Bài viết nhằm góp thêm tiếng nói bàn về những ý tưởng sáng tạo trong dịch thuật nói chung và dịch văn học-nghệ thuật nói riêng, nhận diện và đánh giá những ý tưởng sáng tạo trong một bản dịch cũng như phân tích một số thao tác, thủ thuật trong việc dịch để phát huy khả năng sáng tạo của dịch giả mà vẫn bảo đảm sự trung thành với nguyên tác và độ chuẩn xác của bản dịch.
Trang 1BÀN VỀ Ý TƯỞNG SÁNG TẠO TRONG DỊCH VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT
Nguyn Danh Vu
Trường Đại học Hà Nội
học và cũng là một lĩnh vực nghệ thuật Mỗi văn bản
dịch thường hàm chứa những yếu tố sáng tạo nhất
ñịnh và vì thế dịch văn học-nghệ thuật ñược xem là
một loại hình hoạt ñộng sáng tạo, còn bản thân dịch
giả ngoài năng lực sáng tạo phải mang trong mình
những phẩm chất của một nhà văn – người sáng tạo
nghệ thuật trong một khuôn khổ cho sẵn
Khi bàn về ý tưởng sáng tạo trong dịch văn
học-nghệ thuật, chúng ta cần làm rõ những nội dung liên
quan ñến vấn ñề này là: Dịch giả có phải là người ñồng
sáng tạo trong việc cho ra ñời một bản dịch chất
lượng? Người dịch có thể sáng tạo gì trong một bản
dịch? Sáng tạo như thế nào ñể bản dịch không phản lại
nguyên tác? Chủ ñích của sáng tạo trong dịch thuật là
gì? Nói một cách khác là cần phải làm rõ chủ thể
sáng tạo, hình thức và nội dung sáng tạo, phạm vi và
mức ñộ sáng tạo, ý tưởng và mục ñích sáng tạo khi
chuyển dịch một tác phẩm văn học-nghệ thuật từ ngôn
ngữ này sang một ngôn ngữ khác
Bài viết nhằm góp thêm tiếng nói bàn về những ý
tưởng sáng tạo trong dịch thuật nói chung và dịch văn
học-nghệ thuật nói riêng, nhận diện và ñánh giá những
ý tưởng sáng tạo trong một bản dịch cũng như phân
tích một số thao tác, thủ thuật trong việc dịch ñể phát
huy khả năng sáng tạo của dịch giả mà vẫn bảo ñảm
sự trung thành với nguyên tác và ñộ chuẩn xác của
bản dịch
Về nội dung, bài viết ñề cập ñến hai vấn ñề chính:
a/ Ý tưởng sáng tạo - nhân tố quan trọng trong dịch
văn học-nghệ thuật; b/ Nhận diện và ñánh giá những ý
tưởng sáng tạo trong một bản dịch văn học thông qua
ñối chiếu ngôn ngữ
Abstract: Translation may be considered as a
science and an art creation sector Each translation
work usually contains certain creativities Therefore,
art-literary translation is also supposed to be a kind of
creation activities, meanwhile translators, apart from
their creation competence, should own qualities and
conduct of a writer - an art creator within available frameworks and scopes
When talking about creative ideas of art-literary translation, we should investigate the following related issues: Whether translators are co-creators of a high quality translation work? What translators could create
in their translation products? In what ways translators could develop their creative ideas while trying to be loyal and faithful to the original work? What are the goals of creation? In other words, we should investigate the subject, the form and content, the rate and scope, the idea and aim of creation activities while transforming a literary work from one language into another?
In an attemp to contribute to discussing creative ideas in translation in general and art-literary translation in particular, identifying and evaluating creative ideas in a translation work, as well as, analyzing some translation operations and techniques
to mobilize translator creativities and ensure faithfulness and accuracy of a translation product With reference to the content of the article, we want
to mention two issues: 1/ Creative ideas - an important factor of art-literary translation; 2/ Identifying and evaluating creative ideas through language comparison and contrast methods
Phần mở ñầu
Dịch thuật là một ngành khoa học và cũng là một lĩnh vực nghệ thuật Thường thì trong mỗi văn bản dịch ñều hàm chứa những yếu tố sáng tạo nhất ñịnh Tuy nhiên, các yếu tố này phân bố không ñồng ñều nên trong những bản dịch khác nhau phạm vi và mức ñộ và sáng tạo cũng ñược thể hiện một cách khác nhau Căn cứ vào loại hình, chúng ta có thể quy các văn bản dịch thành hai loại chủ yếu: Văn bản dịch mang phong cách nghệ thuật (dịch văn học-nghệ thuật) và văn bản dịch không theo phong cách nghệ thuật (dịch chuyên ngành) Ở ñây, cái ñể phân biệt một bản dịch nghệ
Trang 2thuật với một bản dịch khơng nghệ thuật chính là
ở yếu tố sáng tạo
Dịch văn học-nghệ thuật là một loại hình hoạt
động mang đậm dấu ấn sáng tạo của dịch giả Vì
lẽ đĩ, ngồi khả năng biết chuyển đổi một cách
chính xác và trung thành những thơng điệp từ văn
bản gốc sang văn bản dịch, dịch giả cịn phải là
người cĩ khả năng sáng tạo và mang trong mình
phẩm chất của một nhà văn - người làm nghệ
thuật Yêu cầu chung đối với các dịch giả văn học
là họ phải am hiểu sâu sắc văn hĩa, tinh thơng
ngơn ngữ của nguyên tác và tiếng mẹ đẻ, thấu
hiểu và cĩ sự đồng điệu với tác giả về phong cách,
tâm hồn, thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá con
người và hiện thực, cĩ khả năng chuyển hĩa, tái
tạo và sáng tạo - sáng tạo trong một chừng mực cĩ
thể và theo một khuơn khổ cho sẵn
Bàn về dịch thuật, PGS TS Nguyễn Văn Dân -
Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt
Nam khẳng định: “Dịch thuật là một lĩnh vực vừa
mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, là
một lĩnh vực vơ cùng nhọc nhằn nhưng đem lại
niềm vui sáng tạo cho người dịch Giá trị sáng
tạo trong dịch thuật chính là cái làm cho nĩ trở
thành một nghề cao quý khơng thua kém bất cứ
một nghề sáng tạo nào Tuy nhiên, sáng tạo trong
dịch thuật khơng giống với sáng tạo trong sáng tác
văn học Sáng tạo ở đây khơng cĩ nghĩa là người
dịch được quyền tạo ra một văn bản khác hẳn với
văn bản gốc Sáng tạo ở đây là người dịch phải lựa
chọn được các từ ngữ và cách diễn đạt tương
đương chính xác nhất trong vơ số cách diễn đạt để
chuyển tải trung thành nội dung và ý đồ nghệ
thuật của văn bản gốc Đĩ chính là sáng tạo nghệ
thuật” (xem Nguyễn Văn Dân, 2012) Dịch giả
Thúy Tồn cũng nhấn mạnh: “Dịch tức là làm
nghệ thuật Cơng việc dịch thuật khơng phải là
một sự chuyển ngữ thơng thường, mà người dịch
phải như một nhà văn thực thụ, “tái sinh” tác
phẩm sao cho phù hợp với tiếng mẹ đẻ nhưng vẫn
phải giữ được văn phong gốc của tác giả” (xem
“Lao động” số ra ngày 04/12/2010, tr.5)
Mục đích của bài viết nhằm gĩp thêm tiếng nĩi
bàn về những ý tưởng sáng tạo trong dịch thuật
nĩi chung và dịch văn học-nghệ thuật nĩi riêng, nhận diện và đánh giá những ý tưởng sáng tạo trong một bản dịch, phân tích một số thao tác được sử dụng trong quá trình dịch nhằm phát huy năng lực sáng tạo của dịch giả và cho ra đời một bản dịch cĩ chất lượng
Về nội dung, bài viết đề cập đến hai vấn đề
chính: a/ Ý tưởng sáng tạo – nhân tố quan trọng
trong dịch văn học-nghệ thuật; b/ Nhận diện và đánh giá những ý tưởng sáng tạo trong dịch văn học-nghệ thuật thơng qua đối chiếu ngơn ngữ
Về phạm vi nghiên cứu, do khuơn khổ cĩ hạn của bài viết, chúng tơi chủ yếu chỉ điểm qua (một cách ngẫu nhiên) một số bản dịch từ tiếng nước ngồi ra tiếng Việt và ngược lại thơng qua đối chiếu trên một số bình diện và cấp độ ngơn ngữ giữa bản dịch và nguyên tác
Lý tưởng sáng tạo – nhân tố quan trọng trong dịch văn học-nghệ thuật
Sáng tạo (trong tiếng Anh là Create, creation,
creativity , cịn trong tiếng Pháp là Créer, création)
là một phần khơng thể thiếu trong hoạt động nghệ
thuật cũng như mọi lĩnh vực đời sống hàng ngày
Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất kỳ cái gì đĩ đồng thời cĩ hai thuộc tính: Tính mới và tính ích lợi - nghĩa là tạo tác nên những gì mới hơn (so với những cái cũ) hoặc những gì mới mẻ (mà trước đấy chưa từng cĩ) và cĩ một giá trị nhất định (cĩ ích) Nĩi cách khác, sáng tạo là tạo ra một cái gì
đĩ mới mẻ, khác biệt, cĩ giá trị và khơng theo những cách thức thơng thường
Một ý tưởng sáng tạo là một ý tưởng mới, khơng chấp nhận lối mịn cĩ sẵn, khơng thuận theo thĩi thường trong phán đốn, tư duy, cách nhìn nhận , cố gắng vượt qua những mặt trái, những bất cập để phát hiện ra những cái mới mẻ, đúng đắn, thực chất và cĩ giá trị Tuy nhiên, giữa
ý tưởng và hiện thực cĩ một khoảng cách lớn: Để một ý tưởng trở thành yếu tố sáng tạo trong hiện thực là điều khơng đơn giản và dễ dàng
Ý tưởng sáng tạo trong dịch thuật là những ý định, những tìm tịi của dịch giả nhằm tạo ra điều mới mẻ, khác lạ hay độc đáo trong bản dịch, làm
Trang 3cho bản dịch hấp dẫn hơn ñối với người ñọc mà
vẫn ñảm bảo ñộ chính xác và sự trung thành với
nguyên bản Nói cách khác, ñây là ý ñồ nghệ thuật
mang dấu ấn sáng tạo của dịch giả Tuy nhiên,
một ý tưởng sáng tạo sẽ vẫn chỉ là ý tưởng, là
mong muốn khám phá, là khả năng chưa thể trở
thành hiện thực nếu ý tưởng ñó không có giá trị và
không ñược thừa nhận
Khi bàn về những ý tưởng sáng tạo trong dịch
thuật nói chung và dịch văn học-nghệ thuật nói
riêng, chúng ta cần làm rõ những vấn ñề liên quan
sau: Dịch giả có phải là người ñồng sáng tạo trong
việc cho ra ñời một bản dịch chất lượng? Người
dịch có thể sáng tạo gì trong một bản dịch? Sáng
tạo như thế nào ñể bản dịch không phản lại
nguyên tác? Chủ ñích của sáng tạo trong dịch văn
học-nghệ thuật là gì? Nói một cách khác là cần
phải làm rõ chủ thể sáng tạo, hình thức và nội
dung sáng tạo, phạm vi và mức ñộ sáng tạo, ý
tưởng và mục ñích sáng tạo khi chuyển dịch một
tác phẩm nghệ thuật từ ngôn ngữ này sang một
ngôn ngữ khác
1.1 Về chủ thể sáng tạo: Có thể coi dịch
phẩm văn học-nghệ thuật là một tác phẩm ñồng
sáng tạo: Trước hết và quan trọng hơn cả là sáng
tạo của tác giả ñể cho ra ñời một tác phẩm có chất
lượng và sau ñó là sáng tạo của dịch giả Xét về
bản chất, dịch nghĩa là viết lại một tác phẩm bằng
một ngôn ngữ khác nên công việc này ñòi hỏi
người dịch phải có một khả năng xử lý ngôn ngữ
và sáng tạo rất cao Nói cách khác, dịch giả là nhà
văn thứ hai ñược quyền sáng tạo trên nền tảng
sáng tác của tác giả - nhà văn thứ nhất, nghĩa là
sáng tạo trong khuôn khổ và theo nguyên mẫu cho
trước Chính vì lẽ ñó, dịch thuật với tư cách là một
ngành khoa học ñòi hỏi người dịch phải tuân thủ
những nguyên tắc, chuẩn mực… mang tính nghề
nghiệp nhưng lại phải có sự linh hoạt và khả năng
sáng tạo Khi xem xét, ñánh giá một bản dịch
chúng ta phải tạo cho mình một tâm thế sẵn sàng
tiếp ñón và ghi nhận những ý ñồ nghệ thuật,
những ý tưởng mang tính sáng tạo của người dịch
và phải chấp nhận khả năng nguyên tác bị mất mát
một phần hương sắc và phẩm chất nguyên thủy
của nó, thay vào ñó là chút mới lạ, hương vị riêng, bản sắc riêng mà dịch giả mang ñến cho tác phẩm thông qua bản dịch của mình
Nhiều dịch giả và nhà nghiên cứu nhất trí rằng, dịch văn học-nghệ thuật là một loại hình hoạt ñộng văn hoá - xã hội ñặc biệt: Nếu coi dịch một tác phẩm văn học-nghệ thuật là sự tương tác giữa hai hệ thống ngôn ngữ, hai tinh thần ngôn ngữ, hai nền văn hoá, hai thế giới quan, hai quan niệm sống… thì công việc này chắc chắn ñòi hỏi ở người dịch phải có khả năng tái tạo văn bản và khả năng sáng tạo lớn Nét ñặc thù của dịch văn học-nghệ thuật là ngôn ngữ ở ñây vận hành không chỉ với chức năng giao tiếp mà còn với chức năng thẩm mỹ, chức năng biểu cảm, chức năng ñịnh hướng giá trị, chức năng giáo dục nên rất cần những yếu tố sáng tạo từ phía dịch giả Xét cho cùng, bản dịch văn học, với tư cách là một công trình sáng tạo nghệ thuật phải ñược xem như một ñứa con lai với vẻ ñẹp và những nét quyến rũ riêng – vẻ ñẹp của nguyên tác và nét quyến rũ của dịch phẩm
Liên quan ñến vai trò sáng tạo của dịch giả, xin dẫn một ví dụ ñể minh họa: Khi dịch ñầu ñề tác phẩm “Histoire du Sufficit” của Hăng-gri Pu (Giải Gông-cua văn học Pháp năm 1991), dịch giả Đức Giang chuyển thành “Câu chuyện về cái ñuôi lừa”
Theo từ nguyên học, Sufficit trong tiếng Pháp là một từ gốc La-tinh (suypfisi) có nghĩa “Thế là ñủ”
Theo nội dung câu chuyện, ñây là lời Đức cha nói với người thầy giáo Nhưng thầy giáo lại không biết tiếng La-tinh nên phải ñi nhờ người khác giải nghĩa hộ và ai ñó bảo với thầy rằng “sufficit” là
“cái ñuôi lừa” Thế là thầy giáo nọ, vì muốn tỏ lòng kính trọng, ñã cố ñi tìm bằng ñược món ăn này ñể dâng lên Đức cha Và vì thế mà câu chuyện trở nên hài hước Dịch giả ñã chọn phương án dịch tên truyện như trên vừa nhằm bám sát nội dung, nhưng lại khai thác ñược chất hài hước của câu chuyện và như thế cũng dễ hiểu hơn ñối với ñộc giả Đây là phương pháp dịch vừa bảm sát nguyên văn nhưng có thêm phần chú giải – một cách làm mang ý tưởng sáng tạo của dịch giả (xem Phạm Hồng Vinh, 2001)
Trang 41.2 Về hình thức và nội dung sáng tạo:
Trong dịch văn học-nghệ thuật, ý tưởng sáng tạo
ñược thể hiện trên mọi bình diện, cấp ñộ ngôn ngữ
và xuyên suốt toàn bộ nội dung, hình thức trình
bày của bản dịch: Từ cách dịch tên tác phẩm,
chuyển dịch tên riêng, cách chọn từ vựng, cách sử
dụng cấu trúc câu, cách trình bày văn bản cho ñến
văn phong, ngữ ñiệu Tuy nhiên, yếu tố sáng tạo
thường thể hiện rõ nét nhất trong quá trình xử lý
và chuyển mã các ñặc ngữ - những từ “không có
tương ñương” hay “không dịch ñược”, những thực
thể (reali) ngôn ngữ ñất nước học, thực thể văn
hóa, các thuật ngữ… và các yếu tố phát ngôn
ngoài ngôn ngữ (bởi ñây là những yếu tố bổ sung
nội dung giao tiếp quan trọng cho các thành tố
ngôn ngữ) Để dịch ñược những ñặc ngữ này,
người dịch phải có kiến thức văn hóa, kiến thức
ñất nước học, kiến thức ngôn ngữ sâu rộng, sự
nhạy cảm tinh tế và một số kỹ năng cần thiết như
biết kết hợp giữa dịch nghĩa, chuyển âm, giải
nghĩa, sử dụng phương pháp thay thế tương ứng -
một kỹ thuật cải biến trong dịch thuật
Trong lý thuyết dịch có ñề xuất hai phương
thức dịch cơ bản: Dịch nghĩa (tức là dịch nguyên
văn ý nghĩa từ ngữ) thường phù hợp với dịch văn
học-nghệ thuật và dịch giao tiếp (tức dịch ý)
thường phù hợp với dịch chuyên ngành Đối với
dịch văn học-nghệ thuật, cả hình thức biểu ñạt và
nội dung của ngôn bản ñều có vai trò và ý nghĩa
quan trọng như nhau bởi chính hình thức ngôn
ngữ tạo ra cái hay, cái ñộc ñáo, cái quyến rũ của
văn chương Còn ñối với dịch chuyên ngành,
chính ngữ dụng chứ không phải nội dung biểu
cảm của ngôn bản là mục ñích của loại hình dịch
này Trong dịch giao tiếp, nếu chỉ chú trọng ñến
chuyển ñổi các yếu tố ngôn ngữ thì hiệu quả giao
tiếp của văn bản sẽ bị hạn chế Tuy nhiên, khác
với bản dịch theo phong cách nghệ thuật, một văn
bản dịch chuyên ngành thường không ñòi hỏi
nhiều về sự sáng tạo và hình thức thể hiện và vì
thế nó giải phóng cho người dịch trách nhiệm phải
cố ñạt tới sự thống nhất, hài hòa giữa nội dung và
hình thức, cũng như sự trung thành với phong
cách, tư tưởng, giá trị thẩm mỹ… của tác giả và
nguyên tác
Như chúng ta ñã biết, dịch thuật (ñặc biệt là dịch văn học-nghệ thuật) là một công việc hết sức khó khăn Những khó khăn thường gặp trong dịch thuật là: a/ Khó khăn do sự khác biệt của hai hệ thống ngôn ngữ (nhất là khi dịch từ tiếng Việt ra tiếng nước ngoài các ñại từ nhân xưng, từ láy, thành ngữ, tục ngữ, tiếng lóng, lối nói lái, phương ngữ, lối nói dân dã, thơ, ca dao, hò vè…); b/ Khó khăn do khác biệt văn hóa gắn với ñặc ñiểm lịch
sử, ñịa lý, ñời sống vật chất - tinh thần, truyền thống, phong tục tập quán… của hai dân tộc (những khái niệm dân gian trong tiếng Việt như
thúng, mủng, nong, nia, rổ, rá, dần, sàng…; tên
gọi ñồ ăn thức uống như bánh chưng, bánh chày,
bánh dày, bánh giò, bánh nếp, bánh tẻ, bánh bèo, bánh tro…; rượu gạo, rượu nếp, rượu cẩm, rượu sán lùng, rượu quốc lủi, rượu nếp cái hoa vàng…;
các thủ tục cưới xin truyền thống như nộp cheo,
dạm ngõ, thách cưới, ăn hỏi, ñưa dâu, ñón dâu, lại mặt…; các yếu tố liên quan ñến ñời sống tâm
linh như ñền, ñình, chùa, miếu, am, phủ, ñiện, bàn
thờ, ngai vị, bài vị…; c/ Khó khăn do sự khác biệt
về phương thức tư duy trong từng cộng ñồng ngôn ngữ (chẳng hạn, một kiểu tư duy liên quan ñến
thuật ngữ chỉ màu trắng trong tiếng Việt như trắng
tay, trắng mắt, trắng ñêm, trắng án, mất trắng, bỏ trắng… và cách tư duy liên quan ñến từ “hand”
/bàn tay/ trong tiếng Anh như bare hand, at first
hand, at second hand, on the first hand, on the second hand…) Những khó khăn này có thể dẫn ñến những cách hiểu, cách dịch khác nhau và cho
ra ñời một bản dịch xa rời nguyên tác Chính những khó khăn kể trên trong dịch thuật ñòi hỏi ở dịch giả ngoài trình ñộ ngôn ngữ và văn hóa, cần
có sự linh hoạt và khả năng sáng tạo rất cao khi xử
lý văn bản (xem thêm Vũ Ngọc Cân, 1994) Xin dẫn một ví dụ vui ñể minh họa cho nhận ñịnh trên: Một bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức do Nhà xuất bản Reitten & Wening Berlin phát hành Dịch giả người Đức ñã dịch vế ñầu của câu thơ lục bát “Trải bao thỏ lặn ác là / Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm” (“thỏ lặn” nghĩa là trăng khuyết, còn
“ác là” nghĩa là mặt trời lặn – chỉ sự luân hồi của trời ñất, sự vận hành của vạn vật, thời gian và không gian) ra tiếng Đức thành “Wie oft ist seit
Trang 5dieser Zeit der Hase in des Meer gesturzt der Rabe
in ein fernes land geflogen” Câu trên giải nghĩa ra
tiếng Việt là “Từ ñó bao lần thỏ ngã xuống biển,
quạ bay ñến một nước xa” Và một nhà thơ bút tre
nhân ñó ñã cảm hứng viết lại lời dịch trên thành
“Bao lần xuống biển thỏ rơi / Quạ bay ñến tận
phương trời xa xăm” Chính những rào cản ngôn
ngữ, văn hóa và tư duy khi giải nghĩa cụm từ “thỏ
lặn ác là” ñã dẫn ñến sự lầm lẫn nói trên Đây rõ
ràng là sai sót chứ không phải do “ý tưởng sáng
tạo” của dịch giả (xem Đinh Thị Reo, 2001)
1.3 Về phạm vi và mức ñộ sáng tạo: Như ñã
nói ở trên, dịch văn học-nghệ thuật ñồng nghĩa với
hoạt ñộng sáng tạo nghệ thuật nhưng là sáng tạo
trong khuôn khổ ñịnh sẵn và trên cái nền của tác
phẩm gốc Ở ñây, dịch phẩm chính là mảnh ñất ñể
dịch giả phô diễn những nét tài hoa trong sáng tạo
của mình Như vậy, dịch văn học-nghệ thuật vừa
ñòi hỏi sự chính xác và trung thành với nguyên
bản, vừa ñòi hỏi người dịch phải làm sao giữ ñược
cái hồn cốt, cái thần của nguyên bản Ở ñây sẽ nẩy
sinh hai vấn ñề: a/ Nếu dịch một cách quá cứng
nhắc như “trực dịch” hay dịch “từ ñối từ” thì việc
làm ñó chẳng khác gì dịch tự ñộng bằng máy và
ñương nhiên khó có thể truyền tải ñược hết nội
dung tư tưởng, cái hồn của nguyên tác; b/ Nếu vì
“sáng tạo” mà xa dời hiện thực của nguyên bản,
không giữ ñược nội dung, giá trị nghệ thuật, cốt
cách… của nguyên tác thì việc làm này chẳng
khác gì dịch ý, lược dịch, phỏng dịch, phóng tác,
thuật lại…, nói cách khác là giết chết nguyên bản
và cho ra ñời một tác phẩm mới dựa vào cốt
truyện cũ của tác giả Tuy nhiên, phải chấp nhận
một thực tế là nội dung tác phẩm dịch có thể bị
thêm, bớt, hoặc ít nhiều sai lệch so với nguyên tác
bởi dịch văn học-nghệ thuật là sự tái tạo và sáng
tác lại một tác phẩm nghệ thuật ñể mang cho nó
một ñời sống mới
Cũng cần nhấn mạnh rằng, dịch thuật là nghệ
thuật nhưng là một nghệ thuật dựa trên cơ sở khoa
học Nói một cách khác, công việc sáng tạo trong
dịch thuật phải dựa trên một nền tảng ngôn ngữ
học vững chắc, nhờ ñó dịch giả có thể thông qua
những cách thức, phương pháp khác nhau thể hiện
ý tưởng sáng tạo của mình Nhưng xét cho cùng,
dù chúng ta luôn chủ trương khuyến khích khả năng sáng tạo của dịch giả, bản dịch vẫn phải bảo ñảm tính chính xác và sự trung thành, phải hay, phải nhã… Ở ñây, người dịch vừa như một nhà khoa học, vừa như một nghệ sỹ - người có tri thức,
tư duy khoa học và khả năng sáng tạo ñể có thể cho ra ñời một tác phẩm nghệ thuật – một bản dịch ñạt chất lượng cao
1.4 Về ý tưởng và mục ñích sáng tạo: Ý
tưởng sáng tạo trong dịch thuật thường mang tính chủ quan của dịch giả Còn mục ñích sáng tạo là
ñể cho ra ñời một bản dịch ñạt chất lượng cao Theo quan ñiểm của nhiều nhà nghiên cứu và dịch giả thì một bản dịch tốt phải ñạt ñược ba tiêu chí
cơ bản là “tín - ñạt - nhã” Nghĩa là người dịch
phải trung thành với nguyên tác (về nội dung tư tưởng, phong cách, thẩm mỹ, giá trị nghệ thuật…), lĩnh hội và truyền ñạt ñược nguyên ý của tác giả, phải chạm tới cái thần của nguyên bản, cảm xúc ñược cái ñẹp, lĩnh hội ñược cái tinh túy, rồi lựa lời lột tả cái tinh thần ấy một cách lưu loát, không câu chấp, bám sát nguyên văn nhưng không máy móc, không cải biên… Đó chính là lao ñộng sáng tạo Nói cách khác, sáng tạo ở ñây ñược hiểu là người dịch tuy hết sức tôn trọng nguyên ý của tác giả và cũng hết sức chú ý ñến cách diễn ñạt, hành văn của mình trong ngôn ngữ ñích nhưng không quá câu lệ, không quá lệ thuộc vào nguyên văn Về phương pháp, theo GS Trương Chính “cách tốt nhất ñể dịch cho ñúng và cho hay một câu tiếng nước ngoài sang tiếng Việt là thử hình dung xem trong một hoàn cảnh tương tự người Việt sẽ nói như thế nào, viết như thế nào” (xem Trương Chính, 1995)
Nhờ việc coi trọng yếu tố sáng tạo trong dịch văn học-nghệ thuật mà trong nền văn học Việt Nam ñã xuất hiện những bản dịch xuất sắc như
“Chinh phụ ngâm”, “Tỳ bà hành”… thể hiện một khả năng sáng tạo vô song của các dịch giả, làm rạng danh ngành dịch thuật nước nhà Tuy nhiên,
dù coi trọng ý tưởng sáng tạo, dịch giả vẫn phải tuân thủ triệt ñể chữ “tín” hay sự trung thành Có một cách ñể kiểm ñịnh và ñánh giá ñộ sát thực của
Trang 6bản dịch so với nguyên tác là sau khi ñã hoàn
thành việc chuyển dịch một văn bản từ ngôn ngữ
nguồn sang ngôn ngữ ñích, ta hãy tiến hành so
sánh: Nếu hai văn bản ñó không có sự khác biệt
lớn về hình thức, nội dung, tư tưởng, phong
cách… thì coi như bản dịch ñạt yêu cầu Còn nếu
có sự khác biệt quá lớn hoặc thay ñổi ñến mức
người ta không nhận ra nguyên tác nữa thì coi như
bản dịch không ñạt, dù có hay, có “nhã” bao
nhiêu Như vậy, sự sáng tạo của dịch giả ở ñây
cần phải ñược ñánh giá lại vì sáng tạo mà làm biến
dạng nguyên tác thì chắc không thể chấp nhận
ñược
II Nhận diện và ñánh giá những ý tưởng
sáng tạo trong một bản dịch văn học-nghệ
thuật
Như ñã nói ở trên, mục ñích của sáng tạo trong
dịch thuật là nhằm cho ra ñời một bản dịch ñạt
chất lượng và hiệu quả giao tiếp cao nhất Hiệu
quả giao tiếp của một dịch phẩm thường ñược thể
hiện rõ khi bản dịch vừa trung thành với nguyên
tác lại vừa thực hiện tốt chức năng giao tiếp của
mình Cũng cần phải hiểu trung thành không có
nghĩa là phụ thuộc hoàn toàn hay quá câu lệ vào
nguyên bản Trung thành ở ñây, như ai ñó nói,
không nhất thiết phải là chung thủy Quan ñiểm
này trùng hợp với tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn
biến”: Những gì thuộc về nguyên tắc thì phải tuyệt
ñối trung thành, nhưng trong các thao tác xử lý
vấn ñề thì lại phải linh hoạt và sáng tạo GS Cao
Xuân Hạo cũng nhấn mạnh: “Một bản dịch phải
trung thành về mọi phương diện với nguyên bản,
nhất là về giá trị nghệ thuật Vì nếu nguyên tác là
một tuyệt tác của văn chương nhân loại cổ kim,
mà bản dịch lại là một thứ văn viết dở ñến nỗi
chẳng ai buồn ñọc, thì không có cách gì nói rằng
ñó là một bản dịch “trung thành” ñược, dù nó có
công phu ñến ñâu, có theo sát nguyên tác ñến ñâu
chăng nữa Cũng xin nói ngay rằng dịch sát từng
chữ là cách tốt nhất ñể dịch sai và dịch dở” (xem
Cao Xuân Hạo, 2011)
2.1 Ý tưởng sáng tạo trong việc dịch tên tác
phẩm
Thường thì tên của một tác phẩm văn học là bộ
phận có vị trí ñặc biệt, gây hiệu ứng tức thời bởi
nó thu hút sự chú ý của ñộc giả khi chọn lựa sách
ñể ñọc Vì thế, việc ñặt tên cho tác phẩm là một thao tác quan trọng trong lao ñộng của nhà văn - vốn là một loại hình lao ñộng cực nhọc và ñầy sáng tạo Về nguyên tắc, phong cách nhà văn thường bộc lộ ngay trong tiêu ñề - tên gọi của tác phẩm và là thông ñiệp ñầu tiên của tác giả gửi tới người ñọc Để cho cái tiêu ñề ấy có sức hấp dẫn, cuốn hút người ñọc thì nó thường ngắn gọn, xúc tích và hàm nghĩa Còn trong tác phẩm, tác giả bao giờ cũng thể hiện (một cách rõ ràng hay ẩn ý) nhân sinh quan, thế giới quan, chủ ñích, ý tưởng, phong cách… của mình ñối với ñối tượng ñược
mô tả Vậy việc dịch ñầu ñề có vai trò như thế nào trong dịch một tác phẩm văn học-nghệ thuật? Liệu
nó có quan trọng như việc tác giả ñặt tên cho tác phẩm của mình không? Việc dịch tên gọi của tác phẩm có ñòi hỏi những ý tưởng sáng tạo từ phía dịch giả? Có phải dịch giả thường cố ý sửa ñổi tên nguyên tác theo quan ñiểm, cách nhìn, cảm nhận riêng hoặc sự ñồng cảm của mình hay ñó chỉ là lý
do bất khả kháng, một yêu cầu mang tính khách quan? Để tìm lời giải cho những câu hỏi nêu trên, chúng ta hãy xem xét một vài ví dụ minh họa dưới ñây
i) Khi dịch cuốn tiểu thuyết “The Unbearable Lightness of Being” (dịch nghĩa là “Sự nhẹ nhàng không mang nổi của kiếp người”) của nhà văn Tiệp Khắc Mi-lan Căn-ñơ-ra (Milan Kundera), vấn ñề quan trọng và khó khăn nhất ñối với dịch giả là dịch từ “being” thế nào cho chuẩn và hay Trong các từ ñiển Anh-Việt, “being” có các nét nghĩa như “ñời / ñời sống / nhân sinh / hiện tính / hiện hữu / hữu thể / thể tính / con người / thể chất / bản chất” và những nghĩa khác Khi tác phẩm ñược khởi ñăng từng kỳ trên tạp chí “Hợp Lưu” dịch giả Trịnh Y Thư ñã chọn nhan ñề cho cuốn sách là “Nhẹ Kiếp Nhân Sinh” (vì theo ông, “kiếp nhân sinh” nghe có vẻ hấp dẫn và hợp thời trang triết học hiện sinh) Có nhiều người thích tiêu ñề này Tuy nhiên, dịch giả vẫn cảm thấy có một cái
gì ñó không ổn vì ông ñã dịch thiếu từ
“unbearable” (nghĩa là: Không thể mang nổi / không thể chịu ñựng ñược) vốn cũng rất quan
Trang 7trọng Dịch giả ñã suy ngẫm, tìm tòi rồi chọn
chữ “khôn kham” ñể dịch từ “unbearable” và ñịnh
lấy tiêu ñề mới cho cuốn tiểu thuyết là “Khôn
Kham Nhẹ Kiếp Nhân Sinh” Dịch như vậy là ñã
ñủ ý nhưng suy ñi tính lại, ông thấy cái tên hơi dài
và giống như nửa câu thơ lục bát Cuối cùng dịch
giả quyết ñịnh chọn tên cho cuốn sách là “Đời
Nhẹ Khôn Kham” (Nhà xuất bản Văn học, 2002)
Ở ñây từ “nhân sinh” ñã biến thành “ñời” nhưng
có lẽ Căn-ñơ-ra (nếu biết) chắc vẫn không vui bởi
“being” dưới nhãn quan siêu hình của ông “… Sau
cái chết vẫn còn có cái gì ñó thì cái chết không thể
nào giải thoát chúng ta ra khỏi nỗi kinh khiếp của
cái being Hăm-lét của Sếch-xpi-a (W
Shakespeare) cũng ñưa ra vấn nạn về cái being (to
be or not to be) chứ không phải ñời sống Sự kinh
khiếp của being là: Cái chết có hai mặt Một mặt
là cái non-being, mặt kia là sự hiện hữu vật thể
ghê sợ của cái thây ma…” Và dịch giả ước rằng,
giá như ông ñược quyền dịch là “Khôn Kham Nhẹ
Cái Bi-ing” thì chắc không phải phụ lòng tác giả
(khi làm công việc này dịch giả tự ví mình là kẻ
bắc cây cầu khỉ nối hai nền văn hóa băng qua ñại
dương ñầy sóng dữ) Nghề dịch quả là một loại
lao ñộng nghệ thuật vô cùng nhọc nhằn vì nó ñòi
hỏi rất nhiều ý tưởng sáng tạo, cũng như sự
nghiêm túc và trách nhiệm từ người dịch (xem
Trịnh Y Thư, 2014)
ii) Tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ôxtrâylia
Côlin Mac Kơlâu (Colleen McCulloudth) “The
Thorn Birds” ñược dịch ra tiếng Nga là “Поюшие
в терновике” và ñược dịch ra tiếng Pháp với cái
tên “Les oiseaux se cachent pour mourir” Bản
tiếng Nga ñược dịch giả Phạm Mạnh Hùng dịch ra
tiếng Việt lấy tên là “Tiếng chim hót trong bụi
mận gai” (Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm
1980) Bản tiếng Pháp nếu dịch ra tiếng Việt có
nghĩa là “Những con chim ẩn mình chờ chết”
Đây là một thí dụ khác về ý tưởng sáng tạo của
dịch giả Trước hết, ta hãy xét tên gọi trong
nguyên bản: Từ “thorn” trong tiếng Anh có nghĩa
là a/ cái gai; b/ bụi gai; c/ gông cùm, xiềng; d/ sự
khó khăn Căn cứ vào câu chuyện truyền thuyết
trong tựa ñề của cuốn tiểu thuyết, nếu chọn nét
nghĩa “b” của “thorn”, cụm từ “the thorn birds” có
thể dịch ra tiếng Việt (theo nghĩa ñen) là “những con chim trong bụi gai” hay “những con chim bị gai ñâm” Trong tiếng Nga, “поюшие” – tính ñộng từ dạng chủ ñộng thời hiện tại có nghĩa là
“ñang ca hát” và cả cụm từ “Поюшие в терновике” theo nghĩa ñen tạm dịch là “Hót trong bụi mận gai” Như vậy, khi dịch ra tiếng Việt, nếu lấy nguyên nghĩa tiếng Anh “Những con chim trong bụi gai” hay nguyên nghĩa tiếng Nga
“(Những con chim) hót trong bụi mận gai” thì hơi ñơn giản, không gợi ñược một liên tưởng ñáng kể nào, còn nếu lấy tên nguyên nghĩa tiếng Pháp
“Những con chim ẩn mình chờ chết” thì lại hơi xa với tên trong nguyên tác và có thể tạo ra sự liên tưởng theo một hướng khác Dịch giả Phạm Mạnh Hùng dịch cụm từ “поюшие” thành “tiếng chim hót” nghe thanh thoát, tạo ấn tượng, gợi mở những liên tưởng và hoàn toàn phù hợp với nội dung, ý tưởng, giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Nhưng cũng
có một cách tiếp cận khác: Nhà văn Đông La cho rằng, tựa ñề “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”
ñã dịch ra ñược chữ “gai” nhưng chỉ miêu tả một cách khách quan khung cảnh “con chim hót trong bụi gai” Còn tiêu ñề “Những con chim ẩn mình chờ chết” nghe hay hơn bởi tuy không có chữ
“gai” nhưng lại lột tả ñược ý nghĩa và tinh thần của cuốn sách: Một tình yêu vượt qua giới luật tôn giáo, sẵn sàng chấp nhận cả cái chết Cảm nhận và ñánh giá như thế nào là quyền của ñộc giả Nhưng
dù sao cũng cần ghi nhận ý tưởng sáng tạo rất ñáng trân trọng của dịch giả
iii) Tác phẩm nổi tiếng của ñại văn hào Pháp Víchto Huygô “Le Misérables”, theo các bản dịch trước Cách mạng Tháng Tám và của các Nhà xuất bản ở Sài Gòn cũ, tác phẩm có tên tiếng Việt là
“Những kẻ khốn nạn”, còn theo nhóm dịch giả Huỳnh Lý, Vũ Đình Liên, Lê trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu do Nhà xuất bản Văn học tái bản năm 1987, tác phẩm có tên là “Những người khốn khổ” Nguyên do là từ “misérables” trong tiếng Pháp có hai nghĩa cơ bản: a/ Người khốn khổ; b/ Kẻ ñê tiện, ñáng khinh, khốn nạn Còn việc chọn nét nghĩa nào là tùy thuộc quan ñiểm, thái ñộ, cách hiểu hay ý ñịnh… của dịch giả Tuy nhiên, dù chọn nét nghĩa nào cũng phải căn cứ vào nội dung
Trang 8tư tưởng, chủ ñích và hàm ý của tác giả Và ta
nhận ra rằng, cái tên “Những người khốn khổ”
ngoài việc dịch sát với nghĩa cơ bản của từ
“misérables”, còn ẩn chứa một tinh thần nhân văn
cao cả Ở ñây ta cảm nhận ñược một sự cảm thông,
chia sẻ, nỗi sót xa, một nỗi ñau…, nhưng trên tất
cả là tình thương bao la của tác giả ñối với những
con người có thân phận thấp hèn, bị vùi dập,
những người ở tận “dưới ñáy” của xã hội Dịch
ñược như thế là thể hiện sự hiểu biết và ý thức
sáng tạo rất nhân văn của người dịch
iv) Cuốn “Je vais en France, 2003-2004” (dịch
nguyên văn là “Tôi ñi Pháp”) là một tài liệu do
Trung tâm Quốc gia phục vụ sự nghiệp ñại học và
trường học Pháp (CNOUS) phát hành Vì ñây là
tài liệu hướng dẫn các thủ tục và toàn bộ quy trình
giúp học sinh - sinh viên Việt Nam có ñược cơ hội
tham gia các chương trình học tại các trường trung
học, cao ñẳng và ñại học của Pháp Nếu chỉ dịch
là “Tôi ñi Pháp” thì cuốn sách dễ bị lầm lẫn với
những tài liệu khác như một cuốn nhật ký hay
chuyện kể về một chuyến ñi Pháp của ai ñó… và
không gợi sự chú ý cần thiết ñối với những người
quan tâm Với mục ñích tăng tính hấp dẫn và sức
thu hút của cuốn sách, dịch giả ñã cho cuốn tài
liệu một cái tiêu ñề gần như mới hoàn toàn trong
tiếng Việt “Hướng dẫn du học Pháp” Mặc dù có
những khác biệt so với tên gọi trong nguyên tác,
có thể xem ñây là một ý tưởng hay, một yếu tố
sáng tạo trong dịch thuật (xem Vũ Văn Đại, 2004)
v) Truyện vừa “Предварительные итоги” (có
nghĩa từ ñiển là: Sơ kết, kết quả sơ bộ) của nhà
văn Nga Xôviết Iuri Triphônnốp ñược dịch giả
Phan Hồng Giang và Trần Thọ Chính dịch ra tiếng
Việt mang tên “Nửa ñời nhìn lại” (do Nhà xuất
bản Tác phẩm mới - Hội Nhà văn ấn hành năm
1987) Quả thật, nếu ñể tên tác phẩm y nguyên
như tên do tác giả ñặt là “Sơ kết” hay “Kết quả sơ
bộ” thì phần ñông ñộc giả sẽ nghĩ ñó là một bản
báo cáo sơ kết hay ñánh giá sơ bộ kết quả công tác
của một cơ quan quản lý hay ñơn vị hành chính
nào ñó Và chắc không mấy ai có hứng thú chọn
ñể ñọc vì nó không gây một chút ấn tượng nào (và
hệ quả là sách sẽ không bán ñược!) Có lẽ vì lý do
ấy mà các dịch giả, căn cứ vào nội dung của câu
chuyện ñã tìm cho tác phẩm một cái tên mới là
“Nửa ñời nhìn lại” – một cái tên vừa phản ánh tâm
nguyện và thể hiện ñược ý tưởng của tác giả, vừa
có khả năng gợi mở những liên tưởng và thực sự gây chú ý Đây là một cách xử lý chuyên nghiệp
và là ý tưởng sáng tạo ñáng trân trọng của các dịch giả
vi) Tên gọi một số tác phẩm (truyện ngắn) của các nhà văn Việt Nam ñược các dịch giả người Pháp chuyển sang Pháp ngữ ñã có những thay ñổi rất ñáng kể Chẳng hạn, truyện “Người vãi linh hồn” khi dịch sang tiếng Pháp thành “Anh hùng vãi ñái ra quần”; “Chín bỏ làm mười” ñược dịch thành “Chín người ñàn ông của ñời tôi”; “Hậu thiên ñường” ñược dịch thành “Thiên ñường, rồi sau ñó thì sao?”; “Hai người ñàn bà xóm Trại” ñược dịch thành “Nấu bao nhiêu bánh chưng?”… (xem thêm Phạm Hồng Vinh, 2001) Ở ñây, tên của nguyên tác gần như bị biến ñổi hoàn toàn và nội hàm, ý nghĩa của chúng cũng không còn nguyên vẹn nữa Có thể coi như tác phẩm ñã ñược mang tên mới Phải chăng nguyên nhân của sự thay ñổi này là do những khó khăn trong xử lý ngôn ngữ nguồn hay là ý tưởng sáng tạo của dịch giả? Hay có thể ñây là một cách tiếp cận mới trong lý luận dịch – dịch theo phương pháp giải nghĩa?
Trong một số công trình dịch thơ của thi sỹ Hồ Xuân Hương do các dịch giả Nga thực hiện chúng
ta cũng gặp những hiện tượng tương tự Tuy nhiên,
sự thay ñổi tên gọi tác phẩm ở ñây không hề làm thay ñổi bản chất của vấn ñề mà lại làm cho nội hàm ngữ nghĩa trong bản dịch tiếng Nga rõ ràng,
cụ thể hơn Chẳng hạn, tên bài “Chửa hoang” ñược dịch thành “Без мужа беременная” (Không
có chồng mà chửa) và tên bài “Sư cụ” ñược dịch
ra tiếng Nga thành “Распутник” (Kẻ trác táng) thì chắc chắn ñây là cách tiếp cận theo phương pháp dịch giải nghĩa (xem thêm Lê Đức Mẫn, 1993) Nếu dịch theo nghĩa ñen (nghĩa từ vựng) thì “Sư cụ” sẽ ñược chuyển dịch thành “Старый монах” (“Nhà sư già” hay “Vị sư cao niên”) và như thế không thể lột tả ñược bản chất của sự vật và hàm ý mỉa mai, châm biếm của nữ thi sỹ Ở ñây tác giả muốn vạch trần bộ mặt thật của một “con dê cụ” ñội lốt nhà sư nên mới dịch là “Kẻ trác táng” Dịch như vậy là hợp lý và ñó chính là một ý tưởng hoàn toàn mang tính sáng tạo
vii) Tiểu thuyết “La Rabouilleuse” của Đại văn
Trang 9hào Pháp Bandắc ñược cố dịch giả Hoàng Hải
dịch (NXB Văn học ấn hành năm 1997) với tên
gọi “Trời có mắt” Nhưng trong tập XV, bộ “Tấn
trò ñời” (NXB Thế giới ấn hành năm 1999) Dịch
giả - Nhà nghiên cứu Lê Hồng Sâm giới thiệu và
lấy tên mới là “Cô gái Xua cá” Nếu chỉ ñọc tên
truyện mà không tra cứu thì chắc ít ai rõ “xua cá”
là từ phiên âm hay dịch nghĩa và không hiểu “cô
gái xua cá” là gì Qua từ ñiển Pháp - Việt, chúng
tôi ñược biết là ñộng từ “rabouilleuse” có nét
nghĩa cơ bản là “khuấy ñộng nước ñể xua / ñuổi
ñàn cá rời khỏi nơi trú ẩn” (cho người ta bắt) Như
vậy “La Rabouilleuse” nghĩa là “Cô gái khuấy
ñộng nước ñể ñàn cá bơi ra khỏi nơi trú ẩn” Giá
chỉ cần dịch là “Người xua cá” thì cũng ñã dễ hiểu
hơn, nhưng vì câu lệ vào quán từ “La” nên dịch
giả dịch là “cô gái” Ở ñây, ñể làm rõ nghĩa hơn,
ta có thể dịch theo phương pháp diễn giải, chẳng
hạn dịch thành “Người ñánh bắt cá” thì nghe ổn
hơn Còn tên câu chuyện do dịch giả Hoàng Hải
ñặt là “Trời có mắt” không có mối liên hệ trực tiếp
nào với cụm từ “La Rabouilleuse” mà lấy ý từ nội
dung của câu chuyện: Nhân vật chính (viên sỹ
quan Philíp Briñâu) - kẻ ñã dùng mọi mưu mô, thủ
ñoạn xảo quyệt ñể ñoạt gia tài nhà Rôgét thì cuối
cùng lại lăn ra chết và chẳng ñược hưởng một chút
gì Còn người em (họa sỹ Giôxép Briñâu) ngây
thơ, chất phác, vô tâm thì lại ñược hưởng tất cả
Dịch giả ñặt tên truyện là “Trời có mắt” cũng có
cái lý của ông và ñây chính là ý tưởng hoàn toàn
mang tính sáng tạo
2.2 Ý tưởng sáng tạo trong việc dịch tên
riêng nước ngoài
Như ñã từng ñề cập trong một bài viết khác
(xem Nguyễn Danh Vu, 2013), việc dịch tên riêng
nước ngoài ra tiếng Việt dù ñã có quy ñịnh (Quy
ñịnh về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng
Việt NXB Giáo dục 1984) nhưng vì không có sự
áp dụng thống nhất nên các dịch giả thường tùy ý
làm theo cách của riêng mình Xin nêu một số
cách thức dịch tên riêng nước ngoài chủ yếu: i) Để
nguyên dạng từ nước ngoài; ii) phiên âm sang
tiếng Việt; iii) dịch nghĩa sang tiếng Việt; iv)
chuyển tự hoặc chuyển âm sang tiếng Anh
i) Hiện nay, tình trạng ñể nguyên dạng tên
riêng nước ngoài trong các văn bản dịch là khá
phổ biến, kể cả trên các báo, tạp chí hàng ngày
Điều này gây khó khăn không nhỏ cho ñộc giả, ñặc biệt là tầng lớp lao ñộng ít học vấn, trẻ em… (bởi không phải ai cũng biết ngoại ngữ, ñặc biệt những ngoại ngữ không phải là ngôn ngữ thông dụng quốc tế) Xin nêu một ví dụ: Trong bản dịch truyện ngắn “Kiệt tác không người biết” (Ban-dắc Tấn trò ñời Tập 15, tr.331) các tên riêng ñều ñược dịch giả giữ nguyên dạng tiếng Pháp Ta xem
ñoạn dịch sau: “…một chàng trai ăn vận rất xoàng
xĩnh, dạo bước trước cửa một ngôi nhà ở phố
Grands-Augustins , tại Paris… trong ñó chắc họa
sỹ của Henri IV ñang làm việc, người họa sỹ bị
Marie de Médicis nhạt nhẽo ñể sử dụng
Rubens”… (Cũng xin lưu ý là trong nhiều tác phẩm văn học Pháp ñược dịch ra tiếng Việt chúng tôi ñều thấy hiện tượng này!)
ii) Việc dịch tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt
bằng cách phiên âm từ chính ngôn ngữ gốc cũng ñược thực hiện theo một vài cách khác nhau Có dịch giả khi phiên âm ñể các âm tiết viết liền nhau, không có dấu cách như:
- “Ivan Kudơmích không có nhà Ông nhà tôi sang chơi bên nhà cha Ghêraxim rồi Nhưng chả
sao ñâu cậu ạ Tôi là nội trợ nhà ông ấy ñấy Xin cậu cứ tự nhiên Cậu ngồi chơi ñã” (Puskin Người con gái viên ñại úy)
Nhưng cũng có dịch giả khi phiên âm ñặt dấu cách giữa các âm tiết:
- “Thôi ñi nhé! Nào thôi ñi! – Pô-lốp-xép nói
với giọng dữ tợn
Lia-chép-xki nhún vai – Sao lại thế ñược? Và thôi cái gì mới ñược chứ?” (Sô-lô-khốp Đất vờ hoang) Tuy nhiên, khi phiên âm tên nước ngoài ra tiếng Việt chúng ta thường gặp một số vấn ñề ñòi hỏi phải biết xử lý một cách linh hoạt vì ta không thể dịch hết và chính xác các âm của tiếng nước ngoài ñược: Đôi khi phải lược bớt phụ âm ñi, ñôi khi phải thêm nguyên âm vào, ñôi khi phải chuyển ñổi phụ âm này bằng một phụ âm khác… do nguyên tắc cấu âm trong hai ngôn ngữ khác nhau
và một số phụ âm tiếng nước ngoài không có
trong tiếng Việt, chẳng hạn như các từ Balzac,
Paris, Washington, Alecxandr… có thể chuyển dịch thành Bandắc, Pari, Oasinhtơn, Alếchxanñơ… Ở ñây, do trong tiếng Việt không
có phụ âm z, w nên buộc ta phải chuyển chúng
Trang 10thành phụ âm tương ñương là d, gi hay nguyên âm
o; phụ âm g phải ñổi thành h; phụ âm l không bao
giờ ñứng cuối vần nên ta phải chuyển thành n;
phụ âm câm h và phụ âm s, d ở cuối từ ta phải loại
bỏ hoặc nếu không phải thêm nguyên âm ơ vào;
những phụ âm ñôi như sh, dr phải loại bỏ bớt (vì
tiếng Việt không có phụ âm ñôi)… Đây chính là
quá trình Việt hóa các từ tên riêng nước ngoài
thông qua con ñường dịch thuật
Liên quan ñến vấn ñề này cần lưu ý là hiện
trong tiếng Việt còn một số lượng lớn những tên
riêng nước ngoài ñược phiên âm ra Việt ngữ từ
Hán ngữ và những từ gốc Pháp ngữ ñược chuyển
tự sang tiếng Việt Về lý do, có lẽ trước ñây (từ
nửa ñầu thế kỷ 20 trở về trước) phần lớn các tác
phẩm văn học nước ngoài du nhập vào Việt Nam
ñều qua tiếng Hán và sau ñó là tiếng Pháp nên
chúng ta có những cái tên nghe khá lạ tai như
Mỹ-lợi-kiên (nước Mỹ), Âu-ba-la (châu Âu),
Pháp-lan-tây (nước Pháp), Anh-cát-lợi (nước Anh),
Ý-ñại-lợi (nước Ý), Nga-ta-lư (nước Nga), I-pha-nho
(nước Tây Ban Nha), Tô-cách-lan (xứ Xcốt-len),
Tân-gia-ba (nước Sing-ga-po), Xiêm-la (nước
Thái Lan), Ai-lao (nước Lào), Cao Miên (nước
Căm-pu-chia), Hoa-thịnh-ñốn (thành phố
Oa-sinh-tơn), Mạc-tư-khoa (thành phố Mát-xcơ-va)…, kể
cả những tên gọi như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung
Quốc… cũng ñều là phiên âm từ Hán ngữ Trong
tiếng Việt hiện ñại, một số tên sau này ñược cắt
bớt những cái ñuôi ñi và trở thành Mỹ, Âu, Pháp,
Anh, Nga, Ý… như hiện nay Riêng nước Mỹ,
ngoài tên gọi phổ biến này còn có một tên gọi
khác là Hoa Kỳ (tên ñầy ñủ là Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ) Cái tên này xuất phát từ lá cờ (quốc kỳ)
nước Mỹ: Trên ñó có 50 ngôi sao thể hiện 50 bang
(trông giống như những nụ hoa) và vì thế người ta
gọi nước Mỹ là ñất nước Hoa Kỳ (cờ hoa) Đây
cũng là một từ Hán-Việt Ngoài ra, trong kho từ
vựng tiếng Việt hiện ñại còn lưu giữ nhiều từ
ñược chuyển tự từ tiếng Pháp như cờ-lê, mỏ-lết,
pê-ñan, gác-ñờ-bu, phanh, gác-ñờ-xen, gác-ba-ga,
xích-lô, ô-xi, hy-ñrô…
Dịch giả ñôi lúc cũng phải chấp nhận sự mất
mát khi dịch tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt
Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Một chuyện
ñùa”của nhà văn Nga Sêkhốp, khi dịch sang tiếng
Việt, dịch giả Phan Hồng Giang ñã chuyển toàn
bộ cách gọi tên của người Nga như Надежда
Петровна (Nagiêdơña Pêtrốpna - một cách gọi
trang trọng mang nghi thức xã giao), Наденька (Nagienca – cách gọi trìu mến), Надя (Nadia –
cách gọi thân mật, âu yếm)… thành một cách gọi
duy nhất là Nadia Ở ñây, có lẽ do muốn tránh
phiền hà cho ñộc giả Việt Nam khi làm quen với văn hóa gọi tên của người Nga, hoặc cũng là ñể tránh phải có những giải thích không cần thiết, dịch giả ñã có cách xử lý riêng như thế Đây cũng
là một ý tưởng sáng tạo, một cách làm mà những dịch giả khác có thể tham khảo ñể học hỏi hoặc rút kinh nghiệm
iii) Trong một số trường hợp, khi có thể, dịch giả kết hợp vừa phiên âm, vừa dịch nghĩa tên riêng nước ngoài ra tiếng Việt Việc dịch nghĩa chỉ có thể thực hiện ñược khi tên ñó phải mang một nghĩa từ vựng cụ thể Chẳng hạn, ở Liên-xô trước ñây, tại Trung tâm vũ trụ Bai-can-nua có một thành phố ñược gọi tên là “Город Звездыы” -
có thể dịch là “Thành phố Dơ-ve-giơ-ña” hay
“Thành phố Ngôi sao”; Ở Mát-xcơ-va (thủ ñô Liên bang Nga) có nhà hát “Большой Театр”, có thể dịch ra tiếng Việt là “Nhà hát Lớn”, nhưng hợp lý hơn cả là “Nhà hát Ban-sôi” vì còn một nhà hát khác là “Малый Театр” (nếu dịch là “Nhà hát Nhỏ” thì nghe có vẻ vô lý nó chẳng hề nhỏ chút nào) nên phải dịch là “Nhà hát Man-lưi” Một số báo và tạp chí của thời Xô-viết và nước Nga hiện nay cũng có thể dịch theo hai cách: Phiên âm hoàn toàn hoặc dịch nghĩa hoàn toàn ra tiếng Việt Ví
dụ, báo “Правда”, “Комсомольская Правда”,
“Московские Новости”, “Московский Вечер”,
“Известия”… có thể dịch thành báo “Pra-vơ-ña” hay “Sự thật”; báo “Côm-xô-môn-xkai-a Pra-vơ-ña” hay “Sự thật Đoàn Thanh niên Cộng sản”; báo
“Ma-xcốp-xki-e Nô-vô-xchi” hay “Tin tức Mát-xcơ-va”; báo “Mat-xcốp-xki Ve-tre-rơ” hay “Buổi chiều Mát-xcơ-va”, báo “I-dơ-ve-xchi-a” hay “Tin tức”… Trong hai cách dịch trên, dịch ra nghĩa tiếng Việt có ưu ñiểm là ai cũng hiểu và nhớ ñược tên tờ báo (nhưng nếu vô tình có tờ báo ñó trong tay chưa chắc người ñọc ñã nhận ra nó), còn phiên
âm ra tiếng Việt thì phức tạp hơn một chút vì phải chọn âm và dịch sao cho gần với âm trong nguyên bản ñể khi nói ra tên tờ báo ñó những người biết tiếng Nga ai nghe cũng hiểu Như vậy, dịch theo cách nào là tùy thuộc vào quan ñiểm và ý tưởng