Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện Làm rõ khái niệm hiện tượng đa dạng văn hóa. Trên cơ sở khái niệm phân tích những biểu hiện của sự đa dạng văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn trên các khía cạnh văn hóa truyền thống Trung Hoa và văn hóa hiện đại phương Tây ở cả nội dung lẫn hình thức. Đồng thời đặt các biểu hiện ấy trong tương quan những sáng tác khác của Cao Hành Kiện và văn học của những tác giả hải ngoại như ông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
HIỆN TƯỢNG ĐA VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN
CỦA CAO HÀNH KIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HỌC
Hà Nội-2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
HIỆN TƯỢNG ĐA VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN
CỦA CAO HÀNH KIỆN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài
Mã số: 8229030.03
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Hiền
Hà Nội-2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
giảng viên hướng dẫn là TS Nguyễn Thu Hiền Các nội dung nghiên cứu về kết quả
trong đề tài này là trung thực
Nếu có phát hiện bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng về kết quả luận văn của mình
Hà Nội, ngày 18/06/2020
Học viên
Trần Thị Như Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình làm luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên
hướng dẫn TS Nguyễn Thu Hiền, người đã hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi về chuyên
môn và những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình
Tôi xin gửi lời cám ơn trân trọng đến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ phận đào tạo sau đại học (Phòng Đào tạo), các thầy cô trong Khoa Văn học…
đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành chương trình học và luận văn này
Cám ơn các anh chị, bạn bè trong khoa Văn học cùng các bạn trong tập thể lớp Cao học Văn khóa 2018 đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như tiến hành nghiên cứu
Bên cạnh đó, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và những người xung quanh tôi đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi tiếp xúc và tìm kiếm tư liệu hoàn thiện luận văn
Mặc dù luận văn được thực hiện bởi sự cố gắng của tác giả và đã chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi tiến hành nghiên cứu nhưng không tránh khỏi những hạn chế Để hoàn thiện tốt hơn tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 18/06/2020
Học viên
Trần Thị Như Quỳnh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 11
6 Kết cấu 11
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 13
1.1 Hiện tượng đa văn hóa trong sáng tác của các nhà văn hải ngoại 13
1.2 Cao Hành Kiện và dòng chảy văn học Trung Quốc đương đại 16
1.3 Tiểu thuyết Linh sơn trong sự nghiệp sáng tác của Cao Hành Kiện 19
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRUNG HOA TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN 23
2.1 Những lớp trầm tích của văn hóa Trung Hoa truyền thống 23
2.1.1 Lớp trầm tích huyền thoại và văn học dân gian 23
2.1.2 Lớp trầm tích tôn giáo và tín ngưỡng dân gian 28
2.1.3 Lớp trầm tích phong tục tập quán 35
2.2 Dòng chảy của lịch sử Trung Hoa 38
2.3 Ý thức bảo tồn văn hóa cố quốc 44
Tiểu kết 52
CHƯƠNG 3: CHẤT LIỆU PHƯƠNG TÂYTRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN 53
3.1 Biểu tượng hóa hiện thực đời sống 54
3.2 Chủ thể phi trung tâm 62
3.2.1 Sự phân thân của chủ thể tự sự 62
3.2.2 Sự đa dạng điểm nhìn tự sự 67
Trang 63.3 Kết cấu phân mảnh của tiểu thuyết Linh sơn 71
3.4 Không thời gian đa chiều và chồng chéo 75
3.4.1 Không gian nghệ thuật 75
3.4.2 Thời gian nghệ thuật 79
3.5 Ngôn ngữ và dòng ý thức trong tiểu thuyết Linh sơn 83
3.5.1 Ngôn ngữ mảnh vỡ 83
3.5.2 Ngôn ngữ giễu nhại 85
3.5.3 Dòng ý thức 88
Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Giải thưởng Nobel văn chương năm 2000 được trao cho Cao Hành Kiện, một nhà văn Pháp gốc Trung Quốc với những đóng góp cách tân, đổi mới của ông trên nhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật, từ mỹ thuật cho tới kịch và sáng tác văn chương
Trong đó, tiểu thuyết Linh sơn chính là một trong những tác phẩm thể hiện rõ nhất
những cách tân của Cao Hành Kiện Những cách tân độc đáo trên nhiều mặt từ nội
dung tới hình thức nghệ thuật trong tác phẩm Linh sơn xuất phát từ bản thân tác giả
Cao Hành Kiện Ông là một nhà văn gốc Trung Quốc lưu vong nơi hải ngoại vì thế văn chương của ông vừa có chất Trung Hoa truyền thống, vừa có sự giao hòa với văn hóa phương Tây
Bởi vậy, hình ảnh Linh sơn trong trang văn Cao Hành Kiện, tưởng xa mà gần,
tưởng gần mà đi mãi chẳng tới Là ta, là mi, là nàng, hay là hắn, các cá thể khác nhau
hay thực chất cùng một con người? Chuyến hành trình về Linh sơn bởi vậy giống như
một sự phân thân của tác giả tự đối thoại với nhau trong chuyến hành trình tâm tưởng
Cao Hành Kiện là nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình, họa sĩ, nhà làm phim gốc Trung Hoa Ông sinh năm 1940 ở Giang Tây, Trung Quốc Vào năm 1962, ông tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Pháp tại Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh Ông là một trong những văn nghệ sĩ tiên phong và kiên định cho phong trào tự do trong sáng tác văn học nghệ thuật Với ông “văn học từ nguồn cội vốn là sự tình của cá nhân, cũng có thể chỉ thoải mái tình tự phân phát hứng thú, hoặc làm ra điên dại để nói tiếng riêng trong lòng, đủ đầy với cái tôi” [18, tr 682] Đến năm 1988, Cao Hành Kiện sang Pháp sinh
sống, tiếp tục sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật ở đây Tiểu thuyết Linh sơn được
ông viết trong 7 năm, kéo dài từ lúc ông còn ở Trung Quốc vào mùa hè năm 1982 cho đến khi ông đã sang Pháp định cư vào tháng 9 năm 1989
Trang 8Với những sáng tác thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau mà lĩnh vực nào cũng có
thành tựu từ cuốn lý luận văn học đầu tiên Sơ thảo kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại tới các
vở kịch được công chiếu Trạm xe buýt, Báo động, Đào vong…, từ các truyện ngắn Mẹ, Mua cần câu cho ông tôi, Bạn bè… tới những tiểu thuyết như Linh sơn hay Thánh kinh của một con người có thể nói Cao Hành Kiện nắm giữ một vị trí quan trọng trên văn
đàn văn học nghệ thuật thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI Các sáng tác của ông khi còn ở Trung Quốc đến khi trở thành một nhà văn hải ngoại không chỉ
có tác động tới văn học đương đại Pháp, văn học đương đại Trung Quốc mà còn ảnh hưởng tới văn đàn thế giới
Tuy nhiên ở Việt Nam lại chưa nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về Cao
Hành Kiện nói chung, tiểu thuyết Linh sơn nói riêng, đặc biệt là các nghiên cứu trên
phương diện biểu hiện của sự đa dạng văn hóa trong tác phẩm này Vì vậy chúng tôi
quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh
sơn của Cao Hành Kiện với hi vọng bổ sung khoảng trống trong nghiên cứu về Linh
sơn, về Cao Hành Kiện ở Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là tác giả đạt giải Nobel văn học, thành công trên nhiều thể loại từ kịch, truyện ngắn đến lý luận phê bình, tiểu thuyết, có thể nói Cao Hành Kiện là một hiện tượng văn chương thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoài nước Nhưng khi nghiên cứu về Cao Hành Kiện hay tác phẩm của ông, các nhà nghiên cứu thường hướng đến vấn đề Cao Hành Kiện là nhà văn hải ngoại, bởi thế nhà nghiên cứu đặt mối quan tâm tới vấn đề văn hóa hay cảm thức của con người xa xứ trong ông
Như tác giả Mabel Lee đã đặt sự quan tâm tới Linh sơn và Cao Hành Kiện trong
cộng đồng Hoa Kiều cùng văn học Trung Hoa nội địa những năm 90 ở bài viết
Walking out of other people’s prison: Liu Zaifu and Gao Xingjinon Chinese literature
Trang 9in the 1900s (Tạm dịch: Di chuyển sang nhà tù khác: Lưu Tái Phục và Cao Hành Kiện trong văn học Trung Quốc thập kỷ 90) in trong tạp chí Asian and African studies số
tháng 5 năm 1996 Ở bài viết này, Mabel Lee đã đặt trường hợp của nhà văn họ Cao bên cạnh trường hợp của nhà thơ Lưu Tái Phục, những con người bước ra từ Cách mạng Văn hóa và tới những năm 90 của thế kỷ XX đều đã vượt thoát khỏi Trung Hoa đại lục Vì thế tâm thức và tác phẩm của họ là một dạng thức chạy trốn của văn học Trung Quốc những năm 1990
Hay tác giả Shuyo Kong của Đại học Simon Fraser (Canada) ở bài viết Ma Jian and Gao Xingjian: Intellectual nomadism and exilic consciousness in Sionphone literature (Tạm dịch: Mã Kiến và Cao Hành Kiện: Lãng du trí tuệ và ý thức lưu vong trong nền văn học Hoa ngữ) in trong tạp chí Canadian review of comparative literature xuất bản số tháng 6 năm 2014, cô đã nhắc đến vấn đề văn học Trung Quốc
hải ngoại với hai trường hợp Cao Hành Kiện ở Pháp và Mã Kiến ở Anh Qua việc phân
tích hình tượng nhân vật du ký những năm 1980 trong các tác phẩm Bụi đỏ của Mã Kiến, Linh sơn của Cao Hành Kiện cùng cảm thức chạy trốn và diễn ngôn du ký trong tiểu thuyết Thánh kinh của một con người 1 của Cao Hành Kiện Shuyo Kong đã làm nổi bật lên tâm thức của những cá nhân lưu vong nơi xứ người Đồng thời cô cũng hướng tới việc khẳng định sự tái sinh của văn học Trung Quốc nơi hải ngoại và đây cũng là một bộ phận của nền văn học Hoa ngữ
