Bài viết trên cơ sở phân tích tình hình chính sách ngôn ngữ nói chung, chính sách ngoại ngữ nói riêng, chúng tôi xin đưa ra một vài khuyến nghị đối với quý vị làm chính sách ở Việt Nam. Ưu tiên dành cho một ngoại ngữ chịu tác động của cuộc sống hiện tại, đặc biệt là sinh kế. Song mọi áp đặt về chính sách ngôn ngữ đều gây phản cảm, thậm chí là phản ứng ngầm.
Trang 1MẤY KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI NGỮ
Ở VIỆT NAM THỜI HỘI NHẬP
Vơng Toàn
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
nhập quốc tế, ngoại ngữ cần cho mọi thế hệ, nhất là
giới trẻ nước ta
Trước ñây, việc học tiếng nước ngoài có khi do áp
ñặt, nhưng ngày nay, mọi người thường mong muốn và
tự giác có ñược năng lực về ngoại ngữ Chẳng hạn
như một em bé người Hmông ở Sa Pa (Lào Cai), tuy
vốn tiếng Việt còn ít ỏi, nhưng lại có khả năng giao tiếp
bằng tiếng Anh thành thạo; trong khi một kỹ sư nông
nghiệp ở vùng biên giới Việt-Trung lại mong muốn thực
hành tiếng Hoa tốt hơn là tiếng Anh, nhằm giúp cho
việc hợp tác về chuyên môn với ñồng nghiệp tốt hơn
Mỗi ngôn ngữ có vị thế của nó trong ñời sống ngôn
ngữ Không chỉ là ngoại ngữ, các thứ tiếng: Hoa,
Khmer và Lào còn ñược xem là ngôn ngữ các dân tộc
thiểu số ở Việt nam
Trên cơ sở phân tích tình hình chính sách ngôn ngữ
nói chung, chính sách ngoại ngữ nói riêng, chúng tôi
xin ñưa ra một vài khuyến nghị ñối với quý vị làm chính
sách ở Việt Nam Ưu tiên dành cho một ngoại ngữ chịu
tác ñộng của cuộc sống hiện tại, ñặc biệt là sinh kế
Song mọi áp ñặt về chính sách ngôn ngữ ñều gây phản
cảm, thậm chí là phản ứng ngầm Khi Việt Nam muốn
làm bạn với tất cả các nước thì chính sách thích hợp là
hướng tới trạng thái ña ngữ trong ña dạng văn hóa,
ñược tổ chức UNESCO khuyến khích
Sau cùng, những quan ñiểm chỉ ñạo về chính sách
ngoại ngữ ở Việt Nam cần ñược ñưa vào Luật Ngôn
ngữ ñang ñược xây dựng
Abstract: In the national linguistic living during the
international integration period, foreign languages are
essential to all generations, especially to youngsters
Beforehand, foreign language learning was forced
sometimes but now, it becomes a desirable and
voluntary working requirement to anyone For
examples: A Hmong teenager in Sapa (Lao Cai
province) having little Vietnamese skill can be proficient
in English by daily usage while an agricultural engineer working in the Vietnamese-Chinese border region would like to improve his Chinese skills more than English ones to support his professional cooperation with Chinese colleagues
Each language has its own position in the linguistic living Three tongues of Chinese, Khmer and Lao are also vernacular of these three ethnic groups in Vietnam Based on an analysis on the Vietnamese situations reflecting the linguistic policies in general and on foreign languages in particular, some recommandations are proposed to the politics-makers The privilege should be focused on any foreign language by our modern life, especially to look for a living So that, any imposition in linguistic policies provokes an asympathy, even a clandestine reaction A multilingualism in cultural pluralism solicited by UNESCO is favourable to Vietnam which would like to
be friendly toward all the countries
Finally, the directive stand-points of policies to foreign languages in Vietnam should be introduced in the Law of languages in construction
1 Ngoại ngữ trong ñời sống ngôn ngữ của người Việt Nam thời mở cửa ñể hội nhập
Ngoại ngữ là phương tiện không thể thiếu khi cần/muốn giao lưu với người nước ngoài và/hoặc tiếp cận với thông tin bằng tiếng nước ngoài Do vậy, khi Việt Nam bước vào thời kỳ mở cửa ñể hội nhập, ñương nhiên ngoại ngữ trở thành một công cụ ñắc dụng trong hành trang của mọi người, mọi thế hệ, nhất là lớp trẻ Cùng với những kiến thức về tin học, tùy công việc, trình ñộ và khả năng hiểu biết/sử dụng một hay nhiều ngoại ngữ
ñã trở thành một trong những tiêu chuẩn "cần" khi tuyển chọn nhân viên trong mọi thành phần kinh tế Chỉ cần ñọc lướt các yêu cầu tuyển dụng ñược công bố trên phương tiện thông tin ñại chúng là ta
có thể thấy ngay ñiều này
Trang 2Trước ñây, có nơi, có lúc ngoại ngữ bị áp ñặt là
ngôn ngữ bắt buộc thậm chí người dân không
ñược học tiếng mẹ ñẻ Nay nhiều nơi, nhiều lúc,
học và sử dụng ngoại ngữ hoàn toàn do tự
nguyện… ñôi khi thái quá ñến mức tự coi thường
và xem nhẹ vị trí của tiếng mẹ ñẻ!
