Ba mô hình sản xuất lúa được chọn phỏng vấn ở hai địa phương là 30 hộ trong mô hình lúa 3 vụ, 30 hộ trong mô hình lúa 2 vụ và 30 hộ trong mô hình lúa – thủy sản được phỏng vấn trực tiếp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Trang 3PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây, với tựa đề là “Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác lúa cao sản ở quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ”, do Nguyễn Thị Ngọc Yến thực hiện và báo cáo đã đƣợc hội đồng chấm luận văn thông qua
KS Cô Thị Kính
Trang 4CẢM TẠ
Xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Văn Công và cô Nguyễn Thị Như Ngọc
đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian tiến hành đề tài
Xin chân thành cám ơn các Cô, Chú, Anh, Chị ở phòng Nông nghiệp quận Ô Môn và phòng Nông nghiệp huyện Cờ Đỏ, các Cô, Chú, Anh, Chị công tác tại Ủy ban nhân dân xã Thới Long, Long Hưng (Ô Môn), Đông Hiệp, Thới Hưng và thị trấn Cờ Đỏ (Cờ Đỏ) đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp số liệu trong quá trình thu thập thông tin
Xin cám ơn các các Thầy, Cô trong bộ môn Khoa học Môi Trường, các bạn sinh viên lớp Khoa học Môi Trường K32 đã nhiệt tình giúp đỡ để tài này được hoàn thành
Xin chân thành cám ơn!
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Trang 5TÓM LƯỢC
Nghiên cứu “Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong canh tác lúa cao sản ở Thành phố Cần Thơ” được thực hiện được thực hiện từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 05 năm 2010 ở hai địa phương có diện tích canh tác lúa lớn của Tp Cần Thơ là quận Ô Môn và huyện Thốt Nốt Ba mô hình sản xuất lúa được chọn phỏng vấn ở hai địa phương là 30 hộ trong mô hình lúa 3 vụ, 30 hộ trong mô hình lúa 2 vụ và 30 hộ trong mô hình lúa – thủy sản được phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn soạn sẵn nhằm tìm hiểu về chủng loại, tần suất phun, liều lượng của các loại thuốc BVTV mà nông dân sử dụng, ý thức bảo vệ sức khỏe và môi trường của nông dân tại vùng nghiên cứu Kết quả cho thấy có 121 tên thương phẩm với 60 gốc hoạt chất được nông dân sử dụng trong đó gồm các loại thuốc xử lý hạt giống, thuốc diệt ốc, thuốc trừ cỏ, thuốc diệt sâu rầy, thuốc phòng trị bệnh và thuốc kích thích sinh trưởng Các gốc hoạt chất được sử dụng phổ biến như: Propiconazole, Tricyclazole, Nitrophenolate, Buprofezin Trung bình nông dân phun từ 6 – 8 lần/vụ, đa số nông dân sử dụng thuốc với liều bằng chỉ dẫn, tuy nhiên cũng có một số ít nông dân vẫn còn thói quen sử dụng thuốc với liều cao hơn chỉ dẫn trên nhãn thuốc Ý thức bảo vệ sức khỏe và môi trường của nông dân chưa cao thể hiện qua việc nông dân quản lý chưa tốt các chất thải chứa đựng hoặc dính thuốc BVTV, chưa được trang bị bảo hộ đúng cách khi phun thuốc Tỉ lệ nông dân tham gia các lớp tập huấn và ứng dụng vào sản xuất đạt hiệu quả là khá cao Qua kết quả điều tra cho thấy lúa – thủy sản là
mô hình sản xuất hiệu quả cần được áp dụng rộng rãi để hạn chế sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật góp phần bảo vệ môi trường Mọi người đều phải có ý thức bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường xung quanh, cần tăng cường tuyên truyền giáo dục, triển khai các biện pháp nhằm giúp người dân tăng lợi nhuận trong sản xuất nông nghiệp nhưng hạn chế đến mức thấp nhất việc gây ô nhiễm môi trường
Trang 6MỤC LỤC
Danh sách các từ viết tắt vii
Danh sách hình viii
Danh sách bảng ix
Chương I: Mở đầu 1
Chương II: Lượt khảo tài liệu 4
2.1 Sơ lược về vùng nghiên cứu 4
2.2 Thuốc bảo vệ thực vật 5
2.2.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật 5
2.2.2 Phân loại theo thời gian phân hủy 8
2.2.3 Vai trò và ý nghĩa của thuốc BVTV 9
2.2.4 Độc tính dư lượng thuốc BVTV 10
2.2.5 Hậu quả của việc sử dụng thuốc BVTV 17
2.2.6 Tính chống thuốc của sâu hại 20
2.2.7 Sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc BVTV 22
2.2.8 Dùng thuốc theo chương trình “3 giảm, 3 tăng” trong canh tác lúa… .24
2.2.9 Những biện pháp an toàn cho người sử dụng thuốc BVTV 26
2.2.10 Bảo quản thuốc BVTV và các kỹ thuật khuyến cáo khi sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam 27
Chương III: Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Phương tiện nghiên cứu 29
3.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu 29
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 29
3.2.3 Phỏng vấn nông hộ 29
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
Chương IV: Kết quả và thảo luận 31
4.1 Hiện trạng mô hình canh tác lúa 31
4.1.1 Lịch thời vụ 31
4.1.2 Diện tích canh tác, mật độ gieo xạ và năng suất lúa 32
4.1.3 Tuổi đời, kinh nghiệm và trình độ của người trực tiếp canh tác 33
4.2 Hiện trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật 35
4.2.1 Thành phần thuốc bảo vệ thực vật 35
4.2.2 Tần suất sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật 37
4.4.3 Liều lượng sử dụng 40
4.3 Kinh nghiệm xác định sâu bệnh và chọn thuốc 45
4.3.1 Kinh nghiệm xác định sâu bệnh 45
Trang 74.3.3 Kinh nghiệm chọn liều sử dụng 47
4.3.4 Quyết định thời điểm phun xịt 48
4.4 Quản lý chất thải nhiễm thuốc BVTV 49
4.5 Tham dự tập huấn về canh tác lúa 51
4.6 Biện pháp bảo hộ cá nhân khi phun thuốc và những ảnh hưởng đến sức khỏe của người trực tiếp phun thuốc 53
Chương V: Kết luận và kiến nghị 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 61
Trang 85 NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
6 IPM: Quản lý dịch hại tổng hợp
7 Lúa – TS: Lúa – thủy sản
8 ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Tuổi của người trực tiếp canh tác 34
Hình 2: Kinh nghiệm của người trực tiếp canh tác 34
Hình 3: Kinh nghiệm của người trực tiếp canh tác 35
Hình 4: Liều lượng sử dụng so với chỉ dẫn 41
Hình 5: Mục đích sử dụng nông dược 42
Hình 6: Tỉ lệ nông dược được phối trộn 43
Hình 7: Mực nước trên ruộng khi phun thuốc 44
Hình 8: Biện pháp bảo hộ khi phun thuốc 54
Hình 9: Cảm giác của nông dân sau khi phun thuốc 55
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Thông tin về huyện Cờ Đỏ và quận Ô Môn 5
Bảng 2: Phân loại nhóm độc theo tổ chức y tế thế giới (1994) 13
Bảng 3: Số hộ được phỏng vấn ớ các mô hình tại vùng nghiên cứu 30
Bảng 4: Lịch thời vụ của ba mô hình canh tác lúa (tháng âm lịch) 31
Bảng 5: Giá trị trung bình về diện tích, mật độ gieo sạ và năng suất 33
canh tác 36
Bảng 7: Số lần 37
39
Bảng 9: Kinh nghiệm xác định bệnh 46
Bảng 10: Kinh nghiệm chọn thuốc 47
Bảng 11: Chọn liều sử dụng 48
49
49
Bảng 14: Số lần tham dự lớp IPM 51
