Mục đích của bài viết là cung cấp một nghiên cứu có hệ thống về các phương tiện ngôn ngữ biểu thị mối quan hệ so sánh của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Từ đó làm sáng tỏ thêm nét đặc sắc của ngôn ngữ hai dân tộc trong sử dụng phương tiện diễn đạt liên quan đến quan hệ so sánh.
Trang 1NGHIÊN CỨU PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ
THỂ HIỆN QUAN HỆ SO SÁNH TRONG TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH
Võ Th Dung
Trường Đại học Quảng Bình
mang nhiều ñặc trưng riêng và ñược ví như “di sản văn
hóa tinh thần” của mỗi dân tộc về mặt trí tuệ, tình cảm
và nghệ thuật biểu hiện trong các hoạt ñộng từ vật chất
ñến tinh thần Với ngôn từ giản ñơn, diễn ñạt ngắn gọn,
có vần ñiệu và giàu sắc thái biểu cảm nên tục ngữ luôn
ñược sử dụng và lưu truyền qua nhiều thế hệ
Mục ñích của bài viết là cung cấp một nghiên cứu
có hệ thống về các phương tiện ngôn ngữ biểu thị mối
quan hệ so sánh của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh
Từ ñó làm sáng tỏ thêm nét ñặc sắc của ngôn ngữ hai
dân tộc trong sử dụng phương tiện diễn ñạt liên quan
ñến quan hệ so sánh Trên thực tế, kết quả nghiên cứu
sẽ giúp cho sinh viên tiếng Anh có cái nhìn sâu sắc về
các phương tiện ngôn ngữ thể hiện quan hệ so sánh
của tục ngữ tiếng Anh cũng như của tiếng mẹ ñẻ nhằm
làm phong phú thêm vốn từ vựng và có sự hiểu biết tốt
hơn về ngôn ngữ và ñặc trưng văn hóa của ngôn ngữ ñó
T khóa: tục ngữ; phương tiện ngôn ngữ; quan hệ
so sánh
Abstract: Proverbs are brief popular sayings which
are handed down orally from generation to generation
They summed up a lot of distinguishing features and
seemed to be “spiritually cultural heritage” of each
nation about intelligence, feelings and expressive art in
a wide range of material and spiritual activities
The article is intended to provide a thorough and
systematic study on the expressive means of proverbs
denoting comparative relationships in both Vietnamese
and English Meanwhile, it is aimed at finding the
feature that Vietnamese and English share with and
different from each other in the use of expressive
means of proverbs relating to comparative
relationships In fact, the result is also intended to
enable students of English to have an insight into
expressive means of proverbs denoting comparative relationships in English as well as in their mother tongue so that they could enrich their vocabulary and have a better understanding of language and its culture they are learning
Key words: proverb; expressive mean; comparative relationship
I MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ là công cụ ñể con người giao tiếp và
tư duy Ngược lại, ngôn ngữ lại phản chiếu trong hình hài của mình những tâm lý, tình cảm, ñặc trưng văn hóa xã hội của cộng ñồng một cách có ý thức hay vô thức
Tục ngữ là “kho trí tuệ dân gian”, chuyển tải và lưu giữ những di sản văn hóa dân tộc Với ngôn từ
ngắn gọn, hàm súc, chắt lọc, “lời ít, ý nhiều”, tục
ngữ biểu hiện một cách tinh tế, sinh ñộng và ñầy hình tượng về cuộc sống, ñúc kết những kinh nghiệm, lời khuyên thâm thuý trong giáo dục ứng