Khi Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các
nước” thì càng biết nhiều ngoại ngữ càng có lợi,
bởi người ta sẽ chủ ñộng hơn trong giao lưu và
tiếp cận thông tin, phục vụ cho cả kinh doanh và
sản xuất (như một thông tin mới nắm bắt ñược có
thể sẽ dẫn tới ñổi mới công nghệ…), vừa lợi nhà
mà cũng rất ích nước
Lợi ích các mặt của người dân và ñất nước
luôn chịu sự tác ñộng của chính sách xã hội, trong
ñó có chính sách ngoại ngữ trước hết là chính
sách giáo dục ngoại ngữ, do nó có tác ñộng quan
trọng ñến cả ñời sống kinh tế, chính trị, văn hóa,
ngoại giao, quốc phòng,… Do vậy, chính sách
ngoại ngữ cần phù hợp với thực tiễn Việt Nam,
song không thể xem ñây chỉ là khẩu hiệu suông
Để ñi ñến một vài khuyến nghị về chính sách
ngoại ngữ ở Việt Nam trong xu thế hội nhập, chúng
ta cần xuất phát từ thực trạng tình hình hiện nay
2 Mấy khuyến nghị từ thực trạng về chính
sách ngoại ngữ ở Việt Nam
2.1 Do chính sách ngoại ngữ không chỉ xác
ñịnh vị thế và những ưu tiên dành cho một (số)
ngoại ngữ trong mối tương quan với các ngôn
ngữ khác (cùng ñược hành chức trong một cộng
ñồng dân tộc), nên ở một quốc gia ña dạng văn
hóa như Việt Nam, ngoại ngữ ñược xem xét trong
mối tương quan với ngôn ngữ quốc gia (tiếng
Việt) và các ngôn ngữ dân tộc thiểu số (DTTS)
trong nước, ñặc biệt là ngôn ngữ của ba dân tộc
láng giềng: Hoa, Khmer1 và Lào còn có tư cách là
các ngôn ngữ DTTS ở Việt Nam
1 Hoa, Khmer là tên gọi chính thức các DTTS này ở Việt
Nam Hai ngôn ngữ này còn ñược gọi là tiếng Trung
(Quốc/Hoa)/Hán và Campuchia/ Miên, khi xem là những
ngoại ngữ, như trong các bản gốc khi ñược trích dẫn
Chúng tôi có ñề xuất cách gọi tên thống nhất ở cuối bài
Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1998) quy ñịnh
Ngôn ngữ dùng trong nhà trường như sau: “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường”, ñồng thời cũng xác ñịnh: “Nhà nước tạo ñiều kiện ñể người DTTS ñược học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình…” Luật Giáo dục (2005) chỉ rõ: “1 Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác Căn cứ vào mục tiêu giáo dục, Thủ tướng Chính phủ quy ñịnh yêu cầu cụ thể việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác 2 Nhà nước tạo ñiều kiện ñể người DTTS ñược học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho người DTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác” Nghị ñịnh số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 quy ñịnh việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông
và trung tâm giáo dục thường xuyên: Tiếng DTTS
trở thành môn học
Nói cách khác, không chỉ là ngoại ngữ, các thứ
tiếng; Hoa, Khmer và Lào còn có vị trí trong cả
giáo dục phổ thông lẫn giáo dục thường xuyên, và thêm nữa, theo Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 về việc ñẩy mạnh ñào tạo, bồi dưỡng tiếng DTTS ñối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi thì “ñào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho cán bộ công chức… là một trong những nhiệm vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc”,
và ngày 24/01/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ñã ra Quyết ñịnh số
03/2006/QĐ-BGD&ĐT ban hành Chương trình khung dạy
tiếng DTTS (có chữ viết) cho cán bộ, công chức
công tác ở vùng DTTS Chương trình dạy tiếng
Lào cho cán bộ, chiến sĩ phục vụ việc cắm mốc biên giới Việt-Lào do Văn phòng Chính phủ chủ trương, ñược Bộ Giáo dục cùng Ban Biên giới triển khai từ năm 2008 và một số lớp tiếng Lào gần ñây ñược tổ chức là những ví dụ cụ thể Việc sử dụng tiếng DTTS ñược coi trọng nhằm phục vụ công tác tuyên truyền cách mạng, ngay từ
Trang 3khi chưa nắm ñược chính quyền Nghị quyết của
Trung ương Đảng về công tác trong các DTTS
ngày 28/3/1935 chỉ rõ: “Các tỉnh có người DTTS
phải dùng ñủ phương pháp mà xuất bản báo
chương, truyền ñơn và các tài liệu khác bằng chữ
DTTS ” và «các dân tộc… ñược dùng tiếng mẹ ñẻ
của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn
hoá”(2)
Chỉ thị số 525-TTg ngày 02/11/1993 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chủ trương, biện pháp
tiếp tục phát triển kinh tế, xã hội miền núi chỉ rõ:
“Tiếp tục phát triển phát thanh và truyền hình ở
miền núi và vùng dân tộc: hết 1995, hoàn thành
việc phủ sóng truyền hình cho các huyện Nâng cao
chất lượng các buổi phát thanh bằng tiếng dân tộc.”
Quyết ñịnh 53CP ngày 22/02/1980 của Hội
ñồng Chính phủ về chủ trương ñối với chữ viết
của các DTTS ñã giao cho Bộ Văn hoá và Thông
tin (nay là Bộ Văn hoá, thế thao, du lịch và Bộ
Thông tin và Truyền thông) chỉ ñạo việc “Tổ chức
việc sử dụng ñồng thời tiếng, chữ phổ thông và
tiếng, chữ dân tộc trong công tác thông tin, tuyên
truyền triển lãm… ở các vùng ñồng bào DTTS”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7
(khoá IX) (2005) nêu rõ: «Tăng thời lượng và
nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh,
truyền hình bằng tiếng DTTS»
Với chủ trương như thế, không chỉ ñược triển
khai dạy-học ở nhà trường, hoạt ñộng phát thanh
và truyền hình ở trung ương và ñịa phương ñã có
các chương trình tiếng Hoa (ñược xem là ngoại
ngữ) và tiếng Khmer (trong các hệ phát sóng tiếng
dân tộc VOV4 và VTV5)
Việc sử dụng tiếng DTTS nay còn ñược coi
trọng, xét trong tương quan với ngoại ngữ Dự
thảo Nghị ñịnh quy ñịnh tiêu chuẩn chức danh
quản lý của công chức trong các cơ quan hành
chính nhà nước ñược Bộ Nội vụ ñăng tải, lấy ý
kiến các tổ chức, cá nhân nhấn mạnh ñiều kiện về
trình ñộ ngoại ngữ của chức danh Thứ trưởng: sử
2 Văn kiện Đảng H., Nxb Sự thật, 1964, tr 481
ñụng ñược ít nhất một ngoại ngữ thông dụng (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc) trình ñộ cao cấp bậc 6 trở lên hoặc sử dụng ñược tiếng Lào, Campuchia hoặc tiếng DTTS (3)
Một chính sách ngôn ngữ sẽ chỉ có tác dụng
tích cực khi phù hợp với lòng người, ñó là ñáp
ứng nhu cầu có thực và thường xuyên chứ không phải áp ñặt (hoàn toàn chỉ vì theo qui chế hiện hành hoặc ñể ñáp ứng tiêu chuẩn chức danh nào
ñó, có tính nhất thời (cốt ñủ ñiểm dẫn ñến nạn chạy/mua bằng cấp/chứng chỉ) Như thế, ở vùng
có ñông ñồng bào DTTS, chủ trương sử dụng một thứ tiếng phổ biến trong vùng có thể thay cho tiêu chuẩn ngoại ngữ ñối với công chức, viên chức và lực lượng vũ trang ñịa phương quả thực ñã phát huy tác dụng hơn nhiều
2.2 Chính sách ngoại ngữ xác ñịnh vị thế và những ưu tiên dành cho một (số) ngôn ngữ trong mối tương quan với các ngôn ngữ khác cùng ñược
hành chức ở một quốc gia, thể hiện rõ nhất là
trong giáo dục
PGS.TS Bùi Hiền (4) nhắc lại rằng ngay tại buổi lễ khai giảng trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15-11-1945, trước sự có mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo sự Nguyễn Văn Huyên, Giám ñốc Đại học vụ (về sau là Bộ trưởng Bộ Giáo dục), ñã nói: “… vì nhận xét rằng trong thế giới ñại ñồng ngày nay không một nước nào dầu lớn hay nhỏ, là có thể sống tách biệt ñược, nên trường ñại học sẽ chú trọng ñặc biệt ngay trong niên khoá 1945-1946 tới những sinh ngữ có quan trọng cho văn hoá như tiếng Trung Hoa, tiếng Anh-Mĩ, tiếng Nga”(5) Và cũng ngay từ năm học ñầu tiên sau ngày Độc lập, ở các trường trung học phổ thông trong cả nước ñều dạy song song hai ngoại ngữ là Pháp và Anh
3 http://dantri.com.vn/su-kien/thu-truong-phai-thong-thao-it-nhat-mot-ngoai-ngu-888756.htm
4 Xin cám ơn PGS.TS Bùi Hiền, Nguyên Phó Hiệu tưởng Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, ñã cho phép chúng tôi tham khảo và trích dẫn bản thảo Tuyển tập
5 Báo Nhân dân, 31-12-2001.
Trang 4Năm 1950, thực hiện cuộc cải cách giáo dục
lần thứ nhất trong ñiều kiện kháng chiến ñặc biệt
khó khăn, Nhà nước cho rút ngắn hệ thống giáo
dục phổ thông từ 12 năm xuống còn 9 năm, các
môn ngoại ngữ tạm thời vắng mặt trong chương
trình Sau hiệp ñịnh Genève năm 1954, miền Bắc
tiến hành cải cách ñể hợp nhất hệ thống giáo dục
của vùng tự do và vùng tạm chiếm cũ thành hệ
thống giáo dục phổ thông 10 năm: môn tiếng
Pháp/ tiếng Anh vốn có ở các trường tạm chiếm
cũng bị loại luôn
Kể từ năm 1956 ñến nay, các ngoại ngữ ñược
dạy và học chính thức trong hệ thống giáo dục
quốc dân Việt Nam không thay ñổi, bao gồm tiếng
Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và gần ñây là tiếng
Nhật, tiếng Hàn, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và
một số ngoại ngữ khác Việc kiên trì giữ vững chủ
trương dạy-học cả 4 ngoại ngữ phổ biến là Anh,
Pháp, Nga, Trung Quốc ñã 3 lần ñược khẳng ñịnh
trong các Chỉ thị và Quyết ñịnh của Thủ tướng
Chính phủ
Mãi cho tới năm 1958, môn ngoại ngữ mới
ñược khôi phục lại trong trường phổ thông (ban
ñầu là tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, sau ñó
thêm tiếng Anh và tiếng Pháp) Từ ñó trở ñi, ngoại
ngữ luôn luôn có vị trí nhất ñịnh trong hệ thống
các môn học phổ thông Tuy nhiên tuỳ theo ñiều
kiện và yêu cầu thực tiễn của ñất nước trong từng
giai ñoạn mà bộ môn ngoại ngữ nói chung và từng
ngoại ngữ cụ thể nói riêng lại có những vị thế
khác nhau Trong giai ñoạn này tiếng Nga và tiếng
Trung ñược coi trọng hơn vì ñó là tiếng của hai
nước XHCN lớn (ñặc biệt là tiếng Nga, không chỉ
ñược xem là “ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân
tộc” ở Liên bang Xô viết cũ mà còn ñược sử dụng
như công cụ làm việc ở khối SEPT, gồm các nước
XHCN ở Đông Âu), cho nên ñược dạy phổ biến
khắp nơi, còn tiếng Anh và tiếng Pháp chỉ day-học
rải rác ở thủ ñô và một số thành phố lớn
Năm 1968, Chỉ thị số 43/TTg “Về việc ñẩy
mạnh công tác dạy và học ngoại ngữ trong các