Bảng 15: Phần trăm hiệu quả và không hiệu quả của áp dụng IPM 51
Bảng 16: Tỉ lệ hiệu quả khi áp dụng chương trình “3 giảm 3 tăng” 52
Bảng 17: Tỉ lệ hiệu quả khi áp dụng nguyên tắc “ 4 đúng” 52
Bảng 18: Khi phun thuốc chưa xong 54
Trang 11CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
Trong hơn nữa thế kỷ qua, sản xuất nông nghiệp thế giới đã có những biến đổi mạnh mẽ Nền nông nghiệp cổ truyền đã được thay thế bằng nền nông nghiệp hiện đại lấy sản xuất hàng hóa làm mục tiêu chủ yếu để đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân số ngày càng tăng nhanh
Hàng loạt các giống cây trồng mới lai tạo có năng xuất cao đã ra đời thay thế cho các giống cổ truyền có nguồn gốc bản địa, năng suất thấp nhưng có sức chống chịu tốt đối với sâu bệnh Các kĩ thuật mới như trồng dày, bón nhiều phân đạm, gieo trồng đồng loạt, … đã thay thế cho kĩ thuật canh tác cũ Phân hóa học và thuốc bảo
vệ thực vật (BVTV) được sản xuất và cung cấp với khối lượng khổng lồ, thay thế cho phương thức đa canh, xen canh…
Theo thống kê cuả tổ chức y tế thế giới thì năm 1998 toàn thế giới sử dụng 3,1 triệu tấn thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), tương đương 20 triệu USD Trong số đó, thuốc trừ cỏ chiếm 8,9 triệu USD; thuốc trừ sâu 6,1 triệu USD; thuốc trừ bệnh 4,2 triệu USD; còn lại là các nhóm thuốc khác Vào đầu những năm 1960, hóa chất BVTV được sử dụng rộng rãi ở nước ta nhằm để tiêu diệt sâu bọ, cỏ dại, nấm bệnh… Lượng thuốc sử dụng vào năm 1997 cao gấp 3 lần năm 1991 Trước đây, thuốc chủ yếu sử dụng cho cây lúa nhưng ngày nay, theo số liệu điều tra của hãng Landel Mill Ltd thì thuốc được sử dụng cho cây lúa chiếm 79%, cây rau 9% và các cây khác là 12% (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 1999)
Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã sử dụng thuốc BVTV rất
đa dạng Theo số liệu điều tra năm 2004 các vùng trồng lúa trọng điểm ở ĐBSCL có
84 loại thuốc sử dụng trên lúa và 54 loại thuốc sử dụng trên hoa màu (Trần Thanh Phong, 2004) Ngoài sự đa dạng về chủng loại, liều lượng thuốc BVTV cũng khác nhau, trung bình người dân sử dụng khoảng 1,017 kg hoạt chất/ha (Nguyễn Hữu Dũng và Trần Thanh Dung, 2000) Đặc biệt, trên 50% nông dân sử dụng liều cao hơn chỉ dẫn của hãng thuốc, tỉ lệ này tăng từ vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông (Trần Thanh Phong, 2004) Song song đó, tần suất sử dụng thuốc BVTV cũng là vấn đề cần được quan tâm Khi áp dụng mô hình IPM, số lần sử dụng thuốc BVTV trong mỗi vụ lúa là 4 lần trên vụ, ít hẳn hơn những nông dân áp dụng mô hình IPM
Trang 12là 8,2 lần trên vụ (Berg, 2001) Gần đây tình hình dịch bệnh phát triển phức tạp điển hình như dịch rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá trên lúa Chính vì thế, lượng thuốc BVTV được sử dụng ngày càng nhiều
Không thể phủ nhận các mặt tích cực của thuốc BVTV như chúng đã tiêu diệt một phần sâu hại trong nông nghiệp, tăng năng suất vụ mùa, giúp cải thiện đời sống nông dân, góp phần làm tăng nguồn ngân sách của nhà nước Song con người trong quá trình sử dụng đã quá lạm dụng chúng mà không chú ý đến mặt trái của nó, dẫn đến việc phá vỡ hệ sinh thái, gây hậu quả xấu, đi ngược lại sự nổ lực của con người nhằm tạo ra các sản phẩm sạch, đảm bảo sức khỏe Trước thực trạng lưu thông thốc BVTV một cách dễ dàng và hiện trạng sử dụng thuốc không đúng theo quy định, đang đưa môi trường sống của con người vào mức báo động Khi mùa vụ ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người, thì đòi hỏi phải sử dụng nhiều thuốc BVTV, số lần phun và liều lượng cũng tăng dẫn đến tình trạng dư lượng thuốc BVTV trong môi trường ngày càng nhiều Môi trường đất, nước, không khí,
bị ô nhiễm thì đời sống của các loài sinh vật cũng bị đe dọa
Trước thực trạng sử dụng thuốc BVTV ngày càng nhiều của nông dân Nhiều chủ trương, chính sách nhằm hạn chế việc sản xuất và sử dụng các hóa chất BVTV như việc cấm và hạn chế một số loại thuốc BVTV gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường Cũng đã có nhiều nghiên cứu về dư lượng thuốc BVTV trong môi trường, thưc phẩm và ảnh hưởng của chúng nhằm đưa ra những cảnh báo đối với người sản xuất và người tiêu dùng
Để đánh giá việc sử dụng thuốc BVTV của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và nông dân thành phố Cần Thơ nói riêng đề tài “Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác lúa cao sản ở quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ” được thực hiện tại quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ vì đây là hai địa phương có diện tích canh tác lúa lớn nhất của Thành phố Cần Thơ
Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong vùng canh tác lúa trọng điểm ở thành phố Cần Thơ nhằm làm cơ sở trong công tác khuyến nông, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường và nhiều nghiên cứu khác
Trang 13Để đạt được mục tiêu trên cần tiến hành phỏng vấn nông hộ theo các nội dung như:
- Hiện trạng mô hình canh tác lúa
- Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân
- Kinh nghiệm làm nông nghiệp và chọn thuốc BVTV
- Biện pháp quản lý chất thải sau khi sử dụng thuốc BVTV
- Tập huấn canh tác lúa
- Bảo hộ cá nhân và các biện pháp chống nhiễm độc khi sử dụng thuốc BVTV
Đề tài được thực hiện trên các mô hình canh tác lúa như: lúa 3 vụ, lúa 2 vụ, lúa – thủy sản, là cơ sở cho các nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường
và sinh vật và làm cơ sở để chọn loại thuốc BVTV cho các nghiên cứu độc học môi trường về sau
Trang 14CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về vùng nghiên cứu
Cần Thơ là một thành phố nằm trên bờ phải sông Hậu, ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía Tây nam, trong khoảng tọa độ: 10°1'60 Bắc và 105°46'60 Đông Cần Thơ là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam Ngày 24 tháng 6 năm 2009 được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận là đô thị loại 1
Thành phố Cần Thơ có diện tích 1401,6 km² Dân số 1171,1 nghìn người gồm bốn dân tộc: Kinh, Hoa, Chăm, Khơme; mật độ dân số trung bình 836 người/km2
(Tổng cục thống kê, 2008) Thành phố Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính gồm 5 quận (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai, Vĩnh Thạnh) (Tổng cục thống kê TP Cần Thơ, 2008)
Khí hậu ở Cần Thơ mang tính nhiệt đới, với 2 mùa rõ riệt Mùa mưa từ tháng
5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Độ ẩm trung bình là 83%, lượng mưa trung bình 1.635 mm, nhiệt độ trung bình 27°C
