1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đề xuất nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Việt chuyên ngành Du lịch cho sinh viên nước ngoài học tập tại khoa Việt Nam học

8 43 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này đề cập đến những vấn đề khó khăn của cả giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy và học môn Tiếng Việt chuyên ngành Du lịch, từ đó đã đưa ra một số đề xuất về đổi mới phương pháp và giáo trình giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.

Trang 1

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY

MÔN TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH DU LỊCH CHO SINH VIÊN

NƯỚC NGOÀI HỌC TẬP TẠI KHOA VIỆT NAM HỌC

Nguyn Hi Quỳnh Anh

Trường Đại học Hà Nội

quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học và

công nghệ, giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên

nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia ñòi hỏi giáo dục

phải ñổi mới Trong ñó, ñổi mới phương pháp giảng

dạy là một trong những vấn ñề ñang thu hút sự quan

tâm từ các cơ quan quản lý giáo dục, lãnh ñạo các

trường ñại học ñến các giảng viên trực tiếp ñứng lớp

Bài viết này ñề cập ñến những vấn ñề khó khăn của

cả giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy và học

môn Tiếng Việt chuyên ngành Du lịch, từ ñó ñã ñưa

ra một số ñề xuất về ñổi mới phương pháp và giáo

trình giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Abstract: Vietnam requires an innovation in

education in the context of the international

integration, the rapid development of science and

technology, scientific education and the fierce

competition in many areas among countries In

particular, innovation in teaching methods is one of

the issues which are attracting great attention of the

education agencies, university leaders and lecturers

This report referred to the difficulties of learning and

teaching Vietnamese in Tourism for both teachers

and students, then made a number of proposals for

innovation in methods and training curricula to

improve the quality of teaching and learning

1 Đặt vấn ñề

Trong khung chương trình ñào tạo cử nhân

ngành tiếng Việt và văn hóa Việt Nam cũng như

chương trình ñào tạo tiếng Việt ngắn hạn (chủ yếu

ñược thiết kế theo yêu cầu của người học và của

các trường ñối tác) của Khoa Việt Nam học,

Trường Đại học Hà Nội, sinh viên năm thứ 3 sẽ

ñược học môn tiếng Việt chuyên ngành du lịch

với tổng thời lượng 120 tiết (tương ñương 8 ñơn

vị học trình) Mặc dù ñã qua 2 năm học thực hành tiếng, và ñã có ñược những hiểu biết chung về Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhưng khi tiếp xúc với môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch, sinh viên vẫn gặp khó khăn khi nghe giảng Làm thế nào ñể giúp sinh viên nước ngoài có hứng thú với môn học này, làm thế nào ñể giảng dạy có hiệu quả và ñạt ñược các mục tiêu như khung chương trình chi tiết môn học ñã ñề ra1 ñang là vấn ñề ñược ñặt ra với nhiều giáo viên ñang giảng dạy tại Khoa Bài viết ñề cập ñến thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch, và dựa trên những kiến thức cũng như kinh nghiệm tích lũy của người viết từ ñó ñã ñưa ra một số ñề xuất nâng cao chất lượng dạy và học môn học này

2 Thực trạng dạy và học môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch tại khoa Việt Nam học

Trong khuôn khổ bài viết, người viết ñề cập ñến phương pháp giảng dạy môn học của giáo viên, ý thức học tập của sinh viên cũng như cuốn giáo trình Tiếng Việt du lịch2 hiện ñang ñược sử dụng tại Khoa Việt Nam học

2.1 Giáo trình giảng dạy

Như chúng ta ñã biết, giáo trình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dạy và học Giáo trình ñảm nhiệm nhiều vai trò, từ ñịnh hướng quá trình dạy, học ñến cung cấp nội dung cho người học, gợi mở việc tự học thậm chí còn rèn luyện kỹ năng cho

1 Xem khung chương trình chi tiết môn học ở phần Phụ lục

2 Tiếng Việt du lịch, Lê Đình Tư (chủ biên), Nguyễn Việt

Lê, Nguyễn Thùy Minh, Đỗ Thu Trang, Khoa Việt Nam

học – Đại học Hà Nội, Hà Nội, 2008 (tài liệu lưu hành nội bộ).

Trang 2

giảng viên Một giáo trình hữu ích phải ñược xây

dựng trên cơ sở xác ñịnh ñược một cách rõ ràng

ñối tượng, mục tiêu, yêu cầu giảng dạy cùng với

nội dung phù hợp, khoa học, cập nhật, thiết thực

Trên thị trường hiện nay có bán rất nhiều các giáo

trình, tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước

ngoài với sự ña dạng về trình ñộ, về mục ñích,

phạm vi ñào tạo Hầu hết tác giả của các giáo trình

này ñều là những nhà nghiên cứu Việt ngữ, những

giảng viên giảng dạy ngôn ngữ học và Việt ngữ

học Tuy nhiên những bộ giáo trình tiếng Việt

chuyên ngành có tính hệ thống vẫn còn rất thiếu

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhóm chuyên môn

của Khoa ñã biên soạn giáo trình Tiếng Việt du lịch dành cho người nước ngoài Đến nay, cuốn giáo trình này ñã ñược dùng ñể giảng dạy ở Khoa ñược gần 6 năm Giáo trình gồm 20 bài ñược biên soạn theo những nội dung có liên quan ñến lĩnh vực du lịch Tuy nhiên các bài học trong giáo trình lại ñược phân bổ một cách ngẫu nhiên mà không theo bất kì phạm vi chủ ñề, theo chương hay tiêu chí nào Theo khảo sát của người viết, nếu dựa vào nội dung khái quát của mỗi bài ñược thể hiện

ở tiêu ñề bài học thì 20 bài học trong cuốn giáo trình

có thể ñược phân bổ theo các chương như sau:

Bảng 1.Bảng phân bổ các bài học theo chương trong giáo trình Tiếng Việt Du lịch

Từ “Bảng 1”, người viết xin ñưa ra “Biểu ñồ tỉ

lệ % sự phân bổ các bài học theo chương” ñể

người ñọc có thể thấy rõ hơn sự chênh lệch về số

lượng bài giữa các chương như sau:

Hình 1 Biểu ñồ tỉ lệ % sự phân bổ các bài học theo chương

Dựa vào Hình 1, người viết xin nêu ra cụ thể số

lượng bài và tiêu ñề của mỗi bài ở mỗi chương, cụ

thể như sau:

a) Chương Luật Du lịch: trong số 20 bài học

của giáo trình Tiếng Việt du lịch có 4 bài có nội

dung liên quan ñến luật Du lịch, chiếm tỉ lệ 20%, bao gồm các bài:

- Bài 1: Khái quát chung về luật Du lịch

- Bài 7: Khách du lịch

20%

20%

45%

10%

Các lo?i hình du l?ch Các ti?m nang du l?ch Vi?t Nam

Du l?ch và môi tru ?ng M?i quan h? gi?a du l?ch và kinh t?

Trang 3

- Bài 14: Hướng dẫn du lịch

- Bài 17: Quy ñịnh chung về kinh doanh du lịch

b) Chương Các loại hình du lịch: có 4/20 bài

học có nội dung liên quan ñến chương này, chiếm

tỉ lệ 20%, cụ thể như sau:

- Bài 3: Các loại hình du lịch

- Bài 13: Du lịch biển

- Bài 15: Du lịch miệt vườn

- Bài 16: Du lịch sông nước

c) Chương Các tiềm năng du lịch Việt Nam:

chương này có 9/20 bài, chiếm tỉ lệ cao nhất 45%

Mỗi bài học trong chương giới thiệu về một ñịa danh

Du lịch nổi tiếng của Việt Nam, cụ thể như sau:

- Bài 2: Các tiềm năng du lịch Việt Nam

- Bài 5: Cúc Phương - Vườn quốc gia ña sắc màu

- Bài 6: Mai Châu – Thung lũng yên ả

- Bài 8: Nhà thờ ñá Phát Diệm – Một công

trình kiến trúc ñộc ñáo

- Bài 9: Trẩy hội Chùa Hương – Hành trình

về miền ñất Phật

- Bài 11: Yên Tử - Kinh ñô Phật giáo Việt Nam

- Bài 12: Tam Cốc Bích Động - Hạ Long trên cạn

- Bài 18: Du lịch Tây Nguyên

- Bài 19: Du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng

d) Chương Du lịch và môi trường: có 2/20 bài,

chiếm tỉ lệ 10%, bao gồm các bài sau:

- Bài 4: Du lịch và môi trường tự nhiên

- Bài 20: Du lịch và môi trường xã hội

e) Chương Mối quan hệ giữa du lịch và kinh

tế: chương này chiếm tỉ lệ thấp nhất 5%, chỉ có

1/20 bài, cụ thể:

- Bài 10: Vai trò của du lịch Việt Nam trong

phát triển kinh tế

Qua phân tích trên ñây, chúng ta nhận thấy rõ

rằng sự phân bổ các bài ở mỗi chương trong giáo

trình Tiếng Việt du lịch không ñồng ñều Như

trình bày ở trên, môn Tiếng Việt chuyên ngành du

lịch là môn học bắt buộc, có tác dụng hỗ trợ kỹ năng ngôn ngữ của người học thông qua các kiến thức về lĩnh vực du lịch, kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong hoạt ñộng du lịch, giúp người học có thể hiểu rõ hơn tầm quan trọng của du lịch với sự phát triển kinh

tế Nhưng theo sự phân bổ các bài trong giáo trình như hiện nay, nhóm tác giả quá chú trọng việc giới thiệu các tiềm năng, ñịa danh du lịch của Việt Nam, trong khi ñó lại không mấy quan tâm ñến mối quan hệ giữa du lịch và sự phát triển kinh tế,

mà ñây lại là một vấn ñề vô cùng quan trọng, có tính ñịnh hướng nghề nghiệp cho sinh viên Ngoài

ra, như chúng ta ñã biết ñể phát triển du lịch thì ñiều kiện ñầu tiên không thể thiếu là tài nguyên thiên nhiên Trong ñó thì môi trường tự nhiên như môi trường nước, không khí,… là yếu tố chính nhằm ñem ñến sự thoả mãn cho du khách du lịch, nhưng

số lượng bài trong chương môi trường và du lịch lại quá ít, chưa ñủ ñể nói lên tầm quan trọng của môi trường trong quá trình phát triển du lịch

Về cấu trúc mỗi bài học: tất cả các bài học trong giáo trình ñều ñược thiết kế theo cùng một cấu trúc gồm ba phần: bài ñọc, từ ngữ và bài tập Các dạng bài tập ñược khai thác chủ yếu là: ñiền

từ vào chỗ trống, hoàn thành câu, trả lời câu hỏi, nối lời giải thích ở cột A với cột B, dựa vào nội dung bài ñọc cho biết thông tin ñúng, sai,… nghĩa

là hoàn toàn giống với các dạng bài tập của môn thực hành tiếng mà sinh viên ñã học ở 2 năm ñầu Trong giáo trình, các dạng bài tập sử dụng ngữ cảnh và tình huống giao tiếp gắn với nội dung môn học, những bài tập ñể kiểm tra, ñánh giá cũng như nâng cao ñược kiến thức về lĩnh vực du lịch cho sinh hầu như vắng bóng Điều này hạn chế ñáng kể sự sáng tạo của giáo viên và hoạt ñộng tích cực của sinh viên

Thực ra nếu căn cứ vào những tiêu chí của một giáo trình theo ñúng nghĩa thì khó có thể nói tài liệu này là một giáo trình thực sự mà chỉ có thể coi là một tập bài giảng, bởi chỉ xét riêng về phương diện cấu trúc hình thức thì “tài liệu” này lại thiếu một phần lẽ ra không thể thiếu là phần

mở ñầu

Trang 4

2.2 Trang thiết bị dạy-học

Trong xu thế dạy tiếng theo mô hình hiện ñại

như hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin

vào giảng dạy là rất cần thiết, nhất là ñối với một

môn học như môn Tiếng Việt chuyên ngành du

lịch Không thể phủ nhận rằng các thiết bị trực

quan như: máy tính, máy chiếu, loa ñài, tranh

ảnh,… góp phần không nhỏ trong việc tạo ra hứng

thú học tập cho sinh viên và cho sự thành công

của buổi học Nhưng trên thực tế, những thiếu

thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, ñặc biệt là

thiếu các phòng học ña phương tiện như hiện nay

ñã khiến cho việc giảng dạy của giáo viên gặp

nhiều khó khăn Tình trạng dạy chay, học chay

vẫn là phổ biến

2.3 Phương pháp giảng dạy của giáo viên

Ai cũng biết, phương pháp giảng dạy là một

trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất

lớn ñến chất lượng ñào tạo Trên thực tế ñã có rất

nhiều các cuộc hội thảo, các buổi tọa ñàm, cũng

như các ñề tài nghiên cứu, tài liệu luận bàn về vấn

ñề này Thế nhưng, cho ñến nay, một bộ phận

không nhỏ giáo viên vẫn chưa thoát ra khỏi

phương pháp giảng dạy theo lối truyền thống “Lấy

giáo viên làm trung tâm”, dẫn ñến hệ quả là học

sinh học tập một cách thụ ñộng, thiếu tính ñộc lập

và sang tạo Bên cạnh ñó, một số giáo viên còn

chưa ñầu tư thời gian sưu tầm thêm tài liệu phụ trợ

(hình ảnh minh hoạ, video clip và một số tài liệu

tham khảo khác) ñể làm phong phú thêm cho bài

giảng, khiến bài giảng thiếu sinh ñộng, không thu

hút ñược sự chú ý của sinh viên

2.4 Ý thức học tập và trình ñộ tiếp thu của

sinh viên

Hiện nay, Khoa Việt Nam học ñang giảng dạy

cho sinh viên ñến từ 25 quốc gia trên thế giới Đặc

thù của các sinh viên học tập tại Khoa là không

phải thi tuyển ñầu vào, chính vì vậy chất lượng

ñầu vào của sinh viên rất không ñồng ñều Sự

chênh lệch về trình ñộ của sinh viên trong cùng

một lớp ñã gây ra không ít khó khăn cho người

dạy Thêm nữa, 2/3 số sinh viên trong khoa là sinh

viên Trung Quốc Theo quan sát của chúng tôi, phần ñông các sinh viên này ñã quen với lối học thụ ñộng, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giáo viên truyền ñạt mà chưa quen với việc chủ ñộng nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu liên quan ñến bài học ñể từ ñó có thể phản biện lại giáo viên

3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy

và học môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch tại khoa Việt Nam học

Với thực trạng như ñã nêu trên, có thể thấy, ñể nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch tại khoa Việt Nam học, ñòi hỏi phải có một sự thay ñổi lớn về nhiều phương diện Qua thực tiễn giảng dạy, người viết xin ñề xuất một số giải pháp ñể cải thiện tình hình giảng dạy và học tập môn học này như sau:

3.1 Xây dựng và chỉnh sửa giáo trình

Theo khung chương trình chi tiết môn học hiện hành tại Khoa thì môn Tiếng Việt chuyên ngành

du lịch hướng ñến mục tiêu cung cấp cho sinh viên nước ngoài một cái nhìn tổng quan về một số loại hình du lịch, cách thức giao tiếp, văn hóa,… trong du lịch, ñồng thời giúp họ có ñược kỹ năng

sử dụng tiếng Việt chuyên ngành một cách chuyên sâu Như vậy, khi biên soạn hay chỉnh sửa giáo trình môn học này, người biên soạn cần chú ý ñến những vấn ñề sau:

+ Trước khi bắt tay vào biên soạn hay chỉnh sửa, cần xác ñịnh rõ bố cục của giáo trình (giáo trình gồm bao nhiêu chương, quan hệ giữa các chương, số lượng bài trong mỗi chương,…) + Trong mỗi bài học cần có bảng từ ñể giới thiệu những thuật ngữ chuyên ngành về chủ ñề có liên quan Hệ thống bảng từ cần ñược thống nhất, tránh bị lặp lại giữa các bài

+ Kết cấu trình bày dễ hiểu, bắt mắt (có thể ñưa tranh, ảnh minh họa) nhằm tạo ấn tượng cho sinh viên + Hệ thống bài tập cần phải bổ sung thêm các dạng bài tập trắc nghiệm khách quan, các bài tập

Trang 5

thực hành giao tiếp gắn với lĩnh vực du lịch, các

dạng bài tập thảo luận, bài luận chuyên sâu về lĩnh

vực du lịch…

3.2 Đổi mới phương pháp giảng dạy

Như ñã trình bày ở trên, phương pháp giảng

dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh

hưởng rất lớn ñến chất lượng ñào tạo Bản chất,

mục tiêu của phương pháp giảng dạy ở ñại học là

dạy làm sao ñể sinh viên có thể tự học, biết cách

tự học, tự ñọc sách, tự nghiên cứu, tự suy nghĩ Để

ñạt ñược mục tiêu giảng dạy này, người giáo viên

luôn phải tìm tòi, sáng tạo và tham khảo những

cách thức giảng dạy phù hợp với ñối tượng trong

từng hoàn cảnh cụ thể ñể giúp sinh viên có thể

tiếp nhận kiến thức một cách chủ ñộng, hiệu quả

Trong bài viết này, người viết xin phép chỉ ñề cập

ñến một số phương pháp giảng dạy ñặc thù mà

người viết ñã áp dụng thử nghiệm một trong

những phương pháp ñó trong quá trình giảng dạy

môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch cho sinh

viên nước ngoài và nhận ñược phản hồi tích cực từ

phía sinh viên

3.2.1 Phương pháp vấn ñáp

Phương pháp vấn ñáp là phương pháp giáo

viên khéo léo ñặt hệ thống câu hỏi ñể sinh viên trả

lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn ñề

mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái

hiện những tài liệu ñã học hoặc từ những kinh

nghiệm ñã tích luỹ ñược trong cuộc sống, nhằm

giúp học sinh củng cố, mở rộng, ñào sâu, tổng kết,

hệ thống hoá những tri thức ñã tiếp thu ñược và

nhằm mục ñích kiểm tra, ñánh giá và giúp học

sinh tự kiểm tra, tự ñánh giá việc lĩnh hội tri thức

Trong quá trình lên lớp, giáo viên có thể áp dụng

phương pháp này theo các quy trình như sau:

- Trước giờ học: Thông thường bài học nào

cũng có tiêu ñề riêng, và tiêu ñề của mỗi bài học

cũng chính là nội dung khái quát của bài học ñó

Để sinh viên nắm rõ và hiểu ñược nội dung mình

sẽ học trong buổi học hôm ñó, giáo viên nên viết

tiêu ñề mỗi bài học lên bảng sau ñó ñặt câu hỏi

theo tiêu ñề bài học ñó, như vậy sinh viên sẽ phần nào có ñược cái nhìn khái quát về nội dung buổi học, và sẽ gây ñược hứng thú, tò mò cho sinh viên trong quá trình học tập Ví dụ trong giáo trình Tiếng Việt du lịch (dành cho sinh viên nước ngoài

do giáo viên Khoa Việt Nam học biên soạn), bài 4

có tiêu ñề “Du lịch và môi trường tự nhiên” Vậy

ñể dẫn dắt sinh viên vào bài học, giáo viên có thể ñặt một số câu hỏi liên quan ñến nội dung bài học như “Theo em, du lịch và môi trường tự nhiên có mối quan hệ như thế nào? Môi trường tự nhiên có tác ñộng gì ñối với sự phát triển du lịch? Chúng ta cần có những biện pháp gì ñể bảo vệ môi trường

du lịch?”

- Trong giờ học: Trong quá trình giảng bài ñọc, giáo viên có thể chủ ñộng chuẩn bị trước một hệ thống câu hỏi liên quan ñến nội dung bài ñọc Hoặc giáo viên nên cho sinh viên một khoảng thời gian từ 10-15 phút ñể các em ñọc lướt qua bài ñọc, sau ñó khi tiến hành giảng bài ñọc, giáo viên yêu cầu sinh viên ñặt câu hỏi theo nội dung bài ñọc và gọi sinh viên khác trả lời

- Kết thúc buổi học: giáo viên lại ñưa ra một số câu hỏi ñể tổng kết nội dung bài học và cũng là một hình thức kiểm tra, ñánh giá xem sinh viên nắm ñược nội dung của bài học hay không

Nói tóm lại, phương pháp này có thể kích thích

tư duy ñộc lập của sinh viên, dạy sinh viên cách tự suy nghĩ và hiểu nội dung học tập hơn là học vẹt, thuộc lòng Ngoài ra, còn lôi cuốn sinh viên tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh ñộng, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của sinh viên, rèn luyện cho sinh viên năng lực diễn ñạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn ñạt của người khác

3.2.2 Phương pháp hoạt ñộng nhóm

Phương pháp hoạt ñộng theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học phát huy ñược tính tích cực của người học Phương pháp này là một hình thức xã hội của dạy học, trong ñó sinh viên của một lớp học ñược chia thành các nhóm nhỏ (từ 3 ñến 5 người), trong khoảng thời gian

Trang 6

giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm

vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm

việc Kết quả làm việc của nhóm sau ñó ñược

trình bày và ñánh giá trước toàn lớp Tuỳ mục

ñích, yêu cầu của vấn ñề học tập, các nhóm ñược

phân chia ngẫu nhiên hay có chủ ñịnh, ñược duy

trì ổn ñịnh hay thay ñổi trong từng phần của tiết

học, ñược giao cùng một nhiệm vụ hay những

nhiệm vụ khác nhau Phương pháp hoạt ñộng

nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các

băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau

xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những

ñiều ñang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình ñộ

hiểu biết của mình về chủ ñề nêu ra, thấy mình

cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá

trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp

nhận thụ ñộng từ giáo viên

Chính vì vậy, khi áp dụng phương pháp hoạt

ñộng nhóm vào giảng dạy, giáo viên phải là người

ñưa ra ñịnh hướng cho sinh viên Giáo viên phải là

người có năng lực lập kế hoạch và tổ chức Trước

khi áp dụng phương pháp này, giáo viên phải

chuẩn bị trước, phải xem chủ ñề của buổi học ñó

có hợp với dạy học nhóm hay không? Nên ñể các

nhóm làm việc với nhiệm vụ giống nhau hay khác

nhau? Cần tổ chức lớp học, kê bàn ghế như thế

nào? Thời gian 1 tiết học hoặc 2 tiết học có ñủ ñể

hoạt ñộng theo nhóm hay không? Việc chia nhóm

nên dựa theo tiêu chí gì? Thông thường, nếu trình

ñộ của sinh viên trong lớp tương ñương như nhau

thì giáo viên có thể cho sinh viên chủ ñộng chọn

nhóm và phân nhóm, nhưng nếu trình ñộ của sinh

viên không ñồng ñều, có sự chênh lệch lớn thì

giáo viên nên tham gia vào việc phân nhóm

Ngoài ra, thành công của công việc nhóm còn phụ

thuộc vào việc các yêu cầu công việc mà giáo viên

ñề ra phải rõ ràng và phù hợp với sinh viên

3.2.3 Phương pháp tọa ñàm – Serminar

Phương pháp serminar là một hình thức tự học

kết hợp với thảo luận khoa học, thường ñược sử

dụng ở các trường ñại học, cao ñẳng Serminar

ñược xem như một loại bài tập tự học bắt buộc,

khi giáo viên sử dụng phương pháp serminar thì

sinh viên buộc phải ñọc tài liệu, tìm kiếm thông

tin… ñể hoàn tất nhiệm vụ học tập Qua các buổi serminar, sinh viên ñược rèn luyện kỹ năng tự học, biết cách giải quyết vấn ñề, mở rộng và ñào sâu tri thức… Đối với sinh viên nước ngoài thì phương pháp serminar là một trong những phương pháp giảng dạy mang lại hiệu quả, giúp sinh viên có

cơ hội ñể trình bày ý kiến, quan ñiểm, thể hiện kiến thức của mình bằng tiếng nước ngoài (tiếng Việt) Theo lịch trình giảng dạy môn Tiếng Việt chuyên ngành du lịch, sinh viên cứ học 7 buổi (tương ñương 7 bài) thì sẽ có một buổi serminar Thông thường trước khi ñến buổi serminar, giáo viên và sinh viên sẽ phải chuẩn bị các công việc như sau:

- Giáo viên sẽ chủ ñộng thông báo và làm việc với lớp trước khi có giờ serminar 1-2 tuần

- Giáo viên chia sinh viên thành các nhóm (hoặc sinh viên có thể tự chủ ñộng phân nhóm rồi báo lại với giáo viên), mỗi nhóm từ 3-5 sinh viên (tùy số lượng sinh viên mỗi lớp) Mỗi nhóm sẽ bầu ra một trưởng nhóm và trưởng nhóm có trách nhiệm tóm tắt lại nội dung bài sẽ báo cáo rồi gửi cho giáo viên và các nhóm còn lại

- Giáo viên cho từng nhóm bốc thăm chủ ñề, các chủ ñề báo cáo ñều nằm trong nội dung 7 bài học trước ñó Ngoài nội dung trình bày, các nhóm cần chuẩn bị 1-2 câu hỏi thảo luận cho các nhóm còn lại

- Mỗi nhóm chuẩn bị khoảng 10-15 slides, các thành viên trong nhóm ñều phải tham gia trình bày và thảo luận Thời gian trình bày của mỗi nhóm từ 15-20 phút

Sau khi tiến hành áp dụng phương pháp serminar, ý kiến phản hồi của sinh viên về phương pháp học tập này rất tích cực Học bằng hình thức serminar ñòi hỏi sinh viên phải tự thu thập tài liệu (sách báo, trên mạng internet…), phải học cách sắp xếp, xử lý thông tin, viết bài, cách trình bày slide Ngoài ra, hình thức học này còn giúp các em

tự tin hơn khi ñứng trước ñám ñông, học ñược các

kỹ năng trình bày trước ñám ñông, làm quen và học thói quen ghi chép, thu nhận thông tin, tư duy vấn ñề Do ñặc thù sinh viên trong một lớp thể ñến

Trang 7

từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau, nên

thông qua nội dung các báo cáo của các nhóm,

sinh viên còn có cơ hội ñể tìm hiểu thêm về văn

hóa, xã hội, kinh tế,… của các nước trong khu vực

và trên thế giới, ñây cũng là cơ hội ñể các em học

hỏi và mở mang kiến thức

3.2.4 Phương pháp ñánh giá

Đánh giá là một khâu quan trọng không thể

thiếu ñược trong quá trình giáo dục Đánh giá

thường nằm ở giai ñoạn cuối cùng của một giai

ñoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi ñiểm của một

giai ñoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn,

chất lượng mới hơn trong cả một qúa trình giáo

dục Đánh giá là một vấn ñề quan trọng ñể nâng

cao chất lượng, kích thích tinh thần học tập, ñảm

bảo công bằng Để ñảm bảo tính công bằng và

khách quan trong ñánh giá hoạt ñộng nhóm, giáo

viên nên cho sinh viên cùng tham gia ñánh giá với

mình theo các tiêu chí ñã in sẵn trong các phiếu

ñánh giá mà giáo viên ñã phát cho sinh viên trước

khi tiến hành báo cáo Giáo viên thông báo thật cụ

thể cho sinh viên biết: mỗi nhóm sẽ chấm ñiểm

cho tất cả các nhóm khác, trừ nhóm của mình, sau

ñó giáo viên chỉ lấy ñiểm trung bình cộng của các

nhóm và ñược tính là một cột ñiểm tương ñương

với cột ñiểm của giáo viên Điểm của mỗi cá nhân

là ñiểm trung bình của nhóm, thành viên tích cực

nhất trong nhóm ñược cộng 01 ñiểm

Sau khi các nhóm báo cáo xong, giáo viên mời

ñại diện các nhóm góp ý kiến cho nhóm bạn về

những ưu và hạn chế Tiếp ñến, giáo viên nhận

xét, ñánh giá, rút kinh nghiệm riêng từng bài báo

cáo và chung cho toàn lớp học, rút ra bài học và

kiến thức cần nắm

4 Kết luận

Chúng tôi cho rằng, ñể có ñược một buổi lên

lớp hiệu quả, học trò hứng thú với môn học, ngoài

việc có một giáo trình ñược thiết kế có hệ thống

và ñồng bộ thì việc ñổi mới phương pháp giảng

dạy của giáo viên cũng vô cùng quan trọng Từ

góc ñộ của một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tiếng Việt chuyên ngành Du lịch, tác giả bài viết

ñã ñề cập ñến những vấn ñề khó khăn của cả giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy và học, từ ñó

ñã ñưa ra một số ñề xuất liên quan ñến giáo trình giảng dạy và phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học Tuy nhiên, những ñề xuất này cũng chỉ là những suy nghĩ cá nhân nhưng người viết hy vọng rằng những ý kiến ñóng góp mà mình cũng sẽ giúp các bạn ñồng nghiệp cũng như những người quan tâm có thêm kênh tham khảo ñể nâng cao chất lượng buổi dạy của mình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đinh Lư Giang, Trần Thị Minh Giới, Thử ñánh giá việc biên soạn giáo trình tiếng Việt như một ngoại ngữ,

Kỷ yếu hội thảo Nghiên cứu, giảng dạy Việt Nam học

và tiếng Việt – Phương pháp, kỹ năng, Nxb Khoa học

Xã hội, 2010

2 Nguyễn Thị Hồng Thu, Dạy Tiếng Việt với tư cách

là một ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ (số 13), 2005

3 Trần Thị Minh Giới, Thử nêu một cách dạy văn học Việt Nam cho sinh viên nước ngoài, Khoa Việt Nam học, ĐH KHXH&NV- ĐHQG TP.Hồ Chí Minh

4 Nguyễn Văn Bon, Duy trì tiếng Việt và văn hóa Việt: Phương pháp giúp học sinh học tiếng Việt như là ngôn ngữ thứ hai, Tập San ĐN&CL (số 7)

5 Nguyễn Ngọc Chinh, Áp dụng một số phương pháp ñặc thù trong giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài tại ñại học Đà Nẵng, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng (số 2(31)),2009

6 Phan Văn Giưỡng, Phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai: Dạy phát âm tiếng Việt cho sinh viên Úc (nguồn: http://khoahocnet.com)

7 Lê Đình Tư (chủ biên), Nguyễn Việt Lê, Nguyễn

Thùy Minh, Đỗ Thu Trang, Tiếng Việt Du lịch (tài liệu lưu hành nội bộ), Khoa Việt Nam học – Đại học Hà Nội, Hà Nội, 2008

社,2006.

2004.

版社,2005.

学出版社,2013.

Trang 8

Phụ lục

TIẾNG VIỆT CHUYÊN NGÀNH DU LỊCH

1 Tên môn học: Tiếng Việt chuyên ngành du lịch

2 Mã môn học: VIS 313

3 Số tiết: 120 tiết Số ñơn vị học trình: 08 ñvht

4 Thời ñiểm thực hiện: Học kỳ 6

5 Thời gian: 10 tiết/ tuần Tổng số 12 tuần

6 Điều kiện tiên quyết

Đã hoàn thành các môn Thực hành tiếng Việt 1, 2, 3, 4

7 Mô tả môn học

Môn học này thuộc nhóm Thực hành tiếng nâng cao, ñược dạy sau khi kết thúc giai ñoạn học Thực hành tiếng cơ bản Môn học này nhằm giúp người học:

- Rèn luyện 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết các thuật ngữ trong ngành du lịch

- Trang bị vốn kiến thức cần thiết liên quan ñến các hoạt ñộng du lịch ở Việt Nam hiện nay

- Có ñược cái nhìn tổng quan về một số loại hình du lịch, cách thức giao tiếp, văn hóa trong

du lịch Kiến thức tổng quan này sẽ bổ sung, hỗ trợ cho quá trình tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Việt Nam, cũng như làm tiền ñề cho môn học Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành hay các môn về Văn hóa -Văn minh ở học kỳ sau

8 Mục tiêu của môn học

Sau khi học xong môn học này, người học sẽ ñược trang bị:

- Kỹ năng giao tiếp với người bản xứ

- Kiến thức tổng quan về du lịch Việt Nam

- Kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hóa trong du lịch

- Kỹ năng ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội trong hoạt ñộng du lịch

- Kỹ năng ñánh giá tiềm năng và xu hướng phát triển của ngành du lịch

- Định hướng nghề nghiệp cho tương lai như: Hướng dẫn viên du lịch, Kinh doanh du lịch, Điều hành du lịch, Phiên dịch

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w