Bài viết này đặt vấn đề phân biệt các quán ngữ tình thái với các tổ hợp từ tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu. Áp dụng các thủ pháp phân tích ngôn ngữ, cải biến có thay đổi nghĩa và cải biến không thay đổi nghĩa, chúng tôi cố gắng tìm ra những dấu hiệu hình thức phân biệt quán ngữ tình thái với những tổ hợp tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu.
Trang 1VẤN ĐỀ BIỂU HIỆN TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT
VỚI VIỆC DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Đoàn Th Thu Hà
Trường Đại học Hà Nội
không xa lạ nhưng là lớp từ gây không ít khó khăn,
lúng túng cho những người làm công tác giảng dạy
tiếng Việt trong nhà trường nói chung và cho người dạy
tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng bởi tính ña dạng
và ña chức năng của nó Bài viết này ñặt vấn ñề phân
biệt các quán ngữ tình thái với các tổ hợp từ tự do có
cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu Áp dụng
các thủ pháp phân tích ngôn ngữ, cải biến có thay ñổi
nghĩa và cải biến không thay ñổi nghĩa, chúng tôi cố
gắng tìm ra những dấu hiệu hình thức phân biệt quán
ngữ tình thái với những tổ hợp tự do có cùng hình thức
và vị trí xuất hiện trong câu Hy vọng kết quả nghiên
cứu của bài viết là nguồn tham khảo hữu ích cho
những ai quan tâm ñến việc dạy và học tiếng Việt
Abstract: Vietnamese modal habitual collocations
are familiar functional group of words and frequently
used in daily language Teaching these phrases to both
native speakers and foreigners is a challenging task
due to the complex features in their meaning and use
This paper attemps to distinguish some modal habitual
collocations from propositional parts of sentences
where form and position are identical Applying analytic
procedure, meaning-preserving transformation and
meaning-changing transformation we try to figure out
some formal linguistic signs to distinguish modal
habitual collocations from phrases where form and
position are identical These findings can serve as a
reference to individuals who are teaching and learning
Vietnamese
1 Dạy tiếng Việt như một ngọai ngữ ñến trình
ñộ cao tất yếu phải dạy phương thức biểu hiện tình
thái (TT) Nếu không, người học sẽ không thể
hiểu ñược ñầy ñủ ý nghĩa của một phát ngôn, nhất
là trong khẩu ngữ
Trong tiếng Việt, các yếu tố ngôn ngữ dùng ñể
diễn ñạt các nội dung TT là rất ña dạng Chúng có cương vị ngôn ngữ học rất khác nhau, ñảm ñương những chức năng ngữ pháp khác nhau và ñược ñặt
ở những vị trí khác nhau trong câu1 Trong ñó, thường dùng hơn cả là các tiểu từ TT (còn gọi là
trợ từ TT) như: à, ư, nhỉ, nhé hoặc các cụm từ cố
ñịnh biểu thị ý nghĩa TT ñược gọi là quán ngữ tình
thái (QNTT) như: biết ñâu , không biết chừng,
kể ra , có khi , chả trách , ai bảo , gì thì gì , ñằng thẳng ra thì
Về tiểu từ TT ñã có nhiều nhà ngôn ngữ học, quan tâm và nghiên cứu khá tỷ mỷ Nhiều sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng ñã ñưa
thấy mấy người người ñề cập ñến, nhất là những trường hợp QNTT có hình thức cấu tạo và vị trí xuất hiện giống hệt một cụm từ thuộc thành phần ngôn liệu của câu
Ở ñây, chúng tôi xin trình bày một số suy nghĩ bước ñầu về vấn ñề này Khảo sát ý nghĩa và cách dùng QNTT là một ñề tài lớn, ñòi hỏi nghiên cứu công phu và dài hơi Trước mắt, chúng tôi chỉ muốn thông qua một vài ví dụ ñơn giản ñể gợi mở vấn ñề và trong chừng mực nào ñó ñể những
1Xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, Nxb Khoa học Xã hội, 1991; Nguyễn Văn Hiệp,
Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, 2008.