Chăn nuôi ở Cần Thơ chủ yếu là nuôi heo và gia cầm Các gia súc khác như trâu bò chiếm số lượng không nhiều Ngoài ra, nuôi trồng thủy sản ở Cần Thơ cũng
là ngành đóng góp lớn cho sản lượng thủy sản xuất khẩu của ĐBSCL, chủ yếu là nuôi cá tra, basa, điêu hồng
Cây nông nghiệp chính trồng ở Cần Thơ là lúa Ngoài ra còn có một số cây hoa màu khác nhưng sản lượng không đáng kể Quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ là vùng trồng lúa quan trọng của thành phố Cần Thơ Một số thông tin về quận và huyện này được trình bày trong bảng 1
Trang 15Bảng 1: Thông tin về huyện Cờ Đỏ và quận Ô Môn
Các thông tin Huyện Cờ Đỏ Quận Ô Môn
(Niên giam thống kê Thành phố Cần Thơ, 2009)
2.2 Thuốc bảo vệ thực vật
2.2.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)
Thuốc BVTV là những hóa chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay được tổng hợp dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại (Võ Tòng Xuân, 2000)
Thuốc BVTV được chia thành nhiều nhóm dựa trên sinh vật gây hại gồm:
Thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu thảo mộc Theo Võ Tòng Xuân (2000), đây là loại thuốc dân gian được điều chế từ các loài thực vật có chứa các chất độc, có thể gây chết hoặc ngán ăn cho các loài dịch hại, một số loại cây thường được dùng như: Các cây họ cúc chứa các chất Pyrethrin, cây thuốc lá chứa hoạt chất Nicotin, dây thuốc cá, cây xoan Ấn Độ…
Thuốc trừ sâu hóa học Được chia làm các nhóm sau:
Trang 16 Thuốc trừ sâu có chứa các hợp chất vô cơ: là những loại thuốc có chứa các nguyên tố hóa học ở dạng nguyên chất như: Thuốc chứa asen, đồng, chì, kẽm, flo, clo…
Thuốc trừ sâu có chứa hợp chất hữu cơ: đây là loại thuốc có số lượng, chủng loại phong phú, chúng có hoạt chất sinh lý rất cao, dựa vào thành phần hóa học có thể chia thành các phân nhóm sau:
+ Phân nhóm chứa clo hữu cơ: trong phân tử của hợp chất này đều có chứa nguyên tố clo và các vòng Benzen hay dị vòng, Thuốc kỷ nghệ thường ở dạng rắn, không tan hoặc ít tan trong nước nhưng tan nhiều trong dung môi hữu cơ và thường
có mùi hôi khó chịu Đối với phân nhóm này, phần lớn đều bị cấm sử dụng vì sự tồn lưu lâu trong môi trường Các loại tiêu biểu như: DDT, Lindan, Clodan, Thiodan, Đielrin, Eldrin, Aldrin…
+ Phân nhóm chứa lân hữu cơ: Đây là phân nhóm có nhiều chủng loại nhất và đang được sử dụng rộng rãi nhất Phân nhóm này là dẫn xuất của axit phosphoric và
có công thức chung là:
Khi gốc X1, X2 được thay thế bằng các gốc khác nhau ta có các loại thuốc khác nhau như: photpho (Monocrotophos, chlophenviphos,…), photphonat (Trichlofon,…)
+ Phân nhóm chứa cacbamat: Đây là những loại thuốc có chứa dẫn xuất của các axit cacbamic, thiocacbamic, dithiocacbamic So với nhóm lân hữu cơ thì nhóm này có chủng loại thuốc ít hơn và cũng ít bền vững trong môi trường tự nhiên
X1
O (hay S)
P
X 2 O (hay S) – R Trong đó: X 1 , X 2 là nhóm Alkin oxy
R là gốc hợp chất hữu cơ
Trang 17nhưng có tính độc cao đối với người và động vật Các loại thuốc thường gặp như: Bassa (Fenobucarb), Padan (cartap), Furadan (carbofuxan)
+ Phân nhóm chứa Pyrethrin: Có hiệu lực trừ sâu rất cao, ít độc cho người và gia súc, có tác dụng tiếp xúc và vị độc, một số gây ngán ăn hoặc xua đuổi, không có tác dụng lưu dẫn, nội hấp Một số hoạt chất được dùng phổ biến như: Deltamethrin, Cypermethrin, Alphacypermethrin (Phạm Văn Biên, 2000)
Ngoài ra còn có các loại thuốc trừ sâu vi sinh và các loại thuốc trừ sâu từ các hoạt chất sinh học Tuy nhiên các loại thuốc này chưa được sử dụng phổ biến ở Việt Nam (Trần Quang Hùng, 1999)
Thuốc trừ cỏ dại: được chia theo nhiều cách khác nhau
- Theo cấu tạo hóa học của hoạt chất (thuốc trừ cỏ nhóm phenuy- sulfonylure, nhóm lân hữu cơ, nhóm cacbamat,…)
- Theo cơ chế xâm nhập vào thực vật (thuốc trừ cỏ nội hấp, tiếp xúc) và cơ chế tác động (thuốc trừ cỏ kích thích thực vật)
- Theo thời điểm sinh trưởng của cỏ dại mà thuốc gây tác động (đồng thời cũng là thời điểm phun thuốc) gồm: thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm và hậu nảy mầm
- Theo phổ tác động gồm: thuốc trừ cỏ hủy diệt, thuốc trừ cỏ không có tác dụng chọn lọc, thuốc trừ cỏ có tác dụng chọn lọc (Trần Quang Hùng, 1999)
Trang 182.2.2 Phân loại theo thời gian phân hủy
Trước đây cũng như hiện nay thuốc BVTV đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cây trồng trước sự tàn phá của sâu hại Chi phí cho biện pháp hóa học bảo vệ thực vật hàng năm trên thế giới rất lớn, ví dụ: ở Mỹ năm 1940 chi phí 40 triệu đôla Đến năm 1955 tăng lên 255 triệu và năm 1970 là 1 tỷ (Lê Huy
Bá và Lâm Minh Triết, 1999) Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới thì năm 1988 toàn thế giới sử dụng 3,1 triệu tấn hoạt chất thuốc BVTV, tương đương 20 triệu USD Trong số đó, thuốc trừ cỏ chiếm 8,9 tỷ; thuốc trừ sâu chiếm 6,1 tỷ; thuốc trừ bệnh 4,2 tỷ; còn lại là nhóm thuốc khác
Ví dụ: Đậu que khi đã có trái sẽ được phun thuốc đều đặn chu kỳ 2 ngày, đến lúc thu hoạch đem bán vẫn còn phun thuốc để trái xanh mẩy, còn khổ hoa thì thu hoạch xong ngâm nước có hòa thuốc diệt sâu để để trái bóng “bắt mắt”, kết quả phân tích
dư lượng thuốc trừ sâu trên các mẫu rau, đậu cho thấy hàm lượng Monitor tồn dư đậu que gấp 393 lần so với quy định, bông cải gấp 683 lần so với quy định Như vậy, trong ba mẫu phân tích đã có mẫu không an toàn cho người tiêu dùng (Lê Huy
Bá và Lâm Minh Triết, 1999) Ngành nông nghiệp ngày càng được quan tâm phát triển đa dạng, phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, chính vì lẽ đó không thể không
sử dụng thuốc hóa học, song cần xem biện pháp này chỉ là mắt xích của hệ thống các biện pháp trong chương trình quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) mà thôi (Nguyễn Xuân Thành, 1997)
Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (1999) Các thuốc BVTV có thời gian phân hủy rất khác nhau, nhiều chất có thể tồn lưu lâu trong môi trường đất, nước, không khí và trong cơ thể động vật, thực vật nhưng cũng có những chất dễ phân hủy
Trang 19trong môi trường Dựa vào thời gian phân hủy của chúng có thể sắp xếp thuốc BVTV vào các nhóm sau:
Nhóm thuốc BVTV dễ phân hủy: nhóm này gồm các hợp chất photpho hữu
cơ, cacbamat Các hợp chất này có thời gian bán phân hủy trong đất chỉ trong vòng
Nhóm thuốc BVTV hầu như không phân hủy là: các hợp chất hữu cơ chứa kim loại như: thủy ngân (Hg), Asen (As)… các kim loại nặng Hg và As không bị phân hủy theo thời gian, các loại hóa chất này đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam
2.2.3 Vai trò và ý nghĩa thuốc bảo vệ thực vật
