1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số nguyên tắc và phương pháp dạy nghe bản tin tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài

7 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 907,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đưa ra những quy luật, nguyên tắc và phương pháp dạy nghe bản tin, hi vọng có thể góp phần nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy kỹ năng này. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu.

Trang 1

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY NGHE BẢN TIN TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊN NƯỚC NGOÀI

Vũ Th Ngc Dung

Trường Đại học Hà Nội

Việt với nội dung chính là dạy nghe các bản tin có ý

nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng nghe,

nói, ñọc, viết và hiểu biết về văn hóa, xã hội Việt Nam

cho sinh viên nước ngoài

Đứng từ góc ñộ của người học, sinh viên muốn mở

rộng và nâng cao vốn từ ngữ của mình, và thông qua

các bản tin thời sự có thể hiểu ñược nội dung các vấn

ñề nổi trội ñang ñược quan tâm trong xã hội hiện tại

Đứng từ góc ñộ của người dạy, giáo viên luôn mong

muốn sinh viên có thể ôn tập, củng cố và phát triển

những kiến thức và kỹ năng về ngôn ngữ từ các loại

hình bài tập trong các hoạt ñộng triển khai bài giảng

trên lớp, trong quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ “sống”

rèn luyện cho sinh viên ngữ cảm về tiếng Việt, và trong

quá trình giảng dạy ngôn ngữ truyền ñạt ñược nhiều

nội dung liên quan ñến văn hóa, mở rộng kiến thức và

cái nhìn một cách toàn diện, thực tế về xã hội và văn

hóa Việt Nam

Môn Thực hành tiếng Nâng cao I, II có thể ñáp ứng

ñầy ñủ yêu cầu của việc dạy và học, có thể kết hợp

giữa việc rèn luyện kỹ năng và truyền ñạt kiến thức, có

thể giới thiệu cho người học nhiều nội dung về văn hóa

xã hội thông qua quá trình dạy ngôn ngữ một cách tự

nhiên Quá trình dạy nghe bản tin với nhiều phương

pháp cũng phù hợp với xu hướng phát triển áp dụng

công nghệ trong việc dạy và học ngoại ngữ Vì vậy,

chúng tôi mong muốn bước ñầu ñưa ra những quy luật,

nguyên tắc và phương pháp dạy nghe bản tin, hi vọng

có thể góp phần nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy

kỹ năng này

Summary: Teaching Listening to Vietnamese News

has a significant role in improving listening, speaking,

reading, and writing skills, as well as understanding of

Vietnamese culture and society of foreign students

From the learners’ point of view, they would like to

expand and upgrade their lexical resource, and through

news reports they can learn what current emerging issues in the Vietnamese society are From the teachers’ point of view, they expect that their students will be able to review, consolidate and expand their language knowledge and skills through diffent kinds of excercises in class, through access to daily-life language, and through teaching Vietnamese to expand students’ knowledge and understanding of Vietnamese culture and society

Listening to Vietnamese News Module can meet all requirements of teaching and learning It can be a combination between skill and knowledge training and provide learners a lot of cultural and social understanding through a natural way of teaching Teaching this module with different methods is also appropriate to the increasing trend of ICT application in teaching foreign languages Therefore, we expect to primarily introduce rules, principles, and methods in teaching listening to news and to gradually contribute

to improve the teaching effectiveness of this module

1 Ý nghĩa của việc dạy nghe bản tin

Kỹ năng Nghe bản tin tiếng Việt ñã và ñang trở thành một phần không thể thiếu của hệ thống các môn học nâng cao trong chương trình dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài của Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội Việc giảng dạy kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng nghe, nói, ñọc, viết và hiểu biết về văn hóa, xã hội Việt Nam cho sinh viên

Đứng từ góc ñộ của người học, ñối với những sinh viên ñã qua giai ñoạn học tiếng Việt nâng cao, hoặc ñối với những sinh viên vừa kết thúc giai ñoạn học tiếng Việt cơ sở, bắt ñầu bước vào giai ñoạn nâng cao, sau khi ñã nắm ñược một lượng lớn từ vựng cơ bản, họ muốn mở rộng vốn từ của mình nhanh hơn, nhiều hơn Khi nắm vững ñược các cấu trúc ngữ pháp cơ bản mà vẫn gặp phải