2Trần Thị Chung Toàn, Tiếng Việt cơ sở cho người Nhật,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000; Trần Văn Tiếng,
Jeon Hyae Kyeong, Tiếng Việt hội thoại (II) Sách học tiếng Việt cho người nước ngoài, Trường Đại học Ngoại
ngữ & Tin học Tp.Hồ Chí Minh, Trường Đại học Ngoại ngữ Seoul Hàn Quốc, 2004; Mai Ngọc Chừ (Chủ biên),
Quê Việt, Sách daỵ tiếng Việt, Trình ñộ A, Quyển 2, Nxb Thế Giới, 2007; Nguyễn Văn Huệ (Chủ biên), Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, Quyển 1, Quyển 4, Nxb
Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2008; Nguyễn Minh
Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt vui, Quyển 4 (Sách thử nghiệm), Nxb Thế giới, 2009; Đoàn Thiện Thuật (Chủ biên), Thực hành tiếng Việt, Sách dùng cho người nước ngoài, Trình ñộ B, Nxb Thế giới (Tái bản lần thứ 7), 2013
Trang 2người giảng dạy cùng chúng tôi phân ñịnh ñâu là
QNTT, ñâu không phải là QNTT, chẳng hạn trong
những trường hợp sau:
1a) - Tôi nghe nói cậu Nam lớp mình bị ngã xe
máy gãy chân phải vào viện bó bột
- Ai bảo nó phóng nhanh vượt ẩu Cho ñáng
ñời! (Ngữ liệu trực tiếp)
1b) - Chị vào ñi Ai bảo chị em ở ñây mà chị
biết ñể ñến tìm em?
- Ừ thì chị hỏi mẹ em (Ngữ liệu trực tiếp)
2a) - Ông cụ yếu lắm rồi Bác sĩ bảo có khi ông
ñi trong ñêm nay mất (Ngữ liệu trực tiếp)
2b) - Từ ngày ông cụ ốm Gia ñình tôi phải
thay phiên nhau vào trông cụ Có khi thì nhà tôi
vào, có khi thì tôi, có khi con gái tôi (Ngữ liệu
trực tiếp)
Các QNTT dạng này thì rất nhiều Do khuôn
khổ bài viết có hạn, trong bài này chúng tôi chỉ xét
ñến mấy QNTT sau: Kể ra , biết ñấy, Chả
trách , Ai bảo Áp dụng các thủ pháp chêm xen,
thay thế, chúng tôi cũng cố gắng tìm ra những dấu
hiệu hình thức phân biệt chúng với các tổ hợp từ
tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong
câu
2 Như chúng ta ñều biết, trong nghiên cứu Việt
ngữ, QN là kiểu ñơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi
quan tâm trước hết là của các nhà từ vựng học
Cho ñến nay, tuy chưa ñạt ñược một sự nhất trí
hoàn toàn về phạm vi các yếu tố ngôn ngữ ñược
gọi là QN nhưng về cơ bản, các nhà từ vựng học
ñồng tình với nhau ở một số ñặc ñiểm sau của
QN:
- Về mặt hình thức: QN là sự kết hợp của ít
nhất là hai tiếng với nhau; ñược dùng lặp ñi lặp lại
như những ñơn vị có sẵn; mang tính ổn ñịnh hoặc
tương ñối ổn ñịnh
- Về mặt nghĩa: QN có cả nghĩa ñen (có thể suy
ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành) hoặc nghĩa
bóng
- Về mặt chức năng: QN có chức năng ñưa ñẩy, rào ñón, nhấn mạnh, liên kết hoặc biểu thị các ý nghĩa TT Ngoài ra, QN cũng có thể có chức năng ñịnh danh (chỉ ra một số hành vi, phẩm chất, tính chất, trạng thái) Mỗi phong cách có những QN riêng [Xem Nguyễn Văn Tu 1968; Nguyễn Thiện Giáp 1975, 1985, 1996; Đỗ Hữu Châu 1981,
1986]
Trong ñịa hạt ngữ pháp, khái niệm này hầu như không xuất hiện một cách trực tiếp nhưng những
tổ hợp cụ thể thuộc trạm trù QN thì ñây ñó có ñược nhắc ñến với những tên gọi khác nhau như:
