1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Điển cố - định nghĩa, đối chiếu văn hóa và một số gợi ý giảng dạy

12 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này nghiên cứu bản chất của điển cố sử dụng trong văn học phương Tây và Việt Nam, nhấn mạnh khảo sát đối chiếu các bình diện ngôn ngữ, văn học, lịch sử, tôn giáo của điển cố để giúp người học hiểu các chức năng quan trọng trong biểu đạt tư tưởng.

Trang 1

ĐIỂN CỐ - ĐỊNH NGHĨA, ĐỐI CHIẾU VĂN HÓA

VÀ MỘT SỐ GỢI Ý GIẢNG DẠY

Nguyn Văn Chin

Trường Đại học Hà Nội

ñược dùng trong tất cả các thể loại văn chương cũng

như các dạng ngôn bản khác, thậm chí cả trong văn

hóa ñại chúng và ngôn ngữ quảng cáo Điển cố có thể

là các quy chiếu trực tiếp hay gián tiếp tới văn học, tới

các sự kiện lịch sử, thần thoại, tôn giáo, ñịa lý, quân

sự, tâm linh v.v Bài viết này nghiên cứu bản chất của

ñiển cố sử dụng trong văn học phương Tây và Việt

Nam, nhấn mạnh khảo sát ñối chiếu các bình diện

ngôn ngữ, văn học, lịch sử, tôn giáo của ñiển cố ñể

giúp người học hiểu các chức năng quan trọng trong

biểu ñạt tư tưởng

Việc ñiển cố Việt Nam không hiện diện trong văn

học phương Tây có thể làm cho nghiên cứu này có ý

nghĩa cần thiết hơn cho thụ ñắc ñiển cố ở nước ngoài

cũng như ở Việt Nam Những khác biệt và tương ñồng

trong cấu trúc ngữ nghĩa của ñiển cố ñược làm rõ

nhằm chứng minh rằng ñiển cố không phải là thành

ngữ tuy hai khái niệm này tương ñối giống nhau ở vài

nét Một số bối cảnh lịch sử hay tiến trình phát triển văn

học có thể tạo ra một vài ñiển cố dường như là tương

ñồng trong cả hai hệ thống ñiển cố phương Tây và Việt

Nam, nhưng ñó chỉ là hãn hữu và chúng chỉ gần nhau

ở nghĩa bóng mà thôi Các dữ liệu thu ñược từ nghiên

cứu ñối chiếu có thể hữu ích dạy ngoại ngữ Điển cố có

thể là những minh họa tốt cho các khóa trình ngôn ngữ

học văn bản, phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học

Ngoài ra, các ñơn vị ñiển cố hỗ trợ giảng viên lý giải

một số vấn ñề phức tạp trong từ vựng học hay ngữ

nghĩa học Cách tiếp cận ñối chiếu trong khảo sát ñiển

cố giúp luận giải các nếp tư duy, các ñặc trưng lịch sử,

văn hóa và văn học trong những nền văn minh phương

Đông và phương Tây

Abstract: Allusions are the literary devices used in

all genres of literature and different kinds of reading,

even in pop culture or in advertising etc.The allusions

might be direct or indirect references to literary,

historical, mythical, religious, geographical, military,

spiritual events This research paper concerns an

investigation of the nature of allusions that are used particularly in Western and Vietnamese literature The paper emphasis is placed upon contrastive study of linguistic, literary, historical, religious aspects of Western and Vietnamese allusions, which helps people which helps people to understand their important functions of expressing human thoughts

That vietnamese allusions have not passed into western languages could make this study become more necessary for the acquisition of allusions in Western countries and Vietnam.The differences and similarities in semantic structure of allusions are found out in order to prove that allusion are not idioms, though those lexical units are relatively similar in several features.Some contexts of history or development of literature could form some units that seem to be equivalents in the Western and Vietnamese systems of allusions, but practically they are rarely seen, so allusion counterparts that appear in the two systems are known in various figurative sense only.The data acquired from contrastive analysis are used to make some real suggestions helpful in teaching languages The allusions could be good illustrations for the courses of linguistics of texts, discourse analysis and linguistic pragmatics Besides that, these units assist lecturers to interpret some issues or problems in lexical studies or semantics The contrastive vision in the survey of allusions helps to make sense of human manners of thinking, characteristics of history, culture and literature in Oriental and Occidental civilisations

1 ĐỊNH NGHĨA VỀ ĐIỂN CỐ

Từ, ngữ, thành ngữ trong một ngôn ngữ ñược gọi là các ñơn vị ngôn ngữ bậc cao vì chúng khác biệt với ñơn vị khác, ví dụ âm vị nhờ có ý nghĩa ñược chúng biểu ñạt Bên cạnh ñó, một ñơn vị khác không phải là ñơn vị ngôn ngữ nhưng có giá trị ñặc biệt trong văn chương, trong văn hóa là ñiển cố Điển cố là ñơn vị sử dụng trong ngôn ngữ

Trang 2

do chúng không có mặt thường xuyên trong vốn

từ vựng ñược ghi nhận trong từ ñiển toàn dân,

chúng ñược các tác gia tạo nên trong các tác phẩm

văn học, chính luận, tôn giáo, lịch sử hay sáng tác

dân gian v.v và ñược mọi người sử dụng trong

các ngôn bản nói và ngôn bản viết

Thuật ngữ “ñiển cố” có cách hiểu trong tiếng

Việt là sự kiện trong sách kinh ñiển ñược người

ñời dùng bám theo và câu chuyện, sự việc ñời xưa,

trong khi ñó thuật ngữ Nga “крылатые слова”

nhằm thể hiện những cách diễn ñạt sắc sảo, những

trích ñoạn, những từ ngữ ngắn gọn ñược người ta

sử dụng rộng rãi; ñây là cách truyền diễn ý cách

nói của Homer trong Iliad và Odissey về lời nói có

cánh Trong tiếng Anh, thuật ngữ Anh “allusions”

chỉ lời nói bóng gió ám chỉ, tức là quy chiếu ngắn

gọn hay gián tiếp tới con người, ñịa ñiểm, sự vật

hay tư tưởng có giá trị về lịch sử, văn hóa, văn học

hay chính trị; hoặc ñịnh nghĩa khoa học cho thuật

ngữ này là hàm chỉ gián tiếp bằng từ hay ngữ tới

sự kiện lịch sử, văn học, thần thoại, Kinh thánh

hay tới sự kiện trong ñời sống con người khi nói

hay viết Qua một số ñịnh nghĩa trên có thể thấy

có sự khác biệt trong nhìn nhận ñiển cố: cách xác

nhận của tiếng Việt nhấn mạnh tới sự cổ kính của

cổ nhân trong sáng tạo nên các tác phẩm hay trong

ñời sống vốn ñược rút trích ra làm thành ñiển cố

Còn trong cách xác ñịnh ở tiếng Anh và tiếng Nga

không xét tới việc ñó mà ám chỉ tới tính hàm chỉ

của những ñơn vị ñiển cố vốn có nguồn gốc từ văn

chương, lịch sử hoặc từ các cấu trúc văn hóa khác

Điển cố ñã ñược giới ngôn ngữ học trên thế

giới khảo sát từ nhiều năm nay Các học giả Nga

ñã dành nhiều tâm sức nghiên cứu các ñơn vị ñiển

cố Họ ñều thừa nhận ñây là một trong những

phương tiện tạo ra ngôn ngữ văn học có hình ảnh

và mang tính biểu cảm cao Người Đức và người

Nga ñều dùng cách diễn ñạt của Homer trong

“Odyssey” và “Iliad”: “Lời có cánh” ñể truyền

diễn khái niệm ñiển cố Trong hai tác phẩm này

thường có những câu như “Chàng cất tiếng nói lời

có cánh sau ñây”, “Họ khẽ khàng trao ñổi với

nhau những lời có cánh…” Homer và các nhà thơ

Cổ Hy Lạp thường tin rằng lời nói dường như bay

từ miệng người này tới tai người khác

Asukin N X và Asukina М Т ñưa ra một nhận ñịnh rất xác ñáng về ñiển cố: “Những trích ñoạn ngắn gọn, những ngữ mang hình ảnh, những câu nói súc tích của các nhân vật lịch sử, tên tuổi các nhân vật huyền thoại và văn chương vốn ñã trở thành danh từ chung, những ñặc trưng cô ñọng mang tính hình tượng của các nhân vật lịch sử (như “Cha ñẻ ngành hàng không Nga”, “Vầng thái dương của thi ca Nga” vốn có nguồn gốc văn học

và ñược sử dụng trong ngôn ngữ” [14, 3]

Tuy nhiên khái niệm “Крылатые слова” ñôi khi ñược hiểu ở nghĩa khá rộng Chẳng hạn có nhiều người coi thuật ngữ này ứng với ngạn ngữ hay bất cứ ngữ mang hình tượng nào có nguồn gốc không chỉ từ văn học và cả trong ñời sống hàng ngày như phong tục, tín ngưỡng, thuật ngữ,

từ nghề nghiệp, v.v

Có lẽ, cuốn sách ñầu tiên thu thập một cách có

hệ thống và khoa học về ñiển cố trong ngôn ngữ học Anh, Mĩ là công trình “Dictionary of Phrase and Fable” (Từ ñiển ñiển cố và ñiển tích) của E Cobham Brewer ấn hành lần ñầu tiên năm 1870 Theo cách lí giải của tác giả thì cuốn sách này

“cung cấp nguyên bản, biến thể hay nguồn gốc của những ñiển cố phổ biến, những từ ngữ có tích truyện ñể kể” [11, V] Tuy nhiên, bên cạnh những ñiển cố ñích thực, trong từ ñiển này còn dẫn ra nhiều thành ngữ, nhiều từ khó, từ cổ hay thuật ngữ chuyên môn Mặc dù vậy, ñây là cuốn từ ñiển ñược ñánh giá rất cao không chỉ trong giới khoa học mà cả với ñông ñảo công chúng ñộc giả ở trên thế giới

Nói chung, cách tiếp cận của các nhà ngôn ngữ học ở châu Âu và Hoa Kì không có nhiều khác biệt so với giới ngôn ngữ học Nga trong vấn ñề khảo sát ñiển cố

Nhiều luận ñiểm quan trọng về ñiển cố nói chung và ñiển cố tiếng Anh nói riêng ñược trình

Trang 3

bày trong những công trình như “Toward a

Semantic Description oh English” của Leech G.N

in năm 1969; “A History of Foreign Words in

English” của Sergeantson M in năm 1935;

“Semantics: An Introduction to the Science of

Meaning” của Wilmann St in năm 1962

Không chỉ các nhà nghiên cứu Anh, Mĩ mà còn

nhiều nhà Anh ngữ học ở Nga rất thành công

trong việc khảo sát các ñơn vị ñiển cố Anh như

Arnold I.V trong cuốn “The English Word” in

năm 1986, Galperin I.R trong cuốn “Stylistics” in

năm 1977

Việc nghiên cứu ñiển cố trên bình diện tu từ

góp phần xác ñịnh sự hành chức của ñiển cố trong

các ngôn bản như trong cuốn “Linguistic

Stylistics” của Enkvist K in năm 1973;

“Linguistics and Literature” của Chapman R in

năm 1971; bài báo “Analogies, Icons and Images

in Relation to Semantic Content of Discourses”

của Hill A.A ñăng tải năm 1968

Các tác giả Cowie A.P., Mackin R và McCaig

I.R trong cuốn “Oxford Dictionary of English

Idioms” cùng ñưa ra những kiến giải lí thú, chính

xác về ñiển cố Tuy nhiên, cũng như tác giả Kunin

A.V trong “English – Russian Phraseological

Dictionary”; Binowitsch L.E và Grischin N.N

Phraseologisches Worterbuch”, các tác giả này

ñều ñưa ñiển cố vào cùng phạm trù với thành ngữ

Một nét tích cực và ưu việt của tất cả các tác giả

này là sự phân tích và khái quát khoa học về cấu

trúc và ngữ nghĩa của ñiển cố thông qua các khảo

sát chung về thành ngữ

Ngoài ra, ở Anh, ñặc biệt là ở Mĩ ñều ấn hành

nhiều loại từ ñiển câu văn trích Ví dụ như “The

Oxford Dictionary of Quotations” do Partington A

chủ biên Cuốn này trình bày các ñơn vị trích dẫn

theo tác giả (Anh, Mĩ và nước ngoài) Cuốn “The

Home Book of Quotations” do Stevenson B chọn

và sắp xếp là một công trình ñặc biệt vì có thể tìm

thấy ở ñây rất nhiều ñơn vị mang ñầy ñủ các tiêu

chuẩn về cấu trúc và ngữ nghĩa của ñiển cố Với 2.817 trang trình bày các ñơn vị trích dẫn theo chủ

ñề, người ñọc có thể cập nhật ñược một khối lượng lớn và ña dạng các ñơn vị rút ra từ văn học

cổ ñiển và văn học cận hiện ñại

Ở Việt Nam ñã có một số công trình chuyên về ñiển cố, tuy nhiên mới chỉ có từ ñiển hay sách tra cứu về các ñơn vị ñiển cố chứ chưa có công trình khảo cứu chuyên sâu nào về ñiển cố là công trình ñáng chú ý “Hán Việt thành ngữ” của tác giả Bửu Cân xuất bản năm 1932, trong ñó ông sưu tập một

số ñơn vị ñiển cố Năm 1942, Long Điền Nguyễn Văn Minh ñã cho xuất bản cuốn “Từ ñiển văn liệu” Theo Nguyễn Văn Ngọc thì văn liệu ở ñây bao gồm “những thành ngữ gồm hai ñến bốn tiếng Loại hai tiếng nhiều hơn cả Hầu hết những thành ngữ ấy thuộc về phạm vi thơ phú, văn chương, hoặc toàn là Hán văn, hoặc nửa Hán, nửa Nôm, hoặc Hán ñã biến ra Nôm… Hoặc khi chép rộng thêm những ñiển tích, nhiều nhất thuộc về sử liệu” [7, 5]

Như vậy, Nguyễn Văn Ngọc coi ñiển cố là thành ngữ Có thể xác nhận ñây là một công trình rất nghiêm túc, có giá trị giúp người ñọc hiểu ñược kho tàng ñiển cố hay dùng trong văn thơ cổ Năm 1977, công trình khá công phu và khoa hoc “Điển cố văn học” do Đinh Gia Khánh chủ biên ñược ấn hành Tiếp thu và phát triển thành tựu nghiên cứu của các học giả ñi trước, chuyên khảo này tập trung khá ñầy ñủ các ñơn vị ñiển cố,

có tường giải, với những ví dụ chân xác và ñầy ñủ Những năm cuối thế kỷ XX, bạn ñọc Việt Nam liên tục ñược tiếp nhận những cuốn từ ñiển thu thập ñiển cố như “Ngữ liệu văn học” của Đặng Đức Siêu in năm 1998, “Từ ñiển ñiển cố văn học trong nhà trường” của Nguyễn Ngọc San và Đinh Văn Thiện ấn hành năm 1998, “Từ ñiển từ ngữ tầm nguyên Cố văn học Từ ngữ và ñiển tích” của Bửu Kế in năm 2000, trong số ñó ñáng kể hơn cả

là cuốn “Từ ñiển cố văn học” của Nguyễn Thạch Giang và Lữ Huy Nguyên xuất bản năm 1999

Trang 4

Bên cạnh ñó còn có những cuốn sách khảo cứu

và chú thích các ñiển cố, ñiển tích trong Truyện

Kiều như “Điển tích trong Truyện Kiều” của Trần

Phượng Hồ in năm 1996, “Điển tích Truyện Kiều”

của Nguyễn Tử Quang in năm 1998, “Từ ñiển

Truyện Kiều” của Đào Duy Anh xuất bản năm 1974

Tác giả Mộng Bình Sơn biên soạn cuốn “Điển tích

chọn lọc” và cho in năm 1989, ñây là một tài liệu

tham khảo về ñiển cố, ñiển tích khá lí thú

Ngoài ra, còn có nhiều cuốn sách khác ñặng

giúp người ñọc tìm biết nhiều kiến thức về ngữ

nghĩa và nội dung văn hóa của ñiển cố như “Từ

ñiển giải thích thành ngữ gốc Hán’’ của Viện Ngôn

ngữ học in năm 1997, hoặc một số sách lịch sử

Trung Hoa ñược biên soạn gần ñây như “Nhân vật

Đông Châu” của Nguyễn Tử Quang in năm 1996

Những công trình nêu trên ñều là từ ñiển, tuy

vậy, một số bài dẫn luận viết rất công phu và phác

thảo ra nhiều mặt về nguồn gốc, ngữ nghĩa và ñặc

ñiểm phong cách học của ñiển cố

Các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà

nghiên cứu văn học tiếp cận ñiển cố từ nhiều

phương diện khác nhau và ñã ñưa ra một số ñịnh

nghĩa khác nhau về ñiển cố Xuất phát từ các ñịnh

nghĩa, nhận xét của nhiều học giả cũng như khảo

sát riêng của chúng tôi, có thể tạm thời ñưa ra một

ñịnh nghĩa mang tính làm việc về ñiển cố:

Điển cố là những câu chuyện từ ngữ trong sách,

là những phát ngôn, hành ñộng, tên của các nhân

vật văn chương và sự thực lịch sử, là những sự

kiện chính trị, chiến tranh, tôn giáo, v.v trong tiến

trình phát triển xã hội ñược viết gọn, cô ñọng hàm

súc, lời ít ý nhiều

Điển tích là những cốt truyện, diễn trình của

các sự kiện nổi bật trong văn chương, trong lịch

sử ñược dẫn lại cô ñọng trong ngôn bản

Như vậy, ñiển tích có thể ñược ñặt tên, có thể

là nội dung của ñiển cố Do ñó ñiển cố bao hàm

ñiển tích Chẳng hạn ñiển cố “Đoạn trường” chỉ

nỗi ñau khổ, não nề khôn cùng của cuộc ñời Điển

cố này có ñiển tích kể chuyện có người thường ngày ñem hai con vượn con bị bắt ra trêu ñùa Vượn mẹ vẫn lén leo cây ñầu nhà vô vọng dõi nhìn con mình và gào khóc thảm thiết, sau vượn mẹ mệt quá ngã xuống ñất chết, người ta nhặt xác vượn

mẹ ñem mổ thì thấy ruột ñã ñứt nát nhiều ñoạn Thực ra khái niệm ñiển cố gồm hai vế ñiển và

cố Điển là những gì mà trong ñịnh nghĩa ñiển cố

ñã nêu, còn cố chính là nội dung của ñiển tích Điển cố nào cũng có xuất xứ nguồn gốc hoặc trong sách xưa thuộc văn chương, kinh bổn hoặc các sự kiện từng diễn ra trong lịch sử sự kiện con người

2 KHÚC XẠ VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY VÀ PHƯƠNG ĐÔNG QUA ĐIỂN CỐ

Mô thức văn hóa phổ quát xuất hiện nhờ sự tương tác giữa con người với môi trường và với những con người khác trong quá trình sống Mô thức này ñược quy ñịnh do nhu cầu làm việc ñể tồn tại; nhu cầu về luật pháp và trật tự; nhu cầu có

tổ chức xã hội; nhu cầu có tri thức và học tập; nhu cầu tự thể hiện; nhu cầu biểu ñạt tôn giáo Trong tiến trình lịch sử, tùy thuộc vào các nhân tố như chủng tộc, văn hóa, vị trí ñịa lý v.v mà các mô thức này quy ñịnh ñặc tính riêng cho những nền văn minh ñã và ñang tồn tại ở các khu vực khác nhau trên thế giới

Có thể khái quát sự khác biệt giữa văn hóa phương Tây và phi phương Tây (trong ñó có phương Đông) ở một vài nét sau

Văn hóa phương Tây có căn nguyên từ Cổ Hy Lạp chuyển hóa sang Cổ La Mã Tuy nhiên nền văn hóa này bị khuất lấp dưới bóng tối của thời Trung cổ ñể rồi trỗi dậy trong thời Phục hưng, tiếp ñến là cách mạng khoa học, thời Khai sáng, cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, cách mạng công nghiệp Chính văn hóa phương Tây là một hợp thể tri thức thu nhận ñược từ quan sát và thực nghiệm khách quan ñối với các hiện tượng tự nhiên và cuộc sống con người, vì vậy duy lý trở thành cốt lõi nền tảng của mọi hoạt ñộng tạo nên thực tiễn

Trang 5

sống của con người Chính sự duy lý tạo nên cách

nhìn nhận sự sống bao gồm tính tự lực cá nhân,

hạnh phúc, các quyền của con người, chủ nghĩa tư

bản, khoa học và công nghệ

Văn hóa không phương Tây căn bản dựa vào

thuyết thần bí và tính duy chủ quan Những nét

căn bản ñó quy ñịnh nên sự cưỡng chống tính ñộc

lập cá nhân, sự hy sinh quên mình, chuyên chế,

không coi trọng tính nhân văn, hờ hững với tiến

bộ kinh tế, khoa học và công nghệ, những nét ñó

nảy sinh do hiện thực khách quan bị che khuất sau

tấm màn chủ quan và hiện thực chỉ là sản phẩm

chủ quan do con người tạo dựng, và con người ñó

sống ñược nhờ sức mạnh cơ bắp và các sản vật

của ñấng tối cao chứ không phải nhờ duy lý và sản

xuất Hạnh phúc cá nhân phải ñược hy sinh vì bổn

phận với ñấng tối cao hay cộng ñồng (như bộ lạc

hay quần thể xã hội), vì vậy các toan tính giành

hạnh phúc của chính mình bị coi là phi luân lý

ñáng bị lên án Luận lý như vậy bắt nguồn từ tư

tưởng cho rằng Đấng tối cao hay quần thể xã hội

là toàn quyền và giá trị then chốt, chứ không phải

cá nhân, do ñó, các quyền cá nhân không ñược

công nhận hay ñược bảo vệ

Điển cố vốn là sản phẩm của các bậc thức giả

viết ra trong các tác phẩm văn chương, triết học,

lịch sử cũng như bắt nguồn từ trí tuệ dân gian tại

những tác phẩm văn xuôi hay thi ca Chúng lưu

giữ những dấu ấn văn hóa qua từng chặng ñường

phát triển của các nền văn minh từ Đông sang Tây

Có thể thấy những nét văn hóa ñó trong nội dung

các ñiển cố

Điển cố “Eureka” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp

heureka (Tôi ñã tìm ra rồi) Archimedes, nhà triết

học xứ Syracuse, ñã thốt ra như vậy lúc ngâm

mình trong bồn tắm, nước trào ra do cơ thể ông

choán thể tích nước và ông phát hiện ra lực tác

ñộng do chất lỏng gây ra ñối với một vật thể

nhúng trong ñó trong khi ñang suy nghĩ cách giải

vấn ñề tìm ra kim loại pha trộn trong chiếc vương

miện bằng vàng của vua Hiero Điển cố này ñược

dùng như lời cảm thán khi phát hiện ra ñiều gì ñó

là bí ẩn hay phức tạp

Ý tưởng của Eureka giống như ñiển cố Cogito,

ergo sum (tiếng La tinh: Tôi tư duy là tôi tồn tại), ñây là lời của Descartes ñược coi là tiên nghiệm của sự tồn tại

Hai ñiển cố này thể hiện lề thói duy lý, tôn trọng thực nghiệm và trí năng của con người Trong tiểu thuyết “The Catcher in the Rye” của J.D Salinger có những mệnh ñề ñã trở thành ñiển

cố như “The mark of the immature man is that he wants to die nobly for a cause” (Dấu hiệu của một người chưa trưởng thành là việc người ñó muốn chết một cách cao thượng cho một sự nghiệp) và

“The mark of the mature man is that he wants to live humbly for one” (Dấu hiệu của một người trưởng thành là việc anh ta muốn sống khiêm nhường vì một sự nghiệp) Ở ñây có thể thấy triết

lý sống của hai nếp văn hóa, một bên cam chịu chết, còn bên kia quyết sống ñể làm ñược những

gì mình phụng sự Hai lẽ sống tiêu biểu cho hai tư duy văn hóa phương Tây và không phương Tây nêu trên

Điển cố “Man of Destiny” (“Con cưng của số phận”) nhằm ám chỉ Napoleon Đại văn hào Walter Scott ñã mô tả Napoleon như vậy vì có thời kỳ ông ta trói buộc các vua chúa bằng xích xiềng và tầng lớp quý tộc bằng gông cùm Ngay

cả người có quyền lực vô song và tiếng tăm lừng lẫy cũng bị phán xét sâu cay theo quan niệm rất duy lý “ngay cả mặt trời cũng có vết” Luận cứ ñó phản ánh tư tưởng của cách mạng Pháp “Liberté, égalité, fraternité” (“Tự do, Bình ñẳng, Bác ái”) Tác gia, nhà tự nhiên học, nhà triết học tự nhiên người La Mã Gaius Plinius Secundus, tác giả bộ “Naturalis Historia” ñã có câu nói trở thành ñiển cố “Sutor ne supra crepidam” (“Anh thợ giày, hãy bám vào cái cốt giày của mình ấy”) theo câu chuyện kể rằng sau khi một anh thợ giày nói trong tranh của họa sĩ Hy Lạp Apelles có chiếc giầy thiếu sợi giây cột, ông họa sĩ ñồng ý sửa sai, nhưng

Trang 6

khi thợ giày phê phán tới cái chân thì Apelles

không kìm ñược và thốt lên như thế Điển cố này

thể hiện sự chỉ trích thói tài tử, không chuyên

nghiệp cũng như thói phê phán vô nguyên tắc

Điển cố La tinh “Ubi bene, ibi patria” (“Nơi

ñâu tôi thành ñạt, nơi ñó là tổ quốc tôi”), hàm chỉ

tinh thần khoáng ñạt, không có tâm lý “lũy tre

làng” ñể phát huy trí lực cá nhân

Người La Tinh cũng nói: “Prudens questio

dimidium scientiae” (“Một câu hỏi trí tuệ ñã là

một nửa của khám phá”) ñể khẳng ñịnh trí khao

khát hiểu biết nhằ làm thỏa mãn tinh thần duy lý

của họ

Hay như ñiển cố La Tinh “Magister artis

ingenique largitor venter” (“Dạ dày là thầy dạy

nghệ thuật và người sinh tạo cảm hứng”) nhấn

mạnh vai trò của vật chất trong sinh tồn và hoạt

ñộng tinh thần

Điển cố “Oedipus complex” (“Phức cảm

Oedipus”) có nguồn gốc từ truyền thuyết Hy Lạp

ñược nhà soạn kịch người Hy Lạp Sophocles viết

thành vở Oedipus Rex Tích kể rằng Oedipus chịu

số phận phải giết cha và lấy mẹ làm vợ Vì vậy,

bác sĩ thần kinh và nhà tâm lý học người Áo

Sigmund Freud ñã tạo thuật ngữ “Phức cảm

Oedipus” ñể diễn tả giai ñoạn khi ai ñó quyến

luyến với ñấng sinh thành khác giới của mình và

coi ñấng sinh thành cùng giới là kẻ ñối nghịch với

mình Nhiều ñiển cố phương Tây phản ảnh những

vấn ñề liên quan tới cuộc sống con người ở các

bình diện tinh thần, tâm lý, sinh lý vốn thường trở

thành ñối tượng khảo cứu khoa học như vậy

Lịch sử nhiều dân tộc và quốc gia phương Tây

cùng những con người nổi tiếng ñược ghi nhận

qua các ñơn vị ñiển cố có sức phổ biến rất mạnh

mẽ Chẳng hạn “Casanova” (nói về Giovani

Giacomo Casanova, một người phiêu lưu và cũng

là nhà văn vốn ñã dan díu tình ái với hơn một trăm

phụ nữ suốt cuộc ñời lãng du)

“Waterlo” chỉ trận ñánh Waterlo, nơi quân ñội

của Hoàng ñế Napoleon bị liên quân châu Âu

ñánh bại và khiến ông phải ñi ñầy lần thứ hai, và cũng là lần cuối cùng Điển cố này hàm chỉ thất bại nặng nề mang tính quyết ñịnh số phận con người hay quốc gia

Những ñiển cố có nguồn gốc Kinh Thánh Cơ Đốc giáo cũng phản ánh các ñặc tính văn hóa của thế giới phương Tây Ví dụ như các ñiển cố

“Judas” tức là Judas Iscariot - kẻ phản chúa bằng cách ngầm báo cho kẻ thù của Chúa tìm ñúng Người nhờ vết nụ hôn trên má Người Điển cố này hàm chỉ kẻ phản bội lại bạn bè và người thân

“Prodigal son” (“Đứa con lầm lạc”) Trong sách Thánh Luke kể chuyện một ñứa con bỏ nhà

ñi và sống lang bạt phóng túng ñể rồi cuối cùng phải trở về nhà hai bàn tay trắng và xấu hổ, nhưng người cha ñã rộng vòng tay nhân từ ñón ñứa con lầm lạc Ngày nay, kẻ nào rời người thân ñi sống hoang toàng, sau ñó hối hận trở về ñều ứng với nội dung ñiển cố này

“Feet of clay” (“Chân ñất sét”), ñiển cố hay dùng với biến thể” Gã khổng lồ chân ñất sét” chỉ chỗ yếu, khiếm khuyết nghiêm trọng khiến kẻ to xác, khổng lồ phải chịu chết

“Loaves and fish” (“Các phúc lành của ñất ñai”), tức là bánh mì và cá, mà theo Kinh Phúc Âm, Chúa Jesus ñã dùng ñể nuôi hàng trăm người ñến thụ giảng nơi Người Với dân các xứ phương Tây, những gì nuôi sống họ vốn giản dị và luôn ñược

họ trân trọng, và họ luôn nghĩ tới các ẩn dụ lịch sử

về những ñiều giản dị như bánh mì hay con cá

“The camel and the needle’s eye” (“Con lạc ñà

và cái lỗ kim”), ñiển cố từ Kinh Phúc Âm dẫn ngụ

ý từ ñiển cố La Tinh nói “Con lạc ñà chui qua lỗ kim còn dễ dàng hơn một gã nhà giàu lên thiên ñường”

Các ñiển cố có nguồn gốc từ thần thoại và truyền thuyết phương Tây có thể khiến người ta hình dung ñược văn hóa và rút tỉa nhiều bài học thích hợp cho hoạt ñộng tinh thần và vật chất của con người hiện ñại Một vài ñiển cố như thế là

Trang 7

“Achilles heel” (“Gót chân Achilles”) có tích về

chiến binh anh hùng Achilles trong thần thoại Hy

Lạp có tử huyệt ở gót chân khi ñược nhúng xuống

sông Styx ñể cơ thể không bị triệt hạ Và chính

chỗ ñó ñã bị trúng tên khiến Achilles mất mạng

Điển cố này hàm chỉ chỗ yếu dễ bị tổn thương hay

dễ gây nguy hiểm chết người của ai ñó

“Argus-eyed” (“Có con mắt của thần Argus”),

ñiển cố này chỉ tính soi mói ghen tuông do tích kể

thần Argus trong thần thoại Hy Lạp có một trăm

con mắt, thần Argus ñược nữ thần Juno sai theo

dõi chồng mình là thần Zeus

“Pandora’s box” (“Chiếc hộp Pandora”) có tích

thần thoại Hy Lạp kể về Pandors- người phụ nữ

ñầu tiên trên trái ñất do thần Zeus tạo nên Để trả

thù việc thần Prometheus ăn cắp lửa ñem cho loài

người, thần trao cho Pandora một chiếc hộp và

bào nàng không ñược mở ra Nhưng sau ñó chính

nàng hoặc thần Epimetheus - chồng nàng - ñã mở

hoopk khiến biết bao tội lỗi và ñiều xấu xa thoát

ra và tràn ngập thế giới Điển cố này hàm chỉ bất

cứ việc gì mà sau khi ñược phanh phui ñã dẫn tới

những ñiều rắc rối, hệ lụy lớn và không ngờ tới

Prometheus”) bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp kể

chuyện thần Prometheus dám thách thức thần Zeus

bằng cách ñánh cắp lửa trời và ñem tặng cho con

người Tên của thần Prometheus trở nên ñồng

nghĩa với lòng dũng cảm trong tính ñộc ñáo và

sáng tạo phi thường

Văn học phương Tây tạo nhiều ñiển cố truyền

diễn các ñặc ñiểm văn hóa qua tính cách và hành

ñộng của các tình tiết và nhân vật

Chẳng hạn “Frankenstein” hàm chỉ ñiều ñe dọa

hay hủy diệt chính người sáng tạo Điển cố này có

nguồn gốc từ tiểu thuyết cùng tên của Mary Shelly

kể chuyện một nhà khoa học trẻ tạo ra một quái

vật mà cuối cùng ñã tiêu diệt chính anh ta

Điển cố “Jekyll and Hyde” (“Jekyll và Hyde”)

diễn tả một người thất thường, ñồng bóng với hai

mặt nhân cách, xuất phát từ tiểu thuyết nổi tiếng

“Câu chuyện lạ thường của tiến sĩ Jekyll và ngài Hyde” của nhà văn người Scotlen Robert Louis Stevenson kể về luật sư người London tên là Gabriel John Utterson Đây là câu chuyện về cái gọi là “rối loạn nhân cách bị chia sẻ”

“Окно к Европу” (“Cửa sổ nhìn sang châu Âu”) trích từ ñoạn mở ñầu trường ca “Người kỵ sĩ ñồng “của ñại thi hào Nga A Puskin Đây là lời ca tụng thành tựu của Sa hoàng Piotr ñệ Nhất khi ông cho xây dựng thành phố Saint-Petersburg trên sông Neva ñể thực hiện kế hoạch thông thương sang châu Âu Người châu Âu luôn khao khát học hỏi, ñó là thuộc tính của các nền văn hóa phương Tây mà dân tộc Nga ñã phát triển rất thành công Văn hóa phương Tây có một số lượng rất lớn các ñiển cố ñề cập mọi mặt ñời sống tinh thần, vật chất của con người vốn tạo nên ñặc thù văn hóa như ñã phân tích Các ñiển cố ñó có nguồn gốc từ Kinh Thánh của ñạo Cơ Đốc, các văn tự lịch sử từ

dã sử ñến chính sử và các tác phẩm sử học của các nhà nghiên cứu, các tác phẩm triết học của nhiều nhà tư tưởng và triết gia từng tạo dựng nên căn bản cho các triết thuyết của loài người Và ñặc biệt là những tác phẩm văn chương luôn ñể lại nhiều ý tưởng xuất sắc ñể trở thành ñiển cố

Ở phương Đông cũng vậy, có thể tìm thấy những ñơn vị ñiển cố tại các tác phẩm có ñặc trưng tương tự văn hóa phương Tây.Tuy nhiên, về nội dung của mình thì ñiển cố phương Đông có nhiều ñiểm khác biệt do sự chế ñịnh của văn hóa ñặc thù của riêng mình, nhiều nét phát triển trái ngược với phương Tây vì cộng ñồng xã hội và nếp

tư duy thuộc về văn hóa không phương Tây Tuy vậy, từ cuối thế kỉ XIX, ñặc biệt trong thế kỉ XX, nhiều quốc gia từng nặng nề với ñặc trưng văn hóa không phương Tây ñã chuyển mình, thậm chí còn chủ trương thay ñổi mạnh theo các chủ thuyết như

“Thoát Á luận” ñể tiếp cận phương Tây chặt chẽ như Nhật Bản

Những căn tính vốn có trong lịch sử quy ñịnh nội dung các ñiển cố, có thể thấy ñiều này ở nội

Trang 8

dung nhiều ñiển cố ñược sử dụng trong các tác

phẩm văn học và chính luận Việt Nam

Trước hết, trong vốn tri thức văn học Việt Nam

có một số lượng rất lớn các ñơn vị ñiển cố Hán Văn

Văn hóa Trung Quốc chịu ảnh hưởng trước hết

từ nông nghiệp vì ñó là nền tảng của kinh tế Nông

nghiệp là phương thức vừa của sản xuất, ñồng thời

vừa của ñời sống kinh tế Nó có ñặc trưng tĩnh,

ñịnh cư, không mặn mà di chuyển, do ñó ít chịu

rủi ro và phiêu lưu mạo hiểm Và ñây là cơ sở của

tính bảo thủ

Người Trung Quốc nhìn nhận cuộc sống theo

quan ñiểm tự nhiên do sự gần gũi và tiếp xúc trực

tiếp với ñất ñai, cây trồng và vật nuôi Chính vì

vậy họ không cảm tình lắm với những tiến bộ

khoa học kĩ thuật vốn có thể giúp cải thiện ñược

cuộc sống của họ

Những yếu tố trên khiến người Trung Quốc coi

trọng sự giản dị, thô mộc và mãn nguyện

Văn hóa Trung Quốc mang tính nghệ thuật chứ

ít tính duy lý Chẳng hạn, ngôn ngữ (chữ tượng

hình) có dáng dấp nghệ thuật Y học ñược mệnh

danh là y thuật chứ không hẳn khoa học, ví dụ như

thuật châm cứu Các tác phẩm văn chương phần

ñông là sáng tác thi ca

Có một ñiểm trái ngược về tính bảo thủ của

văn hóa Trung Quốc Khi nhìn nhận về thế giới,

thiên hạ hay vũ trụ, người Trung Quốc thừa nhận

“dịch” (thay ñổi) là yếu tố tiên quyết Chính trong

tác phẩm “Kinh Dịch” các nhà Nho ñã luận giải về

bản chất của thay ñổi và ảnh hưởng của thay ñổi

ñối với các tình huống cuộc ñời con người Có thể

thấy tính bảo thủ xã hội tác ñộng ñến chính trị,

kinh tế, tôn giáo cũng như các thiết chế xã hội

khác, nhưng các quan ñiểm siêu hình về vũ trụ thì

lại mang tính tự trị và ñộc lập phát triển

Trong cuộc sống của người Trung Quốc có sự

quyện trộn giữa yếu tố siêu nhiên và thế giới thực

của sự sống Thế giới thần linh cũng là mô phỏng

quan hệ thứ bậc của xã hội con người, tục cúng lễ

là thường xuyên và bắt buộc với tất cả thành viên cộng ñồng

Gia ñình là ñơn vị xã hội căn bản nhất bên cạnh năm mối quan hệ trong Nho giáo: vua-tôi; cha-con; anh-em; vợ-chồng; bạn -bè

Ở Trung Quốc xưa kia, tôn ti xã hội dựa trên cương vị: sĩ, nông; công; thương Cương vị “sĩ” (người có học, thầy giáo, học giả) ñứng ñầu Người Trung Quốc coi ñức là cơ bản và không bận lòng với hệ thống luật pháp

Những ñặc ñiểm văn hóa nói trên chi phối tính chất coi trọng sự ñiều ñộ và hài hòa, tránh thái quá

và phiến diện trong cuộc sống hàng ngày

Tất nhiên, những nét như vậy chỉ là khái quát

sơ lược, Còn rất nhiều ñiều có thể nói tới nữa, nhưng khuôn khổ bài này giới hạn chỉ một vài ý căn bản như vậy về người Trung Quốc, một dân tộc có nền văn hóa ảnh hưởng ñến Việt Nam

Có thể thấy, những ñơn vị ñiển cố có nguồn gốc Hán Văn thường xoay quanh các vấn dề sự sống thường nhật, lễ giáo, quy phạm, răn dạy, hay

sự tích ngụ ngôn Ít thấy những ñiển cố ñề cập ñến tinh thần duy lý, ca tụng khởi nguồn cá nhân hay các nhân vật mang tầm nhân văn hướng tới tự do theo tinh thần Khai Sáng hay Phục Hưng như ở phương Tây Chẳng hạn:

“Tam nhân thành hổ” (“Ba người thành hổ”) có tích từ Chiến Quốc sách kể ba người chuyện phiếm với nhau về hổ nên cả ba ñề tin hổ có thực mặc dù ñó chỉ là thêu dệt Hàm ý huyễn hoặc vô

lý ñược ñồn nhảm qua nhiều người dễ ñược tin là thực Có lẽ, ñiển cố này phản ảnh “cơ chế tin ñồn” vốn vẫn ñược coi là nguồn thông tin ñáng tin cậy của người Việt lẫn người Trung Quốc

“Khai môn tập ñạo” (“Mở cửa mời trộm”), xuất xứ từ “Tam quốc diễn nghĩa”, ý cho rằng ñương thời lũ gian tặc, lang sói hoành hành, lộng quyền khắp nơi, nếu cứ khóc lóc, thương xót và lo chuyện tế lễ thì khác chi việc mở cửa mời trộm, không thể thành người xứng ñáng ñược Ý nghĩa

Trang 9

ñiển cố là ñón kẻ gian phi và rước họa vào thân

“Non Thuấn rừng Nghiêu” ca ngợi cảnh núi

non, rừng thẳm tự do khoáng ñạt thời Nghiêu

Thuấn

“Trí nang” (“Túi khôn”) chỉ người khôn ngoan

lắm mưu nhiều mẹo Trong lịch sử Trung Quốc có

một số người ñược gọi là trí nang như Vu Lý Tử

ñời Chiến Quốc, Tiêu Thổ ñời Hán

“Vỗ bụng” chỉ cảnh thịnh trị thái bình Điển cố

có gốc gác từ “Trang Tử”, kể chuyện thời Hách

Tư thị, dân chúng làm quên việc, ñi quên ñường,

ăn mà ngậm cơn, thần thái vui tươi, vỗ bụng vô tư

chơi bời

“Chiếu tuyết tụ huỳnh” (“Soi tuyết, góp ñom

ñóm”) Điển cố có gốc từ “Nhan thị gia huấn” kể

người xưa chăm học, có người cầm dùi, cầm búa,

soi tuyết, góp ñom ñóm” Soi tuyết: tích kể Tôn

Khang soi sách trong ánh tuyết ñể học Góp ñom

ñóm: Xa Dẫn bắt ñom ñóm vào ñêm hè ñể dùng

chúng soi sáng ñọc sách Hàm ý, tuy nghèo nhưng

quyết chí học hành ñể thành công

Có thể nói, hệ thống ñiển cố dùng trong Việt

văn vẫn nặng về “chi hồ giả dã” cho nên tính phổ

dụng không cao như các ñơn vị ñiển cố phương

Tây Tuy nhiên, những ñiển cố như thế là chứng

tích cho bản sắc văn hóa phương Đông

Như vậy, qua các ñơn vị ñiển cố thuộc về các

ngôn ngữ Ấn-Âu và ñiển cố có nguồn gốc Trung

Hoa trong tiếng Việt, có thể thấy sự khác biệt lớn

trong phạm vi vấn ñề ñược thể hiên trong nội

dung, trong ngữ nghĩa, trong cách bao quát mọi

khía cạnh của cuộc sống của con người

3 MỘT VÀI GỢI Ý VỀ VIỆC GIẢNG DẠY

ĐIỂN CỐ TRONG TRƯỜNG CHUYÊN NGỮ

Những phân tích nêu trên góp phần ñịnh hướng

cho công tác giảng dạy ñiển cố cho sinh viên

chuyên ngữ Thực tế, không có học môn ñiển cố

riêng biệt mà sinh viên thụ ñắc qua thực hành

tiếng (các bài ñọc), dịch (ñặc biệt là dịch văn học

và chính luận), ñất nước học, và căn bản trong

môn văn học (bao gồm lịch sử văn học và phân tích tác phẩm)

Điển cố là các ñơn vị sử dụng trong ngôn ngữ, chúng phản ánh tiến trình phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Trong mỗi ñơn vị ñiển cố có ẩn chứa các bài học lịch sử, văn minh, phép ñối nhân

xử thế, bài học kinh nghiệm cho thái ñộ sống và tiếp cận các hiện tượng

Có thể xác lập một ñường hướng giảng dạy ñiển cố theo các bước sau:

1) Nhận diện ñiển cố Phân biệt ñiển cố với các ñơn vị khác như thành ngữ, tục ngữ, cách ngôn, châm ngôn v.v Trong khi ñịnh nghĩa cần chú ý bám sát ý nghĩa chiết tự của thuật ngữ, ví dụ: ñiển,

(выражения); winged words, từ có cánh (ñặc biệt trong các tác phẩm của Homer)

2) Trong các ñơn vị ñiển cố có ngoại diên là hình thức ngôn ngữ (mệnh ñề, ngữ, từ, diễn ngôn)

và nội hàm là các ñiển, các tích truyện, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử; truyền thuyết văn học truyền khẩu hay thành văn; các nhân vật hư cấu trong văn chương Chú ý nêu rõ mối quan hệ nội dung của ñiển cố với thời ñại khi tác phẩm có ñiển

cố ra ñời cùng tính ẩn dụ có thể

3) Cố gắng thực hiện việc phát triển tiếng của sinh viên thông qua ñọc, nghe và kể laị nội dung các ñiển cố Khuyến khích sinh viên tìm ra các ý, các nghĩa ẩn chứa trong tích truyện của ñiển cố Cần chọn lọc các ñiển cố có nội dung hấp dẫn, có tính trí tuệ và nhận thức cao cho sinh viên thực hành 4) Thông qua các ñiển cố ñể làm rõ bản sắc văn hóa của nền văn hóa có các ñơn vị ñiển cố ñó Như vậy, tuy không phải là một môn học, nhưng có thể lồng ghép phần dạy về ñiển cố trong các bài giảng của bộ môn dịch, và môn ñất nước học Các tri thức căn bản về văn học, văn minh, tức là vốn kiến thức khái quát về văn hóa có thể ñược làm rõ thông qua việc giới thiệu một số ñơn

vị ñiển cố

Điển cố không phải chỉ là các ñơn vị tĩnh và

Trang 10

chỉ tồn tại mãi trong các văn liệu Lịch sử phát

triển của xã hội và văn hóa của con người vẫn

ñang tạo ra ñiển cố Chẳng hạn, nếu người Việt

trước ñây có nhiều ñiển cố trong sáng tác dân gian

như “Con Sắt ñập ngã ông Đùng” xuất phát từ

hình tượng ông Đùng bà Đà (hai vị thần Đực và

Cái trong thần thoại Việt-Mường) thì ngày nay

người Việt cũng có nhiều ñiển cố mới, ví dụ như

“Điện Biên Phủ trên không”, “Phố Phái” Hay

người Mỹ có ñiển cố “Tết offensive” ñể diễn tả

nỗi kinh hoàng của quân Mỹ trước cuộc tổng tấn

công xuân Mậu Thân của Quân Giải phóng miền

Nam năm 1968

Điển cố có thân phận giống như chính các tác

phẩm, chúng sống và phát triển trong tâm thức của

con người

Để sinh viên có thể thụ ñắc ñươc ñiển cố với tư

cách các ñơn vị sử dụng trong ngôn ngữ và là các

phương tiện ngôn ngữ văn học, có thể xác ñịnh một

trình tự cụ thể cho bài giảng về ñiển cố sau ñây

1) Khái quát Sinh viên cần hiểu rõ bản chất về

nội dung của khái niệm ñiển cố qua các vấn ñề

xác ñịnh ñiển cố là gì, cách ñịnh vị ñiển cố như

thế nào thông qua các ñoạn trích trong tác phẩm

(có thể là văn học hay lịch sử hoặc chính luận) ñể

tìm biết ñiển cố trong bài hay tại các tiêu ñề

Tài liệu có thể là văn bản ñược giáo viên giao

cho sinh viên Nhưng hiệu quả hơn cả khi sinh

viên dùng máy tính nối mạng internet hoặc giáo

viên dùng máy tính nối máy chiếu ñể hiển thị tài

liệu liên quan

2) Bắt ñầu giờ học Giáo viên ñưa ra ngôn bản

có ñiển cố và yêu cầu sinh viên tự tìm ra ñơn vị

ñiển cố ñó Sau ñó sinh viên phải trả lời câu hỏi:

“Điển cố là gì” Gợi ý làm sao ñể sinh viên biết

ñiển cố là quy chiếu cô ñọng, ngắn gọn trực tiếp

hay gián tiếp tới sự kiện, ñịa ñiểm, con người thật

hay nhân vật văn học, hoặc lời nói của nhân vật có

thật hay hư cấu Sau ñó giáo viên cung cấp một số

ñiển cố, chẳng hạn “Green-eyed monster” (Con quỷ

mắt xanh, hàm chỉ sự ghen tuông) Điển cố này có

gốc gác từ tác phẩm “Othello”của W Shakespeare

(hồi 3 cảnh 3) khi nhân vật Iago thốt lên:

Oh, beware, my lord, of jealousy;

It is the green-eyed monster, which doth mock The meat it feets on

(Thưa ñức ông, hãy canh chừng thói ghen tuông

Nó chính là con quỷ mắt xanh ñang nhạo báng Xương thịt ông mà nó ñang xơi)

Thực tế, hình tượng ghen tuông chính là con quỷ mắt xanh có từ trước tác phẩm này vì W.Shakespeare ñã từng cho nhân vật Portia trong tác phẩm “Người lái buôn thành Venice” viện dẫn tới “thói ghen tuông mắt xanh” (“green-eyed jealousy”) (hồi 3 cảnh 2), nhưng ở tác phẩm

“Othello”, ông ñã tạo nên một ñiển cố mang ý nghĩa ẩn dụ chặt chẽ theo thói quen ngôn ngữ người Anh thời Phục Hưng là gán mầu sắc cho các tình cảm cũng như phẩm chất của con người: màu xanh lá cây và màu vàng là ẩn dụ của ghen tuông, ñồng thời màu xanh lá cây cũng là ẩn dụ của ghen tị

Bên cạnh các ñiển cố thường dùng trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, giáo viên cần gợi ý thêm về các ñiển cố tiếng Việt, chẳng hạn, có thể dẫn trong

“Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du, kiệt tác với khối lượng ñiển cố rất lớn, như “Trên bộc, trong dâu” (nơi trai gái hẹn hò), “Trướng huỳnh” (song cửa chói ánh sáng ñom ñóm), “Băng nhân” (người mối lái việc cưới hỏi), “Giọt hồng” (nỗi ñau khổ

vô chừng của người gặp hoàn cảnh éo le), v.v Thao tác tiếp theo là tổ chức thảo luận về hai chủ ñề Thứ nhất, ưu ñiểm và nhược ñiểm của việc

sử dụng ñiển cố Ưu thế của ñiển cố bộc lộ ở khả năng lưu tụ một lượng thông tin lớn trong một từ, một ngữ Người nói không cần diễn giải dài ñể thể hiện một sự tình hay một ý niệm cho dù rất trừu tượng Chẳng hạn, ñể nói tới một công việc dai dẳng không có ñiểm dừng cần những nỗ lực hay ñầu tư tốn kém, lê thê, người ta chỉ cần dùng ñiển

cố “The work of the Danaides” (thường ñược dịch

là “Chiếc thùng của các nàng Danaides”) Tích ñiển cố này trong thần thoại Hy Lạp kể năm mươi

cô con gái của Danaus, nhà vua xứ Argos Họ kết hôn với năm mươi người con trai của người bác là

Ngày đăng: 13/11/2020, 07:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w