Trang 2

những hiện tượng ngữ pháp không thể lí giải ñược,

sinh viên muốn thông qua quá trình học tập thực

tiễn tăng thêm nhiều kiến thức về ngôn ngữ Sau

khi có những kiến thức nhất ñịnh về nghe, ñọc rồi

nhưng vẫn cảm thấy khó khăn ñối với các tài liệu

sử dụng ngôn ngữ thực tế như các bản tin, thì sinh

viên cũng có nhu cầu thông qua việc nghe, xem có

thể hiểu ñược nội dung các vấn ñề phổ biến trong

xã hội Đại ña số sinh viên có những trải nghiệm

văn hóa vượt ra khỏi phạm vi quốc gia mình thì

ñều có sở thích muốn mở rộng tầm mắt và kiến

thức, nên họ có nguyện vọng tha thiết ñược nghe

tin tức tiếng Việt Kỹ năng Nghe bản tin có thể

ñáp ứng nguyện vọng ñó của sinh viên, giúp họ

tiếp thu ñược, nâng cao ñược kiến thức và kỹ năng

nghe hiểu, và thông qua ñó hiểu thêm về văn hóa

Việt Nam, xã hội Việt Nam và con người Việt

Nam

Để phục vụ cho bài viết này, chúng tôi ñã tiến

hành ñiều tra “nhận ñịnh của sinh viên về vai trò

và ý nghĩa của việc nghe bản tin trong quá trình

học tiếng Việt” ñối với 100 sinh viên năm thứ 3

hiện ñang học tại khoa Việt Nam học Trong bài

ñiều tra, chúng tôi ñưa ra các câu hỏi với những

mức ñộ trả lời khác nhau, và sau ñây là kết quả:

1 Anh/chị có thích học nghe các bản tin thời sự

tiếng Việt không?

A Rất

thích

B Thích C Không

thích

D Hoàn toàn không thích

2 Anh/chị có thấy thời lượng của môn học Nghe

bản tin là phù hợp không?

A Rất phù

hợp B Phù hợp C Ít D Quá ít

3 Môn học này có quan trọng không?

A Rất

quan

trọng

B Quan

trọng

C Bình thường

D Không quan trọng

4 Anh/chị thấy tác dụng của môn học này ñối với việc nâng cao khả năng nghe tiếng Việt như thế nào?

A Rất hữu ích B Hữu ích C Bình thường D Không có tác dụng gì

5 Anh/chị thấy sau khi học môn này, vốn từ tiếng Việt của mình có tăng thêm nhiều không?

A Rất nhiều

B

Nhiều

C Không nhiều

D Không tăng thêm vốn từ

6 Sau khi học xong môn này, anh/chị có hiểu thêm nhiều vấn ñề về xã hội Việt Nam không?

A Hiểu rất nhiều

B Hiểu nhiều

C Hiểu rất ít

D Không hiểu

7 Tốc ñộ nói tiếng Việt trong các bản tin như thế nào?

A Rất nhanh

B Nhanh C Bình

thường

D Chậm

8 Phương pháp dạy môn học này của các thày, cô giáo khoa Việt Nam học có thú vị không?

A Rất thú vị B Thú vị C Không thú vị D Rất chán

9 Anh/chị cảm thấy môn học này khó hay dễ?

A Rất khó B Khó C Dễ D Rất dễ

Nhìn vào kết quả trên chúng ta thấy rằng, ñối với mỗi sinh viên nước ngoài ñã và ñang học tiếng Việt, kỹ năng này luôn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng Từ thời lượng, nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy, mức ñộ khó dễ ñều nhận ñược sự quan tâm lớn của sinh viên

Đứng từ góc ñộ của người dạy, giáo viên luôn mong muốn sinh viên có thể ôn tập, củng cố và