trường phổ thông, các trường chuyên nghiệp, trong cán bộ khoa học, kĩ thuật, kinh tế và trong công nhân kĩ thuật” của Thủ tướng Chính phủ sau khi chỉ rõ: “… các ngành, các cấp chưa nhận thức ñược ñúng ñắn vai trò và tác dụng của ngoại ngữ ñối với sự nghiệp cách mạng văn hoá, khoa học,
kĩ thuật của nước ta Các cơ quan giáo dục chưa làm cho mọi người thấy rõ ngoại ngữ là một phần không thể thiếu ñược trong nền giáo dục phổ thông Lãnh ñạo các ngành, các cấp chưa thấy rõ ngoại ngữ là một công cụ giúp cho cán bộ tiếp thu nhanh chóng và trực tiếp những thành tựu khoa học, kĩ thuật thế giới”, ñã xác ñịnh phương hướng, nhiệm vụ: “Về lâu dài, phấn ñấu dạy 2 ngoại ngữ trong các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp… Trong các thứ tiếng của phe XHCN cần chú trọng tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, trong các thứ tiếng của các nước phương Tây chú trọng tiếng Anh và tiếng Pháp Ngoài ra cần chú ý một
số tiếng khác như tiếng Tây Ban Nha, Nhật, Đức, Triều Tiên, Ả-rập, Cam-pu-chia…”
Trước cơ hội mở rộng quan hệ quốc tế, do quân dân ta ñang thắng lợi lớn trên chiến trường và cuộc ñàm phán ñang diễn ra tại Paris, ngày
7-9-1972, Chính phủ ban hành Quyết ñịnh số 251/TTg
“Về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông” ñã nêu
ra nhiều chỉ dẫn và biện pháp cụ thể, ñặc biệt là khẳng ñịnh “Môn ngoại ngữ phải ñược coi là một môn học phổ thông cơ bản trong hệ thống chương trình học của các trường phổ thông từ cấp II trở lên”, với mục tiêu hướng tới là: «trong một thời gian không xa lắm, tổ chức ñược việc dạy và học ngoại ngữ ở các trường phổ thông cấp II và cấp III, theo mức cấp II học một ngoại ngữ, ở cấp III học ñồng thời 2 ngoại ngữ (một chính và một phụ)», với yêu cầu cụ thể cần ñạt ñược là «Học sinh cấp III phải nắm ñược những kiến thức tối thiểu về ngữ pháp cơ bản, về từ vựng và về ngữ âm cơ bản, ñọc và hiểu ñược các truyện ngắn và bài báo hàng ngày và có cơ sở ñể tự học thêm» Quyết ñịnh 251/TTg cũng xác ñịnh “Những ngoại ngữ ñược
Trang 5tổ chức dạy và học ở các trường phổ thông là:
tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng
Pháp Trước mắt cần tăng cường và mở rộng
nhanh chóng việc dạy và học tiếng Anh và tiếng
Nga; ñối với tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp, thì
vẫn bảo ñảm mức phát triển bình thường trên cơ
sở hiện có, và giữ vững tỉ lệ thích ñáng so với
tiếng Anh và tiếng Nga.”
Quyết ñịnh mới này ñang trong quá trình chuẩn
bị ñiều kiện ñể triển khai thì chiến dịch Hồ Chí
Minh toàn thắng (30/4/1975) Sự nghiệp thống
nhất ñất nước trong lĩnh vực giáo dục, trong ñó có
ngoại ngữ ñang ñược bàn tính ñể từng thứ tiếng có
tương lai phát triển…thì xung ñột biên giới diễn ra,
tiếng Trung Quốc bị loại ra khỏi chương trình phổ
thông, và ít lâu sau, Bộ Giáo dục có chỉ thị quy
ñịnh tiếng Nga là ngoại ngữ chính, tiếng Anh và
tiếng Pháp chỉ dạy ở những thành phố lớn có nhu
cầu và ñủ ñiều kiện Như thế, khi bước vào công
cuộc CCGD lần thứ III, theo Nghị quyết số
14-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 11-01-1979, trong
ñiều kiện ñất nước thống nhất cùng ñi lên CNXH,
môn ngoại ngữ ñược khẳng ñịnh vị trí trong
chương trình giáo dục phổ thông 12 năm, và tiếng
Nga vẫn ñược coi là ngoại ngữ chính Tuy nhiên,
do ñiều kiện thiết yếu nhất là giáo viên thì lại
không có ñủ cho cả nước, vì thế nhiều nơi ñã phải
lấy một môn học khác ñể thi tốt nghiệp thay cho
môn ngoại ngữ
Khi thực hiện ñường lối ñổi mới toàn diện ñất
nước và từng bước hội nhập với thế giới, với
phương châm ña phương hoá, ña dạng hoá các
mối quan hệ quốc tế và Việt Nam muốn làm bạn
với tất cả các nước, thì dạy-học ngoại ngữ ñã trở
thành một vấn ñề thời sự, một nhu cầu không thể
thiếu của xã hội Việt Nam Tình hình ñó kéo dài
cho tới khi Liên Xô sụp ñổ (năm 1991) và vị thế
của tiếng Nga bị giảm sút: hàng loạt trường phổ
thông tự phát chuyển sang dạy tiếng Anh theo “cơ
chế thị trường” ñiều tiết các môn ngoại ngữ Kết
quả là tiếng Anh ñã chiếm tới hơn 95% Tuy nhiên,
Chỉ thị số 422/TTg ngày 15-04-1994 của Thủ
tướng vẫn khẳng ñịnh cần dạy học phổ biến cả 4 ngoại ngữ, với “Yêu cầu cấp bách ñặt ra là cán bộ
ở tất cả các cấp ñều phải biết ngoại ngữ ñể trực tiếp giao dịch, làm việc với người nước ngoài và
ñể có ñiều kiện tiếp tục học tập, nghiên cứu”, ñặc biệt là nhấn mạnh: “Đối với cán bộ từ cấp Thứ trưởng trở xuống dưới 45 tuổi, làm việc tại các cơ quan có chức năng ñối ngoại và kinh tế ñối ngoại, việc sử dụng ñược ít nhất một ngoại ngữ thông dụng (chủ yếu là tiếng Anh) là yêu cầu bắt buộc, ñược coi là một tiêu chuẩn và là ñiều kiện ñể xem xét ñề bạt, nâng bậc, cử ñi công tác nước ngoài” Bước sang thế kỉ 21, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Bộ Giáo dục và Đào tạo ñã soạn thảo
“ Chiến lược dạy học ngoại ngữ ñến năm 2000”, trong ñó thể hiện ý ñịnh thể chế hoá bằng văn bản
là trong trường phổ thông chỉ dạy một ngoại ngữ bắt buộc là tiếng Anh, nhưng không ñược dư luận
xã hội ñồng tình
Ngày 30-09-2008 Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân kí Quyết ñịnh số 1400/ QĐ/TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai ñoạn 2008-2020”, trong ñó: “Quy ñịnh môn ngoại ngữ ñược dạy và học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là tiếng Anh và một số ngôn ngữ
khác.”
Trên thực tế, tiếng Anh vẫn chiếm vị trí “siêu hạng” trong môn ngoại ngữ Thí dụ: Thông tư số 08/2009/TT-BGDĐT kí ngày 21-04-2009 về việc sửa ñổi Quy chế ñào tạo thạc sĩ ban hành kèm theo Quyết ñịnh số 45/2008/ QĐ-BGDĐT cho phép người học tự do chọn một trong 5 ngoại ngữ (Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức) ñể thi vào cao học, thay vì bắt buộc chỉ thi tiếng Anh như trước
Nhưng Thông tư này vẫn quy ñịnh rất rõ ràng, cụ
thể, chặt chẽ ñến từng chi tiết nhỏ nhất:
“Học viên chỉ ñược bảo vệ luận văn khi có ñủ các ñiều kiện sau ñây:
a) Đạt yêu cầu về trình ñộ tiếng Anh với một trong các chứng chỉ, văn bằng sau:
Trang 6- Đạt trình ñộ TOEFL ITR 450, TOEFL iBT 45
hoặc IETLS 4.5 trở lên hoặc tương ñương trong
thời hạn 2 năm kể từ ngày cấp chứng chỉ;
- Có bằng tốt nghiệp ñại học bằng tiếng Anh,
bằng ñại học tốt nghiệp nước ngoài mà ngôn ngữ
sử dụng trong giảng dạy là tiếng Anh, bằng tốt
nghiệp ñại học trong nước mà ngôn ngữ sử dụng
trong giảng dạy chuyên môn là tiếng Anh không
thông qua phiên dịch”
Từ ñó, PGS.TS Bùi Hiền có lý khi ông nhận
xét rằng: “Với Quy chế tưởng chừng như chỉ liên
quan ñến cao học, nhưng thực tế thì nó ñã ngầm ý
mách bảo cho học sinh phổ thông rằng chỉ nên học
tiếng Anh thôi, vì có học các tiếng Nga, Pháp,
Trung, Nhật, Đức… cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa,
vì khi vào ñược cao học thì ngoài tiếng Anh ra,
chứng chỉ của “một số ngôn ngữ khác” ñều không
ñủ ñiều kiện cho phép bảo vệ luận văn tốt nghiệp!
Ngược dòng lịch sử thì từ lâu Nhà nước Việt
Nam ñã khẳng ñịnh chủ trương dạy phổ biến 4
ngôn ngữ thông dụng, với thứ tự ưu tiên trong Chỉ
thị 43TTg-1968 ñược xác ñịnh là Nga - Trung -
Anh - Pháp, và trong Quyết ñịnh 251TTg-1972 là
Anh – Nga - Trung – Pháp, rồi trong Chỉ thị
422TTg-1994 thì coi tiếng Anh là ngoại ngữ chủ
yếu, song ở không ít nơi, tiếng Anh thường ñược
quy ñịnh là ngoại ngữ bắt buộc Ví dụ như - theo
Lê Thanh Hòa hiện là giảng viên ở Đại học Đồng
Nai - tiếng Anh là môn học bắt buộc cho khối
không chuyên ngữ tất cả các ngành thuộc hệ cao
ñẳng và ñại học ở các hình thức ñào tạo khác nhau
(chính quy, vừa học vừa làm, từ xa) ở trường này
Chúng tôi cho rằng rất có thể ñề cao và dành vị
trí ưu tiên cho một ngoại ngữ ở mỗi thời kì hay
mỗi lĩnh vực, nhưng chủ trương ñộc tôn tiếng Anh
hay bất cứ ngoại ngữ nào cho toàn xã hội tuyệt
nhiên không phải là giải pháp ñúng ñắn, phù hợp
với lợi ích lâu dài của cả dân tộc ñang bước vào
thời kì mở cửa ñể hội nhập với khu vực và thế giới
2.3 Chính sách ngoại ngữ cần ñáp ứng nhu
cầu về ngoại ngữ rất cụ thể, tùy nơi tùy lúc
Cùng với cải cách mở cửa ñể phát triển trong thời
ñại toàn cầu hóa, việc nắm ñược nhiều ngoại ngữ
ñã ñược coi là một trong những tố chất cần thiết của mỗi công dân trong xã hội ngày nay Hiện tượng “người người học ngoại ngữ” ñã trở nên quen thuộc trong xã hội thời hội nhập Ngay cả những người giúp việc nay cũng quyết tâm học bằng ñược cách giao tiếp bằng tiếng Anh là ví dụ (6) Do nhu cầu ñích thực của giao tiếp, người ta luôn biết chọn ngôn ngữ của số ñông và hữu ích, nhất là cho cuộc mưu sinh của mình Không khó trả lời cho câu hôi vì sao ở phố núi Sa Pa (Lào Cai), cả bản người Mông nói tiếng Anh như gió
Dù ñó là những người trình ñộ văn hoá có khi mới
“phổ cập” hết lớp 5, nhưng giao tiếp bằng tiếng Anh thì chuẩn ñến không ngờ và nói trôi chảy ñến mức nhiều sinh viên vừa ra trường còn thua xa trong khi các em ở ñây vẫn biết tiếng dân tộc của mình (7), và tiếng phổ thông, tuy có nhận xét rằng
«Các cô gái ở ñây nói tiếng Anh khá tốt nhưng tiếng Kinh thì lơ lớ khó nghe” (8)
Lại có trường hợp “kỳ lạ là cả ñứa trẻ 10 tuổi cũng nói ñược nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng của dân tộc khác, mà họ còn nói ñược tiếng Lào, Miên và những ñứa trẻ ñược ñi học thì tiếng Anh cũng không phải là ngoại lệ” Hiện tượng này ñược chính người dân giải thích là “do dân số ít,
ñể tồn tại giữa vùng rừng núi này ñể trao ñổi hàng hóa, người Rơ Mâm phải quan hệ với các dân tộc khác, nên người Rơ Mâm phải biết rất nhiều
“ngoại ngữ” (9)
Trong một xã hội, ñại ña số có thể có nhu cầu chung, nhưng mỗi cá nhân ở một vị trí cụ thể, tại một ñịa phương cụ thể thì nhu cầu về ngoại ngữ cấp bách lại có thể rất riêng Một vị lãnh ñạo Sở Khoa học và Công nghệ ở một tỉnh biên giới phía Bắc cho chúng tôi biết: với anh tiếng Trung cần cho công việc hàng ngày (trong chương trình hợp
6 http://dantri.com.vn/c133/s133-584007/osin-biet-tieng-anh-thu-nhap-gan-20-trieu-dongthang.htm
7 http://dantri.com.vn/c20/s20-350266/Ca-ban-nguoi-Mong-noi-tieng-Anh-nhu-gio.htm
8 http://dantri.com.vn/c20/s20-350283/nuoi-tiec-mot-sa-pa.htm
9 http://dantri.com.vn/su-kien/ngoi-lang-dac-biet-co-nguoi-noi-duoc-20-thu-tieng-khac-nhau-903415.htm
Trang 7tác với chuyên gia bạn) hơn là tiếng Anh, nhưng
ñể bảo vệ học vị tiến sĩ, anh phải bỏ rất nhiều
công học ngoại ngữ này, dù rất ít sử dụng trong
công việc hàng ngày!
Nhu cầu về một ngoại ngữ sẽ vượt lên mọi sự
áp ñặt Vào những năm giữa thế kỷ XX, tiếng Nga
chiếm vị trí ưu thế, vì cần ñể giao tiếp với ñồng
nghiệp và bạn bè các nước XHCN (trong ñó có
ñội ngũ chuyên gia Nga); hàng loạt từ ñiển thuật
ngữ chuyên ngành song ngữ ra ñời vào thời kỳ
này là minh chứng Ngày nay, những nơi hấp dẫn
du khách Nga như Khánh Hòa, Bình Thuận… thì
nhu cầu nhân viên biết tiếng Nga bỗng tăng vọt,
nên thiếu hụt (10)
Trong lĩnh vực khoa học, NCS hay học viện
cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng ở ta chắc
cần biết tiếng Đức và tiếng Nga ñể ñọc vào bản
gốc các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lênin hơn là
tiếng Anh, bởi vì không bản dịch nào thể hiện
ñược ñầy ñủ ý tác giả như trong nguyên tác Nhắc
lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: «Là người cách
mạng thì phải học tiếng Nga - tiếng nói của
Lê-nin», PGS.TS Bùi Hiền còn cho rằng: “Ngày nay
tuy Liên Xô không còn nữa, nhưng những thành
tựu cũng như những sai lầm trong công cuộc xây
dựng CNXH ñầu tiên trên thế giới vẫn là những
bài học quý giá cho chúng ta trên bước ñường tìm
tòi một mô hình XHCN mới, phù hợp với Việt
Nam Vả lại, ngôn ngữ và văn hoá Nga ñâu phải
chỉ là những sản phẩm của chính quyền Xô viết,
mà ñó là kết tinh những ñặc trưng của một nền
văn hoá, khoa học, công nghệ hàng ñầu thế giới mà
tất cả các nước hiện nay vẫn ñều ngưỡng mộ và
ñều không thể bỏ qua” Như thế, việc Nxb Văn học
mới cho ra mắt tập Thơ A Puskin song ngữ
Nga-Việt (2014, 355 tr.) dành cho học sinh phổ thông
trung học là ñáng khích lệ
Mục ñích học ngoại ngữ tùy thuộc trước hết
vào nhu cầu sử dụng có thực ñã ñược cá nhân xác
10 Thiếu nhân lực tiếngNga cho du lịch, Tuổi trẻ online,
12/3/2013
ñịnh và dự kiến, nghĩa là việc lựa chọn ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nga, Trung hay Nhật, Hàn/Triều Tiên, Thái Lan, Malayu… hoặc Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ả Rập, ñều tùy mỗi người, mỗi lúc: người ta biết chọn cho mình (những) ngoại ngữ có ích trực tiếp cho hoạt ñộng nghề nghiệp hiện tại hay sau này của mình Thí dụ: với các chuyên gia giáo dục hay nông nghiệp trước ñây ñược gửi sang các nước châu Phi (như Algérie, Maroc, Mali,) thì việc tổ chức những khóa tiếng Pháp ñặc biệt (vào ñầu những năm 60 thế kỷ XX ở Đại học Sư phạm
Hà Nội) rất có hiệu quả, và rồi năm 1980, Việt Nam ñã tham gia Cộng ñồng các nước có sử dụng tiếng Pháp (La Francophonie): không ít hoạt ñộng
ñã có hiệu quả thiết thực Nay người lao ñộng Việt Nam còn ñi làm cho các doanh nghiệp hay chăm sóc sức khỏe ở Hàn Quốc, Nhật, Malaysia, Trung Đông, thì nhu cầu giao tiếp bằng tiếng bản ñịa ñương nhiên chiếm ưu thế hơn cả tiếng Anh, dù thường ñược học ở trường phổ thông Xét theo nhu cầu số ñông, những ngoại ngữ mới này không thể dạy học ñại trà, mà tuỳ theo nhu cầu, việc tổ chức thành các lớp ngoại ngữ tự chọn ñã ñáp ứng nguyện vọng một cách hợp lí
Trước sự bùng phát mạnh mẽ của nhu cầu ngoại ngữ trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, ñồng thời trước sự phát triển rầm rộ, nhanh chóng
và sâu rộng của các làn sóng du học, việc ñánh
giá chất lượng học tập cũng thay ñổi, ñặc biệt là
do các nước áp dụng chuẩn quốc tế khi tuyển chọn Thay vì ñể ñạt các chứng chỉ ngoạị ngữ A, B, C, D như trước ñây, Việt Nam cũng chuyển sang các chương trình/giáo trình học tập ñể ñạt ñược các chứng chỉ trình ñộ thực hành theo chuẩn quốc tế
về ngoại ngữ, như HSK (han yu shui ping kao shi
- 汉语水平考试) cho tiếng Hán, DELF (Diplôme d'études en langue française), DALF (Diplôme approfondi de langue française), TCF (Test de connaissance du français) cho tiếng Pháp và IETLS (International English Language Testing System) là bài kiểm tra về sự thành thạo Anh ngữ hay TOFEL (Test of English as a Foreign Language) là “Khảo thí Anh ngữ như một ngoại ngữ”, ñược dùng làm công cụ thống nhất ñể ñánh giá, lựa chọn những người nước ngoài ñến học tập
Trang 8và làm việc ở Anh, Mĩ, Úc và Canaña,…
Dù ngoại ngữ có ñược ñề cao thế nào thì cũng
không thể ñể lấn át vị thể ngôn ngữ quốc gia, vì
ñã phải tốn bao công sức và cả xương máu của
nhiều thế hệ, tiếng Việt mới ñược dùng ñể giảng
dạy ở nhà trường, kể cả bậc ñại học Do nhu cầu
thực tiễn nên gần ñây, thay cho tiếng Việt, việc
giảng dạy thông qua một (số) ngoại ngữ ñược
khuyến khích, nhất là với các chuyên ngành khoa
học tự nhiên và kỹ thuật, ở cả bậc phổ thông và
ñại học Chẳng vậy mà trong phiên họp lần thứ
VII (nhiệm kỳ 2001-2005), Hội ñồng khoa học và
ñào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội ñã kết luận:
"khuyến khích các chuyên ngành trực tiếp giảng
dạy bằng tiếng nước ngoài" (11) Điều ñáng lưu ý
chỉ là chúng ta cần một thế hệ song/ña ngữ chứ
không phải những người giỏi ngoại ngữ mà quên
tiếng mẹ ñẻ Khi ñã ñịnh cư ở nước ngoài, không
ít Việt kiều vẫn trăn trở khi con cháu không còn
biết tiếng Việt và niềm vui ñã ñến với họ khi tiếng
Việt ñược coi là một ngoại ngữ tùy chọn ở nhà
trường hay ñược dạy ở các lớp học cộng ñồng
2.4 Vấn ñề lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam
cho ñến nay mới dừng lại ở hai ñầu: ở ñầu nút trên
là Hiến pháp (thể hiện tại các ñiều khoản về dân
tộc, văn hoá, giáo dục ), ở ñầu nút dưới là cơ
quan hành pháp (thể hiện ở các nghị ñịnh, chỉ thị
của Chính phủ (thể hiện trong quy ñịnh của một số
bộ hoặc cơ quan ngang bộ Có lẽ vì thế mà các nội
dung về lập pháp ngôn ngữ ở nước ta chưa ñược
giải quyết thống nhất
Chưa hề có văn bản pháp lý nào quy ñịnh một
ngoại ngữ ở vị trí ñộc tôn, nhưng trong thực tiễn,
một ngoại ngữ nào ñó chiếm vị trí ñặc biệt trong
ñời sống xã hội Việt Nam là ñiều dễ nhận thấy Ví
dụ như vị trí của một thứ tiếng (chẳng hạn một
thời là tiếng Nga) với số lớp ñược mở ở một
trường chuyên ngữ hay trường phổ thông cũng
như với số ñầu sách Từ ñiển ñối chiếu thuật ngữ
chuyên ngành có thể cho ta thấy ñiều này
11 Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 171, tháng
5-2005, tr 1
Đáng lưu ý là ở Việt Nam, có 3 ngoại ngữ mà khi thực hiện chính sách ngôn ngữ, chúng ta có thể xem xét với tư cách là ngôn ngữ của các DTTS - nay ñược xem là một môn học ở trường phổ thông, ñó là Hoa, Khmer và Lào Có ñiều trên các văn bản còn chưa có sự thống nhất trong việc ñịnh danh cũng như xác lập vị trí của chúng: tùy từng ñối tượng, chúng ñược xem là ngoại ngữ hay ngôn ngữ DTTS trong một quốc gia ña dân tộc Như thế, phải chăng thay cho các tên ngôn ngữ:
Hán/Trung ( Quốc/Hoa) và Miên/Campụchia, nên gọi là Hoa và Khmer, vì ñó cũng là tên hai DTTS ñã
ñược xác ñịnh trên văn bản chính thức ở Việt Nam Chính sách ngoại ngữ là một bộ phận của chính sách ngôn ngữ của mỗi quốc gia Liên hệ với Việt Nam, Lê Minh Hà ñã có nhận xét xác ñáng là
“công việc này chưa thu về một mối mà còn chồng chéo”, khác với “Ở bốn nước, công tác này ñược giao cho một cơ quan thừa quyền tổ chức và thực hiên” (tr 164 và 167)
Trong lúc ñang tiến hành luật hoá hàng loạt vấn ñề, nhằm ổn ñịnh và phát triển ñất nước, GS
TS Nguyễn Văn Khang cho rằng “thiết nghĩ vấn
ñề ngôn ngữ ở Việt Nam ñã ñến lúc cần ñược luật hoá bằng một bộ luật riêng (tr 74-75)
Ngoài những quy ñịnh chung, cần xác ñiịnh vị thế của các ngôn ngữ phù họp với thời ñại Kinh nghiệm của Thái Lan quy ñịnh tiếng Việt trở thành một trong các ngoại ngữ tự chọn ở nước này như ñể ñón trước sự hứa hẹn về một Cộng ñồng ASEAN vào 2015 là ñáng học tập
3 Kết luận
Chính sách ngoại ngữ là một bộ phận của chính sách ngôn ngữ, tồn tại không chỉ bên cạnh
mà trong tương quan với chính sách ngôn ngữ quốc gia (tiếng Việt, ñược xác ñịnh trong Hiến pháp 2013, trước ñây thường gọi là tiếng phổ
thông) và chính sách ñối với ngôn ngữ các DTTS,
Ở mỗi quốc gia, chính sách này có thể hiển hiện, công khai hay ngầm ẩn, song ba bộ phận hợp thành này luôn phải ñược xem xét trong quan hệ
Trang 9mật thiết với nhau Hướng tới hội nhập, Việt Nam
cần một chính sách ngoại ngữ tạo ra những con
người song và ña ngữ thuần thục, nhưng tuyệt ñối
không xem nhẹ tiếng mẹ ñẻ
Trong chính sách ngôn ngữ, mọi sự áp ñặt ñều
gây phản cảm khiến người ta khó chịu, thậm chí
có thể ngầm chống lại Theo dõi về chính sách
ngôn ngữ dân tộc, chúng ta nhận thấy việc chỉ
dùng một bộ chữ viết (chưa ñược ñồng thuận)
trong giáo dục hay một cách phát âm duy nhất trên
sóng phát thanh và truyền hình mà không nhận
ñược sự ñồng tình của ña số người người dân, thì
bộ chữ không phát huy ñược tác dụng (thậm chí
chết yểu) và chương trình phát sóng bị từ chối
bằng tắt máy hay chuyển kênh Chúng ta ñang xây
dựng Luật ngôn ngữ Những quan ñiểm chỉ ñạo về
chính sách ngoại ngữ ở nước ta trong thời kỳ mở
cửa ñể hội nhập cần ñưa thành một trong những
nội dung của Luật này Tuy nhiên, dù có Luật ngôn
ngữ, chưa thấy ở ñâu các nhà lập pháp nghĩ ñến
việc phải quy ñịnh bỏ tù những ai vi phạm luật này
Về chính sách ngoại ngữ, chớ nên khẳng ñịnh
tuyệt ñối vị thế của bất cứ một ngoại ngữ nào
Đương nhiên, phải dành ñiều kiện ưu tiên cho nhu
cầu ngoại ngữ số ñông Trong thời kỳ mở cửa ñể
hội nhập, bên cạnh sự phổ biến của tiếng Anh thì
tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung và các ngoại
ngữ khác luôn có vị trí nhất ñịnh, cho những lĩnh
vực nhất ñịnh
Để có ñược những lớp người ñủ sức thực hiện
CNH, HĐH ñất nước trong xu thế hội nhập với
thế giới và khu vực, chúng ta cần một chính sách
ñối với ngôn ngữ nói chung, ngoại ngữ nói riêng,
không thoát ly nhu cầu thực về sử dụng (các) ngôn
ngữ Dù việc xác ñịnh rõ vị thế của một ngoại ngữ
không quá khó nhưng việc công khai quy ñịnh
trong nhà trường và xã hội ñôi khi còn là vấn ñề
rất tế nhị, ñó là vì cần tôn trọng ña dạng văn hóa,
và khẩu hiệu của chúng ta vẫn là: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” Nhiều nước tiên tiến ñã yêu cầu học sinh phải học một trong các ngoại ngữ thứ nhất và tuỳ chọn một trong các ngoại ngữ thứ hai (và ba) – trong ñó có tiếng Việt, ngoài môn ngoại ngữ bắt buộc
Mấy khuyến nghị nêu trên ñược ñề xuất với hy vọng góp phần vào xây dựng những quyết sách thích hợp cho chính sách ngoại ngữ của Việt Nam
trong xu thế hội nhập với thế giới và khu vực
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Một số văn kiện về việc dạy và học ngoại ngữ
ĐHSP Ngoại ngữ hà Nội, 1973
2 Lê Minh Hà (2011).- Đối sánh chính sách ngôn ngữ
ñối với tiếng Melayu ở một số quốc gia Đông Nam Á
(trong sự liên hệ với Việt Nam) Luận án TS bảo vệ thành công tại Học viện KHXH, ngày 08 - 11 -2011,
3 Bùi Hiền.- Tuyển tập (bản thảo)
4 Nguyễn Văn Khang (2009).- Chính sách của Đảng
và Nhà nước Việt Nam về ngôn ngữ trong thời kì công nghiệp hoá, hiện ñại hoá và hội nhập quốc tế Tóm tắt báo cáo Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc, Hà Nội, 11/2009, tr 74-75
5 Vương Toàn (1980).- Ngoại ngữ với con người trong
thời ñại mới Tc Thông tin KHXH, s.3, tr 58-64
6 Vương Toàn (1986).- Dạy và học ngoại ngữ trong
chủ nghĩa xã hội Tc Thông tin KHXH, s.2, tr.47-53
7 Vương Toàn (1995).- On Role of Malay Language
in Vietnam Trong World Congress on Malay
Language, 21-25/10/1995, Kuala Lumpur (Malaysia),
Abstract, pp 149-150
8 Vương Toàn (2009).- Tiếng Anh và chính sách
ngoại ngữ ở Việt Nam thời hội nhập Hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc tổ chức tại Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 26 - 27/11/2009 Tóm tắt báo cáo, tr.137-138; Tc
Ngôn ngữ, 2010, s 5, tr 27-36
9 Vương Toàn (2013).- La position du français au
Vietnam et ses raisons socio-linguistiques, Trong
Những kỷ niệm về tình hữu nghị Việt –Pháp và Pháp ngữ // Mémoires de l’amitié Vietnam-France et de la
francophonie H., Nxb Thông tin và Truyền thông, pp 207-222