trạng tự chỉ sự hoài nghi 3 , trạng tự chỉ ý kiến 4,
phụ chú ngữ 5 , phụ ngữ câu chỉ ý kiến 6 ) tùy quan ñiểm và ñịnh hướng nghiên cứu của mỗi tác giả
3 Trong vòng khoảng hơn chục năm trở lại
ñây, khi mà ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học ñược giới thiệu một cách chính thức và rộng rãi ở Việt Nam, nhiều hiện tượng, nhiều vấn ñề của ngôn ngữ học ñã ñược nhìn nhận, ñánh giá lại một cách ñầy ñủ và thỏa ñáng hơn trong ñó có vấn ñề
TT Khả năng biểu thị ý nghĩa TT của các kiểu ñơn vị ngôn ngữ mà truyền thống vẫn quen gọi là
QN ñã bắt ñầu thu hút ñược các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Theo ñó, khái niệm QNTT bắt ñầu ñược nhiều người biết ñến Trong bài viết
này, QNTT ñược hiểu là những tổ hợp từ, những
lối nói ñã tạo thành những ñơn vị , khối hay khuôn
cấu trúc ổn ñịnh hoặc tương ñối ổn ñịnh ñược người nói dùng như một công cụ có công năng của những tác tử TT tác ñộng vào dung mệnh ñề (P- Proposition) theo một kiểu nào ñó Vai trò chủ yếu của chúng là tham gia vào TT (Modus) của câu, hành chức như một loại phương tiện bổ trợ,
3Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm (1940), Việt Nam văn phạm, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N
133 Rue de Coton, tr.126-128
4 Nguyễn Quang Oánh - Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim (1942),
Việt Nam văn phạm giáo khoa thư, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N 133-135 Rue de Coton, tr.112
5 Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nxb KHXH, tr 225
6 Diệp Quang Ban (1987), Câu ñơn tiếng Việt, Nxb ĐH và
THCN, tr.194.
Trang 3tác ñộng vào nội dung mệnh ñề, vào ý nghĩa của
chỉnh thể câu, ñưa vào câu những kiểu TT ñánh
giá, biểu cảm khác nhau của người nói ñối với nội
dung sự tình ñược thể hiện bằng mệnh ñề P, với
người nghe trong sự tác ñộng liên chủ thể giữa
những người tham gia giao tiếp cũng như với các
nhân tố khác của ngữ cảnh
4 Có thể nói, QNTT tiếng Việt là kiểu ñơn vị
ngôn ngữ rất phong phú, ña dạng về
hình thức cấu tạo nội tại Chúng có thể là: tổ
hợp từ có hình thức một câu (Chị tính P, bác biết
ñấy P, ), kết cấu danh ngữ (mỗi tội P, cái trò P,
thói ñời P , ), ñộng ngữ (ñược cái là P, ñã ñành P,
mới hay P , ), tính ngữ (ñúng hơn là P, may thay
P , ác một nỗi P, ), hoặc giới ngữ (Theo thì P,
như trên ñã nói thì P, ) Trong câu cũng không
có vị trí cố ñịnh dành cho QNTT Nghĩa là QNTT
có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau: ñầu câu
(ai bảo P, cái trò P, thói ñời P, mới biết P, );
giữa câu, liền sau chủ ngữ (chỉ ñược cái P, chỉ
mỗi tội P , chẳng qua P, ) hoặc cuối câu (P cũng
nên , P thì phải, P không biết chừng, ) tuy rằng vị
trí ñầu câu chiếm ưu thế hơn cả
Nghĩa của các QNTT là loại nghĩa nằm ở tầng
sâu, không hoàn toàn ñồng nhất với nghĩa bề mặt -
loại nghĩa có ñược bằng phép cộng nghĩa các
thành tố cấu thành tổ hợp Ngay cả ñối với trường
hợp các QNTT mà nghĩa của chúng thoạt nhìn
tưởng như vẫn còn nguyên nghĩa tự thân vốn có
nhưng kỳ thật ở ñây ñã có một sự chuyển biến sâu
xa về mặt nghĩa Nói rõ hơn, ở ñây chúng ñã tham
gia vào một cơ tầng ngữ nghĩa khác (không phải
là nghĩa mệnh ñề) và ñược dùng ñể làm nổi bật
một giá trị TT nào ñó của câu
5 Với những ñặc ñiểm về cấu tạo nội tại cũng
như khả năng phân bố vị trí trong câu như vậy, có
một câu hỏi không thể không ñặt ra: làm thế nào
ñể phân biệt những QNTT có hình thức cũng như
vị trí xuất hiện giống hệt một thành phần ngôn liệu
của câu như các ví dụ (1a), (1b), (2a), (2b) Đây là
những trường hợp gây không ít khó khăn, lúng
túng cho cả người dạy lẫn người học tiếng Việt như một ngoại ngoại ngữ Trong mục này, chúng tôi tiến hành phân tích ý nghĩa và cách dùng của
bốn QNTT ai bảo, biết ngay mà, có khi và chả
trách ñồng thời vận dụng các thủ pháp chêm xen,
thay thế nhằm tìm ra các dấu hiệu hình thức phân biệt chúng với các thành phần ngôn liệu của câu
có cùng hình thức và cùng vị trí xuất hiện
5.1 Kể ra P
Xét các câu sau:
(3) Thấm thoắt từng ấy năm rồi không một lá
thư, kể ra mình cũng tệ thật (KN 140)
(4) Nó lại nhìn mẹ Lại ñôi môi khô nứt và nhệch nhạc Lại ñôi mắt long sòng sọc Nó nghĩ
"Kể ra ñôi mắt mẹ cũng ñẹp, nhưng hình như
nhắm lại thì ñẹp hơn" (PT 128) (5) - Chị ñừng nên giấu kỹ trong lòng những
chuyện buồn Kể ra thì lòng chị sẽ nhẹ nhàng,
thanh thản hơn (Ngữ liệu trực tiếp)
Trong câu (3), (4) Kể ra có thể ñược lược bỏ
mà câu vẫn ñúng ngữ pháp và lọn nghĩa Còn
trong câu (5), Kể ra là một tổ hợp từ tự do, ñảm
nhiệm chức năng vị ngữ của mệnh ñề phụ của câu
ñiều kiện ẩn từ nếu và không thể lược bỏ ñược Với tư cách là một cụm từ tự do, ñộng từ kể có thể ñược thay thế bằng các ñộng từ nói, giãi bày, thổ
lộ mà không làm thay ñổi nghĩa sự tình của câu Đây là ñiều không thể thực hiện ñược với các câu (3), (4) nếu không muốn biến chúng thành những
câu kỳ quặc Tổ hợp từ kể ra trong hai ví dụ này
không thuộc vào thành phần ngôn liệu của câu, nhưng không phải là yếu tố dư thừa vô giá trị mà trái lại, sự có mặt của nó ñã bổ sung thêm cho câu những sắc thái, nét nghĩa mới thuộc về sự ñánh giá chủ quan của người nói ñối với nội dung mệnh
ñề P cũng như ñối với người tham gia giao tiếp Ở
ñây, ta có kiểu câu Kể ra + P, mà Kể ra là một
QNTT có ý nghĩa và cách dùng như sau:
- Đứng ở ñầu câu, ñầu phân câu, thường kết
hợp với phụ từ cũng tạo thành kết cấu
Trang 4Kể ra cũng P
- Giả ñịnh một suy nghĩ, quan ñiểm, ý kiến
trước ñó khác P hoặc thậm chí trái ngược P (ở
dạng hiện thực hoặc tiềm tàng) từ chính phía
người nói hoặc từ phía những người tham gia giao
tiếp
- Nói Kể ra P/ Kể ra cũng P, người nói
biểu thị ý xác nhận của mình ñối với tính thực hữu
của P mà người nói mới nhận ra hoặc mới thừa
tích cứ liệu, bằng chứng mà mình có ñược Tuy
nhiên, người nói vẫn ñể ngỏ cơ hội phản bác P
cho người ñối thoại
5.2 biết ñấy, P (P, biết (rồi) ñấy)
Xét các câu sau:
(6) - Chị cũng biết rồi ñấy, em nghèo, anh ấy
cũng nghèo, hai cái nghèo cộng lại thì chỉ có nước
cạp ñất mà sống thôi Ước mơ một túp lều tranh
hai trái tim vàng ñã trở nên lỗi thời rồi Sống bây
giờ là phải có tiền chị ạ (MChT 143)
(7) - Chuyện ñàn bà chúng tôi các anh biết ñấy
Ai ñến tuổi chẳng mong có một tấm chồng Chưa
có, người nó cứ chống chếnh lo lo ñến lạ (TTTN
I.201)
(8) - Chuyện em làm mất xe ñạp các anh biết
ñấy Em ñừng giấu nữa (Ngữ liệu trực tiếp)
Thoạt nhìn, (7) và (8) là những câu giống nhau
về cấu trúc (có bổ ngữ ñảo lên ñầu câu + chủ ngữ
+ ñộng từ vị ngữ) Thậm chí có thể cùng thêm phó
từ ñã (vào trước ñộng từ vị ngữ biết) và rồi vào
sau mà không làm thay ñổi nghĩa của bản thân kết
cấu và câu chứa chúng Nhưng xét kỹ thì không
phải như vậy
Câu (8) có thể ñược diễn giải như sau "Việc em
làm mất xe ñạp các anh (trong ñó có người nói) ñã
biết rồi chứ không phải là chưa biết như em nghĩ
Vì thế em không nên giấu nữa” Ở ñây, các anh
biết ñấy là một thành phần thuộc ngôn liệu câu
Động từ biết trong tổ hợp này có thể ñược thay thế
bằng một ñộng từ khác biểu thị kết quả của một sự
tri nhận (chẳng hạn: phát hiện ra, nhận ra ) mà
vẫn giữ nguyên nghĩa ban ñầu của câu Điều này không thực hiện ñược với các câu (6) và (7)
Thêm nữa, ở (6) và (7), ñứng trước biết chỉ có thể
là một ñại từ ở ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều) chứ không thể ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba
như ở (8) Mặc dù nghĩa của chị cũng biết rồi ñấy
và các anh biết ñấy có vẻ như là nghĩa có ñược từ
phép cộng nghĩa của từng thành tố cấu thành nhưng thực ra kết cấu này có ý nghĩa và cách dùng
không hoàn toàn giống với các anh biết ñấy trong
(8) Có thể giải thích vắn tắt QNTT này như sau:
- Thường ñứng ở ñầu câu, ñầu phân câu, dùng
trong khẩu ngữ
- Được dùng như một tác tử lập luận Giả
ñịnh sự tồn tại của một phát ngôn Q ở trước hoặc
sau câu có chứa biết ñấy Trong quan hệ với P,
Q là hệ quả tất yếu ñược rút ra từ P
- Người nói áp ñặt giả ñịnh P là ñiều mà
người nghe mặc nhiên ñã biết , ñã hiểu Người nói nhắc lại P không phải là sự lặp thừa vô ý mà là ñể lưu ý, chỉ hiệu cho người nghe hãy chú ý ñến P
với vai trò một luận cứ, một tiền ñề quan trọng lập luận của người nói Nếu người nghe ñã thừa nhận
P thì cũng mặc nhiên phải thừa nhận tính chân thực và hợp ñạo nghĩa của sự tình ñược nêu ra trong
phát ngôn Q theo ñúng ý ñồ giao tiếp của người nói
5.3 Chả trách P
Xét các câu sau:
(9) Anh thì cái gì cũng dễ dàng Vô tư thế chả
trách trẻ lâu (TTTN I 497)
(10) Con người ta khi có tài sản thì khó vô tư
thật Chả trách tính keo kiệt lại cứ hay rơi vào
anh nhà giàu (TTTN I 50)
(11) Chị làm thế, chả trách anh ấy ñược (Ngữ
liệu trực tiếp)
Xét về mặt hình thức thì tổ hợp chả trách là
một cụm ñộng từ ở dạng phủ ñịnh Trong câu (11),
Trang 5tổ hợp này đảm nhiệm chức năng vị ngữ, ở đĩ chả
cĩ thể được thay thế bằng khơng hoặc làm sao,
trách cĩ thể được thay bằng trách cứ, nĩi, phê
bình mà khơng làm câu bị mất hay sai nghĩa ban
đầu Nhưng trong các câu (9), (10), tổ hợp chả
trách khơng cịn là một tổ hợp cú pháp bình
thường thuộc về nội dung mệnh đề của câu như ở
câu (13) nữa mà đã trở thành một đơn vị chuyên
dụng biểu thị ý nghĩa TT Với tư cách QNTT, chả
trách là một khối cố định, khơng thể chêm xen,
thêm bớt bất kỳ thành tố nào vào trước, trong, sau
tổ hợp Nĩ cũng khơng chấp nhận cĩ một chủ thể
của hành động "trách" Nĩi cách khác, nĩ phải
được dùng ở dạng vơ ngơi QNTT này cĩ ý nghĩa
và cách dùng như sau:
- Thường đứng ở đầu câu, đầu phân câu, dùng
trong khẩu ngữ
- Luơn tiền giả định một câu Q đứng trước
Chả trách là dấu hiệu chỉ báo cho người nghe biết
trong quan hệ với P, Q là nguyên nhân, lý do mà
người nĩi cho là tất yếu dẫn đến P Xét về vị trí
xuất hiện trên văn bản hay dịng ngữ lưu thì Q ở
trước P nhưng xét về quá trình tri nhận thì P lại là
sự tình được tri nhận trước, cịn Q là điều mà
người nĩi mới nhận ra hoặc mới được biết và điều
này ít nhiều cĩ phần khác với suy nghĩ, dự đốn
trước đây của người nĩi Đặc trưng về cảnh huống
sử dụng này của QNTT chả trách giống với đặc
trưng cảnh huống sử dụng của các QNTT thảo
nào, hèn chi (hèn gì) và do đĩ chúng cĩ thể thay
thế được cho nhau
5.4 Ai bảo P
Xét các câu sau:
(12) - Thật tao chưa thấy đưa nào ngu đến mức
học chung với người yêu mà bày đặt nạt nộ quát
tháo như mày Mày đâu phải là thầy hiệu trưởng
hay giám thị!
- Tại nĩ chứ bộ! Ai bảo tao giảng hồi mà nĩ
cứ ngồi giương mắt ếch lên dịm tao chi!
(TrHV.126)
(13) - Cơ ả Nhung hơm nay phải phạt Cái tính
đố hơm qua chưa làm Cho đáng kiếp Ai bảo hỏi
Tri khơng chịu hỏi (TTNC 23) (14) Hạnh phúc chỉ là một cái chăn hẹp Người này co thì người kia bị hở Đâu phải tơi muốn tệ?
Nhưng biết làm sao được Ai bảo cuộc đời cứ khe
khắt vậy (TTNC 49) (15) - Người ta định về quê thì giữ người ta lại
- Ai bảo anh ở lại?
- Ai bảo ! Con chĩ bảo
- Anh bảo ai là chĩ Anh láo vừa chứ! (TTNC.53)
(16) - Này cơ Liên, thế cơ định theo cậu Tâm vào Sài Gịn thật đấy ư? Liên giật mình hốt hoảng:
- Thưa mẹ, ai bảo mẹ thế?
- Lại cịn ai bảo nữa Mà cần gì phải cĩ ai bảo tơi mới biết (TTTL.74)
(17) - Con nhỏ đĩ khinh người
- Ai bảo mày vậy?
- Cần gì ai bảo - Tơi nhếch mép - Nhà nĩ giàu, cịn nhà tao nghèo, đương nhiên là nĩ coi thường tao (TrHV 86)
Trong cả sáu câu trên, tổ hợp từ Ai bảo đều
xuất hiện ở vị trí đầu câu Tuy nhiên, chúng hồn tồn khơng giống nhau về ý nghĩa cũng như cách dùng Ở các câu (12), (13), (14), nếu lược bỏ tổ
hợp từ ai bảo, về cơ bản, phần cịn lại của câu vẫn
là một mệnh đề P trọn vẹn (đúng ngữ pháp và lọn
nghĩa) Ở đây, Ai bảo được dùng như một phương
tiện bổ sung các ý nghĩa TT khác thêm vào nội dung mệnh đề đi kèm Nĩ thực hiện vai trị, chức năng của một QNTT Về mặt hình thức cấu tạo
nội tại, động từ bảo khơng thể được thay bằng một
động từ khác cùng biểu thị các hành động nĩi
năng, chẳng hạn nĩi, kể, thơng báo, tiết lộ
QNTT này cũng khơng chấp nhận bất kỳ một sự chêm xen phĩ từ chỉ thời gian nào vào trước động
từ bảo Về mặt ngữ nghĩa, cĩ thể thấy yếu tố ai
Trang 6trong QNTT ai bảo ñã không còn có nghĩa của ñại
từ nghi vấn vốn có của nó nên kiểu câu có chứa
QNTT này không nhất thiết phải có hình thức hỏi
hoặc giả nếu có thì cũng không ñòi hỏi, yêu cầu sự
hồi ñáp, ñúng hơn là khó hoặc không thể ñưa ra
ñược câu trả lời Xét trong mối quan hệ với các
câu xung quanh câu có chứa QNTT ñang xét, có
thể thấy, liền trước hoặc liền sau câu có chứa
QNTT này thường là một hoặc nhiều hơn một câu
có nội dung mang nghĩa tiêu cực (tạm quy ước là
là hệ quả kéo theo một cách tất yếu từ P Nói một
cách rõ hơn, P theo người nói là cái nguyên cớ,
cái lẽ lý giải không thể phủ nhận ñược cho sự tình
nêu ở Q Theo ñó, các câu (12), (13), (14), chúng ta
lần lượt có Q như sau:
Q12) (tao) nạt nộ quát tháo (như mày nói)
Q13) Cô ả Nhung hôm nay phải phạt Cái tính
ñố hôm qua chưa làm Chưa làm là vì P -không
chịu hỏi Tri nên không làm ñược
Q14) Tôi không muốn hành xử tệ như vậy
Theo cách nhìn nhận, ñánh giá của chủ quan
người nói thì sự tình ñược nêu trong các câu này
ñều mang tính tiêu cực và lý do trực tiếp dẫn ñến
các sự tình này ñược người nói diễn ñạt bằng câu
có chứa QNTT ñang xét Nghĩa là tương ứng với
Q 12 , Q 13 , Q 14 chúng ta có các P:
P12) (vì) (Tao) giảng hoài mà nó cứ ngồi
giương mắt ếch lên dòm (tao)
P13) (vì) ñã không chịu hỏi Tri
P14) (vì) cuộc ñời vốn khắt khe
Từ những phân tích trên ñây, chúng ta có thể
ñưa ra một chú giải ngắn gọn ñặc ñiểm của QNTT
Ai bảo như sau:
- Thường ñứng ở ñầu câu, ñầu phân câu không
nhất thiết phải có hình thức hỏi
- Là một tổ hợp từ cố ñịnh, không thể chêm
xen, thêm bớt bất kỳ một thành tố nào
- Giả ñịnh sự tồn tại của câu Q ở trước Trong
quan hệ với câu Ai bảo P, thì Q là hệ quả tất yếu
của P
- Nói Ai bảo P, người nói muốn chỉ báo cho
người nghe biết cách nhìn nhận của mình ñối với
sự tình ñược diễn ñạt trong mệnh ñề P là có tính tiêu cực với hàm ý bác bỏ P, cho rằng P là không
nên, không hợp lý, không ñược phép Tùy hoàn cảnh giao tiếp mà câu sử dụng QNTT này có những lực ngôn trung (illocutinary force) và lực xuyên ngôn (perlocutionary force) khác nhau
Cũng vẫn là cụm từ Ai bảo, cũng xuất hiện ở
ñầu câu nhưng không phải là QNTT mà là tổ hợp
từ tự do, gồm ñại từ nghi vấn ai kết hợp với ñộng
từ bảo (trường hợp các câu (15), (16), (17) thì ai
hoàn toàn có thể thay thế bằng tổ hợp gồm một ñại
từ chỉ người kết hợp với một ñại từ nghi vấn
(người nào, ñứa nào, ông/ bà/ anh/ chị nào) hoặc thêm những vào trước ñại từ nghi vấn ai cũng như thay bảo bằng nói và chêm xen phó từ
thời gian ñã vào giữa tổ hợp Nghĩa là tổ hợp từ ai
bảo có thể ñược thay thế bằng nhiều tổ hợp từ
khác tương ñương mà nghĩa của câu chứa nó về
cơ bản không bị thay ñổi Chẳng hạn ở (16), câu:
"Thưa mẹ, ai bảo mẹ thế?" không khác gì về
nghĩa với câu: "Thưa mẹ, ai ñã nói (với) mẹ thế?"
Ở ñây, vì nghĩa của ñại từ nghi vấn ai vẫn ñược
giữ nguyên nên kiểu câu này nhất thiết phải có
hình thức hỏi, người nói muốn biết nguồn tin P
xuất phát từ ñâu, có ñáng tin cậy không Và về nguyên tắc, câu này ñòi hỏi phải có sự hồi ñáp từ phía người nghe nhằm trả lời cho tiêu ñiểm hỏi
ñược thể hiện bằng ñại từ nghi vấn ai
6 QNTT là lớp từ vốn không xa lạ nhưng lại
gây không ít khó khăn, lúng túng cho những người làm công tác giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường nói chung và cho người dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng Bất kỳ người bản ngữ nào không bị khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ, bằng tri thức tuyệt ñối về tiếng mẹ ñẻ, ñều có thể
sử dụng chúng ñể tạo ra các câu phù hợp với tập
Trang 7quán diễn ñạt của cộng ñồng ngôn ngữ của mình
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiển ngôn
hóa ñược một cách tường minh cái tri thức ñó cho
người khác hiểu, ñặc biệt cho ñối tượng người học
là người nước ngoài Bài báo này là một cố gắng
nhỏ góp phần thực hiện ñiều vừa nêu
Những phân tích, miêu tả trong bài cho thấy,
ñể có thể chỉ ra ñược sự khác biệt về ý nghĩa và
chức năng của QNTT với các tổ hợp từ tự do có
cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu nhất
thiết phải dựa vào ngữ cảnh sử dụng chúng, bao
gồm cả ngữ cảnh bên trong và bên ngoài ngôn ngữ
Nghĩa của các QNTT là loại nghĩa nằm ở tầng sâu,
không hoàn toàn ñồng nhất với nghĩa bề mặt - loại
nghĩa có ñược bằng cách ghép nghĩa các thành tố
cấu thành tổ hợp QNTT là kiểu ñơn vị ngôn ngữ
luôn hàm chứa sự tương tác xã hội Người bản
ngữ nào cũng có cảm thức tự nhiên về sự tương
tác này, thể hiện ở chỗ ngay khi nghe một câu có
sử dụng QNTT thì người bản ngữ ñã biết ngay
tình cảm, thái ñộ của người vừa nói ñối với nội
dung thông tin ñi kèm cũng như ñối với người
nghe, hiểu ngay những người tham gia giao tiếp
ñang ở trong tình huống tương tác kiểu gì Người
nước ngoài không thể có ñược tri thức này nếu
không ñược dạy Và ñể dạy ñược thì người dạy
phải hiểu về tiếng mẹ ñẻ của mình một cách tự
giác, có cơ sở khoa học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Diệp Quang Ban, Câu ñơn tiếng Việt, Nxb ĐH và
THCN, 1987
2 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 1981
3 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996
4 Nguyễn Thiện Giáp, Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1975
5 Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng tiếng Việt, Nxb Đại
học và Trung học Chuyên nghiệp, 1985
6 Nguyễn Thiện Giáp, Từ và nhận diện từ tiếng Việt,
Nxb Giáo dục, 1996
7 Nguyễn Thiện Giáp, Nghĩa học Việt ngữ, Nxb Giáo
dục Việt Nam, 2014
8 Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, Nxb KHXH, 1991
9 Nguyễn Văn Hiệp, Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, 2008
10 Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm, Việt Nam văn phạm, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N
133 Rue de Coton, 1940
11 Nguyễn Quang Oánh - Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim,
Việt Nam văn phạm giáo khoa thư, Lê Thăng xuất bản,
Imprimerie du Nord, N 133-135 Rue de Coton, 1942
12 Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nxb KHXH, 1964
13 Trường Đại học KHXH&NV - Viện Ngôn ngữ học,
Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,
Kỷ yếu Hội thảo, 1997
14 Nguyễn Văn Tu, Từ và vốn từ tiếng Việt hiện ñại,
Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1976
QUY ƯỚC VIẾT TẮT XUẤT XỨ
TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
KN: Kiếp người, Tập truyện Bùi Bình Thi, Nxb Hội
Nhà văn, 1996
MChT: Một chuyện tình, Khúc Thụy Du, Nxb Thời ñại,
2013
PT: Phù Thuỷ Hai mươi truyện mini, Nguyễn Thị
Ngọc Tú, Nxb Hội Nhà văn, 1996
TTNC: Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, 1977 TTTL: Tuyển tập Thạch Lam, Nxb Văn học, 1988 TTTN: Tuyển tập truyện ngắn các tác giả ñoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Tập I, Nxb Hội Nhà
văn, 1988
TrHV: Trại hoa vàng, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ Tp
Hồ Chí Minh, 2011