1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vấn đề biểu hiện tình thái trong tiếng Việt với việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

7 35 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 914,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này đặt vấn đề phân biệt các quán ngữ tình thái với các tổ hợp từ tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu. Áp dụng các thủ pháp phân tích ngôn ngữ, cải biến có thay đổi nghĩa và cải biến không thay đổi nghĩa, chúng tôi cố gắng tìm ra những dấu hiệu hình thức phân biệt quán ngữ tình thái với những tổ hợp tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu.

Trang 1

VẤN ĐỀ BIỂU HIỆN TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT

VỚI VIỆC DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Đoàn Th Thu Hà

Trường Đại học Hà Nội

không xa lạ nhưng là lớp từ gây không ít khó khăn,

lúng túng cho những người làm công tác giảng dạy

tiếng Việt trong nhà trường nói chung và cho người dạy

tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng bởi tính ña dạng

và ña chức năng của nó Bài viết này ñặt vấn ñề phân

biệt các quán ngữ tình thái với các tổ hợp từ tự do có

cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu Áp dụng

các thủ pháp phân tích ngôn ngữ, cải biến có thay ñổi

nghĩa và cải biến không thay ñổi nghĩa, chúng tôi cố

gắng tìm ra những dấu hiệu hình thức phân biệt quán

ngữ tình thái với những tổ hợp tự do có cùng hình thức

và vị trí xuất hiện trong câu Hy vọng kết quả nghiên

cứu của bài viết là nguồn tham khảo hữu ích cho

những ai quan tâm ñến việc dạy và học tiếng Việt

Abstract: Vietnamese modal habitual collocations

are familiar functional group of words and frequently

used in daily language Teaching these phrases to both

native speakers and foreigners is a challenging task

due to the complex features in their meaning and use

This paper attemps to distinguish some modal habitual

collocations from propositional parts of sentences

where form and position are identical Applying analytic

procedure, meaning-preserving transformation and

meaning-changing transformation we try to figure out

some formal linguistic signs to distinguish modal

habitual collocations from phrases where form and

position are identical These findings can serve as a

reference to individuals who are teaching and learning

Vietnamese

1 Dạy tiếng Việt như một ngọai ngữ ñến trình

ñộ cao tất yếu phải dạy phương thức biểu hiện tình

thái (TT) Nếu không, người học sẽ không thể

hiểu ñược ñầy ñủ ý nghĩa của một phát ngôn, nhất

là trong khẩu ngữ

Trong tiếng Việt, các yếu tố ngôn ngữ dùng ñể

diễn ñạt các nội dung TT là rất ña dạng Chúng có cương vị ngôn ngữ học rất khác nhau, ñảm ñương những chức năng ngữ pháp khác nhau và ñược ñặt

ở những vị trí khác nhau trong câu1 Trong ñó, thường dùng hơn cả là các tiểu từ TT (còn gọi là

trợ từ TT) như: à, ư, nhỉ, nhé hoặc các cụm từ cố

ñịnh biểu thị ý nghĩa TT ñược gọi là quán ngữ tình

thái (QNTT) như: biết ñâu , không biết chừng,

kể ra , có khi , chả trách , ai bảo , gì thì gì , ñằng thẳng ra thì

Về tiểu từ TT ñã có nhiều nhà ngôn ngữ học, quan tâm và nghiên cứu khá tỷ mỷ Nhiều sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng ñã ñưa

thấy mấy người người ñề cập ñến, nhất là những trường hợp QNTT có hình thức cấu tạo và vị trí xuất hiện giống hệt một cụm từ thuộc thành phần ngôn liệu của câu

Ở ñây, chúng tôi xin trình bày một số suy nghĩ bước ñầu về vấn ñề này Khảo sát ý nghĩa và cách dùng QNTT là một ñề tài lớn, ñòi hỏi nghiên cứu công phu và dài hơi Trước mắt, chúng tôi chỉ muốn thông qua một vài ví dụ ñơn giản ñể gợi mở vấn ñề và trong chừng mực nào ñó ñể những

1Xem Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, Nxb Khoa học Xã hội, 1991; Nguyễn Văn Hiệp,

Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, 2008.