Con người đã không ngừng nghiên cứu các biện pháp để giảm bớt những
thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng Công tác BVTV được các nước quan tâm đầu tư kinh phí cho đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, xây dựng tổ chức và
cơ sở vật chất, đồng thời coi việc BVTV là một biện pháp rất quan trọng trong trồng trọt nhằm đảm bảo cho cây trồng phát triển tốt, đạt năng suất cao Từ những nổ lực
đó, trong thế kỷ XX thuốc BVTV ra đời và dần dần trở thành biện pháp quan trọng của nông dân để chống lại sâu bệnh, cỏ dại bảo vệ cây trồng, nông sản
Thất thu hằng năm do các loại dịch hại gây ra chiếm 35% sản lượng mùa màng (khoảng 75 tỉ USD), (Cramer h.h, 1967) Nếu tính cho diện tích nông nghiệp của thế giới là 1,5 tỉ ha, không kể đồng cỏ và bãi hoang thì thiệt hại bình quân là 47 – 60 USD/ha Để tránh thất thu, trước đây cũng như hiện nay thì thuốc BVTV đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cây trồng trước sự tàn phá của các loại gây hại Ở Liên Xô (cũ), dùng thuốc BVTV đã góp phần làm tăng thêm một lượng nông sản với giá trị 4,5 – 5 tỉ rúp/năm (Medved, 1974, Nikitin và CTV, 1977) Viện
Trang 20nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) ghi nhận năng suất lúa tăng 2,7 tấn/ha do dùng thuốc trừ sâu trong phòng thí nghiệm đã tiến hành từ năm 1964 đến 1971 (Pathak và Dyck, 1974)
Trong thập niên 1940, 1950 việc phát minh ra thuốc BVTV hữu cơ, đặc biệt là
sự thành công trong việc tổng hợp ra DDT đã mở ra một kỷ nguyên mới trong kiểm soát sâu bệnh và cỏ dại bằng hóa chất (Lê Văn Khoa, 1999) Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, trong vườn cây gia đình… các nhóm thuốc bảo vệ, thuốc BVTV chính được sử dụng là thuốc diệt cỏ 46%, thuốc trừ sâu 31%, thuốc diệt nấm 18% và các loại khác 5%
Như vậy thuốc BVTV có khả năng ngăn chặn dịch sâu, bệnh góp phần tích cực trong việc bảo vệ mùa màng, làm tăng năng suất cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân
2.2.4 Độc tính dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Khái niệm về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật:
Theo Tiểu ban danh pháp dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc thì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là: “Những chất đặc thù trong lương thực và thực phẩm, trong sản phẩm nông nghiệp và trong thức ăn vật nuôi mà do sử dụng thuốc gây nên” Những chất đặc thù này bao gồm: “Dạng hợp chất ban đầu, các dẫn xuất đặc hiêụ, sản phẩm phân giải, chuyển hóa trung gian, các sản phẩm phản ứng và các phụ gia có ý nghĩa về mặt độc lý” Đây là những hợp chất độc, dư lượng được biểu hiện ở hai khía cạnh: (i) trong đất và nước và (ii) trong sản phẩm nông nghiệp
Tính độc của thuốc đối với môi trường thành phần
Sử dụng thuốc BVTV có liên quan trực tiếp tới môi trường đất, nước Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (1999), khi phun thuốc cho cây trồng có tới trên 50% số thuốc phun ra bị rơi xuống đất Thuốc tồn tại trong đất dần dần bị phân giải qua hoạt động sinh học của đất và qua tác động của các yếu tố hóa, lí Tuy nhiên, tốc độ phân hủy thuốc chậm nếu thuốc tồn tại ở đất với lượng lớn, nhất là đất có hoạt động sinh học yếu, do đó thuốc bị rửa trôi gây nhiễm bẩn nguồn nước
Trang 21Thuốc trừ sâu gốc hóa học hiện nay đang được dùng quá nhiều trong sản xuất nông nghiệp nhưng lại không được quản lí chặt chẽ do thiếu cán bộ khoa học cơ sở, kiến thức khoa học của nông dân vẫn còn thấp… nên đã gây ra những tác hại môi trường nghiêm trọng: Theo dõi một năm sau khi sử dụng thuốc 2,4D thì chim sơn ca giảm từ 60 xuống 45 con, chim chích giảm từ 29 xuống 20 con (Bá và Triết, 1999, trích từ Morrison và Meslow, 1984) Theo Vander laan (1951), các loại thuốc DDT, Parathion đều có hại đối với các loài ong ký sinh sâu đục thân Ngoài ra, khi dùng Monocrophos để trừ sâu bông cũng giết chết nhiều loài thiên địch như bọ hổ trùng, ruồi ăn rệp, các loài ong,… Mật độ các loài bọ rùa trên ruộng bông sau khi phun thuốc giảm từ 12 – 32 con trên 100 cây chỉ còn 0 – 1 con (Nguyễn Công Thuật,
1996 Trích từ Phạm Văn Lầm, 1993) Sử dụng thuốc diệt cỏ rộng rãi trong vùng nông nghiệp trồng ngũ cốc ở Anh đã làm quần thể gà Gô giảm từ 25 cặp/km2 vào năm 1952 xuống còn 5 cặp/km2
(1986) Nguyên nhân do sử dụng thuốc diệt cỏ đã làm nguồn thức ăn của gà gô bị tiêu diệt gần hết (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết,
1999 Trích từ Green, 1984; Sotherton và Rands, 1986)
Tính độc của thuốc đối với người và đông vật máu nóng
Hầu hết các loại thuốc BVTV đều độc đối với người và động vật máu nóng Tuy nhiên mức độ gây độc của mỗi loại hoạt chất khác nhau Thuốc BVTV được chia ra làm 2 loại: chất độc nồng độ và chất độc tích lũy Mức độ gây độc của nhóm chất độc nồng độ phụ thuộc vào cơ thể (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 1999) + Độc cấp tính:
Thuốc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thời gọi là nhiễm độc cấp tính Độc cấp tính của thuốc được biể
Letal Dose, viết tắt là LD50) được tính bằng miligram hoạt chất/kg trọng lượng cơ thể (50 là liều thuốc gây chết cho 50% cá thể sinh vật thí nghiệm là chuột hoặc thỏ) LD50 của thuốc đối với cơ thể còn phụ thuộc vào cách thức xâm nhập của thuốc vào cơ thể Thuốc xâm nhập qua miệng vào đường ruột, thuốc xâm nhập qua da… Cùng loại thuốc tác dụng cùng cơ thể, LD50 xâm nhập qua miệng rất có thể khác với LD50 xâm nhập qua da (Trần Quang Hùng, 1999)
+ Độ độc mãn tính:
Trang 22Mỗi loại hóa chất trước khi xét công nhận là thuốc BVTV đều phải được kiểm tra về độ độc mãn tính, bao gồm: khả năng tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng, khả năng gây đột biến tế bào, khả năng kích thích tế bào khối u ác tính phát triển, ảnh hưởng của hóa chất đến bào thai và gây dị dạng đối với các cơ thể sau,… Những thí nghiệm này được tiến hành từ 1 – 2 năm trên cơ thể động vật máu nóng và không được công nhận là thuốc BVTV nếu loại hóa chất đó biểu hiện một trong những tác hại trên
độc “mãn tính” Biểu hiện trạng thái nhiễm độc “mãn tính” lúc đầu có thể nhầm lẫn với các bệnh lí thông thường khác như; da xanh, thường xuyên bị xúc động, ăn, ngủ thất thường, nhức đầu, mỏi cổ, mỏi khớp, suy gan, rối loạn tuần hoàn…(Lê Văn Khoa, 1999)
Phân loại nhóm độc theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 1994)
Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua đường miệng và qua đường da
Trang 23Bảng 2: Phân loại nhóm độc theo tổ chức y tế thế giới (1994) (LD 50 mg/kg chuột)
Phân nhóm
và kí hiệu
nhóm độc
Biểu tƣợng nhóm độc
Trang 24 Ảnh hưởng đến môi trường nước
Nước có thể bị ô nhiễm thuốc BVTV trong các trường hợp sau:
- Đổ các thuốc BVTV thừa sau khi sử dụng
- Đổ nước rửa dụng cụ xuống hồ, ao
- Cây trồng ngay cạnh mép hồ, ao, suối được phun thuốc BVTV
- Sự chảy rò rỉ, hoặc quá trình xói mòn rửa trôi đất bị ô nhiễm thuốc BVTV
- Thuốc BVTV lẫn trong nước mưa ở các vùng có không khí bị ô nhiễm thuốc BVTV
- Dùng thuốc BVTV ở các hồ để giết cá và vớt cá bán cho người tiêu dùng gây ngộ độc hàng loạt, điều này đã và đang xảy ra một số nơi
là 0,85 – 3,4 microgram/lit; ở Đồng Bằng sông Cửu Long (Cần Thơ) là 0,9 – 5,2 microgram/lít (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 1999)
Ảnh hưởng đến cây trồng
Đôi lúc, do tính “quen thuốc” của sâu, nồng độ của thuốc BVTV sau khi phun trực tiếp lên cây trồng phải rất cao, phải có đủ hiệu lực chống lại sâu hại Nồng độ thuốc BVTV ảnh hưởng đến sức khỏe con người phụ thuộc vào tồn lưu của thuốc BVTV trong cây trồng tại thời điểm được đưa vào sử dụng trong sinh hoạt Nồng độ này đóng vai trò chính trong việc đánh giá các tác hại của thuốc BVTV đối với con người và môi trường thiên nhiên Con người mong muốn đạt sản lượng cây trồng cao nhất là những cây trồng
có giá trị kinh tế, nên thuốc BVTV được sử dụng cho loại cây trồng này nhiều hơn những loại cây có giá trị kinh tế thấp hơn Trên thực tế các thuốc BVTV thường được sử dụng trước khi thu hoạch được vài ngày hoặc vài giờ
Do vậy, dư lượng thuốc BVTV trong cây trồng còn cao, gây ngộ độc cho người nếu chúng được tiêu thụ sớm ngay sau khi thu hoạch Đây là nguyên nhân chính gây ra các vụ ngộ độc thuốc BVTV hiện nay do rất nhiều loại
Trang 25rau, quả sau khi phun thuốc BVTV chỉ đươc rửa sơ rồi đưa thẳng tới chợ bán (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 1999)
Ảnh hưởng của một số ngoại cảnh đến tính độc của chất độc:
Các yếu tố ngoại cảnh gồm ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ…một mặt có thể ảnh hưởng đến lý, hóa tính của chất độc, mặt khác cũng ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý và hoạt tính sinh lý của dịch hại
Các yếu tố ngoại cảnh đối với dịch: Tính thấm của màng nguyên sinh chất có thể thay đổi rõ rệt theo điều kiện ngoại cảnh (pH môi trường, ánh sáng, nhiệt độ…) Khi nhiệt độ tăng đến điểm tối thích, hoạt động sống (hô hấp, trao đổi chất…) của côn trùng và các loại dịch hại tăng lên mạnh mẽ, kèm theo đó là sự tăng tốc hấp thu các chất, đưa đến kết quả là tăng khả năng ngộ độc của dịch hại Ẩm độ trong đất và trong không khí cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh lý của dịch hại, từ đó ảnh hưởng đến mức độ
Thời gian cách ly:
Thời gian cách ly (Pre harvest interval, viết tắt là PHI) là khoảng thời gian tính từ ngày cây trồng hoặc sản phẩm cây trồng được xử lý thuốc lần cuối cùng cho đến ngày được thu hoạch nông sản
Trang 26khoảng thời gian này thuốc được chuyển hóa và phân giải cho đến khi các sản phẩm phân hủy cuối cùng không độc và được bài tiết hoàn toàn ra ngoài cây trồng hoặc chỉ tồn tại trong nông sản ở mức dư lượng tối đa cho phép quy định cho từng loại thuốc trên từng loại cây trồng và nông sản Thời gian cách ly được quy định rất khác nhau đối với từng loại thuốc trên mỗi loại nông sản như Monitor (PHI=20 ngày), Cidi (PHI=15 ngày)… Dùng thuốc cho cây trồng và nông sản chưa hết thời gian cách ly đã thu hái nông sản, người dùng nông sản có nguy cơ bị ngộ độc và có thể nguy hiểm đến tính mạng do ăn phải các chất độc trung gian, nhất là khi cây trồng và nông sản
có xử lý thuốc lân hữu cơ Rễ cây có khả năng hấp thụ thuốc từ đất, nước vận chuyển trong lá và quả Ngược lại, phun thuốc lên các loại cây trên mặt đất, bộ phận cây dưới mặt đất cũng tích lũy thuốc Do đó cần giữ đúng thời gian cách ly khi thu hoạch các bộ phận câ
Văn Hai, 2002)
Con đường mất đi của thuốc BVTV trong môi trường
Thuốc BVTV sau khi được sử dụng, bằng nhiều con đường khác nhau
sẽ bị chuyển hóa và mất dần bởi các yếu tố vô sinh hay sinh học (sự phân rã sinh học) (Nguyễn Trần Oánh, 1997)
- Sự bay hơi: Tốc độ bay hơi của thuốc BVTV phụ thuộc vào áp suất hơi, dạng hợp chất hóa học và điều kiện thời tiết Trời càng nóng, gió càng mạnh, lượng thuốc mất đi càng nhiều (Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết, 1999)
- Sự quang phân: Nhiều thuốc BVTV khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, đặc biệt là tia tử ngoại sẽ bị phân hủy Thời gian chiếu sáng càng dài, cường độ chiếu sáng càng mạnh thuốc càng dễ bị phân hủy Khi bị quang phân, thuốc bị phân hủy dần dần và trở thành sản phẩm đơn giản nhất
- Rửa trôi là hiện tượng thuốc BVTV bị trôi từ mặt lá xuống mặt đất bởi nước mưa hay nước tưới, sau đó bị cuốn trôi theo dòng chảy Lắng trôi là hiện tượng thuốc BVTV bị kéo từ lớp đất mặt xuống lớp đất sâu hơn bởi
Trang 27nhiều nhân tố khác nhau Lượng nước mưa và lượng nước tưới quyết định tốc độ lắng và rửa trôi Ngoài ra, sự rửa trôi và lắng tụ của thuốc còn phụ thuộc vào bản chất của thuốc, khả năng hấp thụ và đặc tính lý hóa của đất Đất càng nhiều mùn và đất sét sẽ giữ thuốc lâu hơn, tốc độ rửa
và lắng trôi sẽ giảm
- Sự hòa loãng sinh học: Sau khi phun thuốc, cây trồng vẫn sinh trưởng và phát triển, diện tích lá tăng, chồi mới xuất hiện, khối lượng chất xanh trong cây tăng Nếu lượng thuốc BVTV ở trên bề mặt hay trên cây hoàn toàn không bị phân hủy thì nồng độ thuốc trong cây sẽ giảm Sự hòa loãng sinh học sẽ làm giảm khả năng bảo vệ cây của thuốc, giảm nguy cơ độc cho con người và động vật khác khi dùng nông phẩm đó Cây non có tốc độ sinh trưởng mạnh, sự hòa loãng sinh học càng tăng
- Sự phân hủy do vi sinh vật trong đất: Tập đoàn vi sinh vật trong đất rất phong phú và phức tạp, chúng có thể phân hủy thuốc BVTV và dùng thuốc như nguồn dinh dưỡng cung cấp cacbon, nitơ và năng lượng Quá trình phân hủy của vi sinh vật, có thể gồm một hay nhiều giai đoạn, để lại các sản phẩm trung gian và cuối cùng là sự khoáng hóa hoàn toàn sản phẩm Mỗi loại thuốc thường chỉ bị một số loài vi sinh vật phân hủy nhưng cũng có một số loài vi sinh vật phân hủy được nhiều thuốc BVTV trong cùng một nhóm hoặc ở các nhóm thuốc khác nhau Những thuốc dễ hòa tan trong nước, ít bị hấp thụ mà thường bị vi khuẩn phân hủy Ngược lại, những thuốc khó tan, dễ bị hấp thụ lại bị nấm phân hủy là chủ yếu
- Bên cạnh vi sinh vật, trong đất còn có một số enzym ngoại bào có khả năng phân hủy thuốc BVTV như men esteraza, dehdrogenaza,…
2.2.5 Hậu quả của việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật
- Hình thành các chủng sâu kháng thuốc: trong khi sử dụng thuốc muốn đạt được hiệu quả như ban đầu, hằng năm cần phải tăng theo nồng độ thuốc Cho đến một lúc nào đó sâu hại trở nên không còn mẫn cảm với loại thuốc
đó nữa, tức là sâu đã chống thuốc…Ngoài ra còn hiện tượng chống chéo (sau khi sâu hại đã chống với loại thuốc nào đó thì nhanh chóng trở nên chống
Trang 28với tất cả các loại thuốc cùng nhóm) Nghiên cứu về tính chống thuốc của rầy nâu với BHC (Cychlohexan) ở Fukuda cho thấy rầy nâu ở lứa thứ ba và thứ tư so với quần thể rầy nâu mới di cư đến đã chống thuốc gấp 14 và 19 lần Ngoài ra còn có hiện tượng chống nhiều loại thuốc Theo Sawicki (1995) đã có hơn 100 loài sâu hại đã kháng thuốc trong các nhóm có phương thức tác động khác nhau, ví dụ: ở Việt Nam có sự chống thuốc của sâu tơ Theo tài liệu của Bayer (1986) đã có tới 100 loài nấm bệnh, 48 loài cỏ dại, 2 loài tuyến trùng và 5 loài chuột có tính chống thuốc (Nguyễn Công Thuật, 1996)
- Xuất hiện những sâu hại mới: Nguyên nhân là do sử dụng thuốc một cách phổ biến Ví dụ: ở Châu Âu xuất hiện loài nhện đỏ phá hoại cây ăn trái, trước đó nó được coi là sâu hại không quan trọng, nay đã trở thành sâu hại hàng đầu ở vùng trồng cây ăn quả (Nguyễn Công Thuật, 1996)
- Gây hiện tượng tái phát của sâu hại: Nguyên nhân là do thiên địch của sâu hại bị tiêu diệt một số lượng lớn do tác động của thuốc hóa học Trong những năm đầu sử dụng thuốc mật độ sâu hại có giảm đi Những năm tiếp theo, mặc dù lượng thuốc sử dụng nhiều nhưng mật độ sâu không những không giảm đi mà còn tăng lên Trước hết là dùng thuốc nhiều gây ra “mất cân bằng sinh học” trên đồng ruộng, “kẻ thù tự nhiên” của sâu hại bị tiêu diệt một số lượng lớn Do vậy hình thành chủng sâu chống thuốc, thuốc trừ sâu trở nên mất hiệu lực và quần thể thiên địch không đủ sức chống chế sâu hại,
từ đó chúng phát triển và nhân lên nhanh chóng Ví dụ sử bùng nổ của rầy nâu hại lúa của các nước Châu Á cuối thập kỉ 60 và đầu 70 (Nguyễn Công Thuật, 1996)
- Tiêu diệt thiên địch của sâu hại: Các loại thuốc hóa học sử dụng trên đồng ruộng, đặc biệt là các loại thuốc trừ sâu, khi phun lên cây trồng không những chỉ giết sâu hại mà còn ảnh hưởng đến các loài thiên địch của chúng
Ví dụ: phun Thiodan, Azodrin, Monitor…trên ruộng lúa làm giảm lượng bọ rùa đỏ, bọ xít mù xanh và các loài nhện bắt mồi Nhiều trường hợp cho thấy mật độ bọ xít mù xanh giảm đi tới 90%, mật độ bắt mồi giảm đi 50 – 70%
Trang 29và khó phục hồi lại sau 3 – 5 ngày phun thuốc (Nguyễn Công Thuật, 1996)
Vì lý do trên nhiều loại thuốc độc hại đối với thiên địch đã bị hạn chế sử dụng, một số bị cấm và thay thế bằng các loại thuốc an toàn như thuốc sinh học Khi sử dụng thuốc cần bảo vệ thiên địch bằng các biện pháp sau: sử dụng thuốc ít gây hại cho thiên địch, chỉ sử dụng thuốc khi sâu hại phát triển đến mức cần phòng trừ (vượt quá ngưỡng gây hại), không phun thuốc khi thiên địch đang tích lũy và phát triển trên ruộng có khả năng khống chế sâu hại
- Gây độ hại cho người, gia súc và động vật có ích khác: Ở Việt Nam những năm đầu sử dụng thuốc, nhiều người đã bị chết do thiếu hiểu biết về phòng độc, thiếu phương tiện bảo hộ lao động và không được cấp cứu kịp thời Gây ngộ độc cấp tính cho người sử dụng như: mẫn ngứa, đau mắt, viêm họng,…và ngộ độc mãn tính như; đau dạ dày, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh,…Theo WHO (1987) tỉ lệ người sử dụng thuốc trừ sâu ở Đông Nam Á bị ngộ độc lên đến 11,9 – 19,4% Thuốc trừ sâu cũng gây ngộ độc cho gia súc gia cầm và các sản phẩm trồng trọt Một số loại thuốc gây hại cho các vi sinh vật trong đất, mặt trái của thuốc trừ sâu đối với môi trường
- Nhiễm độc môi trường, nguy hại cho các động vật hoang dã: phần lớn các thuốc trừ sâu Clo hữu cơ và một số hợp chất có tính bền vững khác, chúng tồn tại và gây nhiễm độc đối với môi trường trong nhiều năm dài Quan trọng là thuốc trừ sâu còn tham gia vào “chuỗi dinh dưỡng” và sự tích
tụ độc chất trong các hệ sinh thái Ví dụ: phân tích DDT cho thấy: DDT trong nước là 0,02ppm; động vật thủy sinh là 10ppm; cá ăn động vật thủy sinh là 103ppm; cá lớn ăn thịt và chim bói cá là 2000 – 3000ppm (Nguyễn Công Thuật, 1996)
- Tồn dư trong nông phẩm: Nguyên nhân là do thời gian cách li không đảm bảo Dư lượng Metyl Parathion trên nho ở khu vực chợ Hà Nội là 0,10- 0,62 mg/kg (mức cho phép của FAO và WHO là 0,20mg/kg) (Nguyễn Công Thuật, 1996)
Trang 30Hiện nay trên thế giới đang có xu hướng hạn chế sử dụng những hóa chất độc trong BVTV, và đồng thời cố gắng tìm ra thuốc mới có những ưu điểm và tránh những hạn chế trên
2.2.6 Tính chống thuốc của sâu hại
Định nghĩa
- Tính chống thuốc: Theo Nguyễn Trần Oánh (1997), sinh vật hại (bao gồm: sâu, bệnh chuột, cỏ,…) chống thuốc hay còn gọi là quen thuốc Là khả năng của một chủng sinh vật hại chịu đựng được liều thuốc gây tử vong cho cá thể khác trong chúng Tính trạng này manh tính di truyền được chuyển sang các thế hệ con cháu, và sẽ mất đi trong một khoảng thời gian nhất định nếu sinh vật không tiếp xúc với loại thuốc đó Tính trạng này còn gọi là tính chống chịu sinh lý
- Sinh vật hại chỉ chống chịu một loại thuốc gọi là chống chịu đơn tính, chống chịu nhiều loại thuốc gọi là chống chịu đa tính, chống chịu nhiều loại thuốc khác nhóm gọi là chống chịu chéo Từ tính chống chịu chéo sâu hại có thể hình thành chống chịu tất cả các loại thuốc độc Một số trường hợp, có sâu chống chịu chéo lại mẫn cảm với một số loại thuốc
mà chủng sâu chưa chéo, gặp trường hợp này gọi là chống chịu chéo âm
- Tính nhờn thuốc: Xuất hiện ở các pha phát dục (như pha nhộng), độ tuổi của sâu (tuổi sâu lớn) và việc phun không đúng kỹ thuật như kéo dài việc phun thuốc không đủ liều lượng
Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tính chống chịu thuốc của sâu hại (Nguyễn Trần Oánh, 1997)
- Yếu tố di truyền: Khả năng gây đột biến gen, sự tương quan giữa số lượng các chủng chống thuốc và chưa chống thuốc, khả năng tần suất bắt gặp trong giao phối giữa hai chủng
- Yếu tố sinh học: Tỷ lệ đực cái, hệ số sinh sản, số lứa trong năm, tỉ lệ sống sót, có hay không có thời kỳ qua đông
Trang 31- Yếu tố sinh thái: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng trung bình trong năm, chất lượng và thành phần thức ăn, mức độ cách ly sinh sản dẫn đến khả năng giao phối
- Yếu tố canh tác: Điều kiện thâm canh, kỹ thuật trồng trọt, giống mới, các loại phân bón
Cơ chế chống thuốc của các loài sinh vật
Theo Vũ Hoài (2000), sâu chống chịu thường có những phản ứng sau:
- Lẫn tránh: Tránh tiếp xúc với các loại thuốc bám trên cây, tìm cách xa rời nơi có thuốc, không ăn thức ăn có dính thuốc
- Phản ứng chống chịu sinh lý: Gây tác động sinh lý, gây tác động sinh lý làm cho thuốc tích lũy lại tại các mô mỡ để hạn chế sự di chuyển thuốc đến các cơ quan nhạy cảm với thuốc Hạn chế sự hấp thụ chất độc vào cơ thể, đều này xuất phát từ bản năng tự vệ
- Cơ chế tự giải độc: Đây là cơ chế rất quan trọng, dưới tác động của các men cơ chế tìm cách trung hòa hoặc thải các chất độc ra ngoài Đóng vai trò quyết định trong việc chuyển hóa và phân giải thuốc độc của sâu là hệ men vi thể
Biện pháp ngăn ngừa khả năng chống chịu thuốc (Vũ Hoài, 2000)
- Dùng thuốc hợp lý: Chỉ sử dụng thuốc hóa học khi thật cần thiết dựa trên
cơ sở nghiên cứu kỹ các mối quan hệ sinh thái Phải đặt biện pháp hóa học trong mắt xích của biệt pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, khi sử dụng thuốc thì thực hiện theo hướng dẫn
- Áp dụng chiến lượt thay thế: Từng thời gian nên thay đổi các chủng loại thuốc dùng không những cho các loài sâu hại mà có thể cho cả từng vùng sinh thái
- Dùng thuốc hợp lý: Nên dùng thuốc hỗn hợp khác có chứa thêm dầu thực vật để làm chậm sự phát triển tính chống thuốc
Trang 322.2.7 Sử dụng an toàn, có hiệu quả thuốc Bảo vệ thực vật
đúng kỹ thuật cần phải:
Biết phối hợp dùng thuốc với các biện pháp phòng trừ khác (dùng giống kháng thuốc, điều chỉnh thời vụ, thiên dịch có ích…) chỉ sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết
Dùng thuốc theo nguyên tắc bốn đúng: Dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng cách
Dùng đúng thuốc
Cần biết rõ sử dụng thuốc để loại trừ loại sâu hại nào (hoặc bệnh nào, loại cỏ dại nào…) trên cây trồng nào, nếu không biết cần nhờ cán bộ kỹ thuật điều tra trên ruộng, vườn, cụ thể để chỉ bảo, hướng dẫn chính xác
Nếu một số loại thuốc đều có công dụng trị được sâu bệnh, cỏ trên ruộng, vườn thì cần phải chọn loại thuốc có đặc tính như sau:
- Chọn loại thuốc ít độc nhất đối với người phun thuốc;
- Ít nguy hại đối với người tiêu thụ sản phẩm;
- An toàn đối với cây trồng;
- Ít độc đối với loài có ích (gia súc, cua, cá tôm, ong mật, các loài thiên địch,…)
- Không tồn tại lâu dài trong đất hay trong thức ăn
Chọn đúng thuốc có trường hợp phải lưu tâm đến đặc điểm thời tiết ở địa phương, ít bị rữa trôi trong mùa mưa, an toàn với người và cây trồng, ngay cả khi phun trong mùa hè nóng bức
Trang 33- Do trên đồng ruộng có mật độ thiên địch cao, có khả năng khống chế hoặc kềm hãm sự phát triển của sâu bệnh
- Do tác hại của chúng xảy ra vào một giai đoạn sinh trưởng của cây, rồi cây trồng vẫn tự hồi phục được mà không bị suy giảm năng suất thì chưa phải lúc cần phun thuốc
Nếu cần phun thuốc, thì phun đúng lúc sâu ở tuổi nhỏ, bệnh mới phát sinh, cỏ dại còn non dễ bị tiêu diệt
Không phun thuốc vào lúc trời nắng gắt, cơ thể dễ mệt mỏi, dễ bị thuốc gây độc Không phun thuốc vào lúc cây dễ bị gây hại: cây đang ra hoa, thời tiết quá nóng… Với nông sản dùng làm lương thực, thực phẩm cho người và gia súc không được phun thuốc khi gần ngày thu hoạch Phải đảm bảo đúng thời gian cách ly của từng loại thuốc trên từng loại nông sản
Cần phun hết lượng thuốc đã tính toán trên thửa ruộng định phun
Không dùng thuốc với liều lượng cao hơn quy định, sẽ không làm tăng thêm hiệu quả của thuốc, mà sẽ gây lãng phí tiền bạc và sẽ tăng nguy cơ nhiễm độc cho người phun thuốc, người tiêu thụ nông sản, các sinh vật có ích, cây trồng và môi trường
Dùng đúng cách pha thuốc
Đối với những thuốc cần hòa nước (nhũ dầu, thuốc sữa) phải pha sao cho
thuốc hòa thật đều trong nước Do đó, khi pha ban đầu đổ vào bình bơm 1/3-1/2 lượng thuốc cần pha, tiếp đó đổ từ từ vào bình lượng thuốc đã đong, vừa đổ, vừa khuấy Sau cùng đổ hết lượng thuốc còn lại, khuấy kỹ và đem bình đi phun ngay Đối với những thuốc bột hòa nước, trước hết phải cho lượng thuốc đã cân vào bình đong nước nhỏ, cho một ít nước vào khuấy đều để tạo thành một nước
Trang 34thuốc đậm đặc, rồi mới đổ vào bình bơm để hòa loãng với nước, sau đó khuấy kỹ và đem phun ngay
Khi đổ thuốc vào nước, vào bình bơm, cần đặt phểu lọc, tránh bị tắc vòi trong quá trình phun
Chỉ dùng các thuốc hỗn hợp với nhau khi có sự chỉ dẫn rõ ràng, hỗn hợp thuốc tùy tiện có thể gây cháy lá hoặc không làm tăng hiệu quả thuốc gây lãng phí Phải phun sao cho thuốc bám được đều trên khắp các bộ phận của cây bị sâu, bệnh phá hoại, do đó phải dùng một lượng nước đủ lớn để pha thuốc Trung bình là 1000m2 cần dùng 60-80 lít nước
Phải tùy đặc điểm sâu bệnh mà đặt vòi phun vào đúng vị trí sâu bệnh sinh sống và gây hại
Với các loại sâu bệnh cần phun thuốc nhiều lần trong vụ (sâu tơ hại bắp cải, sâu xanh hại đậu hoa…), không dùng liên tục một loại thuốc trong suốt vụ, nên dùng luân phiên xen kẽ 2 – 3 loại thuốc khác nhau
Để khắc phục tình trạng sử dụng sai các loại thuốc BVTV, cần bổ sung thêm cán bộ khoa học địa phương để hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc BVTV nói chung và thuốc trừ sâu nói riêng Tăng cường kiến thức bảo vệ môi trường, và sức khỏe cho nhân dân, tuyệt đối không lưu hành các loại thuốc bị cấm sử dụng
2.2.8 Dùng thuốc theo chương trình “3 giảm, 3 tăng” trong canh tác lúa
Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc trồng lúa nhằm tăng thu nhập cho những nông dân trồng lúa và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững Bộ NN và PTNT đã quyết định thành lập và xây dựng chương trình 3 giảm - 3 tăng áp dụng cho canh tác lúa Để hiểu rõ về chương trình này, ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm, mục tiêu và nội dung chương trình Trước hết phải hiểu 3 giảm - 3 tăng là gì? 3 giảm trong sản xuất lúa tức là phải: - Giảm lượng giống gieo xạ - Giảm lượng thuốc trừ sâu bệnh - Giảm lượng phân đạm Như vậy, một câu hỏi đặt ra là tại sao phải giảm 3 yếu tố này? Hiện nay theo tập quán sản xuất của bà con nông dân mình thì lượng giống gieo xạ còn quá cao, đa số đều sử dụng với lượng giống cao hơn 150 kg/ha Với lượng giống gieo xạ cao trước tiên sẽ
Trang 35làm tăng chi phí tiền giống, thứ hai sẽ làm tăng mật độ số cây lúa trên ruộng, việc tăng mật độ này kéo theo hậu quả là dễ phát sinh sâu bệnh trên ruộng lúa, hao tốn thêm số lần phun xịt thuốc Đồng thời do nhiều cây lúa trên ruộng thì thêm tốn chất dinh dưỡng nhiều hơn, phải bón thêm phân Yếu tố giảm thứ 2 là lượng thuốc bảo
vệ thực vật Thuốc BVTV đa số đều là những độc chất, việc sử dụng nhiều lượng, nhiều lần sẽ đem lại nguy cơ có hại cho con người, cho gia cầm, gia súc, cho các động vật thủy sinh và cho môi trường nước và đất Nếu bà con áp dụng tốt kiến thức
về IPM, gieo xạ đúng liều lượng hạt giống, bón phân cân đối - hợp lý, sử dụng những loại phân bón chuyên dùng cho lúa có bổ sung các nguyên tố dinh dưỡng trung vi lượng (TE) thì việc hạn chế sâu bệnh sẽ tốt hơn Yếu tố thứ 3 cần giảm đó
là cần giảm lượng phân đạm (N) Thông thường nông dân rất ưa chuộng phân đạm như Urê, SA Vì phân đạm nhanh làm cho lúa bốc (sinh trưởng nhanh, lá lúa chuyển màu xanh nhanh) Nhưng nếu nông dân bón quá lượng phân đạm so với nhu cầu của cây lúa thì không những không làm tăng năng suất mà còn làm cho cây lúa mất cân đối về dinh dưỡng dễ bị sâu bệnh tấn công, dẫn đến giảm năng suất Đồng thời lãng phí thêm tiền mua phân, lượng đạm (N) dư thừa làm ô nhiễm môi trường
và là một trong những nguyên nhân gây ung thư (Do dư thừa chất NO3
> NO2trong nước và nông sản) Như vậy, muốn bón đúng liều lượng để hạn chế tác hại trên, nông dân nên sử dụng phân NPK chuyên dùng cho lúa Bón đạm (N) cần sử dụng dụng cụ bảng so màu lá lúa sẽ đáp ứng đúng và đủ nhu cầu N của lúa Khi áp dụng 3 giảm thì năng suất không giảm mà có chiều hướng tăng và điều chính yếu là tăng lợi nhuận cho người nông dân trồng lúa
Chương trình 3 tăng thì cần hiểu như thế nào? Và phải làm gì? 3 tăng tức là: - Tăng năng suất lúa - Tăng chất lượng lúa gạo - Tăng hiệu quả kinh tế Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng đúng quy trình kỹ thuật trồng lúa, áp dụng 3 giảm Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng đúng giống lúa, bón phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu hoạch Nếu áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên thì việc tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa rất dễ dàng đạt được Đây là mục tiêu chính Ngoài ra, bà con cũng cần hiểu thêm một khuyến cáo nữa của chương trình là "1 phải và 5 giảm" - Một phải là gì? Phải sử dụng giống lúa
Trang 36+ Giảm lượng phân đạm (N) + Giảm lượng nước (tiết kiệm nước) + Giảm thất thoát sau thu hoạch Nếu làm tốt, nông dân sẽ thu nhập cao hơn (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2008)
2.2.9 Những biện pháp an toàn cho người sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật
Theo Trần Văn Hai, 2002 thuốc BVTV gây nguy hiểm cho người và vật nuôi khi chúng xâm nhập được vào cơ thể qua đường tiêu hóa, hô hấp, tiếp xúc qua da hay qua niêm nạc, lượng chất độc xâm nhập vào cơ thể càng lớn càng nguy hiểm Dạng thuốc sữa, thuốc dung dịch thẩm thấu qua da mạnh hơn dạng thuốc phun bột
và bột thấm nước Mức độ gây độc của thuốc tăng gấp nhiều lần đối với cơ thể yếu
và khi làm việc trong điều kiện nhiệt độ và ẩm độ không khí cao Để ngăn ngừa bị nhiễm độc thuốc, khi tiếp xúc cần phải thực hiện biện pháp an toàn lao động sau:
- Người đang có bệnh kinh niên, bệnh ngoài da, người mới ốm dậy hoặc người không đủ điều kiện sức khỏe, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, trẻ em (dưới 16 tuổi) không được tiếp xúc với thuốc BVTV
- Người sử dụng thuốc phải có những hiểu biết cần thiết về tính chất và cách phòng độc thuốc, phải mang đầy đủ các phương tiện phòng hộ lao động
- Không nên dùng tay không tiếp xúc với thuốc, không để thuốc bám dính vào quần
áo, không phun thuốc ngược chiều gió, phun thuốc lên lối đi trước mặt, phun thuốc lúc trời nóng bức và phun thuốc nhiều ngày liền Trong lúc làm việc không được ăn, uống hay hút thuốc
- Sau khi làm việc với thuốc phải tắm rửa bằng xà phòng, thay quần áo sạch Ngay trước và sau khi tiếp xúc với thuốc không được uống rượu hoặc nước giải khát có rượu Nước chè tươi, nước mía, nước ép trái quả tươi và nước lá dong có tác dụng giải độc và làm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với chất độc Người thường xuyên làm việc với thuốc phải được khám sức khỏe định kỳ
- Trong khi sản xuất, chế biến, vận chuyển, bảo quản và sử dụng thuốc cần thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng tránh nhiễm bẩn môi trường xung quanh, nhất là nhiễm bẩn nguồn nước Thuốc phế thải cần tiêu hủy bằng cách pha loãng một phần thuốc với 15-20 phần nước vào hố nơi không có nguồn nước ngầm nhưng có ánh
Trang 37sáng mặt trời, cho vôi vào hố (1kg vôi sống hay 2kg vôi tôi/m3 nước thuốc) và khuấy đều, 15-20 ngày sau đó lấp đất kín hố
- Phải quản lý thuốc chặt chẽ như bao, gói thuốc cần được ghi nhãn theo đúng quy định, đủ bền khi vận chuyển Không vận chuyển thuốc cùng với người, vật nuôi, lương thực, thực phẩm và thức ăn vật nuôi
- Nghiêm cấm việc nhúng rau, quả vào dung dịch nước thuốc trước khi đem bán
2.2.10 Bảo quản thuốc BVTV và các kỹ thuật khuyến cáo khi sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Bảo quản thuốc BVTV (Nguyễn Xuân Thành, 1997)
- Không mua quá nhiều thuốc BVTV;
- Thuốc được cất giữ nơi cuối gió, khô thoáng, không bị mưa dội, nắng rọi, tránh được hỏa hoạn, cháy nổ;
- Thuốc BVTV cất giữ trong bao bì chắc chắn và không để chung với lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc (Nguyễn Xuân Thành, 1997)
Các kỹ thuật khuyến cáo khi sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
- Không pha chế thuốc gần nguồn nước nấu ăn hay chuồng trại gia súc…;
- Trẻ em, phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú không được phun thuốc;
- Không được ăn, uống, hút thuốc trong khi tiếp xúc với thuốc;
- Không phun thuốc quá 6 giờ, lúc trời nắng gắt, oi bức;
- Không phun thuốc ngược chiều gió để tránh thuốc bay vào người;
Trang 38- Sau khi phun thuốc phải vệ sinh dụng cụ, nơi vệ sinh cách xa nguồn nước ăn, ao
hồ, sông suối
- Bao bì, chai lọ phải chôn sâu;
- Phun thuốc đúng như chỉ dẫn để bảo vệ an toàn cho người tiêu dùng
Trang 39
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện nghiên cứu
Phương tiện đi lại: xe gắn máy
Vật liệu:
+ Phiếu phỏng vấn
+ Thước, viết, viết chì
+ Túi sơ mi đựng hồ sơ, máy tính, máy ảnh
3.2 Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Tp.Cần Thơ
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê Tp.Cần Thơ năm 2008 Ngoài ra, các báo cáo tổng kết cuối năm về nông nghiệp được thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ, phòng Nông nghiệp quận Ô Môn và huyện Cờ Đỏ
3.2.3 Phỏng vấn nông hộ
Liên hệ phòng Nông nghiệp quận Ô Môn, huyện Cờ Đỏ và Ủy Ban Nhân Dân các xã trong quận
(i) Canh tác lúa 3 vụ trong năm;
(ii) Canh tác lúa 2 vụ trong năm;
(iii) Cach tác lúa kết hợp nuôi thủy sản hay cach tác lúa luân canh với thủy sản Nông hộ được phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu phỏng vấn soạn sẵn (Phụ lục 4) Nội dung tập trung vào: lịch thời vụ, mật độ gieo xