1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học Mácxít từ cách tiếp cận lịch đại

7 263 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 103,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội, một hình thái ý thức xã hội, vì thế đương nhiên nó là sản phẩm của xã hội. Để nghiên cứu tôn giáo, xác định đối tượng và phương pháp nghiên cứu tôn giáo cần thiết phải bắt đầu từ cách tiếp cận lịch đại.

Trang 1

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA TÔN GIÁO HỌC MÁCXÍT TỪ CÁCH TIẾP CẬN LỊCH ĐẠI

Trần Đăng Sinh

Khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt Tôn giáo có lịch sử ra đời từ rất sớm gắn liền với các giai đoạn phát triển

của lịch sử loài người Mỗi giai đoạn phát triển thường có một kiểu tôn giáo đặc

trưng phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của giai đoạn ấy Tôn giáo là một hiện

tượng lịch sử xã hội, một hình thái ý thức xã hội, vì thế đương nhiên nó là sản phẩm

của xã hội Để nghiên cứu tôn giáo, xác định đối tượng và phương pháp nghiên cứu

tôn giáo cần thiết phải bắt đầu từ cách tiếp cận lịch đại

Từ khóa: Tôn giáo, thời đại, tôn giáo học, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

của tôn giáo học

1 Mở đầu

Có nhiều cách tiếp cận đối tượng và phương pháp nghiên cứu tôn giáo Tôn giáo học mácxít là một cách tiếp cận trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đó chính là cách tiếp cận lịch đại Từ cách tiếp cận này, chúng ta có thể đưa ra một cách nhìn đầy đủ, chính xác, khách quan, khoa học về tôn giáo nói chung,

và đặc biệt là đối tượng và phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học mac xit

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Tôn giáo và thời đại

Tôn giáo ra đời cách đây khoảng 10 vạn năm Sự ra đời của tôn giáo gắn liền với sự

ra đời của người Homosapien (người thông minh) thời nguyên thủy Tôn giáo thời nguyên thủy là sự phản sự bất lực của con người trước sức mạnh của giới tự nhiên, sức mạnh ấy hàng ngày, hàng giờ thống trị lên cuộc sống của con người đang còn trong trạng thái mông muội và dã man Tôn giáo thời nguyên thủy là cách giải thích mang tính thần bí, hư ảo của con người về giới tự nhiên, và sau đó là về xã hội Tôn giáo thời nguyên thủy mang tính sơ khai, đa thần Nó tồn tại với các hình thức phong phú như tô - tem giáo, bái vật giáo, vật linh giáo, ma thuật giáo, sa man giáo, tín ngưỡng phồn thực, Chấm dứt tình trạng mông muội và dã man, loài người bước vào thời đại văn minh - thời đại với sự phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất, dẫn đến sự ra đời của giai cấp, của nhà nước, của khoa học,

Ngày nhận bài: 14-9-2012 Ngày chấp nhận đăng: 16-4-2013

Liên hệ: Trần Đăng Sinh, e-mail: trandangsinh@yahoo.com

Trang 2

Thời cổ đại gắn liền với sự ra đời và tồn tại của các nền văn minh cổ đại vào khoảng thiên niên kỉ thứ I TCN như Trung Quốc, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp-La Mã.Thời cổ đại cũng là thời đại bắt đầu hình thành và tồn tại của xã hội có giai cấp với chế độ chiếm hữu nô lệ, trong đó sự áp bức bóc lột của giai cấp chủ nô đối với nô lệ là vô cùng dã man, tàn bạo

Tôn giáo thời cổ đại có sự biến đổi, nó phản ánh sự biến đổi của xã hội Tôn giáo

đa thần không còn phù hợp với xã hội mà trong đó quyền lực tối cao thuộc về một người (vua, hoàng đế) đã nhường chỗ cho sự tồn tại của tôn giáo độc thần Các tôn giáo độc thần

ra đời gắn liền với sự ra đời của các quốc gia, dân tộc thời cổ đại Trong đó, một số tôn giáo dân tộc đã vượt qua khỏi biên giới của một quốc gia, dân tộc và lan tỏa, phát triển thành các tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới sau này như: đạo Phật, đạo Ki-tô, Thời kì này, nói như C.Mác: tôn giáo vừa là sự phản ánh hiện thực khốn cùng, đồng thời vừa là sự phản kháng chống lại hiện thực khốn cùng đó Mặt khác giai cấp thống trị cũng đã dùng tôn giáo làm công cụ thống trị quần chúng nhân dân, bảo vệ địa vị và lợi ích của mình, duy trì, ổn định trật tự xã hội

Thời Trung cổ ở châu Âu tồn tại khoảng 1000 năm gắn liền với sự tồn tại của xã hội phong kiến Nhà nước phong kiến ở châu Âu đã lấy ý thức tôn giáo làm hệ tư tưởng thống trị xã hội Ki-tô giáo giữ vai trò độc tôn và có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, triết học, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, Có thể nói đây là thời đại hoàng kim của tôn giáo (Ki-tô giáo) ở phương Tây Ở phương Đông chế độ phong kiến kéo dài mãi tới thế kỉ XVII, XVIII (Ấn Độ), và XIX đầu XX (Trung Quốc, Việt Nam) Tôn giáo được giai cấp địa chủ phong kiến đề cao, sử dụng làm công

cụ tinh thần nhằm duy trì trật tự xã hội phong kiến Thời Phục Hưng ở phương Tây (thế

kỉ XV đến XVI) là thời kì khủng hoảng tan dã của chế độ phong kiến, thời đại quá độ

từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản, thời tiền tư bản Tôn giáo (Ki-tô giáo đã có dấu hiệu khủng hoảng trước sự phát triển của tư tưởng khoa học, tư tưởng tự do tư sản Những phát minh khoa học có tính cách mạng trong nhận thức của Brunô, Côpécních, Galilê, được ví như “cuộc cách mạng trên bầu trời để chuẩn bị cho cuộc cách mạng trên mặt đất”

đã làm cho tôn giáo bị thất bại lần đầu tiên Chủ nghĩa hoài nghi tồn tại phổ biến, niềm tin tưởng một cách tuyệt đối vào Chúa, và những tín điều trong Kinh thánh bị phai nhạt Chân lí khoa học đã được dần sáng tỏ Brunô chết vẫn khẳng định: dù sao trái đất vẫn quay quanh mặt trời, trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ, Giai cấp tư sản đấu tranh đòi quyền tự do cho con người: tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm giàu, tự do hôn nhân, tư do ngôn luận, tư to tín ngưỡng tôn giáo, Điều đó làm cho vai trò của tôn giáo trong xã hội bị suy giảm đáng kể Hệ tư tưởng của giai cấp địa chủ phong kiến dần dần bị phá vỡ

Thời Cận đại ở phương Tây (thế kỉ XVII, XVIII, nửa đầu XIX) gắn liền với thành công của các cuộc cách mạng tư sản Cơ sở kinh tế của xã hội phong kiến bị phá vỡ, chủ nghĩa tư bản khẳng định vai trò thống trị của mình trong xã hội C.Mác cho rằng, giai cấp

tư sản đã dìm tất cả ánh hào quang của đạo đức phong kiến, sự thiêng liêng của tôn giáo phong kiến xuống dòng nước giá ngắt của lòng vị kỉ, và thay vào đó là lối trả tiền ngay không tình nghĩa Các cuộc cải cách tôn giáo do Lútthơ, Can Vanh lãnh đạo dẫn đến sự

ra đời của đạo Tin Lành (tôn giáo của của giai cấp tư sản) Tư tưởng khoa học, vô thần,

tư tưởng tự do tư sản phát triển khiến cho tôn giáo (Ki-tô giáo) lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái Các nhà tư tưởng tư sản cho rằng, tôn giáo là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khổ đau cho con người, cần phải loại trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã

Trang 3

hội Phoiơbắc cho rằng, không phải Chúa sinh ra con người mà chính con người đã sinh ra Chúa của mình, con người gắn cho Chúa tất cả những gì tốt đẹp nhất của con người như tình yêu thương, lòng bác ái, sự thông minh, tính nghiêm khắc, do đó bản chất của Chúa chính là bản chất của con người Theo C.Mác, sự phê phán tôn giáo đã được kết thúc bởi Phoiơbắc, ông đã có công khiến chủ nghĩa duy vật “trở lại ngôi vua” Tuy nhiên do bản chất thỏa hiệp của nó, sau khi giành được thắng lợi trong cách mạng, giai cấp tư sản lại thỏa hiệp với giai cấp địa chủ phong kiến, với giáo hội, nhà thờ quay lại đàn áp, bóc lột quần chúng nhân dân lao động đã từng là lực lượng cách mạng chủ yếu giúp cho sự thành công của giai cấp tư sản trước đó Chính vì thế, tôn giáo tưởng như thất bại hoàn toàn, nay lại có cơ hội khôi phục những cái đã mất trong cách mạng

Thời hiện đại được tính từ cuối thế kỉ XIX đến những năm 70 của thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến đỉnh cao của nó, trở thành chủ nghĩa đế quốc gây chiến tranh thế giới đe dọa nền văn minh nhân loại Giai cấp tư sản lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ chính trị phản động Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra một kỉ nguyên mới cho giai cấp vô sản, quần chúng nhân dân lao động và các dân tộc bị

áp áp bức bóc lột trên toàn thế giới Tư tưởng cách mạng, duy vật, vô thần phát triển mạnh góp phần làm lành mạnh đời sống tinh thần xã hội Con người được giác ngộ cách mạng tin tưởng vào một thiên đường có thực trên trái đất (chủ nghĩa cộng sản) chứ không phải là thiên đường sau khi chết Tình yêu thương, sự bình đẳng giữa người với người được thực hiện thông qua các chính sách xã hội và luật pháp ở các nước xã hội chủ nghĩa Thời hiện đại cũng là thời đại phát triển mạnh mẽ của khoa học - kĩ thuật hiện đại Những phát hiện mang tính “vạch thời đại” trong khoa học khiến cho nhận thức của loài người thay đổi sâu sắc Con người tin rằng, có thể hoàn toàn làm chủ, thống trị được tự nhiên với khoa học

và kĩ thuật hiện đại Con người không cần phải cầu xin Chúa hay các thần, thánh Do tư tưởng cách mạng, tư tưởng duy vật, vô thần, khoa học phát triển mạnh, tôn giáo vì thế

mà lâm vào thời kì khủng hoảng, thoái trào, tưởng như không còn đất sống Người ta đồn rằng “Chúa đã chết”, nhà thờ, chùa chiền vắng bóng người qua Tôn giáo được xem như đồng nghĩa với mê tín, dị đoan, lạc hậu và do đó cần bị loại khỏi đời sống xã hội Khoa học được coi như ánh sáng, đối lập với tôn giáo, ánh sáng soi tỏa đến đâu thì bóng tối bị xua tan tới đó Ít người tin vào những tín điều tôn giáo Có thể nói đây là sự thất bại lớn nhất trong lịch sử hình thành và tồn tại của tôn giáo

Từ những năm 70 của thế kỉ XX trở lại đây được coi là thời “hậu hiện đại” Thời đại này được đặc trưng bởi sự phát triển của cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ Thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ đã ảnh hưởng hết sức sâu sắc, trên quy mô toàn thế giới tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán,

Có nhiều quan điểm khác nhau về đặc trưng của thời đại ngày nay Có quan điểm cho rằng, thời đại ngày nay là thời đại tin học “Cuộc sống số” là đặc trưng của xã hội hiện đại Thành tựu của công nghệ tin học đã thẩm thấu và ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Không có một lĩnh vực nào của đời sống xã hội lại không chịu ảnh hưởng của tin học Lại có quan điểm cho rằng, thời đại ngày nay là thời đại của sinh học, thời đại của cuộc cách mạng xanh Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng xanh đã làm thay đổi rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống trong xã hội đương đại Việc phát hiện ra bản đồ gien người, nhân bản vô tính, đã tạo ra bước ngoặt trong nhận thức làm thay đổi sinh hoạt văn hóa, đạo đức, lối sống của con người Có quan điểm khác lại cho rằng, thời đại ngày nay

là thời đại của văn hóa và phát triển Văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực

Trang 4

của sự phát triển, là nền tảng của đời sống xã hội Chưa bao giờ các quốc gia, dân tộc trên thế giới lại có sự giao lưu, hội nhập và phát triển văn hóa cả chiều rộng lẫn chiều sâu như ngày nay Giá trị văn hóa của một dân tộc trở thành giá trị văn hóa của chung cả nhân loại Với tôn giáo, sau một thời gian dài tưởng chừng như không còn đất sống, nay lại có

xu hướng phục sinh, thậm chí phát triển với một sinh khí mới Các tôn giáo truyền thống

có xu hướng phục hồi, trên cơ sở canh tân, thích nghi, hội nhập để phát triển Xuất hiện rất nhiều loại hình “tôn giáo mới” tồn tại đan xen với các tôn giáo truyền thống ở cả những nước phát triển Các hiện tượng mê tín, mê tín dị đoan khá phổ biến trong xã hội Các hủ tục cũ chứa đựng những yếu tố mê tín có xu hướng được khôi phục Khắp nơi xuất hiện những người tự xưng là thầy, bà có thể mách bảo đoán định được tương lại, số phận của con người Hiện tượng cúng tế, lễ hội, xây sửa nơi thờ tự diễn ra trên phạm vi rộng, qui

mô lớn Người ta lại tin vào tái sinh, nghiệp kiếp, số phận, ngày tận thế, Trên cơ sở đó,

có quan điểm cho rằng thời đại ngày nay không phải là thời đại của khoa học, văn hóa mà

là thời đại của tôn giáo, rằng thế kỉ XXI là kỉ nguyên của tôn giáo, tôn giáo sẽ thay thế cái

mà khoa học chưa lí giải được

Những nhận định trên về đặc trưng của thời đại ngày nay từ các cách tiếp cận khác nhau cũng để chúng ta suy ngẫm Song rõ ràng là lịch sử của tôn giáo luôn gắn liền với lịch sử của nhân loại Tôn giáo trong các thời đại lịch sử khác nhau thì đều có một vai trò,

vị trí nhất định ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hộị

2.2 Đối tượng nghiên cứu của Tôn giáo học

Tôn giáo học là khoa học nghiên cứu về tôn giáo Thần học thời trung cổ không phải là khoa học về tôn giáo mà chỉ là sự nghiên cứu để nhằm lí giải, chứng minh cho sự tồn tại của Chúa, cho sự cứu rỗi của Chúa đối với con người, chứng minh cho tính đúng đắn của Kinh thánh, coi Kinh thánh là chân lí tối cao, tuyết đối Sự phê phán tôn giáo có tính lí luận và hệ thống được bắt đầu bởi các đại biểu của giai cấp tư sản ở phương Tây từ thời Phục hưng đến thời Cận đại Sự phê phán tôn giáo của giai cấp tư sản ở phương Tây được kết thúc bởi Phoiơbắc - nhà triết học Cổ điển Đức

Sau đó có rất nhiều công trình của các học giả tư sản nghiên cứu lịch sử của tôn giáo, tâm lí tôn giáo, mặt xã hội của tôn giáo và đạt được những thành tựu nhất định Hình thành lên ngành xã hội học tôn giáo, tâm lí học tôn giáo, đầu tiên ở phương Tây với các tên tuổi tiêu biểu như Tylor, Parsons, Durkheim, M.Weber,

Tôn giáo học mácxít do C.Mác và Ph.Ăngghen đặt nền móng, V.I.Lênin phát triển Tôn giáo học mácxít nghiên cứu tôn giáo trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tôn giáo được xem xét dưới góc độ là một hình thái ý thức xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội, phản ánh và chịu sự qui định của tồn tại xã hội Cùng với đó, tôn giáo còn được xem xét như là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm của xã hội, của con người C.Mác cho rằng, chính con người đã sản sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người Mỗi một giai đoạn lịch sử đều gắn với lịch sử các tôn giáo Tôn giáo học mácxít còn xem tôn giáo như một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng Tôn giáo có quan hệ hữu

cơ với các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như chính trị, triết học, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, khoa học,

Trên cơ sở xác đinh rõ đối tượng nghiên cứu, tôn giáo học mácxít nghiên cứu 3 nội dung lớn, đó là:

Trang 5

Thứ nhất,vấn đề lí luận chung về tôn giáo Tôn giáo học mácxít nghiên cứu những vấn đề mang tính lí luận như: nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò, tính chất của tôn giáo, xu hướng vận động và biến đổi của tôn giáo trong xã hội hiện đại,

Thứ hai,lịch sử các tôn giáo Các tôn giáo đều có quá trình hình thành, tồn tại, biến đổi của chúng Nghiên cứu lịch sử các tôn giáo, Tôn giáo học mácxít nghiên cứu các kiểu

và hình thức tôn giáo trong lịch sử Kiểu tôn giáo nguyên thủy với các hình thức phong phú như tô - tem giáo, bái vật giáo, vật linh giáo, sa man giáo, ma thuật giáo Kiểu tôn giáo dân tộc và các hình thức tín ngưỡng phổ biến ở Việt nam như đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo, tín ngưỡng thờ tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, Kiểu tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới như đạo Hin Đu, đạo Ki tô, đạo Ixlam, đạo Phật,

Thứ ba, những vấn đề thực tiễn tôn giáo Tôn giáo học mácxít nghiên cứu những vấn đề thực tiễn tôn giáo hiện nay như: quan điểm, đường lối của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách, pháp luật của nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, việc chấp hành chính sách tôn giáo của Đảng và chính phủ, công tác đối ngoại về vấn đề tôn giáo Các hiện tượng tôn giáo mới cũng là những nội dung được tôn giáo học mácxít

đề cập đến

2.3 Phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học

Trên cơ sở xác định rõ đối tượng và nội dung nghiên cứu, Tôn giáo học mácxít chỉ ra phương pháp nghiên cứu thích hợp nhất để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu tôn giáo Tôn giáo là hình thái ý thức thức xã hội phản ánh hiện thực vừa mang tính thần bí vừa mang tính “hư ảo”, xa hiện thực nhất, lại được bao phủ bởi tính thiêng nên cần

có một hệ thống phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học mácxít đương nhiên phải đảm bảo tính khách quan, khoa học, tính logic và tính hệ thống Phương pháp chung nhất để nghiên cứu tôn giáo là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phương pháp duy vật biện chứng là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật với phương pháp luận biện chứng Thế giới quan duy vật xem xét tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội, phản ánh và chịu sự qui định của tồn tại xã hội Con người, xã hội sản sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con người Phương pháp luận biện chứng xem xét tôn giáo trong quá trình hình thành, tồn tại, biến đổi của nó; trong sự tác động qua lại giữa tôn giáo với các hình thái

ý thức xã hội khác như triết học, chính trị, đạo đức, pháp quyền, nghệ thuật, khoa học, giữa các kiểu và hình thức tín ngưỡng, tôn giáo với nhau Phương pháp duy vật lịch sử là phương pháp vận dụng những nguyên tắc của phương pháp duy vật biện chứng để xem xét tôn giáo như một hiện tượng trong đời sống xã hội, gắn với xã hội qua các gia đoạn lịch

sử, một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng và chịu sự qui định của

cơ sở hạ tầng

Ngoài ra Tôn giáo học mácxít còn sử dụng hệ thống các phương pháp khoa học khác để nghiên cứu tôn giáo như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại, thống kê, điều tra xã hội học, phương pháp liên ngành, Phương pháp phân tích đi từ cái toàn diện đến cái cụ thể, xem tôn giáo như một chính thể gồm nhiều yếu tố, từ đó đi sâu phân tích từng yếu tố một Thí dụ, để hiểu được bản chất của tôn giáo là gì, ngoài việc xem tôn giáo như là một hình thái ý thức xã hội, một hiện tượng của đời sống xã hội cần phải chỉ ra kết cấu của tôn giáo Phải xem tôn giáo được tạo thành bởi các yếu tố nào? Hoặc nghiên cứu không gian thiêng (nơi thờ tự, cúng lễ) của một tổ chức tôn giáo cụ thể,

Trang 6

phải phân tích xem trong đó có những gì? Nếu là ngôi chùa của đạo Phật thì xem xét lần lượt các yếu tố, bộ phận từ ngoài vào trong gồm: tam quan, sân, vườn, tháp, chính điện, nhà đại bái, nhà tổ, Trong một yếu tố, bộ phận lại nên đi sâu tìm hiểu các chi tiết, bộ phận nhỏ trong đó Thí dụ như trong điện thờ Phật thì xem xét các pho tượng tử trên xuống dưới, từng pho một lại phải tìm hiểu lai lịch, xuất xứ, Sau khi phân tích rõ các yếu tố, bộ phận trong một chính thể thì dùng phương pháp tổng hợp để chỉ ra cái chung nhất mang tính phổ biến của chỉnh thể đó Phương pháp tổng hợp mang tính đối lập với phương pháp phân tích, đi từ cái bộ phận đến cái toàn thể Trên cơ cở có được kết quả từ sự phân tích, xem xét chi tiết các yếu tố, bộ phận cần phải tổng hợp, khái quát tất cả lại để thấy được cái bản chất, cái chung nhất của vấn đề nghiên cứu Vẫn thí dụ trên, sau khi nghiên cứu tất cả các yếu tố, bộ phận tạo lên ngôi chùa Phật với tư cách là một chỉnh thể, ta đưa ra nhận xét, kết luận chung: đó là chùa thuộc tông phái Phật giáo nào? Đại thừa hay tiểu thừa? Ngôi chùa đó được hình thành từ bao giờ? theo lối kiến trúc nào? Có vị trí và vai trò gì trong đời sống tâm linh tôn giáo của nhân dân?

Khi nghiên cứu tôn giáo cần phải biết so sánh giữa các tôn giáo này với tôn giáo khác trong các biểu hiện, chi tiết của chúng Chỉ có so sánh chúng ta mới hiểu được sự tương đồng và khác biệt giữa các tôn giáo hoặc giữa các bộ phận cấu thành của một tôn giáo Thí dụ, nghiên cứ đạo Phật ta không chỉ thấy đạo Phật là một tổ chức tôn giáo thế giới mà còn phải biết đạo Phật có sự thống nhất trong tính đa dạng của nó Để biết tính

đa dạng của nó ta nên so sánh sự khác nhau giữa đạo Phật ở quốc gia, dân tộc này với đạo Phật ở quốc gia, dân tộc khác, đạo Phật trong giai đoạn phát triển này với giai đoạn phát triển khác, giữa các tông phái của đạo Phật, Hoặc khi nghiên cứu đạo Ki-tô cũng cần phải so sánh sự khác nhau trong thuyết về sự sáng thế bởi Chúa của đạo Ki-tô có gì giống

và khác thuyết về sự sáng thế bởi thánh Ala của đạo Ixlam, Khi nghiên cứu tôn giáo cũng cần phải biết phân loại các kiểu và hình thức tôn giáo, các hình thức tín ngưỡng, các giáo phái, các dòng tu Có thể phân loại căn cứ vào đối tượng thờ cúng, vào nghi lễ thờ cúng, không gian thờ cúng, Thí dụ, để phân biệt các tôn giáo này với tôn giáo khác cần thấy sự khác nhau về không gian thờ cúng như đình, chùa, đền, miếu, am, nhà thờ Ki-tô giáo, nhà thờ đạo Tin lành, nhà thờ họ, thánh đường, thánh thất, Đồng thời cũng cần biết phân loại các hiện tượng trong đời sống tâm linh, tôn giáo, biết đâu là mê tín, tín ngưỡng, tôn giáo, đâu là chính đạo, đâu là dị giáo, tà đạo, Rồi cũng phải biết phân loại các tài liệu nghiên cứu, xem đâu là tài liệu bằng hiện vật, đâu là tài liệu bằng văn bản, các hình thức văn bản, tài liệu nào thì thích hợp với việc khai thác, bảo quản, cất giữ nào, Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học cũng rất cần thiết khi nghiên cứu tôn giáo Để hiểu rõ sinh hoạt tôn giáo cần thiết phải có số lượng thống kê số tín đồ của mỗi tôn giáo, số tần xuất tham gia các lễ hội, sinh hoạt tôn giáo, số lượng các cơ sở thờ tự như chùa, đình, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, của mỗi tôn giáo Cũng cần phát phiếu điều tra để nắm được các thông tin đối với nhu cầu tâm linh tôn giáo của các tầng lớp cư dân Hiện nay

ở các nước phát triển phương pháp điều tra xã hội học được sử dung tương đối phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội chứ không chỉ riêng trong lĩnh vực tôn giáo

Để nghiên cứu tôn giáo có hiệu quả cần phải sử dụng phương pháp liên ngành Bản thân tôn giáo không tồn tại độc lập, nó tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ với các hình thái

ý thức xẫ hội khác, với các yếu tố của kiến trúc thượng tầng khác, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Do vậy, Tôn giáo học mácxít thường sử dụng thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học khác như sử học, dân tộc học, khảo cổ học, nhân học, tâm lí học, ngôn ngữ học, văn hóa học, để nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo Thí dụ như khi nghiên cứu

Trang 7

Phật giáo thời Lý - Trần không thể không dựa trên kết quả nghiên cứu của khoa học lịch

sử về thời đại đó Việc Lý Công Uẩn lên ngôi và quyết định rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long có liên quan tới cả sự phát triển của quốc gia Đại Việt và cả sự ảnh hưởng của Phật giáo

Nói tóm lại, phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học mácxít rất phong phú đa dạng Song thường không chỉ sử dụng một phương pháp mà sử dụng nhiều phương pháp, không có phương pháp nào là tuyệt đối, tối ưu Tùy theo từng đối tượng, hoàn cảnh, điều kiện để sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp Mục đích nghiên cứu đạt được là thực tiễn cho biết sử dụng phương pháp nghiên cứu có đúng và phù hợp hay không

Tôn giáo là một vấn đề không dễ nghiên cứu, sự thành công của người nghiên cứu không chỉ thuần túy phụ thuộc và phương pháp nghiên cứu khoa học mà còn đòi hỏi người nghiên cứu có hội tủ mọi tố chất cần thiết khác như: có điều kiện thuận lợi, có ý thức nghiêm túc và lòng say mê nghiên cứu

3 Kết luận

Như vậy, từ cách tiếp cận lịch đại chúng ta dễ dàng xác định được đối tượng và phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học mácxít Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một trong nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu tôn giáo Trong lịch sử, hiện tại và trong tương lai, tôn giáo đã, đang và sẽ còn tồn tại lâu dài, để có cách ứng xử phù hợp với tôn giáo cũng nên chú ý cách tiếp cận lịch đại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1997 Thông tin KHXH - chuyên đề tôn giáo và đời sống hiện đại Tập 1,2, Hà Nội

[2] C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 [3] C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 [4] C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 [5] Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2004 Pháp lệnh tôn giáo Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

[6] Thông tin khoa học chuyên đề, 1997-1998, Tôn giáo và đời sống hiện đại, Tập 1, 2, 3,

Hà Nội

ABSTRACT The object and method of Religious Marxist from diachronic approach

Religion appears very early associated with the other stages of development of hu-man history Each stage of development is often a characteristic type of religion which reflects the economic-society conditions of this period Religion is a social phenomenon,

a form of social consciousness, so, it is a product of society For religious studies, the defining object and method of marxist religious is so necessary and that begins from diachronic approach

Ngày đăng: 13/11/2020, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w