Hoặc bài viết Đề tài “trở về” trong ba truyện ngắn: Canh khuya của Ivan Bunin, Nhà của lính của Ernest Hemingway và Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện của Đào Ngọc Chương in trong tập Những vấn đề Ngữ văn: Tuyển tập 40
1
Tiểu thuyết Thánh kinh của một con người ở Việt Nam hiện có hai bản dịch với hai tựa đề khác nhau Một bản dịch của Thái Nguyễn Bạch Liên có tựa đề Kinh Thánh cho một người Một bản dịch của Hồ Quang Du có tựa đề Thánh kinh của một con
người Chúng tôi lựa chọn bản dịch của Hồ Quang Du để so sánh bởi tính nhất quán khi ông cũng là một trong ba người đã
dịch tiểu thuyết Linh sơn ở Việt Nam
Trang 10năm nghiên cứu khoa học của khoa Văn học và Ngôn ngữ của NXB Đại học Quốc gia TPHCM vào 24/5/2015 Trong bài viết này, tác giả Đào Ngọc Chương đã đặt truyện ngắn Mua cần câu cho ông ngoại của Cao Hành Kiện cùng truyện ngắn Canh khuya của Ivan Bunin và Nhà của lính của Ernest Hemingway trong một đề tài chung, đề tài
“trở về” Để qua đó ông thấy rằng trở về trong ba tác phẩm này đều là sự trở về quá khứ, trở về miền quá vãng của nhân vật nhưng đó lại là một ký ức không trọn vẹn, đầy vụn vỡ của những tâm hồn xa xứ đứng ở thời điểm hiện tại để hoài niệm chuyện năm xưa Và từ đề tài trở về, các tác giả vừa đưa vào trang viết chất truyền thống của cố quốc, đồng thời vừa có những cách tân trong cốt truyện và giọng điệu, nhân vật và điểm nhìn, không gian thời gian trong tác phẩm
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn quan tâm tới quan niệm sáng tác của Cao
Hành Kiện như bài viết Cao Hành Kiện: Chống lại tính hiện đại mĩ học của Mabel Lee
đã được nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch dịch, đăng trên trang cá nhân của ông2
và đăng trên trang web của Khoa Văn học, trường Đại học KHXH&NV vào 23/5/20093 Trong bài viết này, Mabel Lee đặt tư tưởng mỹ học trong sáng tác của Cao Hành Kiện bên cạnh tư duy triết học của Nietzche: “Trong bài viết này, tôi tự đặt cho mình nhiệm
vụ chứng minh cho một giả thuyết: việc Cao phủ nhận tư tưởng về siêu nhân của Nietzche vừa tiết lộ với chúng ta những phân tích của ông về cuộc Cách mạng văn hoá
tập trung trong cuốn Kinh thánh cho một người (1999) đồng thời cũng phản ánh thái độ
chống hiện đại của ông, nền tảng của quan niệm mỹ học của ông về sự mong manh của con người cá nhân.” [18]
Bên cạnh đó, tiếp cận Linh sơn, Mabel Lee còn tiếp cận qua phương diện nghệ thuật Ông nghiên cứu việc Cao Hành Kiện đã sử dụng đại từ trong Linh sơn ở công
Trang 11trình Pronouns as Protagonists: On Gao Xingjian’s Theories of Narration (Tạm dịch: Đại từ như vai chính: lý thuyết về tự sự của Cao Hành Kiện) được in trong tác phẩm Soul of Chaos: Critical Perspectives on Gao Xingjian (Tạm dịch Linh sơn: Quan niệm phê bình của Cao Hành Kiện) do nhà xuất bản The Chinese University of Hong Kong Press xuất bản năm 2001 Trong bài viết này, Mabel Lee đề cập đến sự linh hoạt trong
việc sử dụng đại từ ở tác phẩm Linh sơn của Cao Hành Kiện Bên cạnh đó là những thử nghiệm về ngôn ngữ, kỹ thuật sáng tác trong tiểu thuyết Linh sơn
Tương tự như vậy với trường hợp của riêng tiểu thuyết Linh sơn, tác phẩm đánh dấu độ chín muồi trong sự nghiệp văn chương Cao Hành Kiện, khi nghiên cứu về Linh sơn, các bài viết thường đặt trọng tâm vào vấn đề văn hóa bởi những ký hiệu văn hóa
đặc trưng của Trung Quốc xuất hiện dày đặc trong tác phẩm từ các bài thơ, làn điệu dân ca đến những biểu tượng tự nhiên, tôn giáo, lịch sử
Nhưng đồng thời, Linh sơn lại được viết bởi một nhà văn hải ngoại như Cao
Hành Kiện nên cùng với yếu tố văn hóa Trung Hoa truyền thống, tác phẩm này còn là
sự đan xen, giao hòa với yếu tố hậu hiện đại phương Tây Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nước ngoài như tác giả Li Xia với bài viết
Cross-Cultural intertextuality in Gao Xingjin’s novel Lingshair: A Chinese perspective (Tạm dịch: Liên văn bản trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện: một phối cảnh Trung Quốc) đăng trong cuốn A world of other’s word của Richard Bauman được nhà
xuất bản Wiley-Blackwell xuất bản năm 2004 Ở bài viết này, Li Xia ngoài việc giới thiệu tiểu sử, đặt Cao Hành Kiện trong tiến trình lịch sử văn học Trung Quốc cùng những đặc điểm cơ bản trong sáng tác của ông tác giả còn đề cập đến nghệ thuật tự sự
của Cao Hành Kiện ở tác phẩm Linh sơn Đồng thời Li Xia có sự so sánh sáng tác của
Cao Hành Kiện với một nhà văn hải ngoại khác là Samuel Beckket hay so sánh tiểu
thuyết Linh sơn với tiểu thuyết Ngọn núi thần kỳ của Thomas Mann hoặc soi chiếu
Trang 12Linh sơn dưới lý thuyết triết học của Ludwig Wittenstein Ngoải ra Li Xia còn đề cập tới thủ pháp dòng ý thức mà Cao Hành Kiện đã sử dụng
Cùng với đó, khi nghiên cứu về Linh sơn, các nhà nghiên cứu còn hướng tới vấn
đề nghệ thuật của Cao Hành Kiện trong tác phẩm Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị
Phương Ngọc về Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện vào
năm 2006 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ở công trình này, Hoàng Thị Phương Ngọc đã sử dụng lý thuyết tự sự học để nghiên
cứu Linh sơn trên các khía cạnh người kể chuyện và điểm nhìn của người kể chuyện,
nhân vật và nhân xưng của nhân vật, không gian và thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu Qua đó tác giả chỉ rõ được đóng góp của Cao Hành Kiện trong nghệ thuật tự sự của văn học Trung Quốc đương đại và trên thế giới
Hoặc luận văn thạc sĩ của Lâm Nhựt Anh với tên gọi Linh sơn và quan niệm
về tiểu thuyết của Cao Hành Kiện hoàn thành vào năm 2012 tại trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập tới quan niệm tiểu thuyết của Cao Hành Kiện trên các khía cạnh nghệ thuật xây dựng cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng không gian Trong công trình nghiên cứu này, Lâm Nhựt
Anh từ việc phân tích Linh sơn trên ba khía cạnh nói trên đã khái quát lên quan niệm tiểu thuyết mà Cao Hành Kiện từng đề cập khi ông nói về Linh sơn hay nghệ
thuật tiểu thuyết ông sử dụng
Hay khi nghiên cứu Linh sơn, người nghiên cứu chỉ hướng đến một khía cạnh
nghệ thuật trong tác phẩm như Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Công Cảnh vào năm 2013
tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về Dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện Trong luận văn, tác
giả từ lý thuyết dịch chuyển không gian đã đề cập đến việc dịch chuyển không gian
trong văn học dân gian, du ký đến sự dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh
Trang 13sơn, dịch chuyển tâm và thân giữa không gian hư và thực, cuối cùng tác giả hướng tới phân tích nghệ thuật xây dựng và tổ chức không – thời gian trong Linh sơn
Ngoài ra còn có thể kể tới những bài viết, công trình nghiên cứu được đăng trên
các báo, tạp chí, hay những tập sách in chung như bài viết Cảm thức cô đơn trong Linh sơn của Cao Hành Kiện đăng trên Tạp chí Văn học Nghệ thuật số 404, tháng 2/2018
của hai tác giả Nguyễn Thị Mai Chanh – Nguyễn Thị Hoài Phương hoặc bài tham luận
của Đinh Phan Cẩm Vân Những tương đồng giữa Linh sơn và Hồng lâu mộng tại Hội
thảo Khoa học Quốc tế Văn học cận hiện đại Trung Quốc, Đại học Giáo dục Bình Đông, Đài Loan năm 2007 Trong những bài viết này, bên cạnh việc tái hiện chân dung văn chương một Cao Hành Kiện lưu vong nơi xứ người, các tác giả còn cho thấy hình
ảnh một Cao Hành Kiện vẫn gắn bó với cố quốc qua tác phẩm Linh sơn, qua biểu tượng Núi hồn
Những công trình của các nhà nghiên cứu đã đi sâu để làm sáng tỏ nhiều vấn đề, khía cạnh về nội dung, nghệ thuật, các vấn đề văn hóa, biểu tượng ở một hiện tượng
văn học phức tạp như Cao Hành Kiện cùng tiểu thuyết Linh sơn của ông Tuy nhiên,
trong số đó vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề biểu hiện và
nguyên nhân của hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn Vì thế, với đề tài
nghiên cứu Hiện tượng đa văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện,
chúng tôi hi vọng đóng góp thêm một cách nhìn nhận, lý giải về tác phẩm quan trọng
đã giúp Cao Hành Kiện giành được giải thưởng Nobel Văn chương vào năm 2000
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu hiện của hiện tượng đa văn hóa thể hiện trong
tiểu thuyết Linh sơn trên phương diện văn hóa Trung Hoa truyền thống và sự giao thoa
văn hóa với nền văn hóa phương Tây hiện đại
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện, bản dịch của
Trần Đĩnh (2018, NXB Phụ nữ) có đối chiếu, so sánh với bản dịch của Ông Văn Tùng dịch từ bản Trung Văn (2003) và bản dịch của Hồ Quang Du từ bản Trung Văn (2003)
4 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, luận văn tiếp cận vấn đề từ các phương pháp sau:
- Phương pháp tiểu sử học: Qua sự tìm hiểu tiểu sử của tác giả Cao Hành Kiện, một nhà văn Trung Quốc hải ngoại làm tiền đề, chúng tôi đi tới việc lý giải sự song
trùng, kết hợp của nhiều mảng văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn của ông
- Phương pháp văn hóa học: Từ việc đặt tiểu thuyết Linh sơn vào môi trường
văn hóa giữa một bên là nền văn hóa truyền thống Trung Hoa với một bên là nền văn hóa phương Tây hiện đại trên các phương diện chủng tộc, môi trường, thời điểm (dân
tộc, môi trường, thời đại) để từ đó đánh giá, lý giải giá trị lịch sử của Linh sơn trong
nền văn học Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung
- Phương pháp phân tích ký hiệu học: Từ việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn
ngữ, hình ảnh văn hóa đặc thù trong Linh sơn, làm sáng rõ diễn ngôn về văn hóa, văn
học của Cao Hành Kiện
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu, bên cạnh việc khảo sát văn
bản chính là bản dịch Linh sơn từ bản Pháp văn của Trần Đĩnh (2018) chúng tôi có sự
so sánh, đối chiếu với hai bản dịch Linh sơn từ Trung văn của Ông Văn Tùng và Hồ
Quang Du Bên cạnh đó, chúng tôi có sự liên hệ, so sánh với những tác phẩm khác của
Cao Hành Kiện như những truyện ngắn, vở kịch của ông trong Tuyển tập Cao Hành Kiện và tiểu thuyết Thánh kinh của một con người để thấy rằng Linh sơn là tác phẩm
tiêu biểu cho sự đa văn hóa trong các sáng tác của Cao Hành Kiện Không chỉ vậy,
luận văn còn có sự mở rộng, so sánh tiểu thuyết Linh sơn với sáng tác của các nhà văn
Trang 15lưu vong khác để thấy được sự đa văn hóa là một trong những biểu hiện cơ bản của sáng tác văn chương hải ngoại
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Tiếp cận tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành
Kiện, ngoài sử dụng những phương pháp trên, chúng tôi còn tiếp cận tác phẩm từ những ngành học, bộ môn liên quan như thi pháp học, lịch sử, tâm lý học, Qua đó
chúng tôi làm sáng tỏ những điểm đa văn hóa trong Linh sơn của Cao Hành Kiện là nét
truyền thống Trung Hoa thể hiện trong lịch sử, trong tâm thức con người và nét phương Tây hiện đại thể hiện trong cách kể, cách cảm trong tâm thức của người lữ khách
5 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là chỉ ra các biểu hiện của hiện tượng đa văn
hóa trong tiểu thuyết Linh sơn, đồng thời đi sâu lý giải nguyên nhân và phân tích giá trị
tồn tại của những biểu hiện đa văn hóa đó
Để đạt được mục đích đề trên, luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu cần giải quyết là làm rõ khái niệm hiện tượng đa dạng văn hóa Trên cơ sở khái niệm chúng tôi
phân tích những biểu hiện của sự đa dạng văn hóa trong tiểu thuyết Linh sơn trên các
khía cạnh văn hóa truyền thống Trung Hoa và văn hóa hiện đại phương Tây ở cả nội dung lẫn hình thức Đồng thời chúng tôi đặt các biểu hiện ấy trong tương quan những sáng tác khác của Cao Hành Kiện và văn học của những tác giả hải ngoại như ông
6 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành ba chương: Chương một là những vấn đề chung Chúng tôi sẽ trình bày khái quát về tác giả
Cao Hành Kiện và tiểu thuyết Linh sơn Cùng với đó là những lý thuyết chúng tôi sẽ sử
dụng trong luận văn về nhà văn hải ngoại, văn hóa học và ký hiệu học
Trang 16Chương hai chúng tôi bàn đến vấn đề biểu hiện của văn hóa Trung Hoa trong
tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện trên các phương diện văn hóa Trung Hoa
truyền thống, lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX, ý thức bảo tồn văn hóa truyền thống của một nhà văn lưu vong như Cao Hành Kiện
Chương ba chúng tôi đề cập tới vấn đề biểu hiện của văn hóa phương Tây trong
tiểu thuyết Linh sơn Ở chương này chúng tôi đề cập tới khía cạnh ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại tới thi pháp của tiểu thuyết Linh sơn
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Hiện tượng đa văn hóa trong sáng tác của các nhà văn hải ngoại
Cộng đồng các nhà văn hải ngoại là một tồn tại mang tính phổ biến trên thế giới
Vì nhiều lý do mà họ phải xa rời quê hương, tổ quốc, di cư đến một đất nước khác Theo nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm, di cư/ di trú/ di dân, “danh từ gốc có tiếng latin này có nghĩa đen là sự “xuất cảnh”, “trục xuất” từ nước này sang nước khác, và về bản chất, đó là một quá trình có khởi đầu và kết thúc, có giới hạn về không gian và thời gian Về mặt định tính, di cư có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc; nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cũng rất đa dạng, bao gồm những nguyên nhân về kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa, sắc tộc hoặc vì lý do riêng” [23, tr 13], “Những người di tản khi định cư
ở một vùng đất/ quốc gia mới ngoài quê hương/ tổ quốc mình, có nhu cầu bảo tồn sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa sẽ tạo nên một cộng đồng kiều dân/ cộng đồng hải ngoại.” [23, tr 14]
Như vậy, các nhà văn hải ngoại, họ là những cá nhân thuộc về cộng đồng kiều dân, những con người di cư và sống lưu vong ngoài tổ quốc của họ Sự lưu vong xuất phát từ nhiều nguyên nhân do hoàn cảnh lịch sử, do mâu thuẫn với chính quyền, do lý
do kinh tế Khi lưu vong như vậy “nhu cầu bảo tồn sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa” là động lực để những người lưu vong hợp thành các cộng đồng tại quốc gia họ đến Đặc biệt, trong thời đại 4.0 hiện nay, họ liên kết lại thành cộng đồng lớn hơn, cộng đồng những người lưu vong, xa xứ nơi nước ngoài
Thuộc về cộng đồng kiều dân, những tác giả hải ngoại vừa mang đặc điểm chung của lớp người di cư, vừa mang đặc điểm riêng để khu biệt họ thành một nhóm đối tượng khá đặc biệt và phức tạp Các nhà văn, họ là những con người nhạy cảm trước sự đổi thay của môi trường, xã hội, thời cuộc Đồng thời đứng trước những đổi
Trang 18thay đấy, họ dùng nghệ thuật ngôn từ để chuyển tải suy nghĩ, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng lên trang giấy Đầu tiên, họ mang trong mình nỗi niềm cố quốc của con người xa
xứ như nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm từng viết: “Bất cứ sự lưu vong nào, dù tự nguyện hay bắt buộc, cũng đều là bi kịch, là nỗi đau chia cắt, là nỗi sầu cố hương, là cô đơn di trú” [23, trang bìa 4] Vì thế văn chương của các nhà văn lưu vong luôn chứa đựng nỗi nhớ nước, nhớ quê hương và các biểu tượng, ký hiệu văn hóa của riêng tổ quốc họ
Nhưng ở nơi xứ người, những tác giả hải ngoại còn gặp trở ngại không nhỏ trong mâu thuẫn giữa người di trú với đời sống văn hóa xã hội bản địa Nhà văn phải sáng tác nơi đất khách với cuộc sống mới, vùng đất mới, nơi chứa đựng ngôn ngữ, văn hóa mới Từ mâu thuẫn đó mà đặt ra cho người sáng tác không ít trăn trở về việc kiên quyết gìn giữ nét văn hóa truyền thống của cố quốc hay mềm dẻo hơn, vừa gìn giữ, vừa tiếp nhận, giao hòa truyền thống cùng văn hóa bản địa
Từ đấy xuất hiện hai trường hợp, những nhà văn lưu vong nhưng vẫn kiên trì sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ (như trường hợp của Ivan Bunin, Cao Hành Kiện) và những nhà văn sáng tác bằng hai thứ tiếng, bên cạnh tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ bản địa Các nhà văn sáng tác song song hai hay nhiều thứ tiếng như vậy, họ trở thành những tác giả song ngữ (như trường hợp của Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, V Nabokov, ): “[…] song ngữ/ song văn hóa là trỏ tình trạng một cá nhân hay một cộng đồng (nhóm xã hội, tộc người,…) có khả năng sử dung thành thạo ngôn ngữ thứ hai, ngoài tiếng mẹ đẻ/ thuộc về nền văn hóa thứ hai, ngoài nền văn hóa thuộc về tộc người của mình.” [23, tr 262]
Cùng với đó là cách thể hiện đề tài, chủ đề, cách triển khai không gian, thời gian trong tác phẩm nghệ thuật của nhà văn Họ sẽ lấy sáng tác bối cảnh là cố hương hay bối cảnh đất nước họ chuyển tới sinh sống, không gian một chiều hay không gian đa
Trang 19chiều, thời gian hiện tại hay thời gian quá khứ Qua đó hình tượng nhân vật trong sáng tác của họ cũng xuất hiện nhiều giằng xé, mâu thuẫn nội tâm giữa một bên là quá khứ, một bên là thực tại, một bên là cố hương, một bên là xứ người
Các tác giả hải ngoại dù họ kiên trì sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ hay sáng tác bằng
cả hai ngôn ngữ hoặc chỉ viết bằng thứ tiếng của đất nước họ di cư tới (trường hợp của Kazuo Ishiguro) thì văn chương những nhà văn đó vẫn luôn mang nặng cảm thức của con người lưu vong xa xứ Đồng thời các tác giả ấy cũng trở thành kiểu nhà văn song văn hóa khi trong nội tại con người họ một bên vừa là văn hóa cố quốc, một bên vừa là văn hóa bản địa họ lưu vong tới
Từ khó khăn đấy của các nhà văn lưu vong, nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm đã chỉ ra: “Nhà văn rời bỏ không gian sống quen thuộc của mình và tiếp tục sáng tác trong điều kiện của một không gian khác, xa lạ Nếu tính đến công cụ lao động sáng tạo của nhà văn là ngôn ngữ thì dễ hiểu nhà văn di tản đứng trước khó khăn về ngôn ngữ như thế nào.[ ] Vị trí địa lý hoặc mô hình ngôn ngữ quyết định như thế nào bản sắc dân tộc của nhà văn? Liệu nhà văn có trở thành đại diện của một nền văn học dân tộc khác khi vừa thay đổi nơi ở vừa thay đổi mô hình ngôn ngữ hay không? Số phận của diễn ngôn văn học mà nhà văn hải ngoại lựa chọn là như thế nào? Sáng tác của họ được tiếp nhận thế nào trong trường văn học của xã hội nhập cư và trường văn học của “mẫu quốc” [23, tr 10]
Tất cả đặt ra vấn đề vị trí sáng tác của những nhà văn hải ngoại ở đâu trong nền văn học thế giới? Khi một bên văn chương họ vừa đại diện cho một phần lịch sử cố quốc họ từng sinh sống và một bên văn chương họ cũng không thể tách rời đời sống xã hội vùng đất bản địa họ tái định cư Sự đa văn hóa, giao thoa văn hóa đã làm nên tính phức tạp trong khía cạnh từ nội dung, tư tưởng, nghệ thuật ở bản thân tác phẩm các nhà
Trang 20văn hải ngoại viết ra đến tính phức tạp khi khu biệt sáng tác cùng nhà văn đó vào tiến trình văn học sử của cả hai bên cố quốc lẫn đất nước bản địa của tác giả
Trong số những tác giả lưu vong, có thể kể đến các tên tuổi nổi tiếng như Ivan Bunin, Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, Kazuo Ishiguro, Cao Hành Kiện Những nhà văn đó khác nhau về nơi sinh ra, quốc tịch, tiếng nói, ngôn ngữ, niên đại họ sinh sống Họ cũng có thể khác nhau về cách thức sáng tác hay dấu ấn cố quốc hằn in trong văn chương của họ Nhưng những con người
đó đều gặp nhau ở tâm thức của con người xa xứ, lưu vong nơi đất khách quê người, gặp nhau ở cảm giác vô định “thiếu quê hương” Vì thế, bản thân các tác giả hải ngoại cùng sáng tác của họ dẫu có thể mang nhiều tranh cãi về vị trí trong tiến trình văn học
sử song không thể phủ nhận, chính những tác phẩm được viết lên bởi những nhà văn lưu vong đã góp phần không nhỏ tái hiện tâm lý, cuộc sống của cộng đồng kiều dân bởi nhiều lý do mà phải tha hương xứ người
1.2 Cao Hành Kiện và dòng chảy văn học Trung Quốc đương đại
Trong tiến trình văn học đương đại Trung Quốc, Cao Hành Kiện có một vị trí khá đặc biệt Đặc biệt bởi mỗi giai đoạn, ông lại gắn bó với văn học Trung Quốc theo một cách khác nhau Những năm Cao Hành Kiện sống tại Trung Quốc, ông là nhà văn tiên phong trong những thể nghiệm mới mẻ ở các thể tài sáng tác Và khi đã trở thành nhà văn lưu vong, tác phẩm của Cao Hành Kiện trở thành một bộ phận của văn học Trung Hoa hải ngoại mà ở đó văn học cùng văn hóa Trung Hoa trở thành chất liệu đặc trưng trong sáng tác của ông
Cao Hành Kiện sinh ngày 04 tháng 1 năm 1940 tại Cống Châu, một huyện thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc Ông tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Pháp của trường Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh vào năm 1962 Sau khi tốt nghiệp, Cao Hành Kiện đến làm
Trang 21việc tại tạp chí Trung Hoa tái thiết với cương vị một phiên dịch viên tiếng Pháp trong năm năm
Trong thời kì Cách mạng Văn hóa năm 1966, Cao Hành Kiện bị đưa vào trại học tập cải tạo Đến năm 1975, ông được trả tự do và quay trở về làm việc tại Cục xuất bản ngoại văn Tới năm 1978, Cao Hành Kiện chuyển tới làm phiên dịch cho Hiệp hội tác gia Trung Quốc Năm 1981, ông chuyển sang làm công tác biên kịch cho Đoàn Nghệ thuật Nhân dân
Trong thời gian này, Cao Hành Kiện vẫn kiên định với con đường sáng tạo nghệ thuật của mình Những sáng tác của ông đã thể hiện sự cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật, đưa tác phẩm tiệm cận với văn học hiện đại và hậu hiện đại trên thế giới “Ông viết rất nhiều, nhưng trước năm 1979, các tác phẩm của Cao Hành Kiện đều bị cấm công bố Chỉ sau cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình một số vở kịch của ông mới được phép dàn dựng và thái độ với các tác phẩm của ông cũng ít nhiều thay đổi.” [18, tr 7]
Vào giai đoạn sáng tác này của Cao Hành Kiện có thể kể tới những tác phẩm
như cuốn sách lý luận Sơ thảo kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại xuất bản vào năm 1981 “đã
đề cập đến những hướng tiếp cận khác nhau đối với tiểu thuyết và những kỹ năng cần thiết để thực hiện Cuốn sách đã gây tranh cãi về chủ nghĩa hiện đại đối lập chủ nghĩa hiện thực Trung Quốc vào những năm 1980.” [1; tr 11] Hay các vở kịch được dàn
dựng, công diễn như Trạm xe buýt năm 1963, Báo động năm 1982, Trú mưa năm 1984 Tiểu thuyết Linh sơn cũng được Cao Hành Kiện thai nghén, bắt đầu sáng tác
những chương đầu tiên trong khoảng thời gian này Nhưng không lâu sau các tác phẩm trên lại bị cấm lưu hành
Năm 1987, Cao Hành Kiện được phép xuất ngoại Ông đã sang Pháp vào năm
1988 và năm 1989 “ông bị tước quốc tịch Trung Quốc và toàn bộ tác phẩm của ông bị cấm ở Trung Hoa lục địa” [18, tr 8] Cao Hành Kiện lưu vong nơi đất Pháp, ông tới
Trang 22Paris, đến năm 1998, ông chính thức nhập quốc tịch Pháp Hiện nay Cao Hành Kiện đang cư trú, sáng tác ở một ngôi làng thuộc vùng ngoại ô Paris, khu Bagnolet
Những năm lưu trú tại Pháp, Cao Hành Kiện dành trọn tâm huyết vào việc viết sách, soạn kịch và tổ chức triển lãm nghệ thuật Tên tuổi của ông ngày càng có chỗ đứng trong nền văn học nghệ thuật Pháp nói riêng, văn đàn thế giới nói chung Năm
1992, ông được Chính phủ Pháp trao Huân chương về Văn học nghệ thuật Giải thưởng Nobel Văn học năm 2000 đã thuộc về Cao Hành Kiện Ngoài là nhà viết kịch, nhà văn nổi danh và thành công, Cao Hành Kiện còn là một họa sĩ vẽ ra những bức tranh thủy mặc độc đáo với hơn 30 triển lãm tranh đã được mở tính tới thời điểm hiện tại
Tuy thành công, nổi danh và có chỗ đứng vững chắc trong nền nghệ thuật bản địa, đất nước Cao Hành Kiện đang sinh sống thì tại chính Trung Quốc, giới chuyên môn lại đánh giá không cao Cao Hành Kiện lẫn các tác phẩm của ông Giải Nobel năm
2000 trao cho Cao Hành Kiện, một nhà văn Pháp gốc Trung Hoa song tại Trung Hoa đại lục lại rất thờ ơ với tin tức này Thậm chí, “Tờ nhật báo chiều Dương Thành
(羊城晚報) vào năm 2001 đã chỉ trích Linh sơn và gọi Cao Hành Kiện là một “nhà văn
dở tệ” [7; tr 11] Và bản thân người Trung Quốc cũng cảm thấy xa lạ trước bóng hình
Trung Hoa trên các sáng tác của Cao Hành Kiện nói chung, trong bản thân Linh sơn
nói riêng
Tuy nhiên dẫu sống và làm việc ở đâu, dẫu giới phê bình hay văn đàn Trung Quốc có chối bỏ Cao Hành Kiện cùng những sáng tác của ông trong thời gian ông rời Trung Hoa thế nào thì cũng không thể phủ nhận, sáng tác của Cao Hành Kiện vẫn có mối liên hệ với tiến trình văn học đương đại Trung Quốc Bởi ông vẫn sáng tác chủ yếu bằng tiếng Trung, không gian văn hóa, con người trong những sáng tác của ông vẫn mang đậm bóng hình cố quốc Nhất là khi Cao Hành Kiện đã có ngót hơn bốn mươi năm sinh sống và làm việc tại Trung Quốc mà trong quãng thời gian ấy, đã có bao biến
Trang 23động lịch sử xảy đến trên thế giới và với chính bản thân quê hương, cố quốc ông
Những vở kịch ông viết và công diễn ở trên mảnh đất Paris của Pháp như Tuyết tháng tám năm 1997 và đặc biệt Giữa sống và chết năm 1999 không đơn thuần chỉ là những
tác phẩm viết bằng tiếng Trung mà ở đó là không gian văn hóa Trung Hoa, là sự kết hợp giữa bi kịch, hí kịch cổ điển Trung Quốc với kịch phi lý của thời hậu hiện đại Hay
tiểu thuyết Thánh kinh của một con người ra đời năm 1999 cũng là một sự nhìn lại của
Cao Hành Kiện về thời Cách mạng Văn hóa đã xa
Vì thế, thấm đẫm trong máu thịt Cao Hành Kiện là hơi thở, là lịch sử Trung Hoa với đủ những đau thương, thăng trầm Tất cả quyện hòa trong những sáng tác của ông
mà như chính ông từng nói “văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòng máu của tôi.” [18, tr 689] Nhận định về Cao Hành Kiện trong tiến trình lịch sử văn học Trung Quốc, trong Thông cáo của Viện hàn lâm Thụy Điểm ngày 12/10/2000 có ghi: “Giải văn chương Nobel năm 2000 tặng thưởng nhà văn Hoa ngữ Cao Hành Kiện cho một trước tác có tầm cỡ thế giới, mang dấu ấn đắng cay trong nhận thức và nét tinh tế của ngôn
từ, mở ra nhiều nẻo đường mới cho nghệ thuật tiểu thuyết và sân khấu Trung Quốc.” [18, tr 647]
1.3 Tiểu thuyết Linh sơn trong sự nghiệp sáng tác của Cao Hành Kiện
Trước khi giành giải Nobel văn chương vào năm 2000, Cao Hành Kiện đã nổi danh với các tác phẩm hội họa, truyện ngắn hay những vở kịch phi lý Nhưng phải đến
tiểu thuyết Linh sơn, phong cách sáng tác cùng quan điểm nghệ thuật của Cao Hành
Kiện mới được thể hiện một cách trọn vẹn qua độ chín về tâm thức và những cách tân trong văn chương cả ở mặt nội dung lẫn hình thức
Tiểu thuyết Linh sơn gồm 81 chương được Cao Hành Kiện bắt đầu viết vào mùa
hè năm 1982 tại Trung Quốc và hoàn thành tác phẩm vào năm 1989 khi ông đã sang
Pháp định cư, sinh sống Vì thế, có thể coi Linh sơn như một tác phẩm bản lề thể hiện
Trang 24rõ nhất sự giao thoa giữa hai thời kỳ sáng tác của Cao Hành Kiện Đó là sự khép lại thời kỳ sáng tác của ông ở Trung Quốc đồng thời mở ra thời kỳ sáng tác của Cao Hành Kiện dưới danh nghĩa một nhà văn lưu vong nơi hải ngoại
Linh sơn, câu chuyện được viết dựa trên chính những trải nghiệm thực tế của
Cao Hành Kiện những ngày ông còn ở Trung Hoa Khoảng thời gian này, Cao Hành Kiện đã có hành trình kéo dài 10 tháng với tổng cung đường 15000km “đi sâu vào
thung lũng Tứ Xuyên, trung tâm lục địa Trung Quốc” [17, tr 8] Nhưng Linh sơn
không đơn thuần chỉ là cuốn du ký được tạo dựng dựa trên ấn tượng có thật đó mà hơn
cả, cuốn sách là những mảnh vỡ đan xen giữa thực và mộng để tạo lên những mảng truyện đầy hư ảo
Linh sơn, một tác phẩm gần như không có cốt truyện kể về hai chuyến hành
trình của hai người đàn ông khác nhau Một bên là mi, kẻ lãng khách đã đi khắp bốn
phương trời, vì một lòng hiếu kỳ về miền đất chưa biết tới có tên Linh sơn mà quyết tìm đường đến chốn Núi hồn Một bên là ta, kẻ lãng du đi khắp miền sơn cước Trung
Hoa: “Khi mi đang tìm kiếm con đường đưa tới Linh Sơn thì ta, dạo dọc con sông Trường Giang, tìm kiếm chân lý [ ] Từ lâu lẽ ra ta đã phải rời bỏ cái môi trường ô nhiễm của ta mà quay trở lại thiên nhiên kiếm tìm một cuộc sống đích thực.” [16, tr 21] Ta và mi là hai mà lại như một Hai chuyến hành trình tưởng chừng ngược nhau mà
rồi lại hợp nhất trong những cuộc gặp gỡ nơi tâm tưởng người lữ khách Linh sơn hay
là lẽ sống, chân lý Linh sơn, ngọn núi hồn thiêng liêng xa ngái hay chính một phần
tâm hồn con người ta vẫn mãi kiếm tìm?
Toàn bộ Linh sơn cũng như các sáng tác khác nói như Cao Hành Kiện là cách
tác giả “lấy sự sáng tác văn học làm phương thức tự cứu, hoặc có thể nói rằng đó cũng
là một phương thức sống của tôi Tôi sáng tác là vì mình, không mưu cầu mua vui cho
kẻ khác, cũng không toan tính cải tạo thế giới hoặc người khác, bởi vì ngay cả bản thân
Trang 25tôi cải biến còn không xong Quan trọng là, đối với riêng tôi mà nói, chỉ là tôi nói xong, viết xong, chỉ thế mà thôi.” [18, tr 692]
Bởi thế, Linh sơn như một sự phân thân của tác giả trong những chuyến hành
trình tâm tưởng, trong những cuộc đối thoại dẫu là ta, là mi, là nàng hay là hắn Cũng
vì vậy, Linh sơn là một cuốn tiểu thuyết với những chương truyện hết sức tản mạn,
tưởng chừng không có sự liên kết với nhau, không có cốt truyện, đồng thời cũng không
thể tóm tắt Cả Linh sơn như nằm trong một lớp sương bàng bạc của những câu chuyện
huyền thoại, với không, thời gian đầy tính bất định Tất cả những yếu tố đó đã làm
nên một tiểu thuyết Linh sơn mang đậm cảm thức của văn chương hậu hiện đại, từ đấy
mà tạo sự gần gũi, đồng cảm với độc giả phương Tây
Nhưng bên cạnh những sự cách tân nghệ thuật đầy táo bạo, cách thể hiện nội dung tư tưởng đầy hiện đại trên mọi phương diện của thể tiểu thuyết là sự bám rễ vào cội gốc văn hóa Trung Hoa truyền thống trong những hình ảnh, những câu văn, những làn điệu hát xuyên suốt chặng đường du ký qua những mảnh đất mà nhân vật đã đi Cũng bởi sự hòa hợp giữa những yếu tố hiện đại phương Tây và Trung Hoa truyền
thống đó mà Linh sơn càng thêm cuốn hút “Linh Sơn của Cao Hành Kiện – nhà văn
Pháp gốc Trung Hoa – thực chất, là cuộc du hành xuyên qua sương mù thời gian, không gian để gom góp, khảo sát lại những mảnh vỡ biểu tượng, di chỉ ký ức, truyền thống văn hóa và lịch sử Trung Hoa Các bối cảnh núi rừng hoang vu cho đến làng mạc, di tích có thực, những dấu chỉ ifgian huyền thoại như Nữ Oa, Phục Hy, cho đến thời gian xác định của những thời kỳ Cách mạng Văn hóa, Ngũ Tứ, từ nông thôn đến
đô thị đi vào tiểu thuyết này mông lung mê hoặc lại rất giàu sức gợi.” [16, trang bìa 4]
Bởi vậy Linh sơn có vai trò như tấm bản lề giữa hai thời kỳ sáng tác của Cao
Hành Kiện Tác phẩm ra đời trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt Cao Hành Kiện mất
7 năm để sáng tác Linh sơn trong đó có 6 năm ở Trung Quốc, năm còn lại ông hoàn
Trang 26thiện tác phẩm khi đã tới Pháp định cư Vì thế, tính chất bản lề, giao thời của cuốn tiểu thuyết này thể hiện từ thời gian tác phẩm ra đời, nội dung tác phẩm thể hiện cho tới hình thức tự sự của Cao Hành Kiện Chất Trung Hoa cực kỳ đậm đặc ở từng bối cảnh trong mỗi chương truyện, ở từng tình tiết, từng niên đại thời gian, từng biểu tượng văn
hóa Cao Hành Kiện gửi gắm Nhưng đồng thời, Linh sơn cũng là một cuốn tiểu thuyết mang đậm âm hưởng văn chương hậu hiện đại Với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã đạt
tới độ chín về nghệ thuật, đưa các tác phẩm ở giai đoạn sáng tác sau hoàn toàn tiến tới hình thức hậu hiện đại trong cấu trúc tác phẩm, điểm nhìn, thủ pháp sáng tác “Một tiểu thuyết đa bội điểm nhìn, phân mảnh về hình thức nhưng được tổ chức một cách chặt chẽ, một bút pháp vừa phóng khoáng vừa nghiêm cẩn của thứ “văn chương lạnh” (từ dùng của chính Cao Hành Kiện) nhìn sâu vào hệ giá trị Trung Hoa.” [16, trang bìa 4]
Có lẽ chăng, chính bởi hệ giá trị Trung Hoa được Cao Hành Kiện thể hiện bằng bút pháp hậu hiện đại như vậy mà khiến cho chính bản thân con người tại cố
quốc của Cao Hành Kiện cảm thấy xa lạ với Linh sơn nói riêng, những sáng tạo của
ông nói chung
Trang 27CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRUNG HOA
TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN
2.1 Những lớp trầm tích của văn hóa Trung Hoa truyền thống
Trong bài phát biểu tại Hội nghị 40 năm văn học Trung Quốc do Hệ thống Liên
hiệp báo tổ chức tại Đài Loan, Không có chủ nghĩa, Cao Hành Kiện đã nói: “Cuốn Linh sơn và cuốn Sơn hải kinh truyện tôi hoàn thành ở nước ngoài đã kết liễu cho tôi
cái gọi là mối sầu cố hương Cuốn trước khơi từ cảm xúc đối với hiện thực văn hóa Trung Quốc [ ] Văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòng máu của tôi, chẳng cần dán trên mình nhãn hiệu thương mãi Văn hóa Trung Quốc mặt trái và mặt phải, tôi đã
tự làm công cuộc trang trải.” [18, tr 689]
Bởi thế, xuyên suốt tiểu thuyết Linh sơn là tầng tầng lớp lớp những trầm tích
của văn hóa cổ điển Trung Hoa dẫu là cuộc hành trình của ta du ký khắp các vùng núi
non hay mi trên chặng đường cùng nàng kiếm tìm Núi hồn
2.1.1 Lớp trầm tích huyền thoại và văn học dân gian
Trung Hoa là một trong những chiếc nôi của lịch sử loài người, của nền văn minh nhân loại nói chung, nền văn minh phương Đông nói riêng Bên bờ lưu vực sông Hoàng Hà và Trường Giang, quốc gia cổ đại Trung Hoa đã hình thành Trải qua hàng ngàn năm cùng bề dày lịch sử, văn hóa, đất nước Hoa Hạ đã ghi dấu bề dày trầm tích huyền thoại và văn học dân gian cổ về sự hình thành trời đất, về những chuyện kỳ bí trong tự nhiên, đời sống mà con người thời cổ đại chưa thể lý giải bằng kiến thức khoa học, về những con người có thật trong lịch sử đã được dân gian khắc họa lại bằng những nét vẽ huyền thoại; hay các câu chuyện cổ tích yêu ma, quỷ quái
Những câu chuyện lưu truyền trong dân gian như truyện Nữ Oa vá trời, giai thoại về thời Tam Quốc, về 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, hành trình bốn thầy trò
Trang 28Đường Tăng đi thỉnh kinh đã trở thành một phần trong mạch nguồn làm nên nền văn hóa Trung Hoa truyền thống Mạch nguồn ấy chảy từ đời này sang đời khác, đi vào những tác phẩm văn học viết từ thời phong kiến, đến thời cận đại, qua thăng trầm lịch
sử mà tiếp tục thấm sâu vào những tác phẩm văn chương thời hiện đại, hậu hiện đại
Với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã góp phần khơi mở thêm mạch nguồn dân gian đó
trong dòng chảy chung của nền văn học Trung Quốc những năm 2000
Là một tác giả Trung Quốc hải ngoại nhưng “chất văn hóa cổ đã chan hòa trong
dòng máu” [16, tr 689], có thể nói tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện được cấu
thành lên từ những mảng huyền thoại bàng bạc của văn hóa Trung Hoa truyền thống nói chung, văn học dân gian Trung Hoa nói riêng
Trên chuyến hành trình kiếm tìm Linh sơn của mi là những câu chuyện truyền
thuyết, thần thoại về mảnh đất mà mi hướng tới, là những câu chuyện truyền miệng đậm tính ma quái, kỳ ảo mà những kẻ mi gặp kể lại trước đông đảo người nghe: “Ở đằng tây, mặt trời đang lặn, những đám mây dày che khuất mặt trăng; như thường lệ,
bố rắn mẹ rắn dẫn đầu đám yêu ma quỷ quái đi đến ngôi miếu Lam Hoàng Trước cảnh những đứa trẻ trai gái béo tốt, làn da hết sức mơn mởn, trước cảnh bò, lợn, cừu ở bên đường, niềm vui của chúng mới thật là to lớn dường bao!” [16, tr 41] Hay đó là những câu chuyện đầy màu sắc hư ảo, huyền thoại do mi tự tưởng tượng ra để kể cho nàng trên bước đường núi truân chuyên mãi không thấy điểm dừng Chuyện về người con gái tự tử, đêm về còn vang tiếng khóc nỉ non, chuyện về con chim lam từng được nhắc
đến trong thơ Đường, gắn với tích truyện liên quan tới Tây Vương mẫu trong Sơn Hải kinh hay chuyện về những người đàn bà miền sơn cước mi chẳng biết tên, chỉ biết họ là
những người đàn bà đẹp cài bông hoa đỏ đã hút hồn người qua đường thế nào…
Còn với ta, chọn con đường ngược lại con đường mi đã đi, chất huyền thoại, tính dân gian của một nền văn hóa Trung Hoa truyền thống lại thể hiện trong mỗi câu
Trang 29chuyện ta lượm lặt được qua lời kể của từng người dân ta bắt gặp Đó câu chuyện về con rắn kỳ hay sự tích ly kỳ về lão Thạch sống nơi hang đá sâu trong rừng, chỉ có một con đường độc đạo duy nhất tới với lão, người ta đồ rằng lão đã chết từ lâu nhưng thân thể lão vẫn còn nguyên vẹn, đặc biệt là khẩu súng săn của lão thì vẫn còn sáng bóng Hoặc chất huyền thoại đấy hiển hiện qua những lời ca, điệu nhạc ta sưu tầm được, đặc biệt khi mỗi câu ca, lời thơ đó được trình diễn ở một không gian văn hóa dân gian đặc thù Tất cả như thổi hồn vào con chữ, biến ngôn từ lẫn không gian xung quanh trở thành huyền ảo như cổ tích: “ta dâng lễ này lên thần bếp vì nhờ ngài mà chúng ta có cái
ăn cái uống”, “Ông đang chép lại một bài văn thờ cúng kinh điển bằng tiếng Di, ông cũng dùng bút lông như người Hán” [16, tr 135]
Chất huyền thoại, dân gian của văn hóa Trung Hoa trong Linh sơn bởi thế không
còn đơn thuần chỉ là những câu chuyện vụn vặt, những câu hát dân ca được nghe, được
kể, mang tính truyền miệng từ đời này sang đời khác để con người thời nay nhắc lại mà rộng hơn, chất cổ kính, huyền ảo còn gắn liền với chính không gian dân gian tác giả Cao Hành Kiện xây dựng lên
Không gian đó trước hết là các buổi kể chuyện của những người dẫn truyện xung quanh là những người sẵn sàng đến nghe câu chuyện đấy từ ngày này sang ngày khác Hay thính giả ngày ngày đợi chờ để được nghe một tích truyện mới Như khung cảnh mi đã gặp nàng ở thủy tạ, nơi diễn ra buổi kể chuyện về gia đình nhà rắn: “Cả trẻ con lẫn người lớn đang chen nhau ở trước cửa và góc tường quán trà Nhìn vào trong,
cả nàng và mi đều dừng lại Một loạt bàn kê trong một gian phòng dài hẹp Người như xếp thành hàng lối đều đặn trên các ghế dài đặt theo chiều ngang nhà và ở chính giữa là một cái bàn tròn phủ tấm vải đỏ viền những hình thêu màu vàng; đằng sau bàn, trên một ghế dài cao chân, một người mặc áo dài rộng tay đang kể chuyện.” [16, tr 41]
Trang 30Những truyện kể ly kỳ ma quái, được một người dẫn truyện kể lại với thính giả xung quanh lắng nghe, tất cả không chỉ gợi lên không gian văn hóa dân gian với đậm chất huyền ảo đến từ câu chuyện mà còn gợi lên một bầu không khí cổ xưa của thời thịnh hành những câu chuyện chương hồi Nơi đấy, người ta tới nghe kể chuyện, đợi chờ tới mỗi buổi truyện kể để biết tiếp diễn biến tích truyện vẫn còn dang dở trong buổi trước Người kể chuyện bằng điệu bộ và tài dẫn truyện khéo léo thu hút ánh nhìn khán,
thính giả Một thời truyện Tam Quốc, truyện Thủy hử, truyện Tây du được lưu truyền
trong dân gian bằng phương thức diễn xướng, bằng những buổi kể chuyện như thế
Từ không gian tập thể, cộng đồng, chất dân gian, huyền thoại trong các buổi kể
chuyện ở Linh sơn chuyển dịch và thu hẹp về không gian chỉ có hai người mi – nàng
hay ta – với những nhân vật ta gặp nhưng tính chất chương hồi trong những câu chuyện
ấy vẫn không thay đổi Giữa thâm u núi rừng, trên từng bước đường qua từng vùng đất
xa lạ, tới một đích đến thực thực hư hư, những câu chuyện liêu trai được kể không chỉ
làm tăng thêm tính kỳ ảo cho tác phẩm mà càng khiến Linh sơn gần gũi hơn với thể du
ký Đồng thời, những ta, mi, nàng, anh hay ông lão kể chuyện cho nhau nghe, cũng như cách mà dân gian từ xưa tới nay lưu truyền các truyện thần thoại, cổ tích vậy
Không gian huyền thoại trong Linh sơn còn đến từ chính không gian văn hóa,
thờ cúng, tế lễ của từng dân tộc, tộc người Mỗi tộc người lại có một tục lệ, câu chuyện, cách thức khác nhau trong việc lưu truyền, gìn giữ bản sắc Sự khác nhau đó gắn với riêng một không gian văn hóa và không gian ấy lại chở nặng tính huyền thoại,
cổ kính trải dài theo năm tháng Có thể nói, không gian cổ tích, thần thoại đã đi vào trong trang văn của Cao Hành Kiện từ những câu chuyện cổ xưa và rồi chính không gian đầy tính thần thoại của một thời quá vãng đã làm cho những câu chuyện được
nhắc đến ở Linh sơn càng thêm nhuốm màu liêu trai, kỳ ảo
Trang 31Trong cuốn Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, Tzevan Todorov có viết: “Giờ đây
đã đến lúc minh định và hoàn chỉnh định nghĩa về kỳ ảo của chúng tôi Việc này đòi hỏi phải thỏa mãn ba điều kiện Trước hết, văn bản buộc độc giả coi thế giới của các nhân vật như một thế giới của những con người sống và phân vân giữa một cách giải thích tự nhiên và siêu nhiên trước những hiện tượng gợi lên Sau nữa, sự phân vân này cũng có thể được cảm nhận bởi một nhân vật, vậy nên vai trò của độc giả có thể được gửi gắm cho một nhân vật và đồng thời do sự phân vân được thể hiện nên nó trở thành một đề tài của tác phẩm; trường hợp đọc sách một cách hồn nhiên, độc giả có thực tự đồng nhất với nhân vật Sau rốt điều quan trọng là độc giả có một thái độ nhất định đối với văn bản: họ sẽ khước từ lối diễn giải ngụ ngôn cũng như diễn giải “theo lối thơ.” [35, tr 43]
Và những câu chuyện huyền thoại cùng không gian cổ tích, thần thoại, dân gian
trong Linh sơn đã thực sự đáp ứng về cái kỳ ảo của Todorov Con người luôn phân vân
giữa hiện thực – hư ảo, giữa thực tại với những truyện kể ly kỳ, huyền ảo Sự phân vân
đó không chỉ được cảm nhận bởi một nhân vật mà còn được cảm nhận bởi mọi cá nhân
trong tác phẩm, qua đó trở thành đề tài chủ đạo của Linh sơn Từ đấy, người đọc khi tiếp nhận, diễn giải Linh sơn phải khước từ hoàn toàn lối diễn giải ngụ ngôn thông
thường, bởi đây là một tác phẩm hết sức hiện đại nhưng được vết trên nền tảng của văn hóa Trung Hoa truyền thống
Có thể nói, với Linh sơn, Cao Hành Kiện đã thả cho sức tưởng tượng bay bổng
cùng huyền thoại, cùng văn hóa truyền thống Mọi thứ như mang âm hưởng của một thời giang hồ quá vãng Tất cả kết hợp trong hình ảnh con người, một người kiếm tìm
một Linh sơn bất định, người còn lại bước đi vô định trên lãnh thổ Trung Hoa rộng lớn
Con người vô định, trốn chạy nhưng văn hóa lại trở thành cội gốc, gốc rễ mà người ta không thể chối bỏ, cũng là nơi để kẻ tha hương tìm về một chốn dừng chân
Trang 32Đây cũng là tâm thức chung của rất nhiều nhà văn hải ngoại Khi lưu vong nơi
xứ người, sống trong tình cảnh “thiếu quê hương”, thứ níu giữ nhà văn với phần hồn của cố hương là ngôn ngữ và là lớp trầm tích văn hóa truyền thống thể hiện trước hết trong những câu chuyện huyền thoại, không gian văn hóa dân gian của dân tộc mình
Mà ẩn sâu trong những câu chuyện như thực như mơ, phủ lên tác phẩm một lớp bàng bạc màu kỳ ảo đó là nỗi nhớ quê, nỗi hoài tiếc, là tấm lòng day dứt quê nhà Như tác
giả Nabokov trong tập truyện ngắn Mỹ nhân Nga đã tái hiện một nước Nga vừa cổ kính song cũng vừa hư ảo ở những truyện ngắn như Ma cây hay Một truyện đồng thoại:
“Chẳng ai trong bộ lạc chúng tôi còn lại ở Đại Nga Một số bốc thành sương, số khác tản đi khắp dương gian Những con sông quê sầu muộn, chẳng còn tay ai tinh nghịch hắt ánh trăng vàng, những bông hoa chuông tình cờ chưa bị vạt đi thì lặng lẽ, côi cút –
mà chúng từng là những cây đàn Gusli xanh lam thuở xưa ” [27, tr 28] Cảm thức đó
của Nabokov đã gặp gỡ với Cao Hành Kiện khi ông gửi gắm vào sâu trong Linh sơn là
cả mạch nguồn trầm tích của một nền văn hóa, văn học dân gian Trung Hoa Mà dòng mạch trước tiên hiện lên qua những hư ảo nơi các câu chuyện, lời ca, điệu nhạc cùng không gian văn hóa đậm chất huyễn ảo
2.1.2 Lớp trầm tích tôn giáo và tín ngưỡng dân gian
Như đã nói, Trung Hoa cổ đại là một trong những chiếc nôi của loài người và văn minh nhân loại Nơi đây chứa đựng một kho tàng đồ sộ văn học dân gian biểu tượng cho tâm thức, đời sống, văn hóa của con người lưu vực sông Hoàng Hà, Trường Giang nói riêng mà còn là cả khu vực Đông Bắc Á nói chung Đồng thời đất nước Hoa
Hạ còn là nơi xuất phát của những hệ tư tưởng có tầm ảnh hưởng sâu rộng ở Trung Hoa đại lục lẫn các quốc gia trong khu vực từ lịch sử cho tới thời điểm hiện tại như hệ
tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo, tư tưởng Lão Trang, sự kế thừa, phát huy và sức sống của Phật giáo cổ Ấn Độ Ngoài ra, mỗi tộc người trên lãnh thổ Trung Hoa bên cạnh sự
Trang 33khác biệt trong không gian sinh hoạt đời sống văn hóa, ở họ còn có sự khác biệt về không gian tín ngưỡng riêng của từng vùng miền
Vì vậy, tái hiện mạch nguồn văn hóa truyền thống trên trang văn Linh sơn, Cao
Hành Kiện còn gửi gắm ở đó còn là dòng chảy của hệ thống tôn giáo, tư tưởng lẫn tín ngưỡng dân gian đã ăn sâu vào đời sống người dân Trung Hoa Yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng bởi thế cứ trở đi trở lại trên từng bước đi của con người dẫu là ta hay mi, dẫu là nàng hay hắn hoặc cả lúc nhân cách của mi biến mất để hợp với một nhân cách “ta”
Trước hết, đó là dáng dấp các biểu tượng Đạo giáo được thể hiện qua những triết lý nhân sinh, biểu hiện qua đời sống con người cùng không gian tâm linh của hệ tư tưởng này
Là một trong Tam giáo tồn tại từ thời Trung Hoa cổ đại, cùng Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo xuất hiện trong trang văn Cao Hành Kiện trước hết với những triết lý
từng được Lão Tử đề cập trong Đạo Đức Kinh mà từ lâu đã trở thành kinh điển của hệ
tư tưởng này: “Từ Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”,
“Con người theo các đạo của Đất, Đất theo các đạo của Trời, Trời theo các đạo của Đạo, Đạo theo cái đạo của chính nó” [16, tr 436], “Nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, ngươi sẽ đạt tới hư không và thanh thoát, đẹp thay, hiếm thay, hiếm sao.” [16, tr 437] Và triết lý “lấy sự thanh tịnh” đó thật sự hết sức gần gũi với giáo lý nhà Phật Vì thế, quá trình tìm về mảng bình yên trong tâm hồn của mỗi nhân vật trong
Linh sơn không đơn thuần chỉ tìm về cội gốc của Thiền mà còn là quá trình tìm về căn
nguyên của Đạo
Cũng vì vậy, cả mi, ta, nàng, hắn, cả các nhà nghiên cứu, những người bạn của
ta xuất hiện ở tiểu thuyết Linh sơn bên cạnh việc không danh tính, không nhân hình, họ
luôn là những con người lánh xa đời sống thành thị để trở về với tự nhiên Mỗi người
đã trải đủ đau thương và dường như đã hiểu thấu hồng trần, chỉ riêng nội tâm con
Trang 34người là chẳng thể nắm bắt Vì vậy, họ trở về với chữ đạo, đạo của thiên nhiên, cũng là đạo làm người
Đạo đấy đã được nhà thực vật già đúc kết khi ông qua ba lần đứng trước bờ vực cõi chết, trải qua nỗi đau mà Cách mạng Văn hóa mang lại đó là hòa mình vào tự nhiên khi lòng người đã không còn tin tưởng vào tính thiện lương nơi con người người Hay triết lý: “Nói cách khác, mi, ta, chúng ta chẳng qua cho là đã từng gặp ông./ Vậy thì đó
là ông.” [16, tr 486], đây chính là dạng thức “nhìn không thấy”, “nghe không hiểu” khi đối diện với bậc vĩ nhân cùng sự sâu xa, vĩ đại trong tác phẩm, sự nghiệp của người
Và khi đặt triết lý Đạo giáo vào tiểu sử cuộc đời Cao Hành Kiện cũng như hoàn cảnh ra
đời Linh sơn lại càng thấy triết lý đó thêm ý nghĩa Một con người ngay từ những năm
tháng đầu đời đã trải qua thương đau binh lửa, bị phản bội, đấu tố, giám sát, từng tuyệt vọng mất niềm tin vào cuộc sống, bơ vơ lạc lõng trong thân kiếp con người lưu vong Vậy “đạo” cuối cùng người đó hướng đến, tìm về là gì Căn tính dân tộc hay nhân bản, hay có lẽ là cả hai “Đạo là gốc của muôn loài, cũng là phép điều hành muôn loài Chủ thể và khách thể tôn trọng lẫn nhau, thì hòa làm một.” [16, tr 437]
Ngoài ra, nói tới yếu tố Đạo giáo trong tiểu thuyết Linh sơn, không thể không
nói tới những con người đã giữ lửa và mãi lưu truyền để hậu thế có thể tìm về không gian tâm linh của Đạo gia Đó là các Đạo sĩ dân gian trải qua thời kỳ Cách mạng Văn hóa, họ vẫn giữ lại không chỉ là những vật dụng hành nghề mà hơn cả là hồn cốt, tinh thần cùng khí chất những người tu đạo “Một lát sau, các người con trai ông mang chiêng, trống, nào bạt đến, một cái chiêng bé và một cái chiêng to móc vào giá gỗ Lập tức nhạc nổi lên, ông già thong thả, đường bệ từ trên gác bước xuống Ông đã thay đổi hẳn cốt cách, mặc đạo bào, áo dài cũ màu tím của đạo sĩ, áo vá và có trang trí hình cá
âm dương cùng những bát quái Ông tự tay thắp hương, cúi rạp người xuống trước ô thờ chư thần.” [16, tr 138] Và nếu không gian tín ngưỡng, không gian tâm linh với những con người được thiên phú cho đạo hạnh chẳng còn tồn tại thì dòng chảy tôn giáo
Trang 35cổ Trung Quốc đã bị đứt đoạn khi biến động lịch sử xảy tới, nhất là vào thời điểm Cách mạng Văn hóa diễn ra
Cùng với Đạo giáo, yếu tố Phật giáo cũng xuất hiện với tần suất dày đặc trong
thế giới nghệ thuật Linh sơn Phật giáo không xuất phát từ Trung Hoa nhưng lại sớm
được lưu truyền vào mảnh đất này và ăn sâu, bám rễ đồng thời có sức sống lâu dài trong lịch sử đời sống con người nơi đây Giáo lý nhà Phật tới Trung Hoa đã đi vào tâm thức con người một cách đầy tự nhiên, phát triển thành nhiều nhánh nhỏ với nhiều cách
tu khác nhau Vì thế, Phật giáo hiển hiện trong Linh sơn cũng dưới nhiều dạng thức,
vừa là Phật giáo nguyên thủy xuất phát từ Ấn Độ, vừa là Phật giáo được bản địa hóa khi tôn giáo này đã có một đời sống lâu bền trong cộng đồng xã hội Trung Hoa
Đấy là bóng hình Phật giáo truyền thống biểu hiện qua hình ảnh những ngôi
chùa cổ trên bước đường kiếm tìm Núi hồn của mi và trên cả chuyến du ký của ta khắp
miền sơn cước Trung Hoa Bóng hình đó có thể hiện lên qua những câu chuyện, qua những mộng ảo đan xen giữa không gian thiện tại – hư vô hay các địa điểm người lữ khách đã trực tiếp đi qua, trực tiếp ngắm nhìn để trực tiếp đắm mình vào cõi Phật Để ở
đó con người không chỉ cảm nhận Phật giáo bằng những tạo vật vật chất xung quanh
mà còn cảm nhận Phật pháp ở cả tầng giáo lý, triết học Qua đấy người lãng du có những chiêm nghiệm về hiện thực, nhân sinh, cuộc đời giữa muôn nẻo thâm u núi rừng “Ông giải thích rằng ở giữa thời kỳ chúng ra hoa, nảy mầm và khô héo rồi mọc lên măng mới trước khi lại ra hoa tổng cộng là sáu chục năm trời Thời gian này vừa đúng một kiếp, vòng luân hồi những tồn tại và hồi sinh trong đạo Phật.” [16, tr 59]
Thật vậy, con đường mi đi tìm Linh sơn có nét tương đồng như quá trình hành
hương của đệ tử Phật giáo trở về căn nguyên Phật pháp Hay giữa những giây phút ngặt nghèo của cuộc đời trong ta niệm tên của Phật hẳn không chỉ cầu may mắn mà hơn cả
Trang 36để làm yên tĩnh, bình lặng lại nội tâm vốn đang tuyệt vọng Bởi giáo lý nhà Phật trước hết để hướng đến cái thiện, hướng tới sự giải tỏa, bình yên cho tâm hồn
Biểu hiện của giáo lý nhà Phật ở Linh sơn còn hiện lên trong cách Cao Hành
Kiện gửi gắm những triết lý về con người, về ái dục vô minh, về nhân duyên luân hồi
Mọi sự tồn tại của con người trong Linh sơn đều hết sức mơ hồ, tất cả chỉ là những đại
từ phiếm chỉ ta, mi, nàng, hắn, anh, ông Họ không tên gọi, cũng không có nhân dạng cũng như đạo Phật trong thuyết vô ngã vốn coi con người chỉ là sự tồn tại vật chất của năm uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải một thực thể lâu dài “Vô luận là ta hay hình tượng phản ánh của ta thì mặt mũi hắn thế nào đều không nhìn thấy, biết đó là một ảnh tượng ở đằng sau là đủ rồi.” [16, tr 340]
Cùng với đó, thuyết vô thường của Phật giáo cho rằng mọi sự đều trong quá trình diễn ra, biến đổi, vận động, tiêu diệt không ngừng Vì thế không có gì là mãi mãi, cũng như ngôi chùa của vị sư tăng đã từng hưng thịnh là thế mà tới khi mi và nàng đến tất cả chỉ còn lại một đống hoang tàn, vẻ đẹp xưa kia vĩnh viễn chỉ là ký ức trong lời mi
kể Không chỉ vậy, Linh sơn còn chứa đựng những ẩn ức về ái dục, vô minh, nhân
duyên, luân hồi của con người Bóng dáng con người trong cuốn sách mờ nhạt song ai
cũng có thất tình lục dục và hành trình con người tìm về Linh sơn có lẽ chăng còn là
quá trình người ta vượt thoát ái dục để về với vô minh Nhưng có thể diệt dục không khi người ta vẫn ham muốn Chẳng thể mà nhân duyên không dứt, luân hồi mãi diễn ra Nàng có thể là chuyển thế, kiếp sau luân hồi của bất kì cô gái nào câu chuyện của mi, của ta Nàng đã rời xa mi và ta luôn tránh gắn bó quá sâu sắc với một người phụ nữ Vậy mà hình ảnh của nàng vẫn trở lại đầy ám ảnh, đó chẳng phải là nhân duyên sao?
Hành trình về với cõi Phật trong Linh sơn đã được Nguyễn Công Cảnh so sánh với hành trình vượt 81 kiếp nạn của thầy trò Đường Tam Tạng trong Tây Du Ký của
Ngô Thừa Ân ở Luận văn Thạc sĩ của anh Và ngay chính tổng số 81 chương trong
Trang 37Linh sơn có lẽ cũng không phải là ngẫu hiên khi ứng với 81 kiếp nạn thầy trò Đường
Tăng phải trải qua để thành Phật Tuy nhiên như đã nói, yếu tố Phật giáo, biểu tượng
Thiền trong Linh sơn không đơn thuần chỉ là Phật pháp nguyên thủy mà đó là giáo lý
nhà Phật đã tồn tại song hành cùng sự phát triển của đất nước Trung Hoa “Việc di chuyển bằng đôi chân mang màu sắc hành hương chứa đựng quan niệm “đi đến tận cùng” theo quan điểm “thân có trải, tâm mới nghiệm” Quan niệm này còn thể hiện rất
rõ trong tác phẩm Tây du ký, ngoại trừ Đường Tam Tạng thì tất cả các đồ đệ đều có khả
năng cưỡi mây, vượt gió Nếu như Đức Phật chỉ muốn truyền lại chân kinh thì chỉ cần
ủy thác cho Tôn Hành Giả nhưng chính việc yêu cầu Đường Tăng vượt muôn ngàn khó khăn thử thách để sang Tây Trúc thỉnh kinh chứa đựng quan niệm “nhân duyên” trong giáo lí đại thừa.” [7, tr 61]
Bởi thế tính thực tế, tính bản địa của lý thuyết đó hết sức mạnh mẽ nhất là khi các giáo lý nhà Phật đặt trong bối cảnh Trung Hoa hiện đại phải trải đủ những thăng
trầm, cay đắng Khi ấy, Thiền trong Linh sơn đã tiến gần hơn tới phân tâm học, hai bộ
môn khác nhau về tính ứng dụng song lại gặp gỡ nhau ở nguyên lý: “Khi liên hệ Thiền với Phân tâm học phải bàn đến hai quy tắc truyền thống, cả hai đều đề cập đến nguyên
lý có liên quan đến bản chất của con người và sự rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh.” [28, tr 107], “Điều đầu tiên được đề cập đến là việc định hướng đạo đức chung của Thiền và Phân tâm học Điều kiện để đạt được mục tiêu này là vượt qua lòng tham, lòng tham sở hữu hay sự khoe khoang, hoặc lòng tham ở bất kỳ dạng thức nào [ ] Đây cũng chính là mục đích của Phân tâm học [ ] Cả Thiền và Phân tâm học hướng đến một cái gì đó vượt hơn đạo đức nên những mục đích của chúng cũng không thể được hoàn thành nếu sự chuyển biến về mặt đạo đức không diễn ra” [28, tr 166, 167]
Tuy nhiên, tín ngưỡng, tôn giáo trong văn hóa truyền thống Trung Hoa đâu chỉ
có Phật giáo hay Đạo giáo Hoa Hạ là một quốc gia rộng lớn trải rộng trên nhiều địa hình khác nhau, với nhiều dân tộc cùng sinh sống Tính đặc trưng của từng vùng miền
Trang 38đã làm nên tính riêng biệt, cá thể, biệt lập của từng tộc người trên cùng một mảnh đất Trung Hoa Và mỗi dân tộc đó họ lại lưu giữ cho riêng mình một bản sắc văn hóa riêng nói chung, tín ngưỡng tâm linh nói riêng
Đó là phong tục, văn chương thờ cúng của dân tộc Di vùng hồ Tào mà ta đã có
cơ hội may mắn tiếp xúc khi được một người ca sĩ thuộc dân tộc này dẫn vào trong núi
để tiếp xúc trực tiếp với không gian văn hóa, tín ngưỡng của con người nơi đây Và qua khoảng thời gian sống cùng, cảm nhận không gian văn hóa, tâm linh của người tộc Di
từ đời sống sinh hoạt, tế lễ đến những câu ca, lời hát phục vụ trực tiếp cho nghi lễ, tác giả đã mở rộng không gian tâm linh đến những khu vực khác để thấy rằng dẫu có thể khác nhau về địa bàn sinh sống thì họ vẫn có sự giao thoa văn hóa, tâm hồn
Hay đó là những bà đồng, bà cốt ta đã gặp, nàng đã dẫn ta đi hoặc mi và nàng bắt gặp điện thờ của bà ta trong căn nhà bà ta cho hai người trọ lại trên đường kiếm tìm
Linh sơn Hoặc rộng hơn là phong tục, văn hóa của đời sống tâm linh trong cách người
ta thờ thần lửa, thần nước, thờ mộc thần, sơn thần hoặc cách người thầy cúng già muốn lưu truyền, nhắn gửi tới hậu thế qua những lời rút ruột rút gan trước lúc ông lâm chung
về việc gìn giữ tục thờ cúng tổ tiên thời hiện đại
Đúng như Cao Hành Kiện từng nói “văn hóa Trung Quốc đã chan hòa trong dòng máu của tôi” [18, tr 689], ông đã luôn giữ bóng hình một Trung Hoa với lớp trầm tích văn hóa truyền thống đậm đặc như gìn giữ một Trung Quốc – cố quốc của riêng ông Bóng hình đó kéo dài từ không gian diễn xướng dân gian đến những câu chuyện thần thoại đến không gian văn hóa, tâm linh qua hệ thống tôn giáo, tư tưởng, tín ngưỡng Để rồi qua những câu chuyện tôn giáo, tín ngưỡng, tác giả gợi tới đời sống con người hiện đại, qua huyền thoại tác giả đề cập về hiện thực, mở rộng trường liên tưởng của bạn đọc về giá trị nhân sinh của con người trên bước đường kiếm tìm cái tôi,
Trang 39về mối quan hệ giữa tôn giáo, đạo và cuộc đời, giữa huyền thoại với giải huyền thoại
“Cho nên Đức Phật dạy mọi hình ảnh đều giả, không hình ảnh cũng giả.” [16, tr 170]
Đây cũng là điểm chung trong sáng tác của Cao Hành Kiện với những tác giả hải ngoại khác Dù xa rời tổ quốc nhưng họ vẫn mãi giữ hình ảnh một cố hương với tất
cả lớp trầm tích văn hóa đặc trưng, tươi đẹp Quả thực, với những con người lưu vong
xa xứ thứ cho họ bấu víu để giữ gìn bản thân căn tính, cội rễ không gì hơn là văn hóa,
mà văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất thì tôn giáo, tín ngưỡng chính là phần nuôi dưỡng tâm hồn để hồn người tìm về nơi bình yên, thanh tịnh, cổ xưa
2.1.3 Lớp trầm tích phong tục tập quán
Cùng với đặc trưng trong văn hóa diễn xướng những câu chuyện dân gian đậm chất huyền thoại và văn hóa tôn giáo tâm linh của mỗi dân tộc ở từng vùng miền, văn
hóa cổ truyền Trung Hoa ở Linh sơn còn được thể hiện trong phương diện phong tục
tập quán của từng tộc người, của từng nhóm cộng đồng xã hội Để độc giả thấy rằng cố quốc trong ký ức của Cao tiên sinh đâu chỉ là Bắc Kinh phồn hoa hay Thượng Hải hoa
lệ, Trung Quốc trước hết là lớp trầm tích văn hóa xưa cổ thể hiện ở nếp sinh hoạt, tập quán từng mảnh đất Càng đi sâu vào Trung Hoa đại lục, càng đến miền thâm sơn cùng cốc, càng tiếp xúc với những nhóm người, cộng đồng người mang tính đặc thù thì những nếp sinh hoạt đã tạo thành phong tục đó lại càng thêm rõ nét Phong tục là đặc trưng vùng miền và tất cả hợp lại tạo thành màu sắc đa dạng văn hóa cho một đất nước
có diện tích trải dài qua nhiều địa hình như Trung Hoa
Đó trước hết là phong tục riêng của những con người miền sơn cước Họ sống hàng năm trong núi sâu, nơi có khí hậu khắc nghiệt, cũng vì thế họ hình thành lên các tập tục trong sinh hoạt để có thể thích ứng với khí hậu, tồn tại truyền đời từ năm này sang năm khác Và miền sơn cước cũng là nơi sinh sống của những người dân tộc thiểu
số sống như tách biệt với thế giới phồn hoa đô hội Họ không chỉ gìn giữ, lưu truyền
Trang 40kho tàng văn học, tín ngưỡng dân gian mà còn lưu dấu những tập tục đặc sắc của con người miền núi Như người dân tộc Mèo với lễ hội đua thuyền ở Thi Động và đặc biệt
là những đêm tình, trai gái người Mèo hát tình ca rồi họ tìm đôi, kết cặp giữa ánh lửa bập bùng, tiếng hát văng vẳng vang xa “Tiếng khèn cất lên Cùng lúc, trong các lùm cây ở bờ sông, sau mỗi chiếc dù, các đôi nép vào nhau, ôm ấp, nằm ra giữa trời đất để đắm chìm vào thế giới của mình Thế giới ấy, như một truyền kỳ cổ xưa, quá là xa vời với thế giới của chúng ta.” [16, tr 247] Thậm chí ngay trong câu chuyện trên đường tới
Linh sơn của mi, bóng hình người đàn bà cài hoa đỏ cũng mang đậm màu sắc một
người sơn nữ dân tộc với nét đẹp hoang dại song cũng đầy sinh động, tinh tế Mà qua hình ảnh ấy, độc giả phần nào hình dung được không chỉ dáng vẻ mà còn là phong tục trong khía cạnh trang phục của một cô gái, phụ nữ người dân tộc thiểu số Trung Hoa
Tuy vậy, Linh sơn đâu chỉ có núi, đâu chỉ có mịt mù mây ngàn, đâu chỉ có dốc
đá cheo leo làm nản lòng người lữ khách và hành trình đi sâu vào lòng đại lục Trung
Quốc đâu chỉ là tới những làng bản nằm cao trên núi sâu Linh sơn còn là sông, là đầm
lầy, là sóng nước mênh mang, là những bờ vực nước cuộn xiết Bởi vậy, trang văn của Cao Hành Kiện ngoài việc thể hiện phong tục tập quán vùng sơn cước còn là phong tục tập quán vùng đầm lầy, sông nước Trung Hoa
Bên cạnh đấy, không thể không kể đến các vùng đất với những cộng đồng người
hết sức đặc thù xuất hiện trong Linh sơn Họ không phải là người dân tộc thiểu số
nhưng lại như sống biệt lập với thế giới bên ngoài Họ có nếp sinh hoạt và tạo lên phong tục riêng ngay trong chính cộng đồng hẹp của họ Đó là những người sống trong các khu bảo tồn tự nhiên, những khu tưởng niệm, bảo tàng Vì thế tại mỗi phân khu, họ lại có cách sống hòa mình vào tự nhiên, lại có cách bảo vệ riêng hay nảy sinh cảm tình riêng với loài động vật hoặc cảnh sắc mà họ gắn bó Như đời sống của con người nơi khu bảo tồn gấu trúc: “Ở trại, họ không có báo, không nghe phát thanh [ ] cái thế giới
ồn ã, quá xa vời với họ, đã ở lại trong thành phố” [16, tr 47]