2Trần Thị Chung Toàn, Tiếng Việt cơ sở cho người Nhật,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000; Trần Văn Tiếng,

Jeon Hyae Kyeong, Tiếng Việt hội thoại (II) Sách học tiếng Việt cho người nước ngoài, Trường Đại học Ngoại

ngữ & Tin học Tp.Hồ Chí Minh, Trường Đại học Ngoại ngữ Seoul Hàn Quốc, 2004; Mai Ngọc Chừ (Chủ biên),

Quê Việt, Sách daỵ tiếng Việt, Trình ñộ A, Quyển 2, Nxb Thế Giới, 2007; Nguyễn Văn Huệ (Chủ biên), Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài, Quyển 1, Quyển 4, Nxb

Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2008; Nguyễn Minh

Thuyết (Chủ biên), Tiếng Việt vui, Quyển 4 (Sách thử nghiệm), Nxb Thế giới, 2009; Đoàn Thiện Thuật (Chủ biên), Thực hành tiếng Việt, Sách dùng cho người nước ngoài, Trình ñộ B, Nxb Thế giới (Tái bản lần thứ 7), 2013

Trang 2

người giảng dạy cùng chúng tôi phân ñịnh ñâu là

QNTT, ñâu không phải là QNTT, chẳng hạn trong

những trường hợp sau:

1a) - Tôi nghe nói cậu Nam lớp mình bị ngã xe

máy gãy chân phải vào viện bó bột

- Ai bảo nó phóng nhanh vượt ẩu Cho ñáng

ñời! (Ngữ liệu trực tiếp)

1b) - Chị vào ñi Ai bảo chị em ở ñây mà chị

biết ñể ñến tìm em?

- Ừ thì chị hỏi mẹ em (Ngữ liệu trực tiếp)

2a) - Ông cụ yếu lắm rồi Bác sĩ bảo có khi ông

ñi trong ñêm nay mất (Ngữ liệu trực tiếp)

2b) - Từ ngày ông cụ ốm Gia ñình tôi phải

thay phiên nhau vào trông cụ Có khi thì nhà tôi

vào, có khi thì tôi, có khi con gái tôi (Ngữ liệu

trực tiếp)

Các QNTT dạng này thì rất nhiều Do khuôn

khổ bài viết có hạn, trong bài này chúng tôi chỉ xét

ñến mấy QNTT sau: Kể ra , biết ñấy, Chả

trách , Ai bảo Áp dụng các thủ pháp chêm xen,

thay thế, chúng tôi cũng cố gắng tìm ra những dấu

hiệu hình thức phân biệt chúng với các tổ hợp từ

tự do có cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong

câu

2 Như chúng ta ñều biết, trong nghiên cứu Việt

ngữ, QN là kiểu ñơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi

quan tâm trước hết là của các nhà từ vựng học

Cho ñến nay, tuy chưa ñạt ñược một sự nhất trí

hoàn toàn về phạm vi các yếu tố ngôn ngữ ñược

gọi là QN nhưng về cơ bản, các nhà từ vựng học

ñồng tình với nhau ở một số ñặc ñiểm sau của

QN:

- Về mặt hình thức: QN là sự kết hợp của ít

nhất là hai tiếng với nhau; ñược dùng lặp ñi lặp lại

như những ñơn vị có sẵn; mang tính ổn ñịnh hoặc

tương ñối ổn ñịnh

- Về mặt nghĩa: QN có cả nghĩa ñen (có thể suy

ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành) hoặc nghĩa

bóng

- Về mặt chức năng: QN có chức năng ñưa ñẩy, rào ñón, nhấn mạnh, liên kết hoặc biểu thị các ý nghĩa TT Ngoài ra, QN cũng có thể có chức năng ñịnh danh (chỉ ra một số hành vi, phẩm chất, tính chất, trạng thái) Mỗi phong cách có những QN riêng [Xem Nguyễn Văn Tu 1968; Nguyễn Thiện Giáp 1975, 1985, 1996; Đỗ Hữu Châu 1981,

1986]

Trong ñịa hạt ngữ pháp, khái niệm này hầu như không xuất hiện một cách trực tiếp nhưng những

tổ hợp cụ thể thuộc trạm trù QN thì ñây ñó có ñược nhắc ñến với những tên gọi khác nhau như:

trạng tự chỉ sự hoài nghi 3 , trạng tự chỉ ý kiến 4,

phụ chú ngữ 5 , phụ ngữ câu chỉ ý kiến 6 ) tùy quan ñiểm và ñịnh hướng nghiên cứu của mỗi tác giả