xử, giao tiếp của mỗi cá nhân trong cộng ñồng xã hội Do vậy, tục ngữ là ñối tượng nghiên cứu của nhiều ngành như văn hóa dân gian, sử học, dân tộc học, tâm lý học, phong tục học, văn hóa học, ngôn ngữ học Vì lẽ ñó, nghiên cứu ñối chiếu tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh ñể lần tìm những nét tương ñồng và khác biệt trong các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện mối quan hệ so sánh là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong xu hướng hội nhập hiện nay, nhằm làm nổi rõ những giá trị, triết lý ngôn giao về ứng xử trong cuộc sống hàng ngày
ẩn chứa tục ngữ Đây cũng là cách tiếp cận có hiệu quả giúp người học hiểu rõ hơn những phong tục tập quán, ñặc trưng bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, nâng cao hiệu quả giao tiếp, ứng xử trong từng tình huống cụ thể
Để làm rõ vấn ñề ñang xét, chúng tôi ñi sâu
Trang 2phân tích, khảo sát ñối chiếu các phương tiện
ngôn ngữ biểu hiện quan hệ so sánh ở tục ngữ
tiếng Việt và tiếng Anh về ứng xử trong gia ñình
và xã hội nhằm lần tìm các mối quan hệ giữa hình
ảnh biểu ñạt và tư duy liên tưởng, giữa ngôn ngữ và
văn hóa, giữa cách nói và nếp nghĩ của hai dân tộc
II NỘI DUNG
Có nhiều khái niệm về so sánh của một số tác
giả tiêu biểu như Đinh Trọng Lạc (1997), Hoàng
Phê (2000) và Cù Đình Tú (2001) Nhưng chung
quy lại có thể hiểu, so sánh là phương thức diễn
ñạt khi lấy sự vật, hiện tượng này ñối chiếu với sự
vật, hiện tượng khác có thuộc tính chung (hoặc
một nét tương ñồng) nào ñó nhằm gợi ra hình ảnh
hay cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người
nghe hay người ñọc Trong ngôn ngữ, vế ñược so
sánh có một tiền giả ñịnh làm chuẩn mực nhưng
không ñồng nhất hoàn toàn với cái so sánh mà chỉ
dựa trên hình ảnh mà ngôn ngữ gợi ra [theo 7; tr
425-426]
Để xác ñịnh kiểu so sánh các câu tục ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi ñã tiến hành khảo cứu, phân tích tục ngữ ñược tạo nên bởi những yếu tố nào, mối quan hệ giữa các yếu tố ñó
ra sao trong câu tục ngữ, từ ñó mô hình hóa chúng bằng các ký hiệu Nếu quy ước A là yếu tố cần so sánh hay ñược so sánh, t là yếu tố thể hiện tính chất của sự vật hay trạng thái của hành ñộng, có vai trò nêu rõ phương diện so sánh, B là yếu tố ñược ñưa ra ñể so sánh, chúng tôi có mô hình tổng
quát: A – t (từ so sánh) – B
Trên cứ liệu ñược sưu tầm, chúng tôi tiến hành khảo sát các kiểu so sánh có trong tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh về ứng xử trong gia ñình và xã hội ñã cho kết quả: kiểu so sánh có ñầy ñủ bốn yếu tố hay lược bỏ một hay hai yếu tố ñều xuất hiện ở cả hai ngôn ngữ Ở tục ngữ tiếng Việt gồm
như , bằng, hơn, còn hơn, quá, không bằng, không
như và tiếng Anh: as as, as so, like, er than,
more than…
Bảng thống kê các dạng so sánh trong tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh:
Dạng so sánh
Tương ñương Không tương ñương
Cụ thể % Cụ thể %
1 Tiếng Việt 1.501 799 53,2 82 5.5
2 Tiếng Anh 969 290 29,9 126 13
Cụ thể % Cụ thể %
1 So sánh tương
ñương
A như B 71 4,7 24 2,5
4 So sánh không
tương ñương
A hơn/quá B 39 2,6 99 10,2
5 A không bằng/
thua kém B 43 2,9 27 2,8 Tổng cộng 881 58,7 416 42,9
1 So sánh tương ñương
1.1 Dạng A như B chiếm số lượng không nhiều
ở tục ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Kết cấu A như
B trong tục ngữ ngoài việc làm sáng tỏ nghĩa của
A trong mối liên hệ với B, ñiều ñược nói ñến ở A trở nên phổ biến, ví dụ:
Nói ñúng như gãi vào chỗ ngứa
Nói với người say như vay không trả
Trang 3Nói như phát, nhát như cheo
Gái lớn trong nhà như ma chửa cất
Chị em dâu như bầu nước lã, chị em gái như
cái nhân sâm
None so deaf as those who won’t hear
(Không ai ñiếc bằng những kẻ không muốn
nghe.)
A thief knows a thief as a wolf knows a wolf
(Suy bụng ta ra bụng người.)
The receiver is as bad as the thief
(Của biếu là của lo, của cho là của nợ.)
As the tree so the fruit
(Cây nào quả ấy.)
1.2 Dạng A, B lại khá phổ biến trong tục ngữ
cả hai ngôn ngữ, ñặc biệt ở tục ngữ tiếng Việt
Tuy vắng yếu tố so sánh, song nhờ cấu trúc sóng
ñôi chặt chẽ, có sự ñối lập về nghĩa giữa hai vế
nên câu tục ngữ vẫn mang sắc thái so sánh
Lời nói, gói bạc
Thở ra khói, nói ra lời.
Một lời nói, một ñọi máu
Ăn lúc ñói, nói lúc say
Ăn lắm thì hết miếng ngon, nói lắm thì hết lời
khôn hoá rồ
A honey tongue, a heart of gall.
(Miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm./Khẩu phật, tâm xà.)
All covet, all lose
(Tham thì thâm.)
Fair without, foul (false) within
(Khẩu phật, tâm xà.)
Ở dạng này có khi A là yếu tố ñược nhấn mạnh,
cần ñược so sánh và B là yếu tố dùng ñể so sánh
nhưng có khi B là yếu tố ñược nhấn mạnh và A là
yếu tố ñưa ñẩy, dùng ñể so sánh Mối quan hệ A
và B chỉ là tương ñối và tuỳ vào hoàn cảnh giao
tiếp ứng xử cụ thể mà yếu tố A hay B ñược chú ý
nhấn mạnh Mặt khác, sự tương ñồng giữa A và B chỉ là ở hình thức nhưng về bản chất chúng là
những hiện tượng khác loại: miệng bà ñồng/lồng
chim khướu; có mới/nới cũ; một miệng/hai lòng;
khó/khôn; honey tongue/heart of gall; few words/many deeds
1.3 Dạng A = B là kiểu loại nhấn mạnh ở yếu
tố A và yếu tố thể hiện quan hệ so sánh bằng chỉ mang tính ước ñịnh về nghệ thuật chứ không ở mặt số lượng Dạng này chiếm số lượng không nhiều trong tục ngữ tiếng Việt nhưng lại khá ña dạng, phong phú ở tục ngữ tiếng Anh
Một ñiều nhịn bằng chín ñiều lành
Một câu nói ngay bằng làm chay cả tháng
Có mẹ già bằng ba rào dậu
Promise is debt
(Hứa là nợ.)
Choose promise choose due (Nói lời thì giữ lấy lời, ñừng như con bướm ñậu rồi lại bay.)
A bargan is a bargan
(Đánh nhau ñong gạo, chào nhau ăn cơm.)
A good wife is a good price
(Gái ngoan làm quan cho chồng.)
Adversity brings wisdom
(Cái khó ló cái khôn.)
2 So sánh không tương ñương
2.1 Dạng A hơn B có yếu tố thể hiện so sánh
gồm: hơn, còn hơn, quá (tiếng Việt) và er than,
more than , better than, rather than, the
+ er the more, the more the more (tiếng Anh)
Lời nói ñau hơn roi vọt
Lưỡi sắc hơn gươm
Người sống hơn ñống vàng
Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng người
More praise than pudding
(Có tiếng còn hơn có miếng.)
Trang 4Better the foot slips than the tongue
(Sẩy chân còn hơn sẩy miệng.)
A good name is better than riches
(Tốt danh hơn lành áo.)
Put your hand no further than your sleeve will reach
(Liệu cơm, gắp mắm.)
Khác với các kiểu so sánh ở trên, kiểu so sánh
dạng A hơn B chỉ rõ sự kém của vế so sánh và
thường gặp ở câu tục ngữ có kết cấu sóng ñôi, có
sự ñối nghĩa giữa các yếu tố ñược so sánh như: nói
hay/làm giỏi ; hay làm/hay nói; nói ngay/nói dối;
tiền tài/nhân nghĩa; doing/saying ; do well/say
well ; earned/spent; name/rich; health/wealth Về
mặt nghĩa thì dạng so sánh này có trung tâm ngữ
nghĩa ở vế A dùng ñể nhấn mạnh hay khẳng ñịnh
ý chủ quan
2.2 Dạng A không bằng B thường sử dụng các
từ: không bằng, không như, cũng thua, chẳng tày
(tiếng Việt) và not as, no like; great no
(tiếng Anh) Đây là kiểu dùng cách phóng ñại ñể
so sánh và không thể ñảo ngược các vế với nhau
do hiểu sai ngữ nghĩa, ví dụ:
Đi buôn nói ngay không bằng ñi cày nói dối
Vạ tay không hay bằng vạ mồm
Mẹ ñánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng
Khéo bán khéo mua cũng thua người khéo nói
Đẹp người không bằng ñẹp nết
Cha chết không lo bằng con gái to trong nhà
Great barkers are no biters.
(Không sợ chó sủa, chỉ sợ chó cắn.)
There's no place like home
(Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù ñục ao nhà vẫn
hơn.)
Nothing stings like the truth
(Thuốc ñắng giả tật, nói thật mất lòng.)
No fool like an old fool
(Bạc ñầu còn dại.)
Như vậy, so sánh là một phương pháp nghệ thuật ñộc ñáo mang sắc thái riêng ở tục ngữ về ứng xử trong gia ñình và xã hội của người Việt và người Anh Đây là phương pháp chủ yếu nhằm diễn ñạt tư tưởng, tình cảm và là một cách cụ thể hoá những cái trừu tượng trong giao tiếp ứng xử hàng ngày Các sự vật so sánh trong vế A và vế B của câu tục ngữ bao giờ cũng có mối liên hệ nội tại, một liên tưởng về ý niệm bên trong
Kết quả khảo sát các cứ liệu (hơn 2.400 câu tục ngữ) thể hiện ở tục ngữ hai ngôn ngữ có cấu trúc
so sánh giống nhau: dạng A như B; A,B; A= B; A hơn B và A không bằng (thua, kém) B Tuy nhiên
sự lựa chọn ñối tượng biểu thị yếu tố ñược ñưa làm chuẩn ñể so sánh mang ñậm bản sắc dân tộc, thể hiện sự tri nhận về thế giới của người Việt và người Anh Các từ biểu thị cái so sánh ở vế B trong tục ngữ thường là những hình ảnh ñiển hình ñậm màu sắc dân tộc, qua ñó chúng ta thấy rõ dấu
ấn về ñời sống văn hóa tinh thần, vật chất, lối nói, cách nghĩ của người Việt và người Anh Trong khi
người Việt so sánh: Lưỡi mềm ñộc quá con ong;
Lời nói ñau hơn roi vọt; Miệng bà ñồng, lồng chim khướu; Lời nói quan tiền thúng thóc, lời nói dùi ñục cầm tay; Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối; Cho vàng không bằng trỏ ñàng ñi buôn; Hay chữ không bằng dữ ñòn; Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay thì người Anh lại sử
dụng: More praise than pudding (Có tiếng còn hơn có miếng.); None so deaf as those who won’t
hear (Không ai ñiếc bằng những kẻ không muốn
nghe.); Better to do well than to say well (Nói hay
chẳng tày làm giỏi.)
3 KẾT LUẬN
Tục ngữ ẩn chứa những giá trị văn hóa lâu ñời của mỗi dân tộc Do có những ñặc thù mang ý
nghĩa biểu trưng, tục ngữ “lời ít mà ý nhiều, giản dị
mà sâu sắc, cá biệt mà ñiển hình” [5; tr 37] Mỗi câu tục ngữ như là một tác phẩm hoàn chỉnh, tương ñối ñộc lập phản ánh lối nói, lối ứng xử và ñược cả cộng ñồng trong xã hội chấp nhận, qua ñó chúng ta khám phá những ñặc trưng văn hoá thú vị trong lối nói, cách sống, nếp nghĩ của mỗi dân tộc
Trang 5Phân tích ñối chiếu các phương tiện ngôn ngữ
biểu hiện quan hệ so sánh trong tục ngữ tiếng Việt
và tiếng Anh về ứng xử trong gia ñình và xã hội
cho thấy, khi diễn ñạt cả hai dân tộc sử dụng hình
ảnh so sánh, liên tưởng có tính biểu trưng cao
nhưng vẫn mang dáng vẻ riêng của văn hóa mỗi
cộng ñồng dân tộc Chẳng hạn, người Việt hay so
sánh ñối nghĩa giữa lời nói với việc làm, lời nói
dối với lời nói thật, lời nói thật với lời nói huyênh
hoang xảo trá, so sánh lời nói với các sự vật, con
vật gần gũi thân quen với cuộc sống hay tâm linh
như rồng, chim, mèo, bướm… Còn người Anh so
sánh với việc làm, vườn cây, hoa quả như Deeds
are fruits, words are leaves; A man of words and
not of deed is like a garden full of weeds
Như vậy, cùng phản ánh các mặt hoạt ñộng
trong cuộc sống cộng ñồng xã hội, tục ngữ của
người Việt có xu hướng thiên về khuyên răn con
người hoàn thiện về tinh thần Nhưng ở tục ngữ
của người Anh tính hiện thực cuộc sống vật chất
mà con người hướng tới ñược thể hiện rất rõ nét
Và những kinh nghiệm, những triết lý thể hiện
trong tục ngữ của cả hai dân tộc ñến nay vẫn còn
nguyên giá trị, vẫn ñược nhiều người tâm ñắc,
chiêm nghiệm và thấy chính mình qua từng câu
tục ngữ
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Phạm Văn Bình (1993), Tục ngữ nước Anh và
thành ngữ tiếng Anh giàu hình ảnh (quyển I), Nxb Hải Phòng
2 Chu Xuân Diên – Lương Văn Đang – Phương Tri
(1998), Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
3 Phan Thị Đào (1998), “Đặc ñiểm những câu có
dạng “A nào B nấy” trong tục ngữ Việt Nam”, Tạp chí
Văn hóa dân gian, H, (số 40), tr 80-83
4 Phan Thị Đào (2001), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ
Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế
5 Hoàng Văn Hành (2004), Thành ngữ học tiếng Việt,
Nxb Khoa học xã hội
6 Nguyễn Thái Hòa (1997), Tục ngữ Việt Nam, cấu
trúc và thi pháp, Nxb Khoa học xã hội, H
7 Hoàng Kim Ngọc (2001), So sánh và các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện quan hệ so sánh trong ca dao –
tục ngữ Việt Nam, Kỷ yếu Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ
Việt Nam
8 Hoàng Phê (2000), Từ ñiển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng
9 Phạm Văn Vĩnh chủ biên (2003), Tục ngữ so sánh,
Nxb Hà Nội
Tiếng Anh
10 Anne Bertram, NTC’s Dictionary of Proverbs and
Clichés, NTC Publishing Group
11 Mieder, W (1993), Proverbs are never out of
Season, Oxford University Press, London
12 Norrick, N.R (1989), Proverbial Linguistics:
Linguistic Perspective on Proverbs, University of Trier.