Trang 3

phát triển những kiến thức và kỹ năng về ngôn

ngữ từ các loại hình bài tập trong các hoạt ñộng

triển khai bài giảng trên lớp, trong quá trình tiếp

xúc với ngôn ngữ “sống” rèn luyện cho sinh viên

ngữ cảm về tiếng Việt, và trong quá trình giảng

dạy ngôn ngữ truyền ñạt ñược nhiều nội dung liên

quan ñến văn hóa, mở rộng kiến thức và cái nhìn

một cách toàn diện, thực tế về xã hội và văn hóa

Việt Nam Kỹ năng nghe bản tin là phù hợp với

mục ñích giảng dạy tiếng Việt ở giai ñoạn nâng

cao Các bản tin ñược phát với sự ña dạng về thể

loại, ñề tài ñã cung cấp một lượng lớn từ vựng,

cấu trúc câu và cách diễn ñạt sinh ñộng, phong

phú trong cuộc sống xã hội, không chỉ có thế, các

bản tin còn cung cấp thông tin mới nhất về hiện

thực xã hội và bối cảnh văn hóa, và ñó cũng là tài

liệu có giá trị thực tế nhất trong việc rèn luyện,

nâng cao khả năng tiếp thu và thấu hiểu ngôn ngữ

Kỹ năng nghe bản tin tiếng Việt có thể ñáp ứng

ñầy ñủ yêu cầu của việc dạy và học, có thể kết hợp

giữa việc rèn luyện kỹ năng và truyền ñạt kiến

thức, có thể giới thiệu cho người học nhiều nội

dung về văn hóa xã hội thông qua quá trình dạy

ngôn ngữ một cách tự nhiên Quá trình dạy nghe

bản tin với nhiều phương pháp cũng phù hợp với

xu hướng phát triển áp dụng công nghệ trong việc

dạy và học ngoại ngữ Vì vậy, chúng tôi mong

muốn bước ñầu ñưa ra những quy luật, nguyên tắc

và phương pháp dạy nghe bản tin, hi vọng có thể

góp phần nâng cao hiệu quả của việc giảng dạy

môn học này

2 Nguyên tắc của việc dạy nghe bản tin

2.1 Nguyên tắc thực tiễn

Nghe bản tin vừa rèn luyện ñược kỹ năng, vừa

cung cấp kiến thức về nhiều mảng của xã hội,

nhưng nó không phải là một môn học tổng hợp

thông thường, nó là một môn học rèn luyện kỹ

năng với những ñặc ñiểm nổi trội và mục ñích rõ

ràng Việc giảng dạy nên dựa trên nguyên tắc thực

tiễn, quá trình giảng dạy phải lấy người học làm

trung tâm, giáo viên có vai trò hướng dẫn, giúp ñỡ

người học luyện tập, phải làm cho người học hiểu

ñược những kiến thức liên quan, hướng dẫn cho

họ kỹ năng nghe với nhiều loại hình bài tập khác

nhau và luyện tập nhiều lần Người học phải ñược

“nghe bản tin” chứ không phải nghe thầy, cô

“giảng bản tin” Do tài liệu có liên quan vô cùng phong phú, nội dung rất ña dạng, lại có nhiều từ ngữ mang tính chất thời sự, những từ ngữ mới ñược lưu hành, và có nhiều hình thức lối nói quen dùng mang nội hàm văn hóa nhất ñịnh, giáo viên càng phải chú ý nhiều hơn, không nên chuyển từ giờ dạy ngôn ngữ thực tế sang tập trung dạy lý thuyết, ngữ âm… Sinh viên trong một khoảng thời gian rất ngắn phải nghe và nắm ñược nội dung thông tin, mức ñộ khó cao hơn rất nhiều so với các loại hình môn học khác Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải nói rõ với sinh viên về ñộ khó của các bài tập là ñương nhiên và rất hữu ích, gợi ý và hướng dẫn sinh viên xử lý các bài tập ñể hiệu quả giảng dạy ñược nâng cao

2.2 Nguyên tắc hiệu lực

Nguyên tắc hiệu lực bao gồm hiệu lực trong việc lựa chọn tài liệu và hiệu lực của việc giảng dạy

Tin tức mang tính hiệu lực rất cao, ñặc ñiểm này quyết ñịnh ñến việc lựa chọn tài liệu giảng dạy Sinh viên ñến lớp với mục ñích học tập và nắm vững kỹ năng nghe bản tin, cũng kèm theo mục ñích ñến ñể nghe tin tức thời sự Những bản tin hay, quan trọng, mới ñược cập nhật và có liên quan ñến người học có thể kích thích sự hứng thú

và cảm giác ñược ñáp ứng yêu cầu của họ, có thể khơi dậy sự nhiệt tình và tích cực của người học Những bản tin cũ, không liên quan ñến những gì

mà người học muốn quan tâm, tìm hiểu thì hiệu quả sẽ ngược lại Đối với những bản tin mới ñược cập nhật, tính hiệu lực cao, nếu những sinh viên nào quan tâm ñến vấn ñề thời sự thì họ ñã tìm kiếm thông tin liên quan ở các phương tiện thông tin ñại chúng bên ngoài, như vậy, khi lên lớp, họ

sẽ dễ dàng lĩnh hội, sau khi học xong, họ lại có thể

ñi sâu tìm hiểu, như vậy nội dung thông tin sẽ ñược cung cấp ñến người học không phải chỉ một lần Theo nguyên tắc này, phải thừa nhận rằng tính hiệu lực của bản tin và tính ổn ñịnh của tài liệu giảng dạy là có mâu thuẫn Người biên soạn tài liệu giảng dạy phải chú ý lựa chọn những bản

Trang 4

tin có tính hiệu lực lâu dài ñể ñưa vào giáo trình

Trong quá trình giảng dạy, giáo viên không nên

chỉ dựa vào giáo trình có sẵn, hãy bớt chút thời

gian nghe, tải về hoặc thu âm các bản tin trên ñài,

ti vi, truyền hình trực tuyến…, giới thiệu cho sinh

viên những ñoạn tin mới nhất làm tài liệu luyện

tập chủ yếu

Tính hiệu lực trong việc giảng dạy, cũng ñược

quyết ñịnh bởi nguyên tắc thực tiễn trong việc dạy

nghe bản tin Giáo viên nên lựa chọn những

phương pháp giảng dạy phù hợp, phân bố thời

gian hợp lý, không làm lãng phí thời gian trên lớp

của sinh viên, cũng không làm ảnh hưởng ñến thời

gian luyện tập sau khi nghe của sinh viên

2.3 Nguyên tắc kiến thức

Nguyên tắc kiến thức hay còn gọi là nguyên tắc

thông tin, bởi vì nghe bản tin chính là tiếp thu và

thấu hiểu kiến thức và thông tin Vấn ñề này yêu

cầu giáo viên trong quá trình giảng dạy phải cung

cấp lượng lớn thông tin cho sinh viên thông qua

việc rèn luyện khả năng tiếp thu, lý giải làm cho

họ nắm vững kiến thức và kỹ năng về ngôn ngữ,

hiểu biết về kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam

Theo nguyên tắc này, kỹ năng Nghe bản tin không

thể áp dụng phương pháp xử lý từng từ, từng ñoạn

như ở giai ñoạn cơ bản, mà phải kết hợp các ñoạn

tin theo nội dung của từng bài nghe Giáo viên có

thể cho sinh viên nghe theo lĩnh vực chủ ñề, hoặc

những ñoạn tin chuyên ñề (ví dụ, về chủ ñề các

dịch vụ xã hội giáo viên có thể cung cấp các ñoạn

tin liên quan ñến dịch vụ y tế, dịch vụ du lịch, dịch

vụ vui chơi giải trí…)

Tin tức là sự phản ảnh nhất ñịnh những vấn ñề

của xã hội, liên quan ñến sự phát triển và thay ñổi

trong ñời sống xã hội Muốn tiếp thu, nhận thức

và lý giải các chủ thể thông tin ñược ñưa ra trong

các bản tin thì phải nhận thức và lý giải ñược hoàn

cảnh văn hóa xã hội và các ñiều kiện hữu quan tạo

nên chủ thể thông tin ñó, cũng có nghĩa là những

kiến thức về bối cảnh có liên quan Vấn ñề này

yêu cầu giáo viên giảng giải những kiến thức liên

quan ñến bối cảnh của thông tin ñể giúp người học

xóa ñi những “ñiểm mù thông tin” hoặc rào cản

trong quá trình tìm hiểu, những rào cản do sự khác

biệt về các yếu tố văn hóa, ñể người học tiếp thu, nhận thức và lý giải chủ thể thông tin ñó tốt hơn Trên thực tế, giáo viên chính là “người dẫn dắt văn hóa” Ví dụ dịch vụ trông người ốm ở các bệnh viện, dịch vụ cho thuê chú rể, cuộc vận ñộng

“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, thưởng Tết, Việt Nam – Sự lôi cuốn, tranh Đông Hồ… ñều có những kiến thức bối cảnh nhất ñịnh

Để dạy tốt những kiến thức này, giáo viên cần phải chuẩn bị thật kỹ bài giảng, hiểu ñược giá trị

xã hội và ý nghĩa thông tin của việc lựa chọn tài liệu, giáo viên ñều phải có kiến thức nhất ñịnh ñối với hoàn cảnh xã hội, tình hình thời sự, nhân vật, phong tục tập quán, lịch sử, ñịa lý, văn hóa… và

cả các con số thống kê trong những tài liệu ñã lựa chọn Có như vậy, việc truyền ñạt thông tin mới trở nên chủ ñộng, linh hoạt hơn, thông tin cũng ñược cung cấp ñầy ñủ hơn

2.4 Nguyên tắc hệ thống và toàn diện

Chúng tôi ñưa ra nguyên tắc này là ñể tránh việc do quá chú trọng ñến nguyên tắc tính hiệu lực làm cho cả quá trình giảng dạy trở nên rời rạc, phiến diện và hơi tùy ý, không thể mang lại cho người học sự rèn luyện kỹ năng một cách hệ thống, toàn diện và những kiến thức ngôn ngữ của các bản tin Việc giảng dạy phải chú trọng ñến hai phương diện, cố gắng hết mức ñể có thể ñạt ñược

về mặt hệ thống hóa và tính toàn diện, thứ nhất là tính toàn diện trong kiến thức và nội dung của các bản tin, hai là tính hệ thống trong việc rèn luyện

kỹ năng

Tính toàn diện của kiến thức và nội dung các bản tin thể hiện ở những ñiểm sau:

- Kiến thức chung về nội dung tin tức trên các phương tiện thông tin ñại chúng;

- Đặc ñiểm ngôn ngữ của các bản tin trên các phương tiện thông tin ñại chúng;

- Từ ngữ và cấu trúc câu thường gặp trong các bản tin;

- Các thể loại, ñề tài của bản tin (nội dung bao gồm những lĩnh vực như chính trị, kinh tế, ngoại giao, thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, giao

Trang 5

thơng, năng lượng, tài nguyên, mơi trường, xã hội,

giáo dục, khoa học, văn hĩa, y tế, thể thao, quốc tế…)

Với những nội dung trên, giáo viên cĩ thể lựa

chọn từ các bản tin trên đài phát thanh, đài truyền

hình, trên báo điện tử, sau đĩ tiến hành biên tập,

phân tích và đưa vào giảng dạy Việc này sẽ khá

đơn giản nếu chúng ta đầu tư thêm thời gian vào

quá trình chuẩn bị

Để làm được việc thứ hai khơng hề dễ dàng,

việc rèn luyện kỹ năng là trọng tâm cơng tác giảng

dạy, dạy cái gì, luyện như thế nào mới được coi là

hệ thống và tồn diện? Hiện tại, vẫn chưa cĩ

những tổng kết về mặt lý thuyết, và chúng ta cần

đưa ra trong quá trình giảng dạy thực tế Nhưng cĩ

một điều cĩ thể khẳng định được, đĩ chính là kỹ

năng nghe bản tin là một sự vận dụng tổng hợp tất

cả các kỹ năng cơ bản cần cĩ trong quá trình học

tiếng Việt Ví dụ, kỹ năng nghe thường bao gồm:

- Về mặt câu và đoạn

+ loại bỏ rào cản từ ngữ

+ xác định các con số

+ nhận biết ngữ âm, ngữ điệu

+ nghe rõ các từ ngữ liên quan và hiểu những

cấu trúc câu phức tạp

+ phân biệt thái độ và tình cảm từ nội dung

nghe (các nhân vật trong bản tin hoặc của phĩng viên)

+ nhận biết các thủ pháp tu từ

- Về nội dung cả bài

+ thu được những thơng tin chính (ví dụ như

thời gian, địa điểm, nhân vật liên quan, quá trình

diễn biến, nguyên nhân xảy ra sự việc, )

+ phân biệt và hiểu được mối tương quan giữa

nhân vật, sự kiện

+ hiểu được rõ quan điểm và luận chứng

+ nắm vững ý chính của bài, cĩ thể liên tưởng,

phỏng đốn, hồi tưởng những ý liên quan

+ đưa ra kết luận và suy luận

+ khái quát nội dung

Và một số kỹ năng khác

Những bản tin thơng thường khơng phải để chuẩn bị riêng cho mục đích giảng dạy, những tài liệu sử dụng cho một lần lên lớp cĩ liên quan đến việc rèn luyện kỹ năng tất nhiên là cĩ giới hạn

Mà thời gian lên lớp hạn chế, dung lượng của giáo trình và tài liệu cũng hạn chế, muốn tuân theo nguyên tắc hệ thống và tồn diện thì yêu cầu giáo viên phải chuẩn bị tốt đề cương, đầu tư thời gian, cơng sức vào việc chuẩn bị tài liệu và đưa ra các dạng bài luyện tập phù hợp Giáo viên nên đưa ra các tài liệu cĩ thể khai thác được nhiều dạng bài rèn luyện kỹ năng nghe, và phải sắp xếp theo trật

tự nhất định để sinh viên cĩ cái nhìn tổng quát hơn

2.5 Nguyên tắc linh hoạt

Thơng thường, các giáo trình phục vụ cho kỹ năng nghe bản tin cũng giống như các kỹ năng khác, được biên soạn theo trình tự, và sử dụng những cách thức tổ chức giảng dạy khá cố định Tuy nhiên, điểm khác biệt so với các kỹ năng khác

là về trình tự dạy kỹ năng nghe bản tin, về loại hình bản tin, giáo trình và các tài liệu ngơn ngữ, cách giảng bài và luyện tập cĩ tính linh hoạt hơn rất nhiều Thứ nhất là do chủ đề của các bản tin vơ cùng đa dạng, ngơn ngữ bản tin lại rất sinh động, phong phú, nội dung bản tin khá rộng, cĩ những tin tức mới được đưa ra trong thời gian gần đây, ví

dụ như cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, những chính sách thay đổi trong việc thi tốt nghiệp THPT, đại học, cao đẳng; các hiệp định thương mại, dự án hợp tác đầu tư mới ký kết; các loại hình dịch vụ mới xuất hiện như dịch vụ cho thuê chú rể, dịch vụ trơng người

ốm tại các bệnh viện… đều đã được cập nhật và đưa vào giáo trình giảng dạy Tiếp đến là sự phong phú của các loại hình bài tập, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, thêm vào đĩ ở giai đoạn học nâng cao, sinh viên đã cĩ trình độ tiếng Việt nhất định, cĩ nhiều kinh kiệm xử lý các dạng bài tập trên lớp, cho nên các em hồn tồn cĩ thể tiếp thu những phương pháp linh hoạt hơn Giáo viên lên lớp tuân thủ theo nguyên tắc này, sẽ tăng thêm tính chủ động của sinh viên, làm cho các em càng cĩ thêm cơ hội và thời gian đưa ra quan điểm của mình, khơng khí lớp học nhờ đĩ

Trang 6

cũng thoải mái hơn

3 Một số phương pháp dạy nghe bản tin

Phương pháp dạy nghe bản tin ñược quyết ñịnh

dựa trên nguyên tắc giảng dạy môn học này,

chúng tôi tạm ñưa ra một số phương pháp sau ñây:

3.1 Tốc ñộ lên lớp nhanh

Giáo viên khi lên lớp phải phát huy tối ña vai

trò là “người ñưa ñường”, phải nắm vững yêu cầu

về mặt thời gian Nếu lựa chọn tài liệu giảng dạy

có quá nhiều từ mới, nội dung khô khan, sinh viên

hoàn toàn lạ lẫm về mặt nội dung, hoặc sinh viên

không hiểu gì về bối cảnh kiến thức thì ñều không

có lợi cho việc ñẩy nhanh tốc ñộ giảng dạy, và

như vậy thì chưa ñạt ñược ñến yêu cầu nâng cao

việc rèn luyện kỹ năng nghe

3.2 Hình thức luyện tập phù hợp

Để phù hợp với yêu cầu và ñặc ñiểm của môn

học, các dạng bài luyện tập không nên tổ chức dựa

trên cơ sở luyện kỹ năng viết và kỹ năng nói Căn

cứ theo quá trình giảng dạy, chúng tôi chia làm 3

phần: hoạt ñộng trước khi nghe, hoạt ñộng trong

khi nghe và hoạt ñộng sau khi nghe, chủ yếu tập

trung vào hoạt ñộng trong khi nghe Các dạng bài

chính vẫn là: cho biết thông tin ñúng/sai; chọn A,

B, C hoặc D cho ñáp án ñúng; ñiền từ/cụm từ vào

chỗ trống; sắp xếp thông tin theo trật tự ñúng;

ghép thông tin ở cột A và cột B; hoàn thành câu;

sửa lỗi sai; trả lời câu hỏi… Các dạng bài này vừa

ñáp ứng nhu cầu tiếp thu thông tin của sinh viên,

vừa ñạt ñược mục ñích gợi ý và nâng cao khả

năng xử lý thông tin cho họ Chúng ta lựa chọn tài

liệu hay, nội dung và hình thức luyện tập phong

phú, cách thức tổ chức giảng dạy phù hợp là ba

việc không thể thiếu trong quá trình dạy nghe bản

tin, trong ñó các câu hỏi của các dạng bài tập hay

ñã chiếm một nửa sự thành công

3.3 Nghiêm túc khống chế thời gian làm bài tập

Giáo viên nên căn cứ theo trình ñộ thực tế của

sinh viên mỗi lớp, dự kiến thời gian hoàn thành

các dạng bài tập, thông thường không nên ñể vượt

quá thời gian cho phép Ví dụ khi làm bài tập nghe,

có những sinh viên hoàn thành trước, có những

sinh viên chưa kịp hoàn thành, thì giáo viên cũng nên ñể cho cả hai ñối tượng sinh viên cùng tham khảo ñáp án vào cùng một thời ñiểm, ñể các em tự ñánh giá khả năng nghe của mình và tự bổ sung vào những phần còn thiếu Không nên ñể sinh viên phải chờ ñợi nhau, lãng phí thời gian của bài học, mà hiệu quả ñem lại không cao

3.4 Hạn chế số lượng từ ngữ

Từ ngữ là phần rất quan trọng trong việc dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài, cũng là một nội dung chính trong quá trình dạy nghe bản tin Nếu sinh viên không hiểu, không giải thích ñược hoặc hiểu sai hay giải thích sai thì sẽ là một cản trở rất lớn cho các em trong quá trình tiếp thu thông tin Trong giáo trình, mỗi bài nghe chúng tôi thiết kế 3 ñoạn tin, mỗi ñoạn tin từ 1 phút ñến

2 phút rưỡi, số lượng từ ngữ mới trong mỗi ñoạn trung bình từ 7-8 từ ngữ Việc giải thích các từ ngữ thường ñược tiến hành trước khi nghe, ñôi khi tiến hành trong quá trình nghe, và sẽ chỉ chiếm 1/4 lượng thời gian của cả bài Từ ngữ trong các bản tin mang hai ñặc ñiểm cơ bản, thứ nhất là mới xuất hiện, mới ñược lưu hành, và chưa quy phạm, khó có thể tìm thấy trong từ ñiển, ví dụ như

“chính sách tài khóa”, “nợ công”, “nợ trung hạn”,

“tính thanh khoản”, “bảo lãnh chính phủ”, “tỉ lệ

nợ xấu”… trong lĩnh vực kinh tế tài chính; “ba chung”, “hậu kiểm”, “bệnh thành tích”… trong lĩnh vực giáo dục; “công du”, “tọa ñàm bàn tròn”,

“trợ giá”, “chống phá giá”, “chủ nghĩa bảo hộ”… trong lĩnh vực hợp tác ñầu tư v.v Thứ hai là những từ ngữ ví von, hàm ẩn, chứa ñựng nét văn hóa truyền thống như “nhà siêu mỏng”, “ñô thị vệ tinh”, “hành lang xanh”, “ăn sâu bén rễ”, “ăn cơm trước kẻng” v.v Những từ ngữ nói trên khi xuất hiện trong các bản tin không dễ ñể nhận biết, giáo viên phải gợi ý, giải thích cho sinh viên Như vậy, mỗi bài giảng chúng ta nên hạn chế lượng từ ngữ mới xuất hiện ñể giảm áp lực nghe cho sinh viên

3.5 Tạo không khí vui vẻ, thoải mái, giảm

sự căng thẳng trong quá trình nghe

Thường mỗi bản tin ñều có một bối cảnh kiến thức nhất ñịnh, ở phần khởi ñộng, hay hoạt ñộng trước khi nghe, giáo viên nên tạo không khí nhẹ

Trang 7

nhàng, thoải mái, từng bước dẫn dắt sinh viên vào

bài theo cách gợi ý, đặt câu hỏi mang tính phỏng

đốn, suy luận liên quan đến nội dung bài nghe, để

họ tự hiểu, tự suy luận vấn đề thì hay hơn là ép họ

phải đi theo từng bước đã thiết kế trong giáo trình

Và với mỗi lớp, mỗi đối tượng sinh viên, giáo

viên cũng sẽ cĩ cách tiếp cận bài khác nhau phù

hợp với khả năng tư duy và trình độ của sinh viên

lớp đĩ

Ngồi ra, theo kết quả điều tra trong bảng điều

tra chúng tơi đã đưa ra ở phần 1, sinh viên đều

mong muốn nội dung các bản tin đưa ra là những

vấn đề thường gặp trong thực tế cuộc sống, chất

lượng âm thanh của các đoạn thu âm hay video

phải tốt hơn, các thầy cơ nên mở rộng thêm nhiều

kiến thức hơn chứ khơng nên cho sinh viên nghe

và hồn thành bài tập là giải quyết xong nhiệm vụ

của bài học Cĩ những sinh viên lại rất quan tâm

đến phương pháp làm bài trong khi thi, khi gặp

các đoạn tin khĩ nghe với nhiều tạp âm, tốc độ

nhanh thì nên xử lý như thế nào, đối với vấn đề

này thì trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên

hướng dẫn cách nghe bắt từ trọng điểm, từ then

chốt trong câu để sinh viên cĩ thể khái quát được

thơng tin, ví dụ những từ để trả lời các câu hỏi Ai?

Cái gì? Làm gì? Khi nào? Ở đâu? Bao nhiêu? Làm

như thế nào?…

Trên đây là một số nguyên tắc và phương pháp

mà chúng tơi đưa ra trong quá trình dạy nghe các bản tin cho sinh viên nước ngồi đang học tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội Mỗi giáo viên đều cĩ những phương pháp khác nhau tùy vào nội dung bản tin, trình độ hay đối tượng của sinh viên Mục đích chính của chúng tơi là hy vọng mơn học sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc đào tạo tiếng Việt và văn hĩa Việt Nam cho sinh viên nước ngồi, giúp các em hiểu sâu hơn về tiếng Việt, đất nước và con người Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Joiner, Elizabeth, Teaching Listening, How Technology

Can Help, National Textbook Company, 1997

2 Nguyễn Quốc Hùng M.A, Kĩ thuật học nghe hiểu

tiếng Anh, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006

3 Nguyễn Văn Thơng, Dạy nghe ghi tiếng Việt cho

người nước ngồi, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,

1997

语言文化大学出版社,1997。

版社,1990。

语言文字应用,2000年第4期。

社,1996。

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w