Qua bài viết của các tác giả vừa là nhà nghiên cứu Nhật Bản, vừa là giảng viên của các trường đại học, chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình giảng dạy và nghiên cứu văn học Nhật Bản ở một số trường đại học của Việt Nam hiện nay.
Trang 1TỪ VIỆC DỊCH TÁC PHẨM VĂN HỌC NHẬT BẢN, SUY NGHĨ VỀ VIỆC DẠY VÀ HỌC VĂN HỌC NHẬT BẢN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Nguyn Th Oanh Viện Nghiên cứu Hán Nôm
ở Việt Nam từ năm 1950 cho tới nay ñã có sự phát
triển vượt bậc Nếu trước ñây, việc dịch tác phẩm văn
học Nhật Bản phải thông qua ngoại ngữ khác như tiếng
Anh, Pháp, Trung… thì ngày nay số lượng các tác
phẩm văn học Nhật Bản ñược dịch từ nguyên gốc tiếng
Nhật ngày một nhiều, song việc ñánh giá chất lượng
các bản dịch hầu như chưa ñược chú ý ñúng mức Các
nhà nghiên cứu lí luận phê bình văn học dịch nước ta
tuy ñã bàn nhiều ñến việc nâng cao chất lượng, hiệu
quả của lý luận, phê bình văn học, nhưng cũng chưa
ñưa ra ñược khung phương pháp luận cho vấn ñề dịch
thuật và ñánh giá chất lượng bản dịch Từ việc so sánh
bản dịch tiểu thuyết Nỗi lòng, với bản gốc tiếng Nhật
tác phẩm Kokoro của nhà văn Natsume Soseki, trên cơ
sở vận dụng lý thuyết phiên dịch của một số nhà
nghiên cứu văn học phiên dịch trong nước và trên thế
giới, tác giả bài viết ñã ñi sâu phân tích các trường hợp
sai lệch so với bản gốc và phương án sửa chữa từng
trường hợp cụ thể Tuy nhiên, mục ñích của tác giả bài
viết không chỉ dừng ở việc nêu ra và sửa chữa những
lỗi sai trong tác phẩm dịch, mà còn hy vọng từ việc so
sánh này cần suy nghĩ và thảo luận ñể làm sao có
nhiều tác phẩm dịch có chất lượng, ñóng góp về cả
nghệ thuật và ngôn ngữ tiếng Việt, từ ñó ñề ra chiến
lược giảng dạy và học tập môn văn học Nhật Bản ở
các trường ñại học ở Việt Nam hiện nay
Qua bài viết của các tác giả vừa là nhà nghiên cứu
Nhật Bản, vừa là giảng viên của các trường ñại học,
chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình giảng dạy và
nghiên cứu văn học Nhật Bản ở một số trường ñại học
của Việt Nam hiện nay Ngoài những biện pháp ñể
khắc phục khó khăn, ñẩy mạnh công tác giáo dục ñào
tạo nhân lực nhằm phát triển ñội ngũ các nhà nghiên
cứu, giảng dạy văn học Nhật Bản, cũng cần thiết phải
xây dựng một chiến lược lâu dài cho việc ñào tạo nhân
lực nghiên cứu, giảng dạy và dịch văn học Nhật Bản
Hy vọng trong tương lai không xa sẽ có nhiều dịch giả
ñồng thời là nhà giảng dạy, nghiên cứu văn học Nhật Bản xuất sắc và sản phẩm dịch của họ chắc chắn sẽ ñáp ứng ñược ñòi hỏi của công chúng và các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học Nhật Bản tại Việt Nam, góp phần tăng cường sự hiểu biết, giao lưu, hữu nghị giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản
Abstract: Since 1950 up to now, the translation of
Japanese literary works in Vietnam has been remarkably developing While in the past, the translation of Japanese literary works into Vietnamese must apply another bridging language such as English, French or Chinese,… the number of Japanese literary works which are translated directly from the source language is increasing However, the translation quality
is still not appropriately assessed Despite numerous discussion on improving the quality and effectiveness
of literary criticism theories, the researchers and criticizers in this field can still not set up a legal framework for translation and assessment of the translation quality By comparing the translation of the novel “Noi long” to its original in Japanese named Kokoro by the writer Natsume Soseki on the base of applying translation theories of both home and international literary translation researchers, the author focuses on analyzing the errors and differences between the translation and its original and proposing corrections for each error Not only identifying and correcting the errors of the translation, the author also suppose that it is worth more consideration and discussion to improve the translation quality and contribute both artistic and lingual values to Vietnamese language By this way, it helps to propose teaching and learning methods of Japanese literature
in Vietnamese universities nowadays
Through this article of a Japanese researcher and a university lecturer, we can understand more about the situation of teaching and researching Japanese literature in several universities in Vietnam at present
Trang 2Besides solutions to recovery difficulties and promote
the education and labor training in order to develop the
force of researchers and lecturers of Japanese
literature, it is also important to plan a long term
strategy for training a staff of researching, teaching ad
translating Japanese literature It is expected that in the
near future, there are more and more persons who are
both excellent researchers, lecturers and translators of
Japanese literature and their translation works will
certainly satisfy the public desires The researchers
and lecturers of Japanese literature in Vietnam will
greatly contribute to the mutual understanding,
exchange and friendship between Vietnamese and
Japanese people
1 Về hoạt ñộng dịch thuật và phê bình tác
phẩm văn học dịch tiếng Nhật
Như chúng ta ñã biết, từ năm 1950 cho tới nay,
cho dù phải thăng trầm qua thời gian, nhưng với
113 ñầu sách xuất bản và 45 tác phẩm ñược dịch
trên mạng (chủ yếu là tiểu thuyết) <1> <2> cho
thấy sự phát triển vượt bậc của công việc dịch và
xuất bản văn học Nhật Bản tại Việt Nam Nếu
trước ñây, việc dịch tác phẩm văn học Nhật Bản
phải thông qua ngoại ngữ khác như tiếng Anh,
Pháp, Trung… thì ngày nay số lượng các tác
phẩm văn học Nhật Bản ñược dịch từ nguyên gốc
tiếng Nhật ngày một nhiều, ngoài một số dịch giả
và nhà nghiên cứu như Nguyễn Thị Oanh dịch
Nhật Bản linh dị ký của Keikai (Nxb.Văn học
1999) và sẽ ra tiếp Tập truyện kể xưa nay
(Konjyakumonogatarishu) (Nxb KHXH); Trần
Thị Chung Toàn dịch Cái bếp của Yoshimoto
Banana (Nxb Đại học quốc gia, 2000) và Vườn
hoa trăm sắc của Fujiwarano Sadaie (Nxb Thế
giới, 2010); Lương Việt Dũng dịch Nhật ký mang
thai (Nxb.Văn học, 2009); Giáo sư và công thức
toán (Nxb.Hội nhà văn) cùng của Ogawa Yoko;
Đôi mắt ấy vẫn ở trên giường của Yamada Amy
(Nxb.Hội nhà văn, 2008); Bùi Thị Loan dịch Cậu
ấm ngây thơ (Nxb Hội nhà văn, 2006) và Tôi là
con mèo (Nxb Hội nhà văn, 2011) của nhà văn
nổi tiếng Nhật Bản Natsume Soseki; Hoàng Long
dịch: Thất lạc cõi người (NXB HNV & Công ty
Nhã Nam, 2011) và Tà dương (2012), và sẽ ra tiếp
tiểu thuyết Nữ sinh…” Trong ñó có nhiều dịch giả
còn trẻ nhưng ñã phát lộ khả năng dịch thuật khá tốt các tác phẩm văn học Nhật Bản ra tiếng Việt, như Lương Việt Dũng, Bùi Thị Loan, Hoàng Long…<3>
Vấn ñề dịch thuật văn học Nhật Bản ñã ñược nhiều nhà nghiên cứu ñi trước ñề cập tới trong một số các công trình và các bài viết liên quan ñến tình hình dịch thuật-nghiên cứu-xuất bản văn học Nhật Bản tại Việt Nam <4> và gần ñây nhất là Hội nghị Lý luận phê bình văn học lần thứ III – Nâng cao chất lượng, hiệu quả của lý luận, phê bình văn học”, ngày 4-5/6/2013 tại thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc ñã ñề cập ñến vấn ñề dịch thuật bao gồm cả dịch thuật văn học Nhật Bản Cho ñến nay, ngoại trừ tác phẩm Truyện Genji do Nxb KHXH ấn hành năm 1991 (không ñề tên dịch giả) là tác phẩm bị giới nghiên cứu văn học Nhật Bản eo xèo, chê trách là một dịch phẩm không tốt (nhưng chưa có bài phê bình cụ thể nào), còn các tác phẩm dịch khác chưa thấy sự phản hồi của ñộc giả về trình ñộ dịch thuật cũng như các vấn ñề khác Cũng có thể nhà phê bình Việt Nam chưa hứng thú với việc phê bình, ñánh giá các sách dịch văn học Nhật Bản ở Việt Nam Hoặc tâm lí e dè, ngại ñụng chạm khi phải phê bình cuốn sách dịch nào ñó Bàn về vấn ñề văn học dịch nói chung, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Phê bình dịch thuật văn chương ñang rất cần thiết nhưng hiện nay chưa ñược chú ý ñúng mức và chưa ñược chuẩn bị, ñầu
tư kỹ càng Tình hình ñó làm cho thực trạng dịch văn chương của ta nhiều khi bị gây nhiễu rối loạn không ñáng có vì những ý kiến quy chụp, phê phán nặng nề từ những sai khác thông thường thay
vì trao ñổi, thảo luận trên tinh thần cầu thị cho những bản dịch tốt ñem lại cho văn chương Việt Nam những ñóng góp cả về nghệ thuật và ngôn ngữ trong tiếng bản ngữ Phê bình dịch thuật văn chương không chỉ và không hẳn là góp ý, sửa chữa những lỗi sai, mà quan trọng hơn nữa là phân tích, ñánh giá, biểu dương những bản dịch tốt, dịch hay, những dịch giả có công lao bắc những nhịp cầu qua các biên giới quốc gia, dân tộc”
Tuy nhiên, làm sao ñể phê bình dịch thuật văn
Trang 3chương không chỉ là sự góp ý, sửa chữa những lỗi
sai? Làm sao có thể kích thích các nhà phê bình
chú trọng tới tác phẩm? Dịch giả Trịnh Lữ cho
rằng, “cần có những bài phê bình dựa trên nền
tảng lý thuyết, trên phương diện mang tính xây
dựng thì mới khích lệ ñược công việc này” Nhiều
nhà nghiên cứu văn học cũng báo ñộng tình trạng
sách lý luận phiên dịch hay phê bình dịch thuật
văn chương ở nước ta còn quá ít Cho dù, ở nước
ngoài, các công trình nghiên cứu về phiên dịch
học không ít Có thể người viết bài này chưa biết
nhiều về thành tựu của lĩnh vực này, nhưng các
cuốn sách như: Phiên dịch nhập môn và Tiêu
chuẩn của việc dịch thuật – Cách ñọc và cách
truyền tải chương trình của Tsujitani Shinichiron;
Tìm hiểu các vấn ñề phiên dịch của Anthony Pym,
người dịch ra tiếng Nhật là Takeda Kayoko; Hay
cuốn Đương ñại phiên dịch lý luận của GS Lưu
Bật Khánh, trường Đại học Trung văn, Hồng
Kong;… ñều có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng
Google Tuy nhiên, công tác dịch thuật các tác
phẩm về lý luận văn học dịch như trên ñã nói còn
rất ít, nhất là các sách phục vụ cho việc phê bình
dịch thuật văn học Nhật Bản, vì thế công việc phê
bình dịch thuật hầu như không xuất hiện Đây là
ñiều ñáng suy nghĩ cho vấn ñề phê bình dịch thuật
văn học Nhật Bản trong tương lai
Tuy chưa có bài viết nào về vấn ñề dịch văn
học Nhật Bản, nhưng từ ý kiến của các dịch giả
các thứ tiếng khác về vấn ñề dịch thuật cũng có
thể cho thấy phần nào về quan niệm dịch thuật tác
phẩm văn học nước ngoài ở Việt Nam Theo dịch
giả Lê Hồng Sâm thì “Người dịch phải xác ñịnh
cho mình một “ñộ” nhất ñịnh ñể vừa giữ ñược tinh
thần của tác phẩm gốc mà vẫn giúp bản dịch
không quá khó tiếp nhận ñối với ñộc giả trong
nước” Quan niệm về “ñộ”, dịch giả cho rằng: “cái
“ñộ” ñó có thể thay ñổi theo thời gian, phù hợp
với sự biến chuyển của ngôn ngữ và văn hóa Ví
dụ, người ta sẽ không thể nào sử dụng ngôn ngữ
của mấy chục năm về trước ñể chuyển tải nội
dung cho ñộc giả ngày nay, cũng như, việc dịch
thẳng những cụm từ thô, tục – vốn tồn tại rõ rành
rành trong bản gốc – hẳn khó chấp nhận trong thế
hệ của bà” <6> Dịch giả Trịnh Lữ khi trích dẫn
quan ñiểm của nhà phê bình George Steiner, cho rằng “dịch thuật là một nghệ thuật có tính chính xác” Một khi nó là nghệ thuật, nó ắt mang dấu ấn sáng tạo của người dịch Theo dịch giả, trong văn học, khó tìm ñâu một bản dịch ñúng Thay vì ñó, ông ñặt ra vấn ñề dịch theo xu hướng bản xứ hóa hay mang những yếu tố ngoại lai trong tác phẩm tới người ñọc nước mình” <7> Dịch giả Lương Việt Dũng từ kinh nghiệm của việc dịch văn học Nhật Bản cho biết, “ở xứ Phù Tang, người ta thường dịch theo xu hướng bản xứ hóa với những tác phẩm văn học, bằng việc thay ñổi tên ñịa danh, nhân vật cho quen thuộc, giúp ñộc giả của họ có thể dễ dàng tiếp cận các tác phẩm văn học nước ngoài và ñiều này có hiệu quả, thể hiện ở lượng tiêu thụ những tác phẩm dịch theo phong cách này tại xứ mặt trời mọc”<8> Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng, “Dịch là sự tiếp biến, thương lượng giữa các nền văn hóa” Tất nhiên, ñể sự thương lượng này thỏa ñáng nhất và mang lại bản dịch hay, chất lượng cho ñộc giả thì cần ñến tâm, tài của người dịch” <9><10>
Người viết với tư cách là nhà nghiên cứu ñồng thời là dịch giả văn học Nhật Bản rất ñồng tình với ý kiến của của nhà phê bình George Steiner, cho rằng “dịch thuật là một nghệ thuật có tính chính xác” Tuy nhiên cũng có rất nhiều quan ñiểm khác nhau, thậm chí ñối lập về quan ñiểm dịch thuật Có người cho rằng chỉ cần dịch ý, dịch
tự do, nhưng cũng có người yêu cầu phải dịch sát
ý (trực dịch), không ñược tùy tiện thêm bớt Ở Việt Nam vào khoảng những năm 1960 do yêu cầu cấp bách cần phổ biến những giá trị tinh thần của cha ông ta trong quá khứ nên công tác dịch thuật Hán Nôm ñược ñẩy mạnh Tuy không xác lập các khung pháp lí cho công tác dịch thuật nhưng tiêu chí các dịch giả bấy giờ ñặt ra là phải
“tín và nhã” “Tín” là chính xác; “nhã” là nghệ thuật Để ñạt ñến sự “tín” và “nhã” rất cần khả năng ñọc giỏi chữ Hán và khả năng văn học của người dịch thuật
Đối với việc dịch văn học Nhật Bản cũng như vậy, ñể có bản dịch có chất lượng tốt, ngoài trình
ñộ tiếng Nhật, dịch giả phải có phông văn hóa sâu
Trang 4rộng; cĩ khả năng cảm thụ tác phẩm và truyền tải
tinh thần của tác phẩm ra tiếng Việt Nhưng chúng
ta đã biết, trong số các tác phẩm văn học Nhật Bản
được dịch và xuất bản hiện nay đa phần được dịch
từ tiếng Anh, Pháp, Trung Lẽ đương nhiên, nếu
dịch giả văn học Nhật Bản là những người khơng
biết tiếng Nhật, khơng hiểu biết nhiều về văn hĩa
Nhật Bản thì khĩ cĩ thể cĩ bản dịch tốt
Gần đây, nhân được đọc phản biện bài viết
Đánh giá chất lượng bản dịch – Khảo sát với bản
dịch tiếng Việt tác phẩm “Kokoro” của Natsume
Soseki của Bùi Mạnh Hùng (Khoa sau đại học,
Trường Đại học Hà Nội) <11>, chúng tơi cĩ dịp
đọc đối chiếu lại bản dịch tác phẩm “Nỗi lịng”
của nhà văn Natsume Soseki do Đỗ Khánh Hoan
và Nguyễn Tường Minh dịch, Nxb Sơng Thao
phát hành vào năm 1971 (chúng tơi gọi là “bản
dịch cũ”) Qua so sánh với bản gốc, chúng tơi thấy
bản dịch của hai dịch giả mắc khá nhiều lỗi Cĩ
thể chia các lỗi trên thành các loại như sau:
Thứ nhất: Dịch chưa chính xác
1/ Dịch chưa chính xác do hiểu nhầm từ
Khảo sát rất ít các trường hợp dịch chưa chính
xác, chúng tơi thấy phần lớn đều do dịch giả hiểu
nhầm từ dẫn đến dịch sai Ví dụ ở trường hợp (1),
nguyên văn là (たしか〜と思う) cĩ nghĩa là “cĩ
lẽ” Dịch giả dịch nhầm thành “tơi nhớ rõ” “Tơi
nhớ rõ” và “cĩ lẽ’ là hai tổ hợp từ khác nhau, một
bên là tổ hợp từ cho thấy sự chính xác của ký ức;
một bên là tổ hợp từ cho thấy sự phân vân, phỏng
đốn, khẳng định một cách dè dặt về điều trong
quá khứ, nghĩ rằng “cĩ thể như thế” Hoặc trường
hợp (10) nhầm từ “nhà xí” (便所)thành “nhà tắm”
風呂
2/ Dịch chưa chính xác do chưa hiểu thấu đáo
về văn hĩa, phong tục Nhật Bản
Nhà nghiên cứu phê bình lí luận ngơn ngữ
phiên dịch học người Anh Catford là người đầu
tiên đề xướng khái niệm gọi là “phiên dịch ngang
bằng giá trị” Theo Catford mục tiêu chính trong
hoạt động phiên dịch là “hãy tìm ra những giá trị
giống nhau” Tuy nhiên để tìm ra “những giá trị
giống nhau” cần tìm hiểu ngơn ngữ trên nền văn hĩa
Dịch giả Trần Đình Hiến đã nĩi: “Trước tiên anh phải cĩ sự hiểu biết sâu sắc về văn hố của chính dân tộc mình, sau đĩ cũng phải hiểu biết sâu sắc văn hố của đất nước cĩ ngơn ngữ mà anh định chuyển ngữ Bởi, văn học dịch là sự giao lưu giữa hai nền văn hố chứ khơng đơn thuần là ngữ nghĩa Khơng am hiểu cả hai nền văn hĩa thì khĩ cĩ bản dịch tốt Sau đĩ là khả năng Việt hĩa ngơn ngữ, văn dịch phải như văn viết bằng tiếng Việt” <12> Wilhelm von Humboldt, nhà nghiên cứu ngơn
ngữ người Đức Heyman Steinthal (1823-1899)
cũng nhấn mạnh hơn đến nghiên cứu ngơn ngữ và cho rằng “nghiên cứu các hình thức của ngơn ngữ cĩ thể cho ta khả năng đạt tới chỗ hiểu thấu tinh thần của dân tộc: "Các dữ kiện của ngơn ngữ minh họa rõ ràng nhất mọi nguyên lý của tâm lý các dân tộc" Khảo sát các trường hợp dịch chưa chính xác
do cĩ sự khác biệt về văn hĩa, phong tục tập quán, ngồi lí do chưa hiểu thấu đáo về tiếng Nhật, nhiều khả năng dịch giả dịch từ ngơn ngữ khác nên chưa thể “tìm ra những giá trị ngang bằng” trong trường hợp chuyển dịch Ví dụ ở trường hợp (2), nếu dịch “đi theo để kỳ lưng” thì câu đĩ sẽ được hiểu là: người mẹ đi theo người cha cùng một lúc vào nhà tắm Nhưng ý câu lại khơng phải như vậy, người cha vào nhà tắm, đến khi người
mẹ “đi vào kỳ lưng” và “đang kỳ lưng” thì người cha ngất đi, bà liền hơ ầm lên gọi người con, đến khi người con chạy vào xem thì thấy người cha
“mình trần được mẹ tơi ơm giữ lấy từ phía sau” Nếu dịch giả chú ý đến văn hĩa “ofuro” (nhà tắm)
và thĩi quen “tắm” của người Nhật trong truyền thống ắt sẽ dịch chính xác hơn ở trường hợp này Chúng ta đã biết, người Nhật rất thích ngâm mình trong các bồn tắm nước nĩng tới tận cổ, gọi là suefuro Đến khoảng đầu thế kỷ XVII, các
“suefuro” khơng phải chỉ là để xơng hơi và nước tắm bằng thảo dược mà người ta đã dùng nước giếng để đun lên gọi là suifuro và các suifuro đã trở lên phổ biến trong các gia đình Nhật Bản Ngồi ra, do yufune (bồn tắm thuyền) rất tốn nước nĩng, và cũng chỉ chứa được ít lượng nước nĩng khơng đủ tắm nên người Nhật là dùng thùng gỗ cá nhân Thơng thường thùng cao khoảng 80 cm,
Trang 5miệng rộng khoảng 80 cm Trong phòng tắm,
người ta ñặt thùng tắm, nơi treo mắc quần áo, bên
cạnh thùng tắm còn làm cả chỗ ñể người khác có
thể giúp kỳ cọ Như vậy trong trường hợp bà mẹ
ñi kì lưng cho ông bố, khi ông ngất ñi, bà mẹ chỉ
có thể ôm ñể ông bố (nguyên văn là “mẹ tôi ôm
giữ lấy từ phía sau) ñể mặt ông không ñập xuống
nước hoặc va vào miệng thùng tắm Ông bố không
thể “nằm ñưỡn người (tức nằm thẳng, cứng ñờ)
trên tay bà mẹ ñược”
Catford khi nói ñến “những giá trị ngang bằng”
cũng nhấn mạnh ñến những giá trị giống nhau về
văn pháp như từ vựng, cú pháp… Lẽ ñương nhiên
việc chuyển ngữ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ
kia khó có thể giữ nguyên hoàn toàn những giá trị
giống nhau về văn pháp, song nếu giữ ñược thì ñó
là phương án tối ưu cho việc phiên dịch (dịch văn
bản và dịch miệng) Khảo sát trường hợp thứ (7)
từ nguyên gốc là “bên gối”, ñược dịch là “bên
giường” “Bên giường” và “bên gối” ñều chỉ ñịa
ñiểm xẩy ra hành ñộng chăm sóc ân cần của người
con khi cha vừa bị ngất, nhưng chúng lại cho
chúng ta biết về sự khác nhau trong cuộc sống
sinh hoạt ăn ở của người Nhật Chúng ta ñã biết,
vào thời cận ñại ở Nhật Bản, ñối lập với nhà ở
kiểu tây là nhà kiểu Nhật, gọi là “zashitsu” Ở thời
Natsume Soseki người Nhật vẫn sống chủ yếu
trong các zashitsu (nhà kiểu Nhật), tức nhà gỗ, cửa
kéo, không có tường, chỉ ngăn bằng bình phong,
rèm… và nằm trên sàn chiếu tatami, rất ít nhà
dùng giường Như vậy, từ “zashiki” và
“makuramoto” ñã cho biết người cha sống trong
ngôi nhà truyền thống zashiki của Nhật và nằm
trên nệm dải trên sàn chiếu tatami Vì vậy nếu
dịch “ngồi lại bên gối” thì không chỉ dịch chính
xác từ gốc cho mà còn cho chúng ta hiểu rõ thêm
văn hóa dân tộc Nhật Bản
Thứ hai: dịch suy diễn, thêm vào quá nhiều từ
Lối diễn dịch, dịch suy diễn, thêm quá nhiều từ
chiếm một tỉ lệ khá lớn 15/36 trường hợp Thực tế
dịch giả có quyền thêm vào ñể cho câu văn thêm
sáng nghĩa Ví dụ ở trường hợp (3), câu “Tôi ñâm
nháo ñâm nhào chạy vào” ñược thêm vào sau câu
“bỗng dưng gọi tôi giật giọng ầm ĩ cả lên” Theo
chúng tôi sự thêm vào này có thể chấp nhận ñược Nếu không thêm vào, ñộc giả cũng có thể tưởng tượng trong trường hợp ñó, người con không thể hành ñộng khác mà sẽ “hốt hoảng, vội vã chạy vào” Tuy nhiên, chúng ta ñã biết Natsume Soseki
“thuộc thế hệ những trí thức tinh hoa theo khuynh hướng sáng tạo văn hóa từ cuộc ñối ñầu phương Đông và phương Tây thời kỳ Minh Trị (1868-1912), là một trong những chủ soái của trường phái văn chương tâm lý cao sang (Yoyuha – Dư
dụ phái) bút chiến với chủ nghĩa tự nhiên (shizenshugi) trên văn ñàn Nhật Bản những năm ñầu thế kỷ 20” <13> Ở ñoạn văn này có lẽ nhà văn không ñặt trọng tâm vào việc mô tả chân thực
sự hốt hoảng ấy là từ người con, ông muốn nhấn mạnh ñến tình trạng của người cha Người cha vừa mới ngất ñi, nhưng khi ñược ñưa vào nhà ñã ngay lập tức hồi tỉnh trở lại, và ñó là nguyên nhân dẫn ñến sự giằng co trong nội tâm nhân vật khi quyết ñịnh có lên ñường hay không ở ñoạn văn sau Trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Soseki, ông ñặc biệt nhấn mạnh ñến yếu tố cảm xúc trong sáng tạo nghệ thuật Vì thế khi so sánh nguyên gốc với bản dịch, chúng thấy lối dịch suy diễn, thêm từ của dịch giả không chỉ làm cho câu văn thêm dài dòng, ý sai lạc mà còn ảnh hưởng ñến văn phong của tác giả
Ví dụ, ở trường hợp (33), (34) (bản dịch cũ):
“Mẹ tôi ñã lấy làm ñiều tốt lành cái triệu chứng ñáng làm cho mình thất vọng hơn hết (33) Tuy nhiên, bà ñã dùng tiếng “ñói khát” theo lối nói ngày xưa, vừa có nghĩa là ñói ăn, vừa có nghĩa là khát uống nhưng chỉ dùng khi nói ñến những người ốm ñau bệnh tật mà thôi (34)” Nguyên văn tiếng Nhật là: 母は失望していいところにかえって 頼みを置いた。そのくせ病気の時にしか使わない渇 くという昔風の言葉を、何でも食べたがる意味に用 いていた。Phương án dịch của chúng tôi: Trong lúc thất vọng, mẹ tôi ñã ñặt hy vọng như thế(33) Nhưng, hai chữ “ñói khát” nói theo kiểu ngày xưa thì chỉ dùng khi bệnh nặng với ý là cái gì cũng muốn ăn (34)
Thực ra câu dịch này không sai, nhưng từ câu ñơn giản dễ hiểu ở nguyên gốc, khi chuyển sang
Trang 6tiếng Việt dịch giả lại làm cho câu văn trở nên rối
rắm, khó hiểu Hai từ “ñói khát” ñược dịch giả
giải thích thêm “vừa có nghĩa là ñói ăn, vừa có
nghĩa là khát uống” vừa làm cho câu văn dài dòng,
vừa thiếu chính xác Nguyên gốc dùng từ “khát”
có nghĩa là “thèm khát”, mà “thèm khát” lại không
phải “khát uống” mà ñúng như nhà văn giải thích
“thèm khát” có nghĩa là “cái gì cũng muốn ăn”
Cách vừa dịch vừa diễn dịch của dịch giả theo
chúng tôi là ñiều tối kỵ trong phiên dịch Chỉ
trong trường hợp khác biệt về văn hóa và không
thể chuyển dịch tương ñương thì người dịch mới
thêm từ ñể cho rõ nghĩa Diễn dịch sẽ làm cho câu
dài dòng và dễ gây ngộ nhận cho ñộc giả về văn
phong của tác phẩm Thậm chí có một số từ khi
ñưa thêm vào ñã làm “hỏng” hình ảnh của nhân
vật, làm cho tính cách nhân vật trở nên “méo mó”
Ví dụ ở trường hợp (36) (Bản dịch cũ): “Dĩ
nhiên là thầy tôi muốn giữ bác tôi lại ñể cho mình
khỏi quá cô quạnh nhưng tôi ngờ rằng còn có một
lý do khác nữa: thầy tôi muốn có ai ñó ngồi nghe
mình than thở nỗi bất bình về việc mẹ con tôi ngại
ngần không chịu ñể ông ăn những món ông thèm
cho ñến sướng miệng”
伯父が見舞に来たとき、父はいつまでも引き留
めて帰さなかった。淋しいからもっといてくれとい
うのが重な理由であったが、母や私が、食べたいだ
け物を食べさせないという不平を訴えるのも、その
目的の一つであったらしい。Phương án dịch của
chúng tôi: “Ông lấy lý do chính là buồn nên muốn
bác tôi ở lại lâu hơn nhưng, hình như còn có một
mục ñích muốn phàn nàn với bác tôi rằng, ông
chỉ muốn ăn những thứ ông thèm, mà mẹ tôi và tôi
lại không cho”
Dịch giả thêm vào mấy câu “cho ñến sướng
miệng” trong ñoạn văn trên sẽ khiến hình ảnh của
người cha trở nên “méo mó” trong mắt người ñọc
Ông trở thành kẻ “phàm phu tục tử”, ăn chẳng
nghĩ ñến ai, chỉ cốt “sướng miệng mình” Nhưng
không phải như vậy, ñoạn văn (31)(32) ñã cho
thấy cái gọi là “của ngon vật lạ” mà người cha nói
ñến ñâu phải “cao lương mỹ vị” gì, món mà ông
thích chỉ mấy thứ quà vặt, bình thường, dân dã
Ngay cả người con khi khi cha nói tới mấy thứ
“của ngon vật lạ” còn cảm thấy “vừa buồn cười, vừa thực thê thảm” bởi cha mình “ ñâu có sống ở chốn thị thành, nơi có thể thưởng thức những của ngon vật lạ Tối ñến, ông bảo nướng cho mấy thứ như bánh gạo, ngồi nhai rôm rốp” Cuộc sống của người cha ở nơi thôn quê qua mô tả của nhà văn thật dung dị và chất phác
Thứ ba, cách chọn từ
Đối với nhà văn, mỗi câu, mỗi chữ viết ra ñều phải ñắn ño suy nghĩ kỹ càng mới hạ bút, thậm chí ngay cả khi viết ra rồi vẫn không hài lòng, tẩy xóa
ñi và viết lại Vì thế việc dịch văn chương càng cần phải thận trọng Qua khảo sát một số trường hợp diễn dịch, chúng tôi thấy dịch giả quá dễ dãi trong việc dùng từ Ví dụ trường hợp sau: “Tôi trở
về phòng riêng giương mắt nhìn (20) hành lý trỏng trơ trên sàn Hành lý ñã ñược buộc dây chặt chẽ, sẵn sàng theo tôi lên ñường Tôi ñứng mơ màng (21) một lúc không biết là có nên tháo dây buộc ra không” Nguyên văn là:
私は自分の部屋にはいって、そこに放り出され た行李を眺めた。行李はいつ持ち出しても差支えな いように、堅く括られたままであった。私はぼんや
Phương án dịch của chúng tôi: “Tôi trở về phòng riêng, lặng nhìn (20) ñống hành lý vứt chỏng chơ trong phòng Hành lý ñã ñược buộc dây chặt chẽ,
có thể sẵn sàng mang ñi bất cứ lúc nào Tôi thẫn thờ ñứng trước ñống ñồ (21), nghĩ không biết có nên tháo dây buộc ra nữa hay không”
“Giương mắt nhìn” chỉ việc mở to mắt nhìn việc xảy ra với vẻ ngây ngô và bất lực, nhưng ñộng từ “nagameru” lại có nghĩa “ngắm nhìn cái
gì ñó từ xa”; “vừa nhìn vừa suy nghĩ”; “vừa nhìn vừa trầm tư” Vì thế phương án dịch là “lặng nhìn” sẽ thích hợp hơn khi nhân vật ñang ở trạng thái băn khoăn, do dự
Từ “mơ màng” cũng cho thấy sự dễ dãi của dịch giả trong việc chọn lựa từ ngữ “Mơ màng” chỉ trạng thái luôn mơ tưởng ñến ñiều mình mong muốn (thường là không thiết thực) Nhưng
“bonyari” không phải với nghĩa ñó, “bonyari” dùng ñể chỉ trạng thái như ñờ người ra, ñầu óc
Trang 7trống rỗng, không chú ý tới bất kỳ việc gì, mất hết
vẻ linh hoạt nhanh nhẹn Ở trường hợp này,
“bonyari” ñược Natsume Soseki dùng ñể mô tả
ñúng tâm trạng “tiến thoái lưỡng nan” của nhân
vật khi xẩy ra chuyện trở bệnh của người cha
Thứ tư: chưa chú ý ñến hoàn cảnh ngôn ngữ
ñối thoại
Nhà nghiên cứu văn học Bích Thu viết: “Ngôn
ngữ ñối thoại giữ vai trò ñáng kể trong khắc họa
tính cách nhân vật Mỗi nhân vật ñược nhà văn
quan niệm như một ý thức, một tiếng nói, một chủ
thể ñộc lập”<14> Trong tiểu thuyết của “Nỗi
lòng” của Natsume Soseki khi nhân vật ñều là
người trong gia ñình thì ông hầu như sử dụng
ngôn ngôn ngữ ñời thường, không chút màu mè
Tuy nhiên, khi dịch ra tiếng Việt, dịch giả lại
không chú ý ñến ñiều này khiến cho các cuộc ñối
thoại giữa những người trong gia ñình không còn
giữ ñược sự tự nhiên như trong ñời sống thực tế
Ở ñoạn chú số (5), nguyên văn viết: それでも座
敷へ伴れて戻った時、父はもう大丈夫だといった
Bản dịch cũ là: “Nhưng vừa ñược ñi về phòng,
thầy tôi tỉnh lại ngay “Bây giờ tôi thấy khoẻ rồi”
“もう大丈夫だ”là thể hiện tình trạng hoàn toàn
yên ổn, không có vấn ñề gì, không còn nguy hiểm
Nếu dịch là: “Bây giờ tôi thấy khỏe rồi”, về mặt ý
nghĩa không có vấn ñề gì, nhưng ñặt trong hoàn
cảnh ñối thoại thì dư thừa quá nhiều từ, nhất là ở
tình trạng nhân vật vừa tỉnh lại sau khi bị ngất も
う大丈夫 chỉ cần chuyển ngang ñúng nghĩa tức là
“không sao rồi”, “ổn rồi” Phương án dịch của
chúng tôi là: “Nhưng khi vừa ñược ñưa về phòng,
cha tôi ñã bảo “Không sao rồi”
Hoặc trường hợp (18) Nguyên văn là: 「お前は
今日東京へ行くはずじゃなかったか」と父が聞いた。
「ええ、少し延ばしました」と私が答えた。「おれ
のためにかい」と父が聞き返した。Bản dịch cũ là:
“Đến chiều hôm ñó, thầy tôi hỏi: “Thế tới hôm
nay mà con vẫn chưa lên ñường ñi Tokyo hay
sao?”(18) “Vâng, con ñã quyết ñịnh nán lại nhà ít
ngày, thầy ạ” “Chỉ vì thầy có phải không, con?”
Ở câu trên, dịch giả ñã dịch không chính xác
câu: 「お前は今日東京へ行くはずじゃなかったか」
と父が聞いた。 “Cha tôi hỏi: “Hôm nay chẳng phải là ngày con ñi Tokyo hay sao” Sự không chính xác thể hiện ở chỗ, thực tế người con ñã ñịnh ngày lên ñường ñi Tokyo và người cha ñã biết về ñiều ñó Ngoài ra ngôn ngữ ñối thoại trong nguyên bản là ngôn ngữ ñời thường, ngắn gọn, nhưng khi dịch dịch giả lại không chú ý ñến hoàn cảnh ngôn ngữ làm cho ñoạn ñối thoại trở nên rườm rà, thiếu tự nhiên
“Tiểu thuyết thuộc loại hình tự sự nên nghệ thuật trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong phương thức biểu hiện, và còn là thành
tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn Ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự thông qua ñối thoại Nhờ ñối thoại mà các vấn ñề trong tác phẩm ñặt ra ñược xem xét dưới những ñiểm nhìn khác nhau”<15>
Trở lên là một số vấn ñề liên quan ñến việc dịch văn học Nhật Bản ở Việt Nam – trọng tâm là tác phẩm “Nỗi lòng” của nhà văn Natsume Soseki Việc so sánh phân tích những vấn ñề trong bản dịch trước ñây của hai dịch giả Đỗ Khánh Hoan
và Nguyễn Tường Minh không chỉ dừng ở mục ñích sửa chữa những lỗi nhầm lẫn trong tác phẩm dịch, mà còn hy vọng giúp suy nghĩ và thảo luận
ñể làm sao có nhiều tác phẩm dịch tốt có ñóng góp
về cả nghệ thuật và ngôn ngữ tiếng Việt, từ ñó ñề
ra chiến lược giảng dạy và học tập môn văn học Nhật Bản ở các trường ñại học ở Việt Nam hiện nay
2 Về việc giảng dạy văn học Nhật Bản tại một
số trường ñại học ở Việt Nam hiện nay
Việc giảng dạy và nghiên cứu văn học Nhật Bản ở Việt Nam ñã ñược một số nhà nghiên cứu
ñi trước ñề cập tới qua một số bài viết của Hà Văn Lưỡng<16> và Trần Thị Chung Toàn <17> Bài viết của Hà Văn Lưỡng ñã cho biết khá cụ thể về tình hình giảng dạy văn học Nhật Bản ở các trường cao ñẳng và ñại học ở Việt Nam Ông viết:
“Bên cạnh việc giới thiệu một cách khái quát tiến trình phát triển của văn học qua các thời kỳ dưới tác ñộng và ảnh hưởng của các biến cố và sự kiện lịch sử, sinh viên ñược học văn học Nhật Bản với
Trang 8ñầy ñủ các tác giả tiêu biểu và các thể loại văn học
khác nhau Với số lượng dao ñộng từ 15 tiết ñến
30 tiết (tùy theo ngành học và chưa kể thời gian
làm bài tập, niên luận và khóa luận tốt nghiệp),
văn học Nhật Bản ñược trình bày từ văn học dân
gian ñến văn học cận và hiện ñại Trong ñó,
chương trình tập trung cụ thể vào những tác giả,
tác phẩm lớn tiêu biểu cho từng thời kỳ văn học,
thể loại như: M.Basho và thơ Haikư (thời Trung
ñại), R.Akutagawa và thể loại truyện ngắn (thời
Cận ñại) và Y Kawabata và văn xuôi Nhật Bản
hiện ñại Như vậy, với cách trình bày ñó, văn học
Nhật Bản ñược giới thiệu một cách khá hoàn
chỉnh vừa có diện, vừa có ñiểm trong chương trình
ñại học Điều này cung cấp cho sinh viên những
kiến thức chủ yếu, quan trọng mang tính khoa học
và hệ thống về một nền văn học cụ thể góp phần
làm giàu và phong phú hơn vốn văn học và năng
lực cảm thụ thẩm mỹ” Ông nhận xét: “Khoảng
trong vòng nửa thế kỷ, thông qua nghiên cứu và
giảng dạy, văn học Nhật Bản ngày càng ñược phổ
biến sâu rộng trong nhiều tầng lớp khác nhau của
xã hội, ñặc biệt là giới trí thức, học sinh, sinh viên
và những người yêu văn học của nước ta Đó là
những tín hiệu ñáng mừng, cần quảng bá hơn nữa
nền văn học này ñể chúng ta hiểu sâu thêm về ñất
nước, con người, văn hóa của xứ sở Phù Tang”
Tuy nhiên, tác giả bài viết cũng chỉ ra một số
hạn chế của việc nghiên cứu và giảng dạy văn học
Nhật Bản ở Việt Nam Ông cho rằng: trong khi
một số lượng lớn các tác phẩm văn học Nhật Bản
ñược dịch ra tiếng Việt, nhưng ñội ngũ nghiên cứu
và giảng dạy văn học Nhật ở nước ta mới chỉ bó
hẹp trong phạm vi những người nghiên cứu văn
học ở các viện, trung tâm và giảng dạy ở các
trường phổ thông, cao ñẳng, ñại học Các giảng
viên các trường cao ñẳng và ñại học chưa thật chú
tâm và công việc nghiên cứu Một số sách và bài
viết chỉ tập trung chủ yếu vào một số thể loại (tiểu
thuyết, truyện ngắn, thơ) và tác giả (M Basho, Y
Kawabata…), các mảng kịch và văn học dân gian
Nhật Bản còn chưa ñược nghiên cứu một cách sâu
sắc, cụ thể “Hai tác giả Haruki Murakami (sinh
năm 1949) và Banana Yoshimoto (sinh năm 1964)
của văn học Nhật Bản ñương ñại ñã ñược dịch ở
nước ta với một khối lượng tác phẩm khá lớn, nhưng hầu như chưa có một bài nghiên cứu nào viết về sáng tác của họ”
Nhận xét trên ñây của tác giả Hà Văn Lưỡng
ñã phản ánh phần nào những khó khăn trong công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản (không qua nguyên tác tiếng Nhật) tại Việt Nam Cũng như công việc dịch thuật văn học Nhật Bản,
ñể nghiên cứu và giảng dạy tốt môn Văn học Nhật Bản, lý tưởng nhất cũng phải biết tiếng Nhật ở mức ñộ nào ñó (ví dụ có thể ñọc và cảm thụ tác phẩm qua tác phẩm gốc mà không phải tác phẩm dịch); Phải có phông văn hóa sâu rộng, phải có sự hiểu biết về Nhật Bản, ñặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, văn học Lẽ ñương nhiên, ñây là vấn ñề rất khó, ñòi hỏi sự cố gắng vượt bậc của ñội ngũ giảng viên và các nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản ở các khoa Ngữ văn các trường ñại học của Việt Nam hiện nay Bên cạnh ñó, cũng ñòi hỏi các nhà nghiên cứu và dịch giả biết tiếng Nhật phải nâng cao năng lực tiếng Nhật và khả năng cảm thụ văn học ñể có thể chuyển tải ñúng tinh thần của tác phẩm tới bạn ñọc Điều này lại liên quan ñến công việc giảng dạy và học môn Văn học Nhật Bản tại khoa Nhật Bản tại các trường ñại học chuyên ngữ hiện nay
Tình hình giảng dạy và học tập văn học Nhật Bản tại khoa tiếng Nhật ở các trường ñại học
chuyên ngữ như thế nào Qua bài viết: Tình hình
dịch thuật, xuất bản, giáo dục và nghiên cứu văn học Nhật Bản tại Việt Nam – hiện trang và vấn ñề
(bản tiếng Nhật) của tác giả Trần Thị Chung Toàn chúng ta cũng có thể biết khá kỹ lưỡng về chương trình giảng dạy văn học Nhật Bản tại Trường Đại học Hà Nội Theo tác giả bài viết, môn Văn học Nhật Bản ñược bắt ñầu từ học kỳ II, năm thứ 3, tức bắt ñầu dạy từ Học kỳ thứ 6 Mỗi tuần 1 buổi, cộng 18 buổi với 6 ñơn vị học trình (90 giờ) Trong 141 ñơn vị học trình của chuyên ngữ tiếng Nhật, môn Văn học Nhật Bản chỉ chiếm 4, 25 % Với thời gian ít ỏi như vậy, môn Văn học Nhật Bản chỉ có thể tập trung giới thiệu cuộc ñời và sự nghiệp sáng tác của 7 tác gia nổi tiếng ñược sắp xếp theo trật tự thời gian và dòng lịch sử từ văn
Trang 9học cổ ñiển tới văn học hiện ñại, như Matsuo
Basho, Natsume Soseki, Akutagawa Ryunosuke,
Dazai Osamu, Kawabata Yasunari, Miyazawa
Kenji, Yoshimoto Banana Từ năm 2010, bổ sung
thêm tác giả thời cận ñại Murakami Haruki
Ngoài 7 tác gia nổi tiếng, môn Văn học Nhật
Bản cũng giới thiệu khái quát về văn học qua các
thời kỳ, như Văn học Thượng ñại (từ văn học từ
thời thái cổ cho ñến thời Nara), Văn học Trung cổ
(tức văn học thời Heian cho ñến ñầu thời
Kamakura), Văn học Trung thế (văn học thời
Kamakura, Nanbokucho, Muuromachi), Văn học
Cận thế (văn học thời Edo); Văn học Cận ñại (văn
học sau thời Meiji); Văn học thời hiện ñại Các tác
giả Miyazawa Kenji với tác phẩm Cửa hàng thực
phẩm có nhiều người ñặt hàng; Yoshimoto
Banana với tác phẩm Cái bếp; Natsume Soseki;
Akutagawa Ryunosuke với tác phẩm Lũ chúng ta
là những con mèo ; Dazai Osamu với tác phẩm Sợi
tơ nhện và Melos ơi chạy nhanh lên; Kawabata
Yasunari với tác phẩm Xứ tuyết; Matsumoto
Basho với thơ Hai ku
Khác với sinh viên khoa Ngữ văn các trường
cao ñẳng và ñại học, sinh viên học môn này ñều
ñược học trực tiếp từ nguyên tác tiếng Nhật, ngoài
việc ñọc, tìm hiểu nội dung tác phẩm còn yêu cầu
dịch ra tiếng Việt Theo tác giả bài viết, tuy chưa
phải là giờ dạy chuyên về văn học Nhật Bản
nhưng với thời gian 90 tiếng, mục ñích chủ yếu
của môn này là cung cấp trí thức mang tính cơ sở
và khái quát về nền văn học Nhật Bản với những
tác gia và tác phẩm nổi tiếng, ngoài ra cũng còn có
mục ñích nâng cao năng lực tiếng Nhật cho sinh
viên Thời gian học môn này không nhiều, nhưng
nếu so với giờ dạy môn văn học Nhật Bản ở Khoa
Văn hóa và Ngôn ngữ Phương Đông, Đại học
Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, thì số giờ
của Khoa Nhật Bản, Trường Đại học Hà Nội gấp
1,5 lần
Ngoài chương trình giảng dạy, tác giả Trần Thị
Chung Toàn cũng cho biết những khó khăn mà
môn học Văn học Nhật Bản ở bậc ñại học nói
chung ñang phải ñối diện, ñó là không có môn học
chuyên sâu về văn học Nhật Bản, vì thế cũng
không có học sinh tốt nghiệp chuyên ngành Văn học Nhật Bản Số lượng giáo viên, giảng viên chuyên môn về văn học cũng rất ít Các giảng viên môn văn học Nhật Bản chủ yếu tự ñào tạo, ban ñầu chỉ là sự hứng thú của bản thân ñối với môn học và sau ñó là từ việc phiên dịch, nghiên cứu văn học Nhật Bản, vì thế phương pháp nghiên cứu cũng như tri thức chuyên môn chưa ñủ ñể có thể giảng dạy văn học Nhật Bản với tư cách là chuyên gia văn học Giáo trình và sách tham khảo cũng chưa ñược chuẩn bị Việc giao lưu, trao ñổi với các nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước cũng hạn chế…
Đứng trước những khó khăn cần giải quyết, tác giả Trần Thị Chung Toàn cũng nêu ra nhiều biện pháp nhằm ñổi mới phương pháp dạy và học môn Văn học Nhật Bản ở Khoa Nhật Bản, Trường Đại học Hà Nội, trong ñó biện pháp ñầu tiên là ñào tạo nhân tài sử dụng tiếng Nhật ñể nghiên cứu, giảng dạy và làm công tác dịch thuật; tiếp ñó là cần có
sự chỉ ñạo, hợp tác giúp ñỡ ñối với việc giảng dạy môn Văn học Nhật Bản, cần tạo ra môi trường liên kết cho các hoạt ñộng giảng dạy và nghiên cứu Văn học Nhật Bản; cần phải ñầu tư thời gian và công sức cho việc biên soạn giáo trình ñể làm sao sinh viên có hứng thú với môn học này; trong việc ñào tạo nhân lực cũng ñến lúc cần phải có Viện sau ñại học (học viện) nhằm ñào tạo ñội ngũ giảng viên có trình ñộ thạc sĩ và tiến sĩ; cần phải mời các chuyên gia Nhật Bản giảng dạy Văn học Nhật Bản cho bậc sau ñại học…
Những vấn ñề mà tác giả Trần Thị Chung Toàn nêu ra trong bài viết, thiển nghĩ không chỉ là khó khăn của riêng Khoa Nhật Bản - Trường Đại học
Hà Nội, mà còn là khó khăn chung ñối với việc giảng dạy văn học Nhật Bản ở các khoa chuyên ngữ tiếng Nhật các trường ñại học khác
Ngoài Trường Đại học Hà Nội, chúng tôi tham khảo thêm một số chương trình giảng dạy môn Văn học Nhật Bản ở một số trường ñại học chuyên ngữ khác như Khoa Ngôn ngữ & Văn hóa Phương Đông – Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; hay Bộ môn Nhật Bản học tại trường Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh Ở
Trang 10Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Phương Đông, Đại
học Ngoại Ngữ, Đại học quốc gia Hà Nội xây
dựng môn Lịch sử văn học Nhật Bản, mục ñích
kết hợp giữa việc trang bị kiến thức về lịch sử văn
học Nhật Bản với cái nhìn khái quát về lịch sử
Nhật Bản cho sinh viên Với thời gian ít ỏi một
học kỳ của năm thứ ba, cũng không hy vọng có
thể ñào tạo chuyên sâu về môn này, tuy nhiên môn
học cũng ñã ñáp ứng phần nào việc trang bị cho
sinh viên kỹ năng nghiên cứu những vấn ñề liên
quan ñến văn hóa, lịch sử Nhật Bản từ những kiến
thức về văn học, ngoài ra, môn học còn trang bị
kỹ năng trình bày các vấn ñề văn học Nhật Bản
dưới hình thức viết báo cáo hoặc thuyết trình Về
chương trình, ngoài việc giới thiệu khái quát về
các tác giả, tác phẩm của từng thời kỳ lịch sử,
môn học còn giới thiệu khái quát cho sinh viên về
bối cảnh lịch sử và sự phát triển văn học qua các
giai ñoạn Ví dụ thời kỳ Heian có văn học cung
ñình và văn học nữ lưu, với tác phẩm nổi tiếng
như Genjimonogatari, Isemonogatari… Văn học
thời trung ñại ñã ñi vào giới thiệu về vị trí của các
tác phẩm về về chiến tranh như
Heikemonogatari… Sự ra ñời của kịch No Văn
học thời cận ñại ñã giới thiệu về dòng văn chương
Ukiyo (văn học thế tục, thông tục); sự ra ñời và
phát triển của kịch Kabuki; giới thiệu tác giả nổi
tiếng của văn học thời kỳ này qua các thể loại,
như về thơ có Matsuo Basho; tiểu thuyết có Ihara
Saikaku; kịch có Chikamatsu Monzaemon… Văn
học thời hiện ñại (văn học thời Meiji) ñã ñi vào
giới thiệu một số trào lưu và khuynh hướng sáng
tác của văn học thời kỳ này như chủ nghĩa lãng
mạn và chủ nghĩa tự nhiên trong văn học, các
trường phái sáng tác văn học, sự phát triển của
chủ nghĩa hiện thực trong văn học… với các tác
giả nổi tiếng như Kawabata Yasunari, Natsume
Soseki, Oe Kenzaburo… Văn học ñương ñại với
các tác giả tiêu biểu như Murakami Haruki,
Yoshimoto Banana…<18>
Qua bài viết của các tác giả vừa là nhà nghiên
cứu Nhật Bản, vừa là giảng viên của các trường
ñại học, chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình
giảng dạy và nghiên cứu văn học Nhật Bản ở một
số trường ñại học của Việt Nam hiện nay Mặc dù
không phải là giảng viên giảng dạy môn Văn học Nhật Bản tại các trường ñại học của Việt Nam, nhưng nhiều năm làm công tác nghiên cứu, dịch thuật văn học cổ ñiển Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản, chúng tôi cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc ñào tạo nhân lực cho việc nghiên cứu, giảng dạy và dịch thuật văn học Nhật Bản Ngoài những biện pháp ñể khắc phục khó khăn, ñẩy mạnh công tác giáo dục ñào tạo nhân lực nhằm phát triển ñội ngũ các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học Nhật Bản hiện nay như ñã nêu trên, cũng cần thiết phải nâng cao hơn nữa năng lực cảm thụ và khả năng chuyển ngữ các tác phẩm văn học Nhật Bản ra tiếng Việt của các dịch giả tiếng Nhật Bởi như trên ñã phân tích, các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản không
sử dụng ñược tiếng Nhật khi giảng dạy và phân tích tác phẩm sẽ rất cần bản dịch chính xác có chất lượng từ nguyên tác Tuy nhiên, việc dịch ra tiếng Việt lại cần có nghệ thuật mà nghệ thuật ñó cần ñược xây dựng trên nền tảng phông văn hóa, văn học và ngôn ngữ tiếng Việt của người dịch Gần ñây, nhân tham gia một số Hội thảo quốc
tế về văn học Nhật Bản, ñược tiếp xúc với các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản ở khoa Ngữ văn các trường ñại học của Việt Nam, chúng tôi cũng ñược nghe nhiều ý kiến về vấn ñề dịch thuật các tác phẩm văn học Nhật Bản dịch từ nguyên tác tiếng Nhật Các nhà nghiên cứu và giảng viên các trường ñại học ñã ñánh giá cao những tác phẩm chuyển ngữ tốt, chuyển tải ñược tinh thần của tác phẩm, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, trình ñộ tiếng Việt văn học của các dịch giả tiếng Nhật còn yếu, cần phải cố gắng nhiều hơn Một giảng viên của Khoa Văn học và Ngôn Ngữ, Đại học KHXH&NV thành phố Hồ Chí Minh cho biết, khi giảng dạy môn Văn học Nhật Bản, cô ñã
sử dụng thử một số tác phẩm dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, nhưng thấy không hay nên lại quay lại
sử dụng các bản dịch từ tiếng Anh hoặc tiếng Trung Quốc Chúng tôi cho rằng nhận xét trên không phải không có lý bởi các trường ñại học có khoa ngoại ngữ, hoặc bộ môn tiếng Nhật ñều chưa
có sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành văn học Nhật Bản và cũng chưa có giảng viên với tư cách