3 Trong vòng khoảng hơn chục năm trở lại

ñây, khi mà ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học ñược giới thiệu một cách chính thức và rộng rãi ở Việt Nam, nhiều hiện tượng, nhiều vấn ñề của ngôn ngữ học ñã ñược nhìn nhận, ñánh giá lại một cách ñầy ñủ và thỏa ñáng hơn trong ñó có vấn ñề

TT Khả năng biểu thị ý nghĩa TT của các kiểu ñơn vị ngôn ngữ mà truyền thống vẫn quen gọi là

QN ñã bắt ñầu thu hút ñược các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu Theo ñó, khái niệm QNTT bắt ñầu ñược nhiều người biết ñến Trong bài viết

này, QNTT ñược hiểu là những tổ hợp từ, những

lối nói ñã tạo thành những ñơn vị , khối hay khuôn

cấu trúc ổn ñịnh hoặc tương ñối ổn ñịnh ñược người nói dùng như một công cụ có công năng của những tác tử TT tác ñộng vào dung mệnh ñề (P- Proposition) theo một kiểu nào ñó Vai trò chủ yếu của chúng là tham gia vào TT (Modus) của câu, hành chức như một loại phương tiện bổ trợ,

3Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm (1940), Việt Nam văn phạm, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N

133 Rue de Coton, tr.126-128

4 Nguyễn Quang Oánh - Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim (1942),

Việt Nam văn phạm giáo khoa thư, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N 133-135 Rue de Coton, tr.112

5 Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nxb KHXH, tr 225

6 Diệp Quang Ban (1987), Câu ñơn tiếng Việt, Nxb ĐH và

THCN, tr.194.

Trang 3

tác ñộng vào nội dung mệnh ñề, vào ý nghĩa của

chỉnh thể câu, ñưa vào câu những kiểu TT ñánh

giá, biểu cảm khác nhau của người nói ñối với nội

dung sự tình ñược thể hiện bằng mệnh ñề P, với

người nghe trong sự tác ñộng liên chủ thể giữa

những người tham gia giao tiếp cũng như với các

nhân tố khác của ngữ cảnh

4 Có thể nói, QNTT tiếng Việt là kiểu ñơn vị

ngôn ngữ rất phong phú, ña dạng về

hình thức cấu tạo nội tại Chúng có thể là: tổ

hợp từ có hình thức một câu (Chị tính P, bác biết

ñấy P, ), kết cấu danh ngữ (mỗi tội P, cái trò P,

thói ñời P , ), ñộng ngữ (ñược cái là P, ñã ñành P,

mới hay P , ), tính ngữ (ñúng hơn là P, may thay

P , ác một nỗi P, ), hoặc giới ngữ (Theo thì P,

như trên ñã nói thì P, ) Trong câu cũng không

có vị trí cố ñịnh dành cho QNTT Nghĩa là QNTT

có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau: ñầu câu

(ai bảo P, cái trò P, thói ñời P, mới biết P, );

giữa câu, liền sau chủ ngữ (chỉ ñược cái P, chỉ

mỗi tội P , chẳng qua P, ) hoặc cuối câu (P cũng

nên , P thì phải, P không biết chừng, ) tuy rằng vị

trí ñầu câu chiếm ưu thế hơn cả

Nghĩa của các QNTT là loại nghĩa nằm ở tầng

sâu, không hoàn toàn ñồng nhất với nghĩa bề mặt -

loại nghĩa có ñược bằng phép cộng nghĩa các

thành tố cấu thành tổ hợp Ngay cả ñối với trường

hợp các QNTT mà nghĩa của chúng thoạt nhìn

tưởng như vẫn còn nguyên nghĩa tự thân vốn có

nhưng kỳ thật ở ñây ñã có một sự chuyển biến sâu

xa về mặt nghĩa Nói rõ hơn, ở ñây chúng ñã tham

gia vào một cơ tầng ngữ nghĩa khác (không phải

là nghĩa mệnh ñề) và ñược dùng ñể làm nổi bật

một giá trị TT nào ñó của câu

5 Với những ñặc ñiểm về cấu tạo nội tại cũng

như khả năng phân bố vị trí trong câu như vậy, có

một câu hỏi không thể không ñặt ra: làm thế nào

ñể phân biệt những QNTT có hình thức cũng như

vị trí xuất hiện giống hệt một thành phần ngôn liệu

của câu như các ví dụ (1a), (1b), (2a), (2b) Đây là

những trường hợp gây không ít khó khăn, lúng

túng cho cả người dạy lẫn người học tiếng Việt như một ngoại ngoại ngữ Trong mục này, chúng tôi tiến hành phân tích ý nghĩa và cách dùng của

bốn QNTT ai bảo, biết ngay mà, có khi và chả

trách ñồng thời vận dụng các thủ pháp chêm xen,

thay thế nhằm tìm ra các dấu hiệu hình thức phân biệt chúng với các thành phần ngôn liệu của câu

có cùng hình thức và cùng vị trí xuất hiện

5.1 Kể ra P

Xét các câu sau:

(3) Thấm thoắt từng ấy năm rồi không một lá

thư, kể ra mình cũng tệ thật (KN 140)

(4) Nó lại nhìn mẹ Lại ñôi môi khô nứt và nhệch nhạc Lại ñôi mắt long sòng sọc Nó nghĩ

"Kể ra ñôi mắt mẹ cũng ñẹp, nhưng hình như

nhắm lại thì ñẹp hơn" (PT 128) (5) - Chị ñừng nên giấu kỹ trong lòng những

chuyện buồn Kể ra thì lòng chị sẽ nhẹ nhàng,

thanh thản hơn (Ngữ liệu trực tiếp)

Trong câu (3), (4) Kể ra có thể ñược lược bỏ

mà câu vẫn ñúng ngữ pháp và lọn nghĩa Còn

trong câu (5), Kể ra là một tổ hợp từ tự do, ñảm

nhiệm chức năng vị ngữ của mệnh ñề phụ của câu

ñiều kiện ẩn từ nếu và không thể lược bỏ ñược Với tư cách là một cụm từ tự do, ñộng từ kể có thể ñược thay thế bằng các ñộng từ nói, giãi bày, thổ

lộ mà không làm thay ñổi nghĩa sự tình của câu Đây là ñiều không thể thực hiện ñược với các câu (3), (4) nếu không muốn biến chúng thành những

câu kỳ quặc Tổ hợp từ kể ra trong hai ví dụ này

không thuộc vào thành phần ngôn liệu của câu, nhưng không phải là yếu tố dư thừa vô giá trị mà trái lại, sự có mặt của nó ñã bổ sung thêm cho câu những sắc thái, nét nghĩa mới thuộc về sự ñánh giá chủ quan của người nói ñối với nội dung mệnh

ñề P cũng như ñối với người tham gia giao tiếp Ở

ñây, ta có kiểu câu Kể ra + P, mà Kể ra là một

QNTT có ý nghĩa và cách dùng như sau:

- Đứng ở ñầu câu, ñầu phân câu, thường kết

hợp với phụ từ cũng tạo thành kết cấu

Trang 4

Kể ra cũng P

- Giả ñịnh một suy nghĩ, quan ñiểm, ý kiến

trước ñó khác P hoặc thậm chí trái ngược P (ở

dạng hiện thực hoặc tiềm tàng) từ chính phía

người nói hoặc từ phía những người tham gia giao

tiếp

- Nói Kể ra P/ Kể ra cũng P, người nói

biểu thị ý xác nhận của mình ñối với tính thực hữu

của P mà người nói mới nhận ra hoặc mới thừa

tích cứ liệu, bằng chứng mà mình có ñược Tuy

nhiên, người nói vẫn ñể ngỏ cơ hội phản bác P

cho người ñối thoại

5.2 biết ñấy, P (P, biết (rồi) ñấy)

Xét các câu sau:

(6) - Chị cũng biết rồi ñấy, em nghèo, anh ấy

cũng nghèo, hai cái nghèo cộng lại thì chỉ có nước

cạp ñất mà sống thôi Ước mơ một túp lều tranh

hai trái tim vàng ñã trở nên lỗi thời rồi Sống bây

giờ là phải có tiền chị ạ (MChT 143)

(7) - Chuyện ñàn bà chúng tôi các anh biết ñấy

Ai ñến tuổi chẳng mong có một tấm chồng Chưa

có, người nó cứ chống chếnh lo lo ñến lạ (TTTN

I.201)

(8) - Chuyện em làm mất xe ñạp các anh biết

ñấy Em ñừng giấu nữa (Ngữ liệu trực tiếp)

Thoạt nhìn, (7) và (8) là những câu giống nhau

về cấu trúc (có bổ ngữ ñảo lên ñầu câu + chủ ngữ

+ ñộng từ vị ngữ) Thậm chí có thể cùng thêm phó

từ ñã (vào trước ñộng từ vị ngữ biết) và rồi vào

sau mà không làm thay ñổi nghĩa của bản thân kết

cấu và câu chứa chúng Nhưng xét kỹ thì không

phải như vậy

Câu (8) có thể ñược diễn giải như sau "Việc em

làm mất xe ñạp các anh (trong ñó có người nói) ñã

biết rồi chứ không phải là chưa biết như em nghĩ

Vì thế em không nên giấu nữa” Ở ñây, các anh

biết ñấy là một thành phần thuộc ngôn liệu câu

Động từ biết trong tổ hợp này có thể ñược thay thế

bằng một ñộng từ khác biểu thị kết quả của một sự

tri nhận (chẳng hạn: phát hiện ra, nhận ra ) mà

vẫn giữ nguyên nghĩa ban ñầu của câu Điều này không thực hiện ñược với các câu (6) và (7)

Thêm nữa, ở (6) và (7), ñứng trước biết chỉ có thể

là một ñại từ ở ngôi thứ hai (số ít hoặc số nhiều) chứ không thể ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba

như ở (8) Mặc dù nghĩa của chị cũng biết rồi ñấy

và các anh biết ñấy có vẻ như là nghĩa có ñược từ

phép cộng nghĩa của từng thành tố cấu thành nhưng thực ra kết cấu này có ý nghĩa và cách dùng

không hoàn toàn giống với các anh biết ñấy trong

(8) Có thể giải thích vắn tắt QNTT này như sau:

- Thường ñứng ở ñầu câu, ñầu phân câu, dùng

trong khẩu ngữ

- Được dùng như một tác tử lập luận Giả

ñịnh sự tồn tại của một phát ngôn Q ở trước hoặc

sau câu có chứa biết ñấy Trong quan hệ với P,

Q là hệ quả tất yếu ñược rút ra từ P

- Người nói áp ñặt giả ñịnh P là ñiều mà

người nghe mặc nhiên ñã biết , ñã hiểu Người nói nhắc lại P không phải là sự lặp thừa vô ý mà là ñể lưu ý, chỉ hiệu cho người nghe hãy chú ý ñến P

với vai trò một luận cứ, một tiền ñề quan trọng lập luận của người nói Nếu người nghe ñã thừa nhận

P thì cũng mặc nhiên phải thừa nhận tính chân thực và hợp ñạo nghĩa của sự tình ñược nêu ra trong

phát ngôn Q theo ñúng ý ñồ giao tiếp của người nói

5.3 Chả trách P

Xét các câu sau:

(9) Anh thì cái gì cũng dễ dàng Vô tư thế chả

trách trẻ lâu (TTTN I 497)

(10) Con người ta khi có tài sản thì khó vô tư

thật Chả trách tính keo kiệt lại cứ hay rơi vào

anh nhà giàu (TTTN I 50)

(11) Chị làm thế, chả trách anh ấy ñược (Ngữ

liệu trực tiếp)

Xét về mặt hình thức thì tổ hợp chả trách là

một cụm ñộng từ ở dạng phủ ñịnh Trong câu (11),

Trang 5

tổ hợp này đảm nhiệm chức năng vị ngữ, ở đĩ chả

cĩ thể được thay thế bằng khơng hoặc làm sao,

trách cĩ thể được thay bằng trách cứ, nĩi, phê

bình mà khơng làm câu bị mất hay sai nghĩa ban

đầu Nhưng trong các câu (9), (10), tổ hợp chả

trách khơng cịn là một tổ hợp cú pháp bình

thường thuộc về nội dung mệnh đề của câu như ở

câu (13) nữa mà đã trở thành một đơn vị chuyên

dụng biểu thị ý nghĩa TT Với tư cách QNTT, chả

trách là một khối cố định, khơng thể chêm xen,

thêm bớt bất kỳ thành tố nào vào trước, trong, sau

tổ hợp Nĩ cũng khơng chấp nhận cĩ một chủ thể

của hành động "trách" Nĩi cách khác, nĩ phải

được dùng ở dạng vơ ngơi QNTT này cĩ ý nghĩa

và cách dùng như sau:

- Thường đứng ở đầu câu, đầu phân câu, dùng

trong khẩu ngữ

- Luơn tiền giả định một câu Q đứng trước

Chả trách là dấu hiệu chỉ báo cho người nghe biết

trong quan hệ với P, Q là nguyên nhân, lý do mà

người nĩi cho là tất yếu dẫn đến P Xét về vị trí

xuất hiện trên văn bản hay dịng ngữ lưu thì Q ở

trước P nhưng xét về quá trình tri nhận thì P lại là

sự tình được tri nhận trước, cịn Q là điều mà

người nĩi mới nhận ra hoặc mới được biết và điều

này ít nhiều cĩ phần khác với suy nghĩ, dự đốn

trước đây của người nĩi Đặc trưng về cảnh huống

sử dụng này của QNTT chả trách giống với đặc

trưng cảnh huống sử dụng của các QNTT thảo

nào, hèn chi (hèn gì) và do đĩ chúng cĩ thể thay

thế được cho nhau

5.4 Ai bảo P

Xét các câu sau:

(12) - Thật tao chưa thấy đưa nào ngu đến mức

học chung với người yêu mà bày đặt nạt nộ quát

tháo như mày Mày đâu phải là thầy hiệu trưởng

hay giám thị!

- Tại nĩ chứ bộ! Ai bảo tao giảng hồi mà nĩ

cứ ngồi giương mắt ếch lên dịm tao chi!

(TrHV.126)

(13) - Cơ ả Nhung hơm nay phải phạt Cái tính

đố hơm qua chưa làm Cho đáng kiếp Ai bảo hỏi

Tri khơng chịu hỏi (TTNC 23) (14) Hạnh phúc chỉ là một cái chăn hẹp Người này co thì người kia bị hở Đâu phải tơi muốn tệ?

Nhưng biết làm sao được Ai bảo cuộc đời cứ khe

khắt vậy (TTNC 49) (15) - Người ta định về quê thì giữ người ta lại

- Ai bảo anh ở lại?

- Ai bảo ! Con chĩ bảo

- Anh bảo ai là chĩ Anh láo vừa chứ! (TTNC.53)

(16) - Này cơ Liên, thế cơ định theo cậu Tâm vào Sài Gịn thật đấy ư? Liên giật mình hốt hoảng:

- Thưa mẹ, ai bảo mẹ thế?

- Lại cịn ai bảo nữa Mà cần gì phải cĩ ai bảo tơi mới biết (TTTL.74)

(17) - Con nhỏ đĩ khinh người

- Ai bảo mày vậy?

- Cần gì ai bảo - Tơi nhếch mép - Nhà nĩ giàu, cịn nhà tao nghèo, đương nhiên là nĩ coi thường tao (TrHV 86)

Trong cả sáu câu trên, tổ hợp từ Ai bảo đều

xuất hiện ở vị trí đầu câu Tuy nhiên, chúng hồn tồn khơng giống nhau về ý nghĩa cũng như cách dùng Ở các câu (12), (13), (14), nếu lược bỏ tổ

hợp từ ai bảo, về cơ bản, phần cịn lại của câu vẫn

là một mệnh đề P trọn vẹn (đúng ngữ pháp và lọn

nghĩa) Ở đây, Ai bảo được dùng như một phương

tiện bổ sung các ý nghĩa TT khác thêm vào nội dung mệnh đề đi kèm Nĩ thực hiện vai trị, chức năng của một QNTT Về mặt hình thức cấu tạo

nội tại, động từ bảo khơng thể được thay bằng một

động từ khác cùng biểu thị các hành động nĩi

năng, chẳng hạn nĩi, kể, thơng báo, tiết lộ

QNTT này cũng khơng chấp nhận bất kỳ một sự chêm xen phĩ từ chỉ thời gian nào vào trước động

từ bảo Về mặt ngữ nghĩa, cĩ thể thấy yếu tố ai

Trang 6

trong QNTT ai bảo ñã không còn có nghĩa của ñại

từ nghi vấn vốn có của nó nên kiểu câu có chứa

QNTT này không nhất thiết phải có hình thức hỏi

hoặc giả nếu có thì cũng không ñòi hỏi, yêu cầu sự

hồi ñáp, ñúng hơn là khó hoặc không thể ñưa ra

ñược câu trả lời Xét trong mối quan hệ với các

câu xung quanh câu có chứa QNTT ñang xét, có

thể thấy, liền trước hoặc liền sau câu có chứa

QNTT này thường là một hoặc nhiều hơn một câu

có nội dung mang nghĩa tiêu cực (tạm quy ước là

là hệ quả kéo theo một cách tất yếu từ P Nói một

cách rõ hơn, P theo người nói là cái nguyên cớ,

cái lẽ lý giải không thể phủ nhận ñược cho sự tình

nêu ở Q Theo ñó, các câu (12), (13), (14), chúng ta

lần lượt có Q như sau:

Q12) (tao) nạt nộ quát tháo (như mày nói)

Q13) Cô ả Nhung hôm nay phải phạt Cái tính

ñố hôm qua chưa làm Chưa làm là vì P -không

chịu hỏi Tri nên không làm ñược

Q14) Tôi không muốn hành xử tệ như vậy

Theo cách nhìn nhận, ñánh giá của chủ quan

người nói thì sự tình ñược nêu trong các câu này

ñều mang tính tiêu cực và lý do trực tiếp dẫn ñến

các sự tình này ñược người nói diễn ñạt bằng câu

có chứa QNTT ñang xét Nghĩa là tương ứng với

Q 12 , Q 13 , Q 14 chúng ta có các P:

P12) (vì) (Tao) giảng hoài mà nó cứ ngồi

giương mắt ếch lên dòm (tao)

P13) (vì) ñã không chịu hỏi Tri

P14) (vì) cuộc ñời vốn khắt khe

Từ những phân tích trên ñây, chúng ta có thể

ñưa ra một chú giải ngắn gọn ñặc ñiểm của QNTT

Ai bảo như sau:

- Thường ñứng ở ñầu câu, ñầu phân câu không

nhất thiết phải có hình thức hỏi

- Là một tổ hợp từ cố ñịnh, không thể chêm

xen, thêm bớt bất kỳ một thành tố nào

- Giả ñịnh sự tồn tại của câu Q ở trước Trong

quan hệ với câu Ai bảo P, thì Q là hệ quả tất yếu

của P

- Nói Ai bảo P, người nói muốn chỉ báo cho

người nghe biết cách nhìn nhận của mình ñối với

sự tình ñược diễn ñạt trong mệnh ñề P là có tính tiêu cực với hàm ý bác bỏ P, cho rằng P là không

nên, không hợp lý, không ñược phép Tùy hoàn cảnh giao tiếp mà câu sử dụng QNTT này có những lực ngôn trung (illocutinary force) và lực xuyên ngôn (perlocutionary force) khác nhau

Cũng vẫn là cụm từ Ai bảo, cũng xuất hiện ở

ñầu câu nhưng không phải là QNTT mà là tổ hợp

từ tự do, gồm ñại từ nghi vấn ai kết hợp với ñộng

từ bảo (trường hợp các câu (15), (16), (17) thì ai

hoàn toàn có thể thay thế bằng tổ hợp gồm một ñại

từ chỉ người kết hợp với một ñại từ nghi vấn

(người nào, ñứa nào, ông/ bà/ anh/ chị nào) hoặc thêm những vào trước ñại từ nghi vấn ai cũng như thay bảo bằng nói và chêm xen phó từ

thời gian ñã vào giữa tổ hợp Nghĩa là tổ hợp từ ai

bảo có thể ñược thay thế bằng nhiều tổ hợp từ

khác tương ñương mà nghĩa của câu chứa nó về

cơ bản không bị thay ñổi Chẳng hạn ở (16), câu:

"Thưa mẹ, ai bảo mẹ thế?" không khác gì về

nghĩa với câu: "Thưa mẹ, ai ñã nói (với) mẹ thế?"

Ở ñây, vì nghĩa của ñại từ nghi vấn ai vẫn ñược

giữ nguyên nên kiểu câu này nhất thiết phải có

hình thức hỏi, người nói muốn biết nguồn tin P

xuất phát từ ñâu, có ñáng tin cậy không Và về nguyên tắc, câu này ñòi hỏi phải có sự hồi ñáp từ phía người nghe nhằm trả lời cho tiêu ñiểm hỏi

ñược thể hiện bằng ñại từ nghi vấn ai

6 QNTT là lớp từ vốn không xa lạ nhưng lại

gây không ít khó khăn, lúng túng cho những người làm công tác giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường nói chung và cho người dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng Bất kỳ người bản ngữ nào không bị khiếm khuyết về khả năng ngôn ngữ, bằng tri thức tuyệt ñối về tiếng mẹ ñẻ, ñều có thể

sử dụng chúng ñể tạo ra các câu phù hợp với tập

Trang 7

quán diễn ñạt của cộng ñồng ngôn ngữ của mình

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiển ngôn

hóa ñược một cách tường minh cái tri thức ñó cho

người khác hiểu, ñặc biệt cho ñối tượng người học

là người nước ngoài Bài báo này là một cố gắng

nhỏ góp phần thực hiện ñiều vừa nêu

Những phân tích, miêu tả trong bài cho thấy,

ñể có thể chỉ ra ñược sự khác biệt về ý nghĩa và

chức năng của QNTT với các tổ hợp từ tự do có

cùng hình thức và vị trí xuất hiện trong câu nhất

thiết phải dựa vào ngữ cảnh sử dụng chúng, bao

gồm cả ngữ cảnh bên trong và bên ngoài ngôn ngữ

Nghĩa của các QNTT là loại nghĩa nằm ở tầng sâu,

không hoàn toàn ñồng nhất với nghĩa bề mặt - loại

nghĩa có ñược bằng cách ghép nghĩa các thành tố

cấu thành tổ hợp QNTT là kiểu ñơn vị ngôn ngữ

luôn hàm chứa sự tương tác xã hội Người bản

ngữ nào cũng có cảm thức tự nhiên về sự tương

tác này, thể hiện ở chỗ ngay khi nghe một câu có

sử dụng QNTT thì người bản ngữ ñã biết ngay

tình cảm, thái ñộ của người vừa nói ñối với nội

dung thông tin ñi kèm cũng như ñối với người

nghe, hiểu ngay những người tham gia giao tiếp

ñang ở trong tình huống tương tác kiểu gì Người

nước ngoài không thể có ñược tri thức này nếu

không ñược dạy Và ñể dạy ñược thì người dạy

phải hiểu về tiếng mẹ ñẻ của mình một cách tự

giác, có cơ sở khoa học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Diệp Quang Ban, Câu ñơn tiếng Việt, Nxb ĐH và

THCN, 1987

2 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 1981

3 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội, 1996

4 Nguyễn Thiện Giáp, Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1975

5 Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng tiếng Việt, Nxb Đại

học và Trung học Chuyên nghiệp, 1985

6 Nguyễn Thiện Giáp, Từ và nhận diện từ tiếng Việt,

Nxb Giáo dục, 1996

7 Nguyễn Thiện Giáp, Nghĩa học Việt ngữ, Nxb Giáo

dục Việt Nam, 2014

8 Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Quyển 1, Nxb KHXH, 1991

9 Nguyễn Văn Hiệp, Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục, 2008

10 Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm, Việt Nam văn phạm, Lê Thăng xuất bản, Imprimerie du Nord, N

133 Rue de Coton, 1940

11 Nguyễn Quang Oánh - Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim,

Việt Nam văn phạm giáo khoa thư, Lê Thăng xuất bản,

Imprimerie du Nord, N 133-135 Rue de Coton, 1942

12 Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Tập 2, Nxb KHXH, 1964

13 Trường Đại học KHXH&NV - Viện Ngôn ngữ học,

Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài,

Kỷ yếu Hội thảo, 1997

14 Nguyễn Văn Tu, Từ và vốn từ tiếng Việt hiện ñại,

Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1976

QUY ƯỚC VIẾT TẮT XUẤT XỨ

TƯ LIỆU TRÍCH DẪN

KN: Kiếp người, Tập truyện Bùi Bình Thi, Nxb Hội

Nhà văn, 1996

MChT: Một chuyện tình, Khúc Thụy Du, Nxb Thời ñại,

2013

PT: Phù Thuỷ Hai mươi truyện mini, Nguyễn Thị

Ngọc Tú, Nxb Hội Nhà văn, 1996

TTNC: Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học, 1977 TTTL: Tuyển tập Thạch Lam, Nxb Văn học, 1988 TTTN: Tuyển tập truyện ngắn các tác giả ñoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Tập I, Nxb Hội Nhà

văn, 1988

TrHV: Trại hoa vàng, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ Tp

Hồ Chí Minh, 2011

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm