1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng đánh giá trên thế giới và một số bất cập trong đánh giá năng lực tiếng Anh tại các trường đại học ở Việt Nam

9 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết cũng phân tích quá trình đánh giá học tập từ một góc nhìn mới: hoạt ñộng ñánh giá cũng chính là hoạt động học tập (assessment as learning). Ngoài ra, dựa theo các quan điểm mới này, bài viết cũng phân tích một số bất cập trong thực hiện đánh giá năng lực tiếng Anh của sinh viên ở một số trường đại học tại Việt Nam.

Trang 1

XU HƯỚNG ĐÁNH GIÁ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TIẾNG ANH

TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Đoàn Quang Trung

Trường Đại học Hà Nội

hướng mới về ñánh giá học tập trên thế giới Theo ñó,

thay vì ñơn thuần chỉ ñể xác ñịnh kết quả học tập của

người học (assessment of learning), ñánh giá phải thực

hiện chức năng phục vụ học tập (assessment for

learning) Bài viết cũng phân tích quá trình ñánh giá

học tập từ một góc nhìn mới: hoạt ñộng ñánh giá cũng

chính là hoạt ñộng học tập (assessment as learning)

Ngoài ra, dựa theo các quan ñiểm mới này, bài viết

cũng phân tích một số bất cập trong thực hiện ñánh giá

năng lực tiếng Anh của sinh viên ở một số trường ñại

học tại Việt Nam

Abstract: The article presents some new trends in

education assessment In line with the current trends,

the focus of assessment has shifted from assessment

of learning to assessment for learning and

assessment as learning Accordingly, apart from the

traditional assessment form of standardized tests,

various forms of alternative assessments are

particularly encouraged in order to effectively support

learning and achieve the most comprehensive

understanding of students’ progress Anchored in the

new philosophy, the present article also analyzes some

problems in the assessment of students’ English

proficiency at some universities in Vietnam

Dẫn nhập

Ở nước ta hiện nay, lĩnh vực ñánh giá giáo dục

ñang nhận ñược rất nhiều sự quan tâm, từ Chính

phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho ñến từng trường

ñại học Tuy nhiên, trong khi các quốc gia có nền

giáo dục tiên tiến trên thế giới ñã có những thay

ñổi căn bản ñể nâng cao chất lượng của công tác

ñánh giá học tập, thì phải thừa nhận rằng tại nhiều

trường ñại học ở nước ta công tác này vẫn chưa

ñược thực hiện tốt, mục ñích ñánh giá còn phiến

diện, phương pháp ñánh giá còn lạc hậu nên ñánh

giá chưa thực sự giúp thúc ñẩy việc giảng dạy và

học tập, chưa ño ñược năng lực của sinh viên một cách chính xác và toàn diện Bài viết trình bày về

xu hướng ñánh giá mới của một số nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, phân tích những bất cập trong ñánh giá năng lực tiếng Anh của sinh viên ở các trường ñại học ở Việt Nam và ñưa ra một số

ñề xuất gợi ý

1 Quan ñiểm và xu hướng ñánh giá trên thế giới

Cho tới nay, trên thế giới có nhiều quan ñiểm

về ñánh giá trong giáo dục Tuy có khác nhau, nhưng tựu trung ta vẫn có thể phân loại các quan ñiểm này thành hai nhóm chính: quan ñiểm truyền thống và quan ñiểm hiện ñại

1.1 Quan ñiểm truyền thống

Theo quan ñiểm truyền thống, mục ñích của ñánh giá là tập trung vào xác ñịnh kết quả học tập của người học ñể từ ñó các nhà quản lý có thể cho ñiểm, xếp loại, cấp chứng chỉ Khi ñược thực hiện với mục ñích này, ñánh giá ñược ñề cập ñến

dưới hình thức ñánh giá việc học tập (assessment

of learning – AOL) hay còn gọi là ñánh giá kết

quả học tập (ñánh giá KQHT)

Với nhiệm vụ chính là xác ñịnh thành tích học tập của người học nên ñánh giá thường ñược thực hiện sau một giai ñoạn dạy và học (ví dụ: sau khi kết thúc một môn học, một học kì, một năm học hay một khóa học), và do ñó ñược coi là một công ñoạn tách rời của quá trình ñào tạo (Kohonen,

1999, tr 285; Earl and Katz, 2006, tr 3) Phương pháp ñược sử dụng chủ yếu khi ñánh giá KQHT là

phương pháp ñánh giá tổng kết (summative

assessment), thông qua công cụ là các bài kiểm tra như trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choice), trả lời ngắn (short answer) hay tự luận (essay) Nhìn nhận từ quan ñiểm này, khái niệm ñánh giá

Trang 2

về cơ bản ñồng nhất với khái niệm kiểm tra (Dikli,

2003, tr 15)

1.2 Xu hướng ñánh giá mới

1.2.1 Thay ñổi về quan ñiểm ñánh giá

Tuy nhiên, trong thời gian gần ñây các nền

giáo dục tiên tiến trên thế giới (Anh, Mỹ,

Australia ) ñã và ñang thể hiện sự thay ñổi về

quan ñiểm qua việc xác ñịnh lại mục ñích của

ñánh giá Theo quan ñiểm mới này, việc xác ñịnh

KQHT phục vụ cho công tác quản lý chỉ là một

trong nhiều mục tiêu của ñánh giá Còn mục ñích

cuối cùng của ñánh giá vẫn là thúc ñẩy học tập

Gắn với mục ñích này, xu hướng trên thế giới hiện

nay là chuyển từ ñánh giá KQHT sang ñánh giá

phục vụ học tập (assessment for learning – AFL),

theo ñó ñánh giá trở thành một bộ phận cấu thành

của quá trình học tập và hoạt ñộng ñánh giá cũng

chính là hoạt ñộng học tập (assessment as

learning – AAL) (Earl & Katz, 2006, tr 3-5;

James, 2002, tr 1, Frey & Schmitt, 2007, tr 417)

Cổ xúy cho quan ñiểm mới này, nhiều chuyên

gia ñã phản biện lại quan ñiểm ñánh giá truyền

thống vì cho rằng nó mang tính một chiều và có

nhiều khiếm khuyết Sau ñây, bài viết xin trình

bày sơ lược một số nghiên cứu ñại diện cho xu thế

mới này

Khi ñưa ra quan ñiểm về ñánh giá, hai nhà

nghiên cứu Stiggins và Chappuis (2005) cho rằng

ñánh giá không nên chỉ dừng lại ở ñánh giá

KQHT và không nên là một bộ phận tách biệt so

với quá trình ñào tạo Hai ông phê phán loại hình

ñánh giá này vì cho rằng nó có nhược ñiểm là khó

phản ảnh chính xác những tiến bộ mang tính liên

tục của người học Thêm nữa, tuy ñánh giá KQHT

ở chừng mực nào ñó có thể giúp xác ñịnh thành

tích học tập của người học sau một giai ñoạn cụ

thể, nhưng lại khó có thể giúp ñưa ra những ñiều

chỉnh kịp thời ñối với việc dạy và học vốn diễn ra

hàng giờ, hàng ngày ở trên lớp Ngoài ra, ñánh giá

KQHT còn có một khiếm khuyết lớn là người học

thực chất không ñược chủ ñộng tham gia vào quá

trình ñánh giá (tr 17–18)

Dựa trên phân tích của mình, hai ông cho rằng

ñánh giá phải ñược nhìn nhận toàn diện hơn và do

ñó không thể thiếu loại thứ hai: ñánh giá phục vụ

học tập Hai ông nhấn mạnh rằng mục ñích quan trọng nhất của ñánh giá là giúp học viên học tốt hơn Theo ñó, ñánh giá phải là một bộ phận không thể tách rời của quá trình ñào tạo, ñược thực hiện thường xuyên và lồng vào trong quá trình dạy-học, nhiều lúc học tập cũng là ñánh giá và ñánh giá cũng là học tập Đánh giá với mục ñích này thường ñược thực hiện trong suốt quá trình học, mang tính tạo dựng, hình thành (formative assessment) Đánh giá loại này còn ñược coi như

là ñộng lực thúc ñẩy học tập vì thực chất người học ñược tham gia vào quá trình ñánh giá và tự ñánh giá (Stiggins & Chappuis, 2005, tr 18)

Các tác giả cuốn tài liệu Rethinking Classroom

Assessment with Purpose in Mind: assessment for learning, assessment as learning, assessment of learning công bố năm 2006 của Cơ quan giáo dục thành phố Manitoba, Canada, cũng ủng hộ quan ñiểm của Stiggins và Chappuis (2005) và cho rằng ñánh giá giáo dục ñược thực hiện với các mục ñích khác nhau nên ñánh giá phải ñược nhìn nhận một cách toàn diện hơn chứ không chỉ dừng lại ở ñánh giá KQHT và từ ñó ñi ñến với 3 loại hình

ñánh giá: (1) ñánh giá KQHT; (2) ñánh giá phục

vụ học tập ; và (3) ñánh giá là học tập Ở ñây, tuy

tán thành quan ñiểm của Stiggins và Chappuis

(2005), các tác giả lại tách loại hình ñánh giá phục

vụ học tập (theo quan ñiểm của Stiggins và

Chappuis) thành 2 loại ñánh giá phục vụ học tập

và ñánh giá là học tập và ñi sâu phân tích chi tiết

hơn

Theo các nhà nghiên cứu này, ñánh giá KQHT

là loại hình ñánh giá truyền thống, ñược thực hiện với mục ñích là xác ñịnh thành quả học tập của người học sau khi việc học ñã diễn ra, dùng thông tin thu ñược từ việc ñánh giá ñể ñưa ra kết luận về thành công của người học, rồi thông báo những kết luận này cho các bên liên quan

Khác với ñánh giá KQHT, loại hình ñánh giá

phục vụ học tập nhấn mạnh việc ñánh giá phải phục vụ mục ñích thúc ñẩy và phát triển việc học của sinh viên Do gắn với mục ñích này, việc ñánh

Trang 3

giá phải ñược thực hiện thường xuyên, liên tục ở

trên lớp nhằm cung cấp cho giáo viên những

thông tin phản hồi về các hoạt ñộng dạy-học ñể từ

ñó giáo viên có thể kịp thời ñiều chỉnh hay thay

ñổi các hoạt ñộng này Theo các tác giả, vai trò của

giáo viên là vô cùng quan trọng trong ñánh giá

phục vụ học tập

Loại hình thứ ba – ñánh giá là học tập cũng

nhấn mạnh mục ñích của ñánh giá là phải thúc ñẩy

học tập Song khác với ñánh giá phục vụ học tập,

loại hình này tập trung vào việc phát triển và hỗ

trợ quá trình siêu nhận thức ở người học Nói cách

khác, ñánh giá loại này nhấn mạnh vai trò quyết

ñịnh của người học trong ñánh giá, và rằng ñánh

giá cũng chính là học tập, khi người học tham gia

thực hiện ñánh giá thì cũng chính là tham gia vào

các hoạt ñộng học tập và phát triển kiến thức/kĩ

năng của mình Theo quan ñiểm này thì khi người

học ñược chủ ñộng tham gia vào việc ñánh giá,

chủ ñộng giám sát việc học của mình, thì người

học sẽ dần phát triển năng lực tự phản biện, năng

lực tự ñánh giá, có thể sử dụng những thông tin

phản hồi từ việc tự giám sát việc học của mình,

liên hệ nó với kiến thức nền trước ñó ñể học kiến

thức mới (Earl & Katz, 2006, tr 13-14)

Các tác giả ghi nhận tầm quan trọng của cả ba

loại hình ñánh giá: (1) ñánh giá việc học tập, (2)

ñánh giá phục vụ học tập; và (3) ñánh giá là học

tập Tuy nhiên, khi nhấn mạnh mục ñích cuối

cùng của ñánh giá là thúc ñẩy việc học thì các tác

giả cho rằng vai trò của loại 2 và 3 quan trọng hơn

rất nhiều so với loại 1 (Earl & Katz, 2006, tr 14)

Các tác giả còn minh họa và so sánh vai trò của

3 loại hình ñánh giá này thông qua hai mô hình

tương phản như sau:

a Vai trò của ba loại hình ñánh giá theo quan

ñiểm truyền thống:

Theo mô hình trên, vai trò của ñánh giá KQHT (assessment of learning) là nổi bật nhất còn vai trò của ñánh giá phục vụ học tập (assessment for learning) và ñánh giá là học tập (assessment as learning) là nhỏ hơn nhiều, thậm chí không ñáng

kể

b Vai trò của ba loại hình ñánh giá theo quan ñiểm hiện ñại:

Rõ ràng, theo quan ñiểm hiện ñại về ñánh giá, vai trò và tầm quan trọng của 3 loại hình này ñã ñược xác ñịnh lại và vì vậy mà tháp ñánh giá mới ñược cấu trúc lại như mô hình trên Rõ ràng, theo quan ñiểm mới này, thay vì có vai trò không ñáng

kể, thì giờ ñây loại hình ñánh giá là học tập (assessment as learning) lại ñóng vai trò quan trọng nhất

1.2.2 Thay ñổi về phương pháp ñánh giá

Đồng ñiệu với sự thay ñổi về quan ñiểm ñánh giá là sự thay ñổi về phương pháp ñánh giá:

chuyển trọng tâm từ ñánh giá truyền thống (thông

qua các bài kiểm tra như trắc nghiệm hay trả lời

ngắn) sang các loại hình ñánh giá thay thế (alternative assessments) như ñánh giá kiến tạo (formative assessment) và ñánh giá thực / ñánh

giá thực hiện (authentic assessment / performance-based assessment)

Sau ñây, bài viết xin trình bày hai phương pháp ñánh giá mà nhiều người cho rằng ñại diện cho xu hướng ñánh giá hiện nay, thực hiện ñược mục ñích ñánh giá thúc ñẩy học tập và ño ñược chính xác hơn năng lực thực sự của người học: (1) ñánh giá kiến tạo; (2) ñánh giá thực hiện (ñánh giá thực)

Tuy ñại diện cho xu hướng mới, song thuật ngữ

“formative assessment” (ñánh giá kiến tạo) lại không phải là mới, thậm chí ñã xuất hiện từ khá lâu Theo cách hiểu truyền thống thì ñánh giá loại

Trang 4

này nhấn mạnh vào việc ñánh giá ñược thực hiện

trong quá trình học tập, có hàm ý tương phản với

một loại hình ñánh giá khác ñược thực hiện sau

một giai ñoạn học tập – ñánh giá tổng kết

(summative assessment) (Frey & Schmitt, 2007, tr

411) Do ñó, “formative assessment” thường ñược

dịch thành “ñánh giá quá trình”

Tuy nhiên, gần ñây nhiều chuyên gia cho rằng

cách hiểu như vậy là chưa chính xác và không

toàn diện nên ñã xác ñịnh lại nội hàm của thuật

ngữ này Theo quan ñiểm mới, dù ñúng là phải

ñược thực hiện trong quá trình học tập, song ñiều

quan trọng nhất ñối với ñánh giá loại này là nó

phải thực hiện ñược một nhiệm vụ mà chính nhờ

ñó nó mới có tên “formative assessment”: hình

thành hành vi và chiến lược ñể thúc ñẩy học tập

(formation of behaviors and strategies to promote

learning) (Frey & Schmitt, 2007, tr 411) Về ñiểm

này, chúng ta cũng nhận thấy trong tiếng Anh,

thuật ngữ “formative” về bản chất mang nghĩa là

“kiến tạo, hình thành”, chứ không nhấn mạnh

nghĩa “quá trình” (process) Do ñó, nếu hiểu

“formative assessment” là “ñánh giá quá trình” thì

có phần phiến diện và khiên cưỡng Dựa theo

quan ñiểm này, bài viết sử dụng thuật ngữ “ñánh

giá kiến tạo” thay vì “ñánh giá quá trình” ñể ñề

cập ñến loại hình ñánh giá “formative assessment”

Tóm lại, theo cách nhìn mới, ñánh giá kiến tạo

là loại ñánh giá ñược thực hiện thường xuyên,

ñược lồng ghép vào trong quá trình học tập, có

nhiệm vụ cung cấp thông tin về các hoạt ñộng

dạy-học ñể từ ñó giáo viên và người học có thể

ñưa ra những ñiều chỉnh kịp thời (phát huy ñiểm

mạnh, khắc phục ñiểm yếu ) nhằm nâng cao chất

lượng dạy-học

Nói ñến ñánh giá theo xu hướng mới, không

thể không nói tới phương pháp ñánh giá thực hiện

hay ñánh giá thực 1 Phương pháp này gần ñây

1 Theo quan ñiểm một số chuyên gia, ñánh giá thực và ñánh giá

ñánh giá thực nhấn mạnh hơn vào tính thực tiễn của nhiệm vụ

ñánh giá, song nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng chúng là

một loại (Frey & Schmitt, 2007, tr 406; Wren, 2009, tr 2) Do

nội dung của bài viết không nhấn mạnh sự khác biệt giữa 2 loại

hình này nên tác giả sử dụng 2 thuật ngữ này thay thế cho nhau

ñược nhiều cơ sở giáo dục ở các nước tiên tiến sử dụng vì cho rằng có thể giúp khắc phục ñược những hạn chế của phương pháp ñánh giá truyền thống, góp phần thúc ñẩy học tập, giúp ño ñược chính xác và toàn diện hơn năng lực thực sự của người học Ngoài ra, nhiều chuyên gia còn cho rằng ñánh giá thực hiện ñặc biệt hữu ích vì có thể giúp ño ñược các kĩ năng tư duy bậc cao của người học (vốn là yếu tố vô cùng quan trọng ñối với giáo dục ở bậc ñại học) mà các hình thức ñánh giá truyền thống hầu như không xác ñịnh ñược (Wren, 2009, tr.1)

Đánh giá thực ño năng lực dựa trên thể hiện thực tế của người học ñể hoàn thành một nhiệm vụ ñánh giá (assessment task) Do vậy, nó mang lại kết quả ñánh giá trực tiếp hơn và có nhiều ưu ñiểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống Đánh giá thực ñòi hỏi sinh viên phải hoàn thành một nhiệm vụ một cách chủ ñộng và sáng tạo, như việc tự mình tạo ra một sản phẩm, chứ không như phương pháp truyền thống (ví dụ: trắc nghiệm khách quan), vốn chỉ yêu cầu sinh viên nhận biết và tái hiện nội dung bằng cách chọn ra một câu trả lời ñúng Đánh giá thực cũng ñòi hỏi sinh viên phải hoàn thành một nhiệm vụ thực trong một thế giới thực, cho phép sinh viên thể hiện năng lực vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế chứ không gián tiếp hoặc nặng về tính mô phỏng, tái hiện như trong ñánh giá truyền thống (Wiggins, 1990, tr 1; Wren, 2009, tr 2) Phương pháp này thường sử dụng các công cụ ñánh giá như bài biểu diễn, thuyết trình (presentations), hồ

sơ học tập (porfolios), dự án (projects)

Bài viết xin tổng hợp một số ñặc ñiểm của ñánh giá thực và so sánh nó với ñánh giá truyền thống (dựa theo phân tích của Wren, 2009, tr 3):

Trang 5

Đánh giá truyền thống Đánh giá thực

Hoạt ñộng ñánh giá Lựa chọn một câu trả lời Thực hiện một nhiệm vụ ñánh giá

Bản chất hoạt ñộng ñánh giá Tưởng tượng Thực tế

Mức ñộ nhận thức ñược ño Biết/hiểu

(kĩ năng tư duy bậc thấp)

Vận dụng/phân tích/sáng tạo (kĩ năng tư duy bậc cao)

Nội dung ñánh giá Sản phẩm Quá trình và sản phẩm

Phát triển giải pháp Dựa trên giáo viên Dựa trên người học

Tính khách quan khi ñánh giá Dễ ñạt ñược Khó ñạt ñược

Bằng chứng về năng lực Gián tiếp Trực tiếp

Phần trên trình bày hai phương pháp ñánh giá

với tên khác nhau (ñánh giá kiến tạo và ñánh giá

thực/ñánh giá thực hiện) Tuy nhiên, cũng cần lưu

ý là dù có tên khác nhau, nhưng các phương pháp

ñánh giá này không nhất thiết phải hoàn toàn khác

nhau, chúng cùng thực hiện một mục ñích ñánh

giá (phục vụ học tập) và vì vậy không tránh khỏi

có những ñiểm giao thoa, trùng lặp Vì lý do ñó,

một hoạt ñộng ñánh giá cụ thể nếu ñược nhìn nhận

từ một góc ñộ này thì có thể ñược coi là thuộc

phương pháp ñánh giá kiến tạo, song nếu nhìn từ

một góc ñộ khác thì lại có thể thuộc phương pháp

ñánh giá thực/ñánh giá thực hiện

1.3 Đánh giá ở bậc ñại học

Các tài liệu liên quan ñến ñánh giá giáo dục ở

bậc ñại học trên thế giới cũng ñều phản ảnh quan

ñiểm và xu thế ñánh giá mới: nhấn mạnh nhiệm

vụ thúc ñẩy học tập của ñánh giá Trong Bộ qui

tắc Đảm bảo chất lượng giáo dục ñại học (2006,

tr 9) của mình, Cơ quan Đảm bảo chất lượng giáo

dục ñại học Anh ñã nhấn mạnh nguyên tắc ñánh

giá phải ñược thực hiện ñể thúc ñẩy học tập

(contribution to student learning)

Đại học Missouri, Hoa Kỳ (UMKC) cũng nhấn

mạnh nhiệm vụ thúc ñẩy học tập khi ñịnh nghĩa

ñánh giá là một quá trình tiếp diễn liên tục, không

ngắt quãng (“ongoing, not episodic”), ñược thực

hiện “với mục ñích là hiểu và cải thiện việc học

của sinh viên” (aimed at understanding and

improving student learning) (2011, tr 3 - 4)

Ngoài ra, UMKC cũng nhấn mạnh nhiệm vụ ñánh

giá là phải ño ñược năng lực của sinh viên, ñặc

biệt là các loại năng lực ñược xếp ở các mức cao theo thang phân loại Bloom (higher levels of Bloom’s Taxonomy) (2011, tr 6)

Dưới ñây bài viết xin ñược trình bày giản lược Thang Bloom (trích trong Anderson và cộng sự,

2001, 67-68) ñể ñộc giả tiện theo dõi

Trong Bộ qui tắc Đánh giá giáo dục ñại học

của mình, Trung tâm Nghiên cứu về giáo dục ñại học Australia cũng thể hiện quan ñiểm ñánh giá phải ñược thực hiện nhằm thúc ñẩy việc học và phải ñảm bảo ño ñược năng lực của người học một cách chính xác và tin cậy, ñặc biệt là các kĩ năng tư duy bậc cao mà sinh viên ở bậc ñại học cần ñạt ñược (higher order learning that characterizes higher education) (James, 2002, tr 1)

Rõ ràng, quan ñiểm ñánh giá giáo dục ñại học hiện nay ñồng nhất với xu thế ñánh giá giáo dục nói chung khi các tài liệu của các cơ quan giáo dục ñại học ñều nhấn mạnh ñến nhiệm vụ thúc ñẩy

Trang 6

học tập của ñánh giá Tuy nhiên, ở bậc ñại học, có

một ñiểm ñược ñặc biệt nhấn mạnh là ñánh giá

phải ño ñược các kĩ năng tư duy bậc cao vốn là

yêu cầu không thể thiếu với người học ở bậc học

chuyên sâu này

2 Một số bất cập

Bất cập ñầu tiên có thể nêu ở ñây là các hoạt

ñộng ñánh giá nói chung và ñánh giá năng lực

tiếng Anh nói riêng ở nhiều trường ñại học tại

Việt Nam cho ñến nay vẫn ñặt nặng mục ñích là

xác ñịnh thành tích học tập, thay vì phục vụ học

tập Khi mục ñích ñánh giá là xác ñịnh kết quả học

tập, thì các kì thi – kiểm tra sẽ ñóng vai trò trung

tâm, kết quả thi – kiểm tra sẽ trở thành mục ñích

cuối cùng của hoạt ñộng ñào tạo Trong hoàn cảnh

ñó, sinh viên sẽ muốn có ñiểm cao trong các kì thi

– kiểm tra, giảng viên cũng chịu sức ép phải dạy

làm sao ñể sinh viên có ñược kết quả cao trong

các kì thi – kiểm tra này

Bản chất của hoạt ñộng ñào tạo do vậy sẽ bị tác

ñộng và bị thay ñổi, dần trở thành quá trình luyện

thi Trong khi ñó, những hoạt ñộng học tập tích

cực, giúp phát triển năng lực của sinh viên một

cách toàn diện và bền vững, giúp phát triển năng

lực sáng tạo, kĩ năng tư duy, suy luận, kĩ năng

phản biện, kĩ năng giải quyết vấn ñề dần sẽ bị

xem nhẹ hoặc bỏ qua vì “chúng không trực tiếp

làm tăng ñiểm số ñạt ñược” trong các kì thi – kiểm

tra, dần biến người học thành những cỗ máy “chỉ

còn biết nhồi nhét vào bộ nhớ của mình một cách

không phê phán và không chọn lọc toàn bộ mớ

kiến thức khổng lồ của chương trình ñào tạo” (Vũ

Thị Phương Anh, 2006, tr 11)

Tồn tại thứ hai là hiện nay nhiều cơ sở ñào tạo

ñại học vẫn chủ yếu sử dụng phương pháp ñánh

giá truyền thống (dưới hình thức các bài kiểm tra

như trắc nghiệm, trả lời ngắn, tự luận…) (Nguyễn

Đức Chính, 2008, tr 2) Thật vậy, hiện nay ở

không ít trường ñại học, sinh viên tiếng Anh chỉ

tham gia một kì kiểm tra kết thúc học phần Điểm

của bài kiểm tra này ñược dùng làm minh chứng

ñánh giá về năng lực tiếng Anh của sinh viên trong

toàn bộ học phần ñó

Đánh giá theo cách này có ưu thế là tiết kiệm chi phí và thời gian, nhưng ñể lại rất nhiều vấn ñề Một trong số ñó là các bài kiểm tra hết học phần thường chỉ ñược thực hiện vào một thời ñiểm (one-shot) nên không ñánh giá ñược cả quá trình, dẫn ñến tình huống mà nhiều sinh viên gọi là “học tài thi phận”, hoàn toàn không có cơ hội thứ 2 ñể sửa chữa và thể hiện năng lực của mình Minh chứng cho ñiều này là hiện tượng sau khi công bố ñiểm kiểm tra học phần, không ít sinh viên ñã ñạt ñiểm ñỗ (từ 5 ñiểm trở lên) cho rằng kết quả chưa phản ảnh ñúng năng lực của mình và muốn ñăng

kí ñể ñược phép thi lại

Thêm vào ñó, nhiều bài kiểm tra hết học phần tiếng Anh ñược thực hiện trên giấy (paper-based), hiện rất phổ biến ở các trường ñại học không ñào tạo chuyên ngành tiếng Anh Nếu ñánh giá chỉ thông qua các bài kiểm tra trên giấy thì khó có thể

ño ñược một cách chính xác và toàn diện năng lực tiếng Anh của sinh viên, vốn là sự tích hợp của rất nhiều thành tố (ví dụ: làm sao có thể ño ñược chính xác kĩ năng Nói nếu kiểm tra trên giấy) Cũng phải nói thêm rằng hình thức kiểm tra trên giấy khó có thể ño ñược các kĩ năng tư duy bậc cao và năng lực sáng tạo, giải quyết vấn ñề của sinh viên

Ngoài ra, ñánh giá theo cách này rõ ràng là một công ñoạn tách rời so với quá trình dạy-học Nó hầu như loại bỏ hoàn toàn vai trò của ñánh giá như

là một bộ phận cấu thành của quá trình ñào tạo, ñược sử dụng lồng ghép vào trong quá trình này với mục ñích thúc ñẩy học tập Với phương pháp ñánh giá này, sinh bị ép phải thực hiện một bài kiểm tra theo ñịnh dạng cho sẵn, không ñược chủ ñộng, sáng tạo, không ñược quyết ñịnh sẽ thể hiện năng lực của mình ra sao và bằng cách nào Như một hệ quả dây chuyền, ñánh giá theo phương pháp này sẽ dần làm sinh viên trở nên bị ñộng, kìm hãm phát triển kĩ năng tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn ñề

Một tồn tại khác là việc ñồng nhất khái niệm

kiểm tra (testing) với khái niệm ñánh giá

(assessment) Điều này phổ biến ñến mức hai thuật ngữ này thường ñược dùng thay thế cho

Trang 7

nhau (Cấn Thị Thanh Hương, 2011, tr 5) Vấn ñề

này xét cho cùng vẫn bắt nguồn từ việc chúng ta

chưa thoát ra khỏi quan ñiểm và phương pháp

ñánh giá truyền thống: ñánh giá chỉ thông qua các

bài kiểm tra Trong phạm vi bài viết này, tác giả

cho rằng việc phân biệt một cách tường minh hai

khái niệm kiểm tra và ñánh giá là cần thiết và hữu

ích Kiểm tra là một khái niệm hẹp Đặc ñiểm của

kiểm tra là thường ñược thực hiện một cách chính

thức, ñược chuẩn hóa, diễn ra vào một thời ñiểm

và do ñó mang tính một chiều (“formal,

standardized, single-occasion and

unidimensional”) Trong khi ñó, ñánh giá là một

khái niệm có nội hàm rộng, có ý nghĩa bao trùm

Khi ñánh giá, người thực hiện có thể sử dụng bất

kì phương pháp nào ñể thu thập thông tin về việc

học và người học, trong ñó bao gồm cả kiểm tra

(Dikli, 2003, tr 13)

Như vậy, việc ñồng nhất kiểm tra và ñánh giá

vô hình trung ñã loại bỏ các biện pháp ñánh giá

khác ngoài kiểm tra, làm phương pháp ñánh giá

trở nên nghèo nàn, kết quả ñánh giá không toàn

diện Ngoài ra, việc này còn có thể có những tác

ñộng tiêu cực ñến quá trình dạy-học vì giảng viên

và sinh viên bằng cách này hay cách khác sẽ gò

việc dạy và học của mình theo bài kiểm tra, hạn

chế khả năng sáng tạo, năng lực giải quyết vấn ñề

trong học tập và thậm chí có thể làm nảy sinh tiêu

cực trong ñánh giá

3 Một số ñề xuất

Việc ñầu tiên cần làm là phải xác ñịnh lại mục

ñích cuối cùng của ñánh giá: phục vụ học tập

Xác ñịnh lại mục ñích của ñánh giá như vậy

không ñồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của

ñánh giá KQHT (thông qua các bài kiểm tra), mà

là ñể ñi ñến một giải pháp cân bằng và bền vững:

vừa thúc ñẩy học tập, vừa có thể cung cấp cho các

bên liên quan những thông tin ñánh giá chính xác,

toàn diện về sự tiến bộ và năng lực thực sự của

sinh viên Việc xác ñịnh lại mục ñích của ñánh giá

không ñược dừng lại ở lời nói, mà phải ñi vào

thực chất, ñược thể hiện bằng các biện pháp cụ thể,

từ chính sách ñến hành ñộng thực tế

Về chính sách, ñể xác ñịnh ñược năng lực của sinh viên một cách chính xác hơn, toàn diện hơn

và ñể thúc ñẩy học tập, các trường ñại học cần xây dựng chương trình ñào tạo trong ñó khuyến khích ñổi mới và ña dạng hóa các phương pháp ñánh giá, bao gồm những loại hình ñánh giá ñược thực hiện trên lớp, ñược lồng ghép vào trong khóa học, cũng như các bài kiểm tra kết thúc học phần Mục ñích, phương pháp tiến hành và tỉ trọng của từng loại ñánh giá phải ñược qui ñịnh rõ ràng và phải ñược phổ biến ñến toàn thể giảng viên và sinh viên trước khi bắt ñầu khóa học

Việc tạo ra một hành lang chính sách thuận lợi cho thực hiện ñánh giá theo xu hướng mới là bước khởi ñầu quan trọng, song chưa ñủ Các trường ñại học cần có những biện pháp thực tế ñể ñưa ñánh giá thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của quá trình ñào tạo Theo ñó, khi tham gia thực hiện các nhiệm vụ ñánh giá, sinh viên ñược ñóng vai trò chủ ñộng hơn, có cơ hội phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn ñề Để làm ñược việc này, các trường ñại học phải mạnh dạn thay ñổi ñể lựa chọn một phương pháp ñánh giá cân bằng: kết hợp giữa hình thức kiểm tra truyền thống và các phương pháp ñánh giá thay thế khác (ví dụ: ñánh giá thực) Minh chứng về thành tích học tập của sinh viên không nên chỉ ñược thể hiện duy nhất bằng kết quả của các bài kiểm tra truyền thống, mà thay vào ñó nên là sự tổng hợp của nhiều cấu phần ñánh giá khác nhau, trong ñó có ñóng góp của các hình thức ñánh giá ñược thực hiện trên lớp học

Ngoài ra, ñể lồng ghép thành công ñánh giá vào trong quá trình ñào tạo, ñội ngũ giảng viên cần ñược trang bị thêm kiến thức về ñánh giá, có thể thông qua các khóa học ngắn hạn hay các khóa tập huấn Sau khi ñược trang bị kiến thức và kĩ năng cần thiết, các trường cần trao quyền tự chủ cao hơn cho giảng viên trong việc thực hiện ñánh giá, cho phép ghi nhận kết quả của các hoạt ñộng ñánh giá trên lớp ñược giảng viên thực hiện Việc trao quyền lớn hơn cho giảng viên nhất ñịnh phải ñi liền với việc tăng cường công tác

Trang 8

quản lý, giám sát, nếu không sẽ dễ nảy sinh tiêu

cực Đội ngũ quản lý ở các trường ñại học, ñặc

biệt là tại cấp khoa, cần phải xây dựng một cơ chế

quản lý và giám sát ñối với các hoạt ñộng ñánh giá

trên lớp Ngoài ra, cũng phải xây dựng một cơ chế

quản lý thông tin hiệu quả với các kênh thông tin

ña dạng, có thể nhanh chóng thu thập ñược thông

tin phản hồi về hoạt ñộng ñánh giá trên lớp từ

nhiều bên liên quan, ñặc biệt là sinh viên Nhờ ñó,

khi có sai phạm hoặc tiêu cực xảy ra, ñội ngũ quản

lý có thể ñưa ra các biện pháp xử lý nghiêm minh

và kịp thời

Cũng cần lưu ý thêm là các hoạt ñộng ñánh giá

trên lớp (có ghi nhận kết quả) cũng không nên

ñược thực hiện một cách ñại trà, ồ ạt, ở qui mô lớn

khi chưa có sự chuẩn bị kĩ càng Thay vào ñó, các

trường/khoa nên lựa chọn một hoặc một số môn

học/kĩ năng ñể thực hiện thí ñiểm (lưu ý là các

môn học/kĩ năng này phải ñược giảng dạy bởi ñội

ngũ giảng viên ñã ñược trang bị tốt kiến thức và kĩ

năng ñánh giá) Tích cực tiếp nhận phản hồi từ việc

thực hiện thí ñiểm ñể dần tạo cơ chế quản lí, giám

sát một cách hiệu quả, rồi sau ñó mới nhân rộng

Sau ñây là một ví dụ cho việc lồng ghép ñánh

giá vào trong quá trình dạy-học của giảng viên và

sinh viên ngành ngôn ngữ Anh, ñược thực hiện

trên lớp theo phương pháp ñánh giá thực hiện:

Trong môn Ngữ pháp tiếng Anh, khi học một

chủ ñiểm ngữ pháp, giảng viên yêu cầu sinh viên

làm việc theo nhóm ñể tạo ra ñược một báo cáo

nhóm về một vấn ñề ngữ pháp liên quan ñến chủ

ñiểm ñang học, và sau ñó trình bày trước cả lớp ñể

ñánh giá Để thực hiện nhiệm vụ ñánh giá này,

sinh viên phải làm việc cùng nhau ñể lựa chọn vấn

ñề nghiên cứu, phân công nhiệm vụ cho từng

thành viên, rồi tìm tòi và thu thập thông tin Sau

ñó, các thành viên trong nhóm cùng thảo luận,

phân tích, ñánh giá và tổng hợp thông tin ñể rồi

tạo ra một báo cáo nhóm Ngoài ra, do ñược yêu

cầu trình bày báo cáo trước lớp, các nhóm cũng

phải cùng nhau làm việc, suy nghĩ, lựa chọn cách

thức trình bày tối ưu Sau khi xem báo cáo và

phần trình bày của các nhóm, giảng viên cùng các

nhóm khác sẽ thảo luận, nhận xét ñể cuối cùng có

thể ñưa ra ñánh giá về chất lượng của từng báo cáo và từng phần trình bày, ñược thể hiện bằng ñiểm số hoặc nhận xét

Sử dụng phương pháp này, sinh viên ñược chủ ñộng tham gia vào các hoạt ñộng ñánh giá: có cơ hội lựa chọn nội dung, phương pháp ñánh giá, cách thức trình bày, ñược thể hiện mình theo cách mình muốn, ñược ñánh giá phần trình bày của các bạn và ñược tự ñánh giá về phần trình bày của mình Từ ñó, sinh viên có thể học hỏi, rút kinh nghiệm ñể làm tốt hơn ở những lần sau Như vậy, phương pháp ñánh giá này sẽ tạo ñiều kiện ñể sinh viên phát huy tính tích cực chủ ñộng của mình, phát triển kĩ năng làm việc theo nhóm, tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn ñề và ñồng thời cũng giảm áp lực thi cử Nếu nhìn từ góc ñộ khác, việc sinh viên tham gia vào hoạt ñộng ñánh giá này cũng chính là tham gia vào hoạt ñộng học tập

Cũng cần lưu ý thêm ñối với giảng viên thực hiện ñánh giá trên lớp: Khi trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình ñào tạo, có nghĩa là ñánh giá sẽ ñược thực hiện liên tục, lồng ghép vào trong quá trình dạy-học Đánh giá liên tục như vậy không nhất thiết ñồng nghĩa với hình thức kiểm tra thường xuyên hơn Nếu kiểm tra thường xuyên hơn, thay vì phải làm một bài kiểm tra kết thúc học phần, sinh viên sẽ phải làm nhiều bài kiểm tra trong thời gian học cộng thêm bài kiểm tra cuối học phần Làm vậy ñương nhiên là tạo thêm gánh nặng và áp lực cho sinh viên, và ñây không phải là mục ñích của ñánh giá Không chỉ (và không nên) hạn chế ở hình thức kiểm tra, ñánh giá thường xuyên có thể ñược thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như ví dụ về phương pháp ñánh giá thực hiện ñược trình bày ở phần trên Tóm lại, ñể khắc phục những bất cập hiện nay, các trường ñại học phải ñịnh hướng lại mục ñích của ñánh giá, thay ñổi phương pháp ñánh giá, ñưa ñánh giá trở thành một bộ phận cấu thành của quá trình ñào tạo Có như vậy, công tác ñánh giá mới trở nên hiệu quả hơn, ño ñược một cách chính xác, toàn diện hơn năng lực thực sự của sinh viên, và quan trọng hơn hết, góp phần thúc ñẩy học tập,

Trang 9

giúp sinh viên phát triển ñược các kĩ năng cần

thiết trong cuộc sống

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anderson, L W (Ed.), Krathwohl, D R (Ed.),

Airasian, P W., Cruikshank, K A., Mayer, R E.,

Pintrich, P R., Raths, J., & Wittrock, M C (2001) A

Taxonomy for Learning, Teaching, and Assessing: A

Revision of Bloom’s Taxonomy of Educational

Objectives (Complete edition) New York: Longman

2 Cấn, Thị Thanh Hương (2011) Nghiên cứu quản lý

kiểm tra, ñánh giá kết quả học tập trong giáo dục ñại

học ở Việt Nam Retrieved May 9, 2014 from

http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/2867/1/00050000

655.pdf

3 Dikli, S (2003) Assessment at a distance: Traditional

vs Alternative Assessments TOJET, 2 (3), 13-19

4 Earl, L and Katz, S (2006) Rethinking Classroom

Assessment with Purpose in Mind Manitoba, Canada:

Manitoba Education, Citizenship and Youth

5 Frey, B B & Schmitt, V L (2007) Coming to

terms with classroom assessment Journal of dvanced

Academics, 18 (3), 402-423

6 James, R (2002) Core Principles of Effective

http://www.cshe.unimelb.edu.au/assessinglearning/05/

7 Kohonen, V (1999) Authentic assessment in

affective foreign language education In J Arnold,

(Ed.) (pp 279-294)

8 Nguyễn, Đức Chính (2008) Đánh giá thực kết quả học tập trong giáo dục ñại học và ñào tạo nguồn nhân

lực Kỷ yếu Hội thảo Việt Nam học lần thứ III, Hà Nội

9 Quality Assurance Agency for Higher Education

(QAA) (2006) Code of practice for the assurance of

academic quality and standards in higher education Section 6: Assessment of students Retrieved June 6,

http://www.qaa.ac.uk/Publications/InformationAndGuid ance/Pages/Code-of-practice-Section-6.aspx

10 Stiggins, R J & Chappuis, S (2005) Putting

testing in perspective: It's for learning Principal

Leadership, 6 (2), 16-20

11 University of Missouri – Kansas City (2011)

Handbook for Learning Outcomes Assessment

www.umkc.edu/assessment/downloads/handbook-2011.pdf

12 Vũ, Thị Phương Anh (2006) Kiểm tra ñánh giá

ñể phục vụ học tập: xu hướng mới của thế giới và bài

học cho Việt Nam Kỷ yếu hội thảo Kiểm tra ñánh giá

ñể phát huy tính tích cực của học sinh bậc trung học, 5-15, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

13 Wiggins, G (1990) The case for authentic

assessment Practical Assessment, Research &

Evaluation , 2 (2) Retrieved June 23, 2014 from

http://PAREonline.net/getvn.asp?v=2&n=2

14 Wren, D G (2009) Performance Assessment: A key component of a balanced assessment system

Research Brief, 2, 1-11.

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm