhiều tầng lớp xã hội Nằm trong hoạt động kinh tế tri thức Việt Nam, kinh tế báo chí truyền thông nói chung, các sản phẩm báo chí truyền thông số nói riêng là một bộ phận quan trọng không thể tách rời Trong đó, các sản phẩm báo chí, truyền thông số đang nở rộ dưới mọi hình thức, nhiều thể loại Có những cơ quan báo chí, đặc biệt
là báo in trên thế giới và cả ở Việt Nam những năm qua đã phải tạm đình bản thậm chí giải thể do doanh số phát hành giảm, công chúng theo đuổi những thể loại báo chí mới Vì vậy, để duy trì sự tồn tại của một cơ quan báo chí, nếu chỉ phụ thuộc vào doanh số phát hành theo mô hình xưa cũ
là không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay Làm thế nào để có thể vận dụng các mô hình kinh doanh trên hạ tầng công nghệ số trong hoạt động báo chí là một câu hỏi thách thức đang được đặt ra
Bên cạnh báo chí, hoạt động truyền thông cũng góp phần truyền tải thông tin, vận động thay đổi thói quen nhằm thỏa mãn nhu cầu tin tức của công chúng Trong thực tiễn, hoạt động của các cơ quan báo chí và các cơ quan truyền thông luôn có sự giao thoa với nhau Công chúng truyền thông
Trang 13luôn cần có báo chí để giám sát, phản biện, kiểm chứng lại thông tin Nhất
là trong bối cảnh kinh tế, xã hội có nhiều biến chuyển Mô hình sản phẩm báo chí có sự hợp tác với các đơn vị truyền thông đã tồn tại từ lâu Nếu như trước đây, đơn vị truyền thông đóng vai trò là một nhà tài trợ cho cơ quan báo chí thì giờ đây, với sự phát triển của công nghệ, đơn vị truyền thông đã song hành cùng cơ quan báo chí trong việc cung cấp các sản phẩm thông tin có chất lượng ra thị trường
Sự hợp tác giữa cơ quan báo chí với các doanh nghiệp truyền thông, các hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông đã cho ra đời những sản phẩm trên cơ sở hạ tầng số như mạng điện thoại di động, internet, phần mềm, ứng dụng trên thiết bị di động cá nhân; các sản phẩm này được truyền tải thông qua đường dây, cáp quang, vệ tinh của các nhà mạng truyền thống, loại hình chính của sản phẩm truyền thông số bao gồm âm thanh, văn bản, hình ảnh, video và những nội dung do chính người dùng (công chúng) cung cấp Thực tiễn cho thấy, hoạt động mạnh mẽ và phong phú của các sản phẩm báo chí truyền thông số có thu phí từ người sử dụng
đã trở thành một hướng khai thác phân khúc thị trường mới tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Trước sự ra đời của mô hình thu phí sản phẩm truyền thông số đã rất thành công tại các tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới như New York Times (NYT), The Guardian… Những biểu hiện của xu hướng này cũng dần manh nha xuất hiện tại Việt Nam trong vài năm gần đây dưới những hình thức khác nhau và nhận được rất nhiều sự quan tâm của cả những người làm báo và công chúng báo chí truyền thông Vì vậy, trước yêu cầu của thực tiễn, cần có một nghiên cứu làm rõ các yếu tố nội hàm, khái niệm, mối quan hệ giữa các đặc trưng thể loại và khả năng phát triển mô hình thu phí thông tin tại Việt Nam trong tương lai, bởi đây sẽ là một hướng đi mới
Trang 14trong hoạt động tự chủ tài chính cho các tòa soạn báo theo mục tiêu Quy hoạch báo chí đến năm 2025
Làm thế nào để phát triển các định dạng sản phẩm mới, có tiềm năng đem lại hiệu quả lớn về kinh tế nhưng vẫn đảm bảo chất lượng nội dung là một thách thức đang đặt ra Bên cạnh đó, ngoài các mô hình kinh tế truyền thông truyền thống như tìm quảng cáo, tài trợ, phát hành… thì các mô hình sản phẩm truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) đang ngày càng phát triển, nên cần thiết phải có sự hiểu biết kỹ lưỡng hơn, đánh giá một cách toàn diện hơn xu hướng này nhằm đúc kết những kinh nghiệm, giải pháp cần thiết cho hoạt động báo chí truyền thông tại Việt Nam
Những lý do trên cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài:
“Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) và khả năng phát triển tại Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu của đề tài có mối liên hệ ngành giữa các lĩnh vực: báo chí truyền thông, công nghệ thông tin và viễn thông, kinh tế báo chí truyền thông, kinh tế số Đó là những hướng nghiên cứu cơ bản để tác giả luận văn khai thác cơ sở dữ liệu và nhận định rõ về tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Trong Luật Báo chí năm 2016 có đề cập đến sự tồn tại của kinh tế báo chí như một thành tố quan trọng, đặc biệt, Quy hoạch phát triển và
quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 mới thấy được tính cấp bách
trong việc thừa nhận và chấn chỉnh hoạt động kinh tế báo chí ở Việt Nam
Vì vậy, các công trình nghiên cứu về báo chí từ cuối thế kỷ XX đến nay phần lớn đều tập trung phân tích về lý thuyết, thể loại, kỹ năng nghề, đã có những công trình nghiên cứu về kinh tế báo chí, cụ thể là:
Về sách chuyên khảo: cuốn “Kinh tế báo chí” TS Bùi Chí Trung
(2007) đã đề cập một cách khá đầy đủ và chi tiết về khái niệm, cơ cấu, các
Trang 15mô hình hoạt động của kinh tế báo chí tại Việt Nam thông qua mối quan hệ giữa các thể loại báo chí Cuốn sách đã đưa ra các mô hình kinh tế báo chí phù hợp với bối cảnh thị trường báo chí Việt Nam, ngoài những mô hình hoạt động kinh tế báo chí truyền thống như phát hành, quảng cáo, nghiên cứu còn chỉ ra một hướng phát triển mới của hoạt động thu phí sản phẩm báo chí truyền thông đó là hoạt động thu phí thông tin báo chí dưới dạng thức truyền hình trả tiền theo yêu cầu - IPTV Kết quả nghiên cứu cho thấy công chúng sẵn sàng chi trả để có được thông tin mà họ muốn, nhu cầu tiếp cận thông tin của công chúng là không giới hạn, khi công nghệ càng phát triển, công chúng càng có nhiều sự lựa chọn cho hoạt động tiếp nhận của họ
Ở góc độ nghiên cứu về thể loại báo chí, cuốn “Một số vấn đề về
kinh tế báo in” của nhóm tác giả PGS.TS Đinh Văn Hường – TS Bùi Chí
Trung (2014) đã chỉ rõ những thành tố của một đơn vị sự nghiệp báo chí in
ấn có thu, trong nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế, thực trạng của hoạt động kinh tế báo in đã và đang có nhiều thay đổi so với giai đoạn đầu Cuốn sách đã tập trung xác lập một cách cơ bản, hệ thống các học thuyết kinh tế truyền thông đang phổ cập trên thế giới đồng thời khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các hoạt động kinh tế từ góc nhìn kinh tế báo chí và hệ thống quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hoạt động kinh tế báo chí và đưa ra một số kiến nghị
để báo in Việt Nam hoạt động hiệu quả trong bối cảnh mới
Cùng đề cập đến hoạt động kinh tế truyền hình, cuốn “Truyền hình
trả tiền ở Việt Nam căn bản và tiềm năng” của TS Hoàng Ngọc Huấn
(2017) đã kế thừa các công trình nghiên cứu kinh tế truyền hình trước đó
và phát triển nghiên cứu trên mô hình của VTVcab, cuốn sách đề cập đến
sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo điều kiện cho truyền hình phát triển với nhiều dịch vụ mới, có sản phẩm bản
Trang 16quyền và lý giải các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mua của khách hàng như nền văn hóa, nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và vai trò của những nhà làm truyền thông có khả năng định hướng dư luận có tác động thế nào tới thói quen của công chúng
Trong cuốn “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện
đại” (2019, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông) của PGS, TS
Nguyễn Thành Lợi đã đề cập đến hoạt động phát triển truyền thông kỹ thuật số thu phí thông qua mô hình subscribe tại báo điện tử NYT như một điển hình thành công của mô hình thu phí trên thế giới, đưa NYT trở thành
tờ báo lớn thứ 2 tại Mỹ
Về các công trình nghiên cứu luận văn, luận án: Luận án tiến sĩ kinh
tế của tác giả Phạm Hoài Nam (2017): “Quản lý nhà nước đối với hoạt
động truyền hình trả tiền tại Việt Nam” có kế thừa và nhấn mạnh các mô
hình và phương thức thanh toán chủ yếu của truyền hình trong giai đoạn công nghệ khoa học phát triển Luận án nhấn mạnh về vai trò quản lý của nhà nước trước sự thay đổi của các sản phẩm kinh tế hữu hình đến các sản phẩm được chi trả qua đường dẫn, sóng truyền hình Qua đó thấy được sự sát sao trong quản lý pháp luật Nhà nước trước sự thay đổi không ngừng của ngành truyền hình
Luận văn “Hoạt động kinh tế báo chí của cơ quan báo ngành môi
trường” của tác giả Đặng Thị Hương Giang (2014) đã khảo sát mô hình
kinh tế báo chí tại các cơ quan cụ thể như báo Tài nguyên & Môi trường, tạp chí Kinh tế Môi trường, tạp chí Môi trường & Cuộc sống giai đoạn 2011 - 2013 Nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh: phát hành, quảng cáo và kinh doanh báo chí khác, nghiên cứu cũng chỉ rõ tính chuyên biệt của sản phẩm có thể ảnh hưởng không nhỏ tới doanh thu của đơn vị sản xuất
Trang 17Luận văn “Tổ chức hoạt động kinh tế báo chí tại tòa soạn báo
Thanh niên” của tác giả Nguyễn Huyền Trang (2015) đã hệ thống hóa
những vấn đề về lý luận và hoạt động kinh tế báo chí thông qua việc phân tích thực trạng hoạt động kinh tế báo chí tại tòa soạn báo Thanh niên trong giai đoạn 6/2014-6/2015 Ở trường hợp cụ thể của báo Thanh niên, tác giả đã chỉ ra một số điểm mạnh và hạn chế của hoạt động kinh
tế báo chí trong giai đoạn nền kinh tế thị trường đang bị ảnh hưởng bởi công nghệ khoa học
Về các bài báo đã được công bố: Bài báo nghiên cứu khoa học
“Doanh nghiệp viễn thông tham gia thị trường truyền hình trả tiền: Cơ hội
và thách thức” của tác giả Lê Minh Toàn (2013) đăng trên tạp chí Công
nghệ thông tin & Truyền thông tháng 5 có giới thiệu về mô hình kết hợp mới giữa các doanh nghiệp viễn thông và đài truyền hình để cho ra đời những sản phẩm kết hợp thế mạnh của doanh nghiệp và nhà sản xuất, từ đó phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra việc ứng dụng công nghệ thông tin vào khai thác thị phần khách hàng truyền hình tiềm năng sẽ đem lại nguồn lợi cho các bên liên quan, đồng thời nhấn mạnh
sự phối hợp giữa các nhóm ngành kinh tế có thể đem lại hiệu quả
Trong nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch
vụ đọc báo điện tử có trả phí ở Việt Nam” của nhóm tác giả Mai Thế
Duyệt, Phạm Quốc Trung (2015) đã sử dụng học thuyết hành vi dự định để nghiên cứu thị trường, đặc điểm công chúng tại Việt Nam và đưa ra kết
luận đối với hoạt động trả phí qua báo mạng điện tử, đó là: “Yếu tố thái độ
có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định sử dụng dịch vụ Đối với các yếu tố ảnh hưởng lên thái độ, nhận thức về lợi ích, tính tương thích, tâm lý ưa thích miễn phí là ba yếu tố có ảnh hưởng đáng kể nhất” [8; tr.42] Công trình
trên tiếp cận vấn đề công chúng trả phí cho sản phẩm báo chí truyền thông
Trang 18số từ góc độ nhân khẩu học và tâm lý học, chứ chưa đề cập đến hoạt động thu phí dưới góc độ nghiên cứu kinh tế báo chí
Tác giả Phan Hữu Minh (2017) có bài viết “Kinh tế báo chí và
những giới hạn” đăng trên website của Hội Nhà báo Việt Nam [65] đã
khẳng định: Hoạt động kinh tế trong báo chí là vấn đề không mới, thậm chí
là điều kiện tiên quyết của nhiều cơ quan báo chí giúp cho quá trình tồn tại
và phát triển Bài viết khẳng định các quy định của pháp luật đã tạo đủ hành lang cho hoạt động kinh tế của báo chí Vấn đề ở đây là thực hiện sao cho đúng cả ở khía cạnh pháp luật và đạo đức của người làm báo
Trên website specia.vietnamplus.vn đăng tải bài viết của tác giả
Vĩnh Khang (2019) có tên “Thu phí từ độc giả là con đường phát triển bền
vững của báo chí” đã đề cập đến sự phát triển và hình thành của mô hình
thu phí độc giả trên báo mạng điện tử từ năm 2012 và những phản ứng gay gắt của công chúng và các nhà báo trước quan điểm cần thu phí báo mạng điện tử Tuy nhiên, qua các mô hình đã thành công trên thế giới cũng như tại Việt Nam, khả năng thu phí các sản phẩm báo mạng điện tử là khả thi
và điều kiện tiên quyết cho quyết định chi trả của độc giả chính là nội dung chất lượng
Nhận thấy: Các công trình nghiên cứu khoa học về kinh tế báo chí tại Việt Nam đã xuất hiện từ vài năm trở lại đây và có hướng khai thác rõ ràng về các mảng đề tài chuyên biệt, đó là thể loại báo chí và hệ thống các
ấn phẩm chuyên ngành Các công trình đều ít nhiều khẳng định sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế thị trường đòi hỏi các cơ quan báo chí phải làm chủ doanh thu và tham gia vào quá trình xây dựng mô hình đơn vị sự nghiệp có thu Tuy nhiên, mảng đề tài về sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng vẫn chưa được khai thác hoàn toàn triệt để dưới góc độ kinh tế báo chí
Trang 19Các công trình nghiên cứu về người sử dụng sản phẩm báo chí truyền thông số có thu phí hiện nay đa phần thuộc về các nhà nghiên cứu ở nước ngoài, chủ yếu là Mỹ và một số học giả tại châu Âu, đây là thuận lợi cũng là khó khăn đối với đề tài nghiên cứu khi có thể tham khảo và tiếp thu các số liệu, hướng phát triển của các đề tài nước bạn nhưng cũng là thách thức lớn khi chưa có hệ thống các đề tài nghiên cứu tương tự ở trong nước
Chính vì vậy đề tài Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu
phí từ người sử dụng (subscriber) và khả năng phát triển tại Việt Nam sẽ
góp phần làm rõ các thuật ngữ chuyên ngành, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và mối quan hệ giữa khả năng phát triển của các mô hình kinh doanh mới với nền báo chí truyền thống có bề dày thành tích Sản phẩm báo chí truyền thông số là một mô hình không còn xa lạ với các cơ quan truyền thông, tuy nhiên trước sức ép của thương mại hóa thông tin và quảng cáo, nhiều nhà nghiên cứu chưa chỉ rõ vai trò và đánh giá đúng đắn về tiềm năng kinh tế
mà sản phẩm báo chí truyền thông số mang lại với nền kinh tế báo chí Việt Nam Vì vậy, đề tài nghiên cứu sẽ chỉ ra những thuật lợi, khó khăn và thách thức mà mô hình thu phí sản phẩm truyền thông số tại Việt Nam phải đối mặt cũng như đưa ra sự phân tầng về khách hàng để tối ưu hóa giá trị nội dung thông tin đem lại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm hướng tới việc phân tích thực trạng triển khai các mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số có thu phí từ người sử dụng tại Việt Nam hiện nay thông qua hoạt động sản xuất, đóng gói tin tức tại một số cơ quan báo chí, cơ quan truyền thông Từ đó đưa ra những đánh giá về khả năng ứng dụng và xu hướng phát triển trong thời gian tới Đề tài sẽ đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm phát
Trang 20triển các mô hình sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu của công chúng, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế truyền thông tích cực
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài sẽ làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và phương thức triển
khai sản phẩm báo chí truyền thông số có thu phí từ người sử dụng
Thứ hai, phân tích thực tiễn phát triển các mô hình sản phẩm báo chí
truyền thông số thu phí từ người sử dụng đang triển khai tại thị trường Việt Nam Đánh giá ưu, nhược điểm và nguyên nhân
triển truyền thông số hiện nay; những kinh nghiệm trong việc phát triển mô hình sản phẩm truyền thông số thu phí từ người sử dụng và đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nâng cao chất lượng hiệu quả trong tương lai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được tập trung vào các mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber)
Phạm vi nghiên cứu: giới hạn tập trung nghiên cứu các sản phẩm nội dung số trên nền tảng internet và di động: pay.vietnamplus.vn (bản quyền thuộc về Báo Điện tử Vietnamplus, Thông tấn xã Việt Nam); myclip.vn (Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội Viettel) và sản phẩm FPT play của Công ty cổ phần FPT
Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài kế thừa và vận dụng phương pháp biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện Đại hội của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về báo chí và hoạt động kinh tế báo chí tại Việt Nam Kế thừa một số phương pháp luận trong chuyên ngành kinh tế
Trang 215.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đề tài tham khảo và trích dẫn một
số tài liệu từ các nhà nghiên cứu đi trước về đề tài kinh tế, báo chí, xã hội học, văn hóa học để làm rõ các quan điểm, khái niệm về loại hình
công khai để cho thấy thực trạng hoạt động của mô hình thu phí thông tin tại Việt Nam
Phương pháp tiếp cận liên ngành: báo chí học, các học thuyết truyền
thông, kinh tế học, văn hóa học, xã hội học và dân tộc học để thấy được mối quan hệ giữa kinh tế báo chí với các nhóm kinh tế thị trường khác và khả năng tồn tại của mô hình thu phí trên thị trường trong nước và quốc tế
Phương pháp phỏng vấn sâu: các chuyên gia trong lĩnh vực, những
người trực tiếp kinh doanh nội dung và những người lựa chọn nội dung để mua bán
Đề tài có vận dụng phương pháp phân tích chiến lược (SWOT) để
chỉ ra các đặc trưng mô hình, điểm mạnh, điểm yếu từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức của mô hình thu phí trong nền kinh tế thị trường
Đồng thời, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu công
cụ như so sánh, phân tích, mô hình hoá… để tạo dựng cơ sở dữ liệu và nội dung phân tích phù hợp
6 Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương bao gồm:
Chương 1: Khái quát chung về lý luận kinh tế báo chí truyền thông và sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber)
Chương 2: Khảo sát, đánh giá các sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí người dùng tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người dùng tại Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ LUẬN KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VÀ SẢN PHẨM BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG SỐ THU PHÍ TỪ NGƯỜI SỬ DỤNG (SUBSCRIBER)
1.1 Cơ sở lý luận kinh tế báo chí truyền thông về sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber)
Trong quá trình nghiên cứu, có một số khái niệm liên quan đến đề tài
như: sản phẩm báo chí truyền thông số, thu phí, thu phí người sử dụng -
subscriber là những khái niệm chưa phổ biến trong các nghiên cứu về kinh
tế báo chí tại Việt Nam Vì vậy, cần phân tích một số khái niệm liên ngành giữa báo chí học, kinh tế để có thể góp phần làm rõ các khái niệm trên
1.1.1 Khái niệm về báo chí, sản phẩm báo chí, truyền thông
- Khái niệm “Báo chí”: Căn cứ pháp lý tại Điều 3 Luật Báo chí Việt
Nam năm 2016 nêu rõ: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn
đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã
đưa ra quan điểm về báo chí, đó là: “… xuất phát từ bản chất của báo chí
truyền thông - là hoạt động thông tin giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ
và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…” [6; tr87]
PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa đưa ra khái niệm về báo chí là: Báo chí là
loại hình các phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn [19; tr.17]
Trang 23Trong quá trình phái triển không ngừng của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, các loại hình báo chí mới ra đời Sau báo, tạp chí in là
sự góp mặt của báo phát thanh, báo truyền hình và gần đây nhất là sự ra đời
của báo mạng điện tử Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm
xuất bản định kỳ (hoặc không định kỳ như báo mạng điện tử) được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo cư dân (công chúng) Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử [7; tr.5]
Báo chí là hoạt động xã hội rộng khắp mang xứ mệnh truyền tải và cập nhật thông tin một cách liên tục, bám sát các sự kiện xã hội; thông tin trên báo chí không chỉ đáp ứng nhu cầu của đông đảo công chúng mà còn phải tuân thủ bộ nguyên tắc của pháp luật về cách thức đưa tin, hình thức thể hiện và cách sử dụng ngôn từ
- Sản phẩm báo chí: Quá trình các tòa soạn sản xuất ra ấn phẩm báo
chí, vận chuyển/ truyền tải ấn phẩm đến với công chúng được coi là một vòng tuần hoàn của hoạt động kinh tế Sản phẩm báo chí cũng là sản phẩm kinh tế, bởi lẽ nó đáp ứng được hai yếu tố: nhu cầu cá nhân và trao đổi hàng hóa Trong cuốn “Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản”
(2003), Claudia Mast đã khẳng định: “… báo chí cũng là một nghề Nó
chịu sự điều tiết của quy luật thị trường Tin tức là một loại hàng hóa dễ hỏng” [34; tr.7] Vậy, trong hoạt động báo chí, truyền thông có sự tồn tại
của hoạt động kinh tế thông qua quá trình sản xuất ra các mặt hàng là sản phẩm báo chí
Sản phẩm báo chí là sản phẩm kinh tế đặc biệt khi nguồn vốn ban đầu và nguyên liệu sản xuất của nó không tồn tại ở dạng vật chất mà phụ thuộc vào trình độ của người tạo ra sản phẩm Giá trị của ấn phẩm báo chí
Trang 24bao gồm: nội dung thông tin nó đem lại, công sức lao động của nhà báo, những hao phí về nguồn lực trong quá trình sản xuất
- Truyền thông: Truyền thông có thể được hiểu là quá trình liên tục
trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm… chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển [7; tr.14]
Hoạt động truyền thông là hoạt động chia sẻ, trao đổi hai chiều diễn
ra liên tục giữa chủ thể và đối tượng truyền thông Từ hoạt động chia sẻ đó dẫn tới sự hiểu biết chung và thay đổi nhận thức của cả hai bên nhằm thay đổi thái độ hành vi
Trong hoạt động truyền thông, mục đích chính là tác động vào đông đảo công chúng xã hội, nhằm tập hợp, giáo dục và thuyết phục công chúng tham gia vào các nhiệm vụ trong đó có nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…
Vậy, truyền thông (tiếng anh là communication) là quá trình chia sẻ thông tin, tương tác xã họi nhằm tìm kiếm những quan điểm chung thông qua nội dung thông tin, hình thức biểu đạt Mục đích của truyền thông là tìm thấy sự thống nhất và thấu hiểu
1.1.2 Một số khái niệm về mô hình, kinh tế báo chí
Vậy, mô hình là sự trình bày quy giản về một (hoặc vài) khía cạnh của vấn đề, mô tả một cách khái quát đặc điểm và các mối quan hệ giữa
Trang 25các thành tố cấu tạo nên bản chất của vấn đề Mô hình cho thấy cách thức
tổ chức cũng như hoạt động của sự vật
- Kinh tế báo chí: Là một ngành của nền kinh tế thị trường, là đơn vị
sự nghiệp có thu, hoạt động kinh tế báo chí không chỉ bó hẹp trong phương thức sản xuất đơn nhất một loại hình, mà nó sự kết hợp của nhiều loại hình
khác nhau nhằm sinh ra lợi nhuận cho cơ quan báo chí “… có thể định
nghĩa “kinh tế báo chí” là hoạt động kinh tế của các cơ quan báo chí trong quá trình sử dụng con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính… để đi đến hiệu quả tối đa mà các cơ quan báo chí nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung có thể đạt được”[28; tr15]
Vấn đề kinh tế báo chí đã và đang được đặt lên hàng đầu và nó có
khả năng quyết định sự tồn tại của một cơ quan báo chí “Trong thực tiễn
truyền thông, bên cạnh các thành công về công chúng thì những thành công, thất bại về kinh tế quyết định tiền đồ của một doanh nghiệp truyền thông… Phạm vi ảnh hưởng của một sản phẩm truyền thông quyết định tính phổ cập của việc quảng cáo, và như vậy quyết định luôn cả những khả năng thanh toán của doanh nghiệp truyền thông” [34; tr.152]
Kinh tế báo chí truyền thông bao gồm: Doanh thu trực tiếp và doanh thu gián tiếp (quảng cáo, tổ chức sự kiện, vận động quyên góp, cho thuê thiết bị, cho thuê cơ sở vật chất, nhận tài trợ, được nhà nước bao cấp )
- Thị trường báo chí: Trong hoạt động kinh tế, thị trường là yếu tố
đóng vai trò quyết định Thị trường là nơi tạo ra sự gặp gỡ giữa nguồn cung
và nhu cầu của khách hàng, là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi các sản phẩm tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế
Philip Kotler định nghĩa: Thị trường là tập hợp những người mua
hàng hiện có và sẽ có; là nơi những người bán và người mua gặp nhau và thực hiện các giao dịch (trao đổi tập trung nhưng không nhất thiết phải là
Trang 26một địa điểm cụ thể); Thị trường có thể hình thành cho một thứ hàng hóa, dịch vụ nào đó hay cho một đối tượng khác có giá trị [36, tr.15-16] Theo
Kotler, có hai loại thị trường là: Thị trường người bán (ở đó, người bán có
quyền lực hơn) và thị trường người mua (người mua có quyền lực hơn), khi
đó hai thành phần này cũng thay nhau trở thành “những nhà hoạt động thị trường” tích cực nhất [36, tr.17]
Tác giả Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007): Thị trường báo chí là
nơi diễn ra quá trình mua, bán sản phẩm báo chí, thực hiện những hợp đồng quảng cáo hoặc những cam kết tài trợ để thông qua đó quảng bá cho các thương hiệu sản phẩm [10, tr.122]
Trong thị trường báo chí, các sản phẩm được cung cấp ra thị trường theo thời gian cũng dần trở nên đa dạng, bên cạnh các sản phẩm truyền thống như các dạng bài phóng sự, điều tra, chân dung, phản ánh, đưa tin, bút kí, ghi chép thì có các sản phẩm mới như tác phẩm siêu báo chí (Mega Story, Long-form), tác phẩm báo chí đồ họa (Infographic) Các sản phẩm báo chí mới ra đời dựa trên khả năng tổng hợp các mặt mạnh của các
phương tiện thông tin đại chúng (mass media), hay còn gọi là tác phẩm báo
chí truyền thông số
Trong quá trình phát triển, báo chí cũng như các ngành khoa học –
xã hội khác luôn tự làm mới mình, cho ra đời những sản phẩm mới phái sinh từ những sản phẩm truyền thống để không ngừng hoàn thiện, phù hợp với bối cảnh phát triển chung
- Nguồn thu của báo chí: Mỗi ấn phẩm báo chí trước khi đưa ra thị
trường đều được định giá dựa trên nội dung thông tin, công sức lao động của nhà báo, những hao phí về nguồn lực trong quá trình sản xuất Mỗi loại hình báo chí lại có một cách gọi nguồn thu trực tiếp khác nhau: báo – tạp chí in gọi là phát hành; phát thanh truyền hình gọi là thuê bao; báo mạng điện tử gọi là thu phí Nguồn thu trực tiếp từ công chúng là nguồn thu cố
Trang 27định, có khả năng duy trì sự tồn tại của các cơ quan báo chí và là hình thức kinh tế lâu đời nhất của các cơ quan báo chí Công chúng cũng chính là khách hàng của các cơ quan báo chí
Hoạt động thu phí của báo chí: là một yếu tố cấu thành nên nguồn
thu của của cơ quan báo chí trên nền tảng điện tử kỹ thuật số Giống như sự
ra đời của những thể loại báo chí mới, “thu phí” là cách gọi mới của nguồn thu trực tiếp từ công chúng của các cơ quan báo chí
Trong thời kỳ số hóa, quá trình thúc đẩy hoạt động kinh tế báo chí là một bước đi hợp với xu hướng chung Ở rất nhiều ngành nghề kinh tế, các tập đoàn đều đang triển khai các mô hình kinh doanh trên nền tảng số Từ việc mua bán, tìm kiếm trực tiếp, ngày nay bằng cách thiết bị điện tử cá nhân, đặc biệt là điện thoại di động thông minh (smart phone), phần lớn công chúng đã chuyển sang giải trí, mua bán và trao đổi qua mạng điện tử Bước tiến của công nghệ đã khiến cho các cuộc cạnh tranh đã từng tồn tại báo giấy được đẩy lên không gian số
1.1.3 Một số khái niệm về kỹ thuật số và báo chí, truyền thông số
- Kỹ thuật số: Theo nhóm tác giả Thái Thanh Sơn, Thái Thanh
Tùng, Kỹ thuật số là kỹ thuật sử dụng kiểu tín hiệu và các định dạng dữ
liệu trong ngành điện tử bằng các trạng thái rời rạc Các tín hiệu số tồn tại như các chuỗi theo thời gian gồm các số “0” và “1” (các bit số) Thuật
ngữ số còn được dùng để chỉ phương pháp lưu trữ dữ liệu ở dạng số nhị
phân [30; tr.42] Hoạt động của kỹ thuật số đã tác động đến mọi mặt của
cuộc sống, tạo ra những thay đổi về cách truyền tải thông tin trên các thiết
bị đầu cuối Hệ thống các thiết bị đầu cuối có khả năng truyền tải và lưu trữ thông tin được gọi chung là hạ tầng số
- Hạ tầng số: Về mặt kỹ thuật, hạ tầng số là những mối liên kết giữa
các thành phần, thiết bị điện tử, là cơ sở để xây dựng nền tảng kỹ thuật số
Hạ tầng số bao gồm 6 thành phần: thiết bị, kết nối, dữ liệu, hạ tầng ứng
Trang 28dụng, pháp lý và nhân lực Trong đó, hạ tầng dữ liệu (băng thông rộng) đặc biệt quan trọng, được ví như đường quốc lộ huyết mạch của một quốc gia [60] Mọi sản phẩm điện tử có bảng mạch, con chip vận hành, bộ mã
nguồn đều được coi là hạ tầng số
- Báo chí truyền thông số bao gồm báo mạng điện tử và các sản
phẩm thông tin khác là một bước chuyển từ các ấn phẩm hữu hình đến những ấn phẩm tồn tại dưới dạng mã hóa Đây được coi là sản phẩm báo chí có khả năng tích hợp với mọi thiết bị cá nhân như máy tính xách tay, điện thoại di động thông minh, máy tính bảng, tivi thông minh… kỹ thuật
số đã phá vỡ mọi giới hạn, chất liệu truyền thống, khiến cho thể loại báo chí mới này dễ tiếp cận công chúng hơn, đặc biệt là công chúng trẻ
Từ các thành tựu của khoa học kỹ thuật, việc giao dịch tiền mặt trực tiếp đã được chuyển đổi thành giao dịch tiền tệ gián tiếp thông qua các mã lệnh kết nối tài các tài khoản ngân hàng cá nhân với tài khoản công của cơ quan báo chí Nó giống như việc mua một vé tham quan không giới hạn số lần, trên chiếc vé đó có toàn bộ thông tin cá nhân và lịch sử giao dịch bằng
hệ thống thanh toán vi mô (micropayments) Các cơ quan báo chí đã ứng
dụng mô hình mua - bán thông tin báo chí dưới dạng thu phí sản phẩm - subscribe
Theo từ điển Oxford, “subscribe” có nghĩa là: Thỏa thuận để nhận một cái gì đó thường xuyên, thường là một ấn phẩm, bằng cách trả trước/Thỏa thuận để truy cập vào một dịch vụ trực tuyến/Đóng góp hoặc cam kết đóng góp một số tiền nhất định một cách thường xuyên [78]
Ngoài nghĩa đăng ký mua ấn phẩm, đăng ký theo dõi, subscribe còn
có nghĩa là quyên góp Ý nghĩa của từ này tương ứng với các hoạt động của độc giả khi trở thành người theo dõi của một đơn vị cung cấp sản phẩm báo chí truyền thông số đó là: đăng ký trả tiền xem từng bài riêng lẻ hoặc theo tuần/tháng/quý/năm, đăng ký trả tiền theo gói (dựa trên số lượng bài
Trang 29được đọc hoặc lưu lượng data), đăng ký để trở thành nhà cung cấp nội dung hoạt động như một nhà báo công dân
Theo ông Lê Quốc Minh, Phó Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng là một sản phẩm mà độc giả phải chi trả một khoản phí nhất định để được thụ hưởng sản phẩm đó theo quy định của đơn vị sản xuất [PV9]
Sản phẩm báo chí truyền thông số: là chất liệu mới của các cơ quan
báo chí, truyền thông, là sản phẩm kết hợp giữa khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất tin tức mới cho phép công chúng dễ dàng tiếp nhận thông tin hơn, thông tin được thể hiện một cách phong phú, sinh động Quá trình mã hóa thông tin báo chí cũng cho phép xây dựng trường dữ liệu thông tin khổng lồ để làm cơ sở cho các nghiên cứu khoa học, ứng dụng các học thuyết vào thực tiễn
Sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng (subscriber) là sản phẩm thông tin tồn tại trên nền tảng số hóa có đầy đủ các đặc điểm của một sản phẩm báo chí, được định giá mua bán và thanh toán bằng nền tảng giao dịch điện tử internet Mô hình này cho phép các tòa soạn nắm được cơ sở khách hàng định danh cố định
Nguyên lý hoạt động của subscribe dựa trên mối quan hệ giữa những người sử dụng đăng kí trả phí (subscriber) với cơ quan báo chí, cơ quan truyền thông Trong mối quan hệ này, người sử dụng chi trả trước một khoản phí nhất định theo đề nghị của cơ quan báo chí để được thụ hưởng sản phẩm tin tức, còn các cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp tin tức
có giá trị đến người sử dụng
Mô hình thu phí đối với sản phẩm truyền thông số tại nước ngoài đã tồn tại từ khá lâu Không chỉ thu phí để tắt các quảng cáo trên nền giao diện số, nhiều cơ quan báo chí, cơ quan truyền thông còn thu phí người dùng để đưa đến những trải nghiệm tối đa về thị giác và thính giác, làm
Trang 30thỏa mãn nhu cầu của công chúng Mô hình này góp phần khuyến khích các cơ quan báo chí truyền thông chú trọng vào việc độc quyền tin tức, nội dung thông tin phong phú, có chiều sâu, hình thức trình bày sản phẩm bắt mắt, đa dạng về phương thức thể hiện
Sự ra đời của mô hình thu phí sản phẩm báo chí truyền thông số nằm trong quá trình vận động và kế thừa các tính chất sẵn có của nền báo chí truyền thống Sự phát triển của các ngành kinh tế luôn đặt ra thách thức cần
tự thân làm mới mình dựa trên những giá trị căn bản cốt lõi
1.2 Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng 1.2.1 Nền tảng công nghệ và quá trình phát triển của sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí người sử dụng
Nếu như trước đây, nền tảng của báo in là công nghệ chế bản và thiết
bị in ấn; nền tảng của phát thanh - truyền hình là đường dẫn sóng, thiết bị thu phát; thì đến sản phẩm báo chí truyền thông số, nền tảng khoa học và công nghệ hiện đại đã thay đổi, tạo ra kỹ thuật số và các thiết bị hạ tầng số
Trong các thành phần của hạ tầng số cần chú trọng sự tồn tại của hạ tầng dữ liệu (băng thông rộng) được phát triển và quản lý bởi các tập đoàn viễn thông Sự phát triển không ngừng của các tập đoàn viễn thông tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã làm thay đổi diện mạo của quá trình kết nối giữa con người với con người Viễn thông không chỉ đơn thuần là dịch vụ thư tín, dịch vụ cuộc gọi đường dài mà viễn thông ngày nay với hạ tầng dữ liệu băng thông rộng đã trở thành đã trở thành phương tiện trung chuyển thông tin với tốc độ cao, dung lượng lớn và có khả năng lưu trữ, trích xuất trường dữ liệu thông tin theo từng hệ thống chủ đề
Quá trình số hóa ký tự và lưu trữ nội dung trên các thiết bị hạ tầng
kỹ thuật số đã tạo ra một không gian rộng hơn cho các tác phẩm báo chí và các cơ quan báo chí Các sản phẩm tồn tại dưới dạng vật chất bị phụ thuộc
Trang 31và có nhiều giới hạn đã đặt ra nhiều rào cản trong khả năng sáng tạo và truyền tải thông điệp của mỗi nhà báo
Quá trình phát triển của mô hình thu phí subscribe: Theo nhà
nghiên cứu Sasu Tarkoma, Đại học Helsiki, Phần Lan, subscribe là một mô hình phổ biến được sử dụng để kết nối các nhà cung cấp thông tin và người tiêu thụ thông tin vượt qua giới hạn về thời gian và không gian Thuật ngữ subscribe được nhắc đến lần đầu năm 1987 qua một hoạt động của hệ thống ISIS, cho phép kết nối, theo dõi thông tin giữa các hệ thống máy tính Qua thời gian cùng sự phát triển của công nghệ, subscribe đã trở thành một thuật ngữ chỉ hoạt động phân phối thông tin một cách tức thời từ nguồn phát đến người đăng kí nhận thông tin thông qua các thiết bị kỹ thuật trên nền tảng số hóa
Đối với dự báo về hướng phát triển của mô hình subscribe, công trình nghiên cứu của Schwer và Daneshvary [45] đã dự báo: một số cơ quan báo chí có thể loại bỏ các nhà quảng cáo để chuyển từ phát hành miễn phí sang thu phí người xem mà vẫn thu được lợi nhuận, nhờ vào chất lượng các bài viết và khả năng khai thác thông tin của mỗi nhà báo Trong lịch sử nghiên cứ báo chí, việc định giá tin tức và hướng duy trì chất lượng tin tức
đã lặp lại nhiều lần trong các nghiên cứu khoa học chuyên ngành báo chí
Về dự đoán sự phát triển của các ứng dụng công nghệ thông tin thu phí trên báo chí thời kỳ số, nhóm tác giả Alison Alexander, James Owers, Rod Carveth, C.Ann Hollifield, Albert N.Greco vào năm 2004 đã công bố
công trình nghiên cứu khoa học mang tên “Kinh tế của các phương tiện
truyền thông: Lý thuyết và thực hành” đã phân tích về tầm quan trọng của
nền kinh tế truyền thông và sự chuyển mình của nền kinh tế tri thức do những tác động từ sự thay đổi khoa học, công nghệ, kỹ thuật và các mô hình tài chính kinh tế khác Công trình đã chỉ rõ, trong thời kỳ điện tử số hóa mặc dù số lượng độc giả giảm nhưng các công ty báo chí sẽ vẫn có thể
Trang 32tồn tại bằng việc áp dụng đổi mới công nghệ để thích nghi với việc thay đổi lối sống, nhu cầu tiêu dùng của độc giả
Từ năm 2017, nghiên cứu của Media Insight Project trực thuộc Viện
Báo chí Mỹ đã đưa ra kết luận: “Tương lai của nhà báo và báo chí hoàn
toàn phụ thuộc vào sự chi trả của độc giả (subscriber) đối với thông tin báo chí trên mạng internet” [54] Khảo sát trên 2,199 người Mỹ trưởng
thành dưới 35 tuổi sử dụng báo điện tử cho thấy, cứ 10 người thì có 4 người trả tiền để có được tin tức tương đương 53% số người được hỏi đồng
ý hoặc đã trả tiền cho việc mua tin tức
1.2.2 Sản phẩm báo chí, truyền thông trên nền tảng số
Nhìn từ tiến trình ra đời và phát triển của các mô hình báo chí mới: Trong quá trình phá vỡ mọi giới hạn, các loại hình báo chí mới đã ra
đời, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của công chúng Các loại hình báo chí mới đã tận dụng triệt để thành tựu của các sản phẩm điện tử số hóa, khai thác tối đa những thiết bị cá nhân để từng bước thu hẹp khoảng cách với công chúng
Báo chí di động (Mobile Media, Mobile News) Đây là sản phẩm đa
chức năng, tên gọi của nó thể hiện hai quá trình: sử dụng thiết bị di động để làm báo và sử dụng thiết bị di động như một kênh truyền dẫn tin tức Báo chí di động có đầy đủ các đặc điểm của báo chí truyền thống, giữ vững vai trò nhiệm vụ về chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục và các chức năng cơ bản; tính ưu việt của báo chí di động là nhanh chóng, tiện lợi, tồn tại trên môi trường hạ tầng số
Siêu tác phẩm báo chí: từ gốc trong tiếng Anh là Mega Story,
Long-form hay E-magazine là thể loại báo chí hiện đại trong thời đại công nghệ
kỹ thuật số, tạo cho công chúng một môi trường thực tại ảo sống động để trải nghiệm và tương tác với cơ quan báo chí Một siêu tác phẩm báo chí được cấu thành từ: ký tự, ảnh, âm thanh (tiếng động hiện trường, phỏng
Trang 33vấn), phim tài liệu ngắn, các biểu đồ nhúng kèm mã url để tự động phát trên nền giao diện Mục đích của siêu tác phẩm báo chí là thu hút độc giả, cho họ một cái nhìn toàn cảnh về sự kiện, phục vụ cho cả công chúng phổ thông và những nhà nghiên cứu học thuật Bên cạnh đó, siêu tác phẩm báo chí còn là một phương thức để thúc đẩy quá trình tương tác giữa công chúng với cơ quan báo chí
Nhìn từ sự thay đổi đơn vị cung ứng, phân phối, truyền tải sản phẩm báo chí: Nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng và thoát
khỏi thị trường độc quyền loại hình truyền thống, thị trường báo chí truyền thông số thu phí từ người sử dụng tập trung ở 4 dạng sản phẩm chính, đó là: Dạng sản phẩm do cơ quan báo chí trực tiếp thiết kế và cung cấp; Dạng sản phẩm liên kết giữa cơ quan báo chí với hạ tầng/doanh nghiệp viễn thông (Telco); Dạng sản phẩm trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin ICT và Các dạng sản phẩm thu phí khác:
Dạng sản phẩm do cơ quan báo chí trực tiếp thiết kế và cung cấp:
Cơ quan báo chí trực tiếp sản xuất ra sản phẩm báo chí số, định giá sản phẩm và thông báo mức phí bình ổn tới các khách hàng là độc giả trung thành của họ Đây là doanh thu trực tiếp của các cơ quan báo chí có sản phẩm số hóa Ưu điểm của mô hình này là số lượng bài viết sẽ được cung cấp dựa trên khả năng chi trả trực tiếp của khách hàng Khách hàng không cần phải chi trả cho những chi phí phát sinh như giá nguyên liệu giấy, chi phí phát hành… Hạn chế của mô hình này là khả năng phân tầng khách hàng lớn, nhiều khách hàng không có thói quen sử dụng giao dịch điện tử, thiếu kiến thức về kỹ thuật số hoặc nhóm khách hàng thu nhập thấp sẽ
Trang 34cung cấp dịch vụ cho người dùng cuối Xuất phát từ quan điểm “mua một gói” sản phẩm thường sẽ rẻ hơn là mua từng nội dung riêng lẻ, nên sẽ dễ thu hút được sự chú ý của công chúng hơn, đặc biệt là nhóm khách hàng có thu nhập trung bình - thấp Đây cũng chính là ưu điểm của mô hình này, bên cạnh đó, các cơ quan báo chí có thể tiếp cận với lượng khách hàng rộng hơn Hạn chế: các đơn vị viễn thông không chủ động sản xuất tin tức, chỉ có thể kinh doanh cái mà đơn vị báo chí cung cấp
Dạng sản phẩm trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin mở, do các nhà cung cấp và hạ tầng CNTT mang tính toàn cầu phát triển: ICT là
cụm từ viết tắt của Information & Communication Technologies có nghĩa
là Công nghệ thông tin và Truyền thông Là một thuật ngữ nhấn mạnh quá trình kết nối và chia sẻ thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau Sản phẩm của quá trình này là sản phẩm báo chí số hoặc là sản phẩm giải trí số thông thường Ưu điểm của mô hình kinh doanh trên nền tảng ICT là có phân khúc khách hàng rõ ràng thông qua các chỉ số về thói quen, sở thích… từ đó đưa ra các sản phẩm phù hợp cho khách hàng Hạn chế của
mô hình này là tính báo chí ít hoặc dễ bị biến tướng
Các mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí khác, bao
gồm: sản phẩm báo chí thu phí đi kèm các sản phẩm thương mại, như
mô hình subscribe box: công chúng đăng ký mua gói sản phẩm báo chí
và hàng tháng, hàng năm họ sẽ nhận được một hộp quà bao gồm các sản phẩm làm đẹp, đồ gia dụng, mẫu thử… các sản phẩm trong hộp quà đều
là sản phẩm chất lượng cao hoặc sản xuất với số lượng hạn chế Hoặc khách hàng sử dụng dịch vụ vận tải đường dài được trải nghiệm sản phẩm giải trí số miễn phí
Trong mô hình sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí từ người
sử dụng, tất cả các hoạt động thanh toán, nhận sản phẩm đều được thực hiện trên nền tảng số Có nghĩa là mọi giao dịch và hoạt động thụ hưởng
Trang 35đều đã được số hóa Điều này làm giảm thiểu những trở ngại như thất lạc, nhầm lẫn, sai sót trong khâu phát hành Hoạt động thu phí trên nền tảng mạng điện tử phổ biến khi các cơ quan báo chí biến lưu lượng truy cập thành giao dịch Độc giả và người khai thác thông tin có thể mua nội dung hoặc đóng góp nội dung chỉ bằng một cú nhấp chuột
Xét về góc độ kinh tế, một sản phẩm được bán ra dưới hai hình thức: bán lẻ và bán buôn (bán sỉ) Căn cứ vào hình thức kinh doanh, có thể chia sản phẩm báo chí, truyền thông số làm hai hình thức: sản phẩm thu phí mỗi lần sử dụng và sản phẩm thu phí theo gói sản phẩm
Các sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí cho mỗi lần sử dụng (pay-per-use/ pay-per-view) là cách thức bán lẻ theo từng bài viết, khi khách hàng muốn đọc một bài viết, họ sẽ trả tiền để mua bài viết đó, số tiền phải trả cho một bài viết dao động theo một khung giá nhất định (có thể quy đổi bằng giá trị tiền mặt hoặc các hình thức thanh toán điện tử) tùy vào
hàm lượng thông tin và chất lượng nội dung của tác phẩm Về cơ bản, trả
tiền cho mỗi lượt xem, như một mô hình kinh doanh, lần đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực truyền hình Như tên gọi của mình, nó là một hệ thống cho phép người dùng chỉ cần trả tiền cho những gì họ muốn xem Tuy nhiên, bên ngoài ngành công nghiệp truyền thông số, mô hình thường được gọi là
"trả tiền cho mỗi lần sử dụng"[47] Mô hình thu phí cho thấy sự lựa chọn
chủ động của công chúng khi họ bị thu hút bởi chất lượng thông tin, tự nguyện trở thành một độc giả trung thành của cơ quan báo chí
Do sự phát triển của các sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí
từ người sử dụng diễn ra rất nhanh chóng, phức tạp và chuyển biến liên tục, việc khái quát hóa thành một mô hình chuẩn để có thể nhận diện chính xác nhất là nhiệm vụ tương đối khó khăn Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi bước đầu phác họa nhận diện như sau:
Trang 36
Biểu đồ 1.1: Mô hình sản phẩm báo chí truyền thông số thu phí từ người sử
dụng (subscriber)
1.2.3 Đặc điểm của sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí
Đặc điểm nổi trội đầu tiên trong sự phát triển các sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí từ người sử dụng, đó là quá trình hình thành thương hiệu và sự khác biệt cốt lõi của sản phẩm Một trong những tài sản có giá trị nhất của tờ báo là thương hiệu, danh tiếng và sự khác biệt cốt lõi của nó Thời kỳ đầu phát triển các sản phẩm trên mạng internet, nhiều tờ báo, tạp chí in sau nhiều năm phát hành bản giấy đã cho ra đời những phiên bản điện tử mang tính mô phỏng từ bản giấy Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều cơ quan báo chí có sản phẩm số miễn phí đều nhận thấy sự sụt giảm hoặc số lượng truy cập của độc giả trở nên bấp bênh, không đều theo từng ngày, từng tháng, từng sự kiện Biểu hiện của vấn đề này cho thấy
Trang 37không phải nội dung nào miễn phí trên mạng internet cũng đều là thứ hấp dẫn và cần thiết với công chúng
Bất cứ khi nào nói về nội dung tin tức miễn phí với các tòa soạn, lập
luận phổ biến là: “Người nào đó phải trả tiền cho báo chí, hoặc báo chí sẽ
phải trả tiền cho nó” [46] Điều đó có nghĩa là, nhiều cơ quan báo chí đang
bị chịu lỗ khi đẩy sản phẩm thông tin của mình một cách “miễn phí” (hoặc được hiểu là dựa vào mô hình nguồn thu từ quảng cáo) trên nền tảng điện
tử Người đọc có thể lựa chọn bài viết của bất kỳ cơ quan nào vì mức độ phổ biến của thông tin, họ không cảm thấy bị thu hút, choáng ngợp và có
sự tin tưởng nhất định, vì thế việc trở thành độc giả trung thành của tờ báo, tạp chí trên không gian mạng là điều không thể Bởi lẽ, hạ tầng được số hóa, các độc giả đều không được định danh, họ có thể truy cập vào trang báo mạng điện tử dưới địa chỉ IP (mã số máy tính) mà họ đang sử dụng; nhưng đó chưa phải là cơ sở để đánh giá mức độ trung thành của độc giả vì một người có thể sử dụng nhiều thiết bị cá nhân để truy cập vào các trang web Điều này khác hoàn toàn với việc đặt mua báo, tạp chí có địa chỉ người nhận rõ ràng Khi tin tức miễn phí, độc giả sẽ sử dụng các trang báo mạng điện tử theo thói quen, có nghĩa là họ không còn cảm giác phân biệt
về cơ quan nào cung cấp thông tin gì, hoạt động tiếp nhận không cố định bởi họ có thể đọc tin tức ở bất cứ trang nào mà họ thấy: qua quảng cáo hoặc do bạn bè chia sẻ trên mạng xã hội…
Khi Internet ra đời, theo như sự mô tả của tác giả cuốn “Thế giới phẳng” - Thomas L.Friedman, khi bức tường Berlin sụp đổ, bức tường Windows đã tạo ra một thế giới phẳng nơi ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin ở khắp thế giới Không còn những giới hạn về địa lý và thời gian, hoạt động tiếp nhận thông tin theo đó cũng trở nên phổ biến hơn, nhanh hơn và dễ dàng hơn Khi đó các cơ quan như báo in, phát thanh và truyền
Trang 38hình dần bộc lộ những điểm yếu trong tốc độ của thị trường tin tức, công chúng dần dần thay đổi cách tiếp cận và thị hiếu của họ
Sự phát triển các sản phẩm báo chí, truyền thông thu phí từ người
sử dụng góp phần xác định cơ chế liên kết mới giữa cơ quan báo chí, truyền thông với công chúng (trong vai trò khách hàng mua sản phẩm)
một cách chặt chẽ, bền vững và xác định trong khung thời gian cụ thể (theo từng tuần, tháng, năm) hoặc theo tính chất cấp thiết của nội dung thông tin Điều này sẽ đảm bảo cho một dòng tiền ổn định từ người đăng ký trả trước
Về mặt kế hoạch kinh doanh, mô hình đăng ký sẽ cho phép cơ quan báo chí truyền thông có một tầm nhìn rõ ràng hơn về nhu cầu thực sự của công chúng và hỗ trợ cho việc lên kế hoạch để đáp ứng những nhu cầu đó
Mô hình sản phẩm báo chí, truyền thông số thu phí từ người sử
dụng cho thấy mức độ của chủ động rất cao của công chúng trong việc
tiếp cận và đón nhận thông tin, sự kiện Trong bối cảnh bão hòa, cạnh
tranh quảng cáo và sự ra đời của mạng xã hội đã làm suy giảm doanh thu
gián tiếp của các cơ quan báo chí Việc khai thác tối đa lợi nhuận từ các
sản phẩm thông tin số của các tập đoàn truyền thông cũng đã đặt ra một thách thức lớn cho các nhà xuất bản, tòa soạn báo truyền thống trên thế giới [48]
Đây là sự thể hiện ở cấp độ mới của tiến trình phát triển số hóa của
cơ quan báo chí, truyền thông Với việc thiết kế, phát triển sản phẩm báo chí số thu phí từ người sử dụng, các tòa soạn có sự đổi mới mạnh mẽ hoạt động nghiệp vụ của mình, trong đó chú trọng việc liên kết, phối hợp với các hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin và các nền tảng thương mại điện tử Các đơn vị khai thác viễn thông thường sở hữu cơ sở hạ tầng thụ động và họ chỉ chủ động khi cung cấp dịch vụ cho người dùng, nhưng mức
độ tiếp nhận của khách hàng thường xuyên thay đổi theo giai đoạn Có những dịch vụ triển khai trong thời gian dài, và cũng có dịch vụ bị khai tử
Trang 39ngay khi vừa ra mắt Ngược lại, mức độ liên tục của các dòng chảy thông tin lại đem đến sự tương tác giữa nguồn phát và người tiếp nhận nhưng nhiều cơ quan báo chí lại không thể chủ động đem lại nguồn thu nhập cho mình nếu không chủ động nắm được số lượng công chúng tiềm năng sẵn sàng tiếp cận sản phẩm của họ Khi đó, đơn vị viễn thông đóng vai trò cung cấp cơ sở hạ tầng vật lý và mạng tích hợp, cho phép các cơ quan báo chí sử dụng hạ tầng của họ để tiếp cận người dùng có định danh Điều này đã phát triển thế mạnh của cả hai bên và gia tăng doanh thu từ các dịch vụ
1.3 Mối quan hệ giữa nhà sản xuất, sản phẩm, hệ thống phân phối và người tiêu dùng trong thị trường nội dung số
1.3.1 Về dây chuyền sản xuất và phân phối sản phẩm báo chí, truyền thông truyền thống
Kinh tế học đã đưa phương pháp phân chia các giai đoạn sản xuất theo một quy trình, căn cứ trên những khác biệt về công nghệ, và thông qua
đó phân tích đặc điểm kinh tế và tìm ra con đường tối ưu hóa cho mỗi công đoạn sản xuất Áp dụng cho công nghiệp truyền thông, lý thuyết kinh tế sẽ cho phép xác định các giai đoạn sản xuất lớn và chủ chốt, giúp cho sự gắn kết của các nhà sản xuất và người tiêu dùng:
Biểu đồ 1.2: Dây chuyền sản xuất trong ngành công nghiệp truyền thông
Thị trường báo chí, truyền thông được xác lập bởi mối quan hệ từ nhà sản xuất là cơ quan báo chí cung cấp các sản phẩm thông tin, thông qua các kênh phân phối để đến tay người tiêu dùng là khách hàng Trong
mô hình hoạt động của thị trường báo chí truyền thông truyền thống có sự
tồn tại của bốn yếu tố, đó là: nhà sản xuất, sản phẩm, hệ thống phân phối
và người tiêu dùng Trong đó:
Trang 40- Hệ thống phân phối trong thị trường báo chí, truyền thông truyền thống là các đơn vị, thiết bị trung gian đóng vai trò là kênh truyền tải trung gian vận chuyển sản phẩm từ cơ quan báo chí đến người tiêu dùng
- Người tiêu dùng là khái niệm dùng để chỉ các cá nhân có nhu cầu
và có khả năng tài chính để chi trả, sở hữu sản phẩm kinh tế Người tiêu dùng là người chủ động đưa ra quyết định tiêu thụ sản phẩm và không làm chủ nguyên liệu sản xuất Căn cứ Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do Quốc hội ban hành
năm 2010: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình,
tổ chức”
Nếu như đối với các cơ quan sản xuất báo in, sản phẩm báo chí tồn tại dưới dạng vật chất (giấy) nên quá trình sản xuất có thêm khâu đóng gói sản phẩm chuyển bản thiết kế đến xưởng in để in ấn phẩm hàng loạt Hệ thống phân phối của báo in là các sạp báo và cơ quan phát hành báo chí Các sạp báo đóng vai trò là nhà bán lẻ, nhập báo chí số lượng lớn (mua buôn) và trưng bày, giới thiệu, bán sản phẩm cho khách hàng (bán lẻ) Các
cơ quan phát hành báo chí làm nhiệm vụ tổng hợp danh sách khách hàng đăng ký mua báo, tạp chí qua hệ thống bưu điện theo từng mã sản phẩm, từng địa phương, sau đó đơn vị phát hành nhận ấn phẩm từ xưởng in và chuyển đến địa chỉ khách hàng đã đăng ký qua bưu điện Một ấn phẩm được xuất bản cho đến tay người tiêu dùng phải cần một khoảng thời gian xác định, đây còn gọi là thời gian hao phí
Đối với các cơ quan phát thanh - truyền hình, công đoạn đóng gói được giảm tải, chủ động hơn do không cần đơn vị sản xuất vật chất như xưởng in mà sản phẩm làm ra ở một định dạng kỹ thuật (visual – nghe nhìn) hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ năng của phóng viên, kỹ thuật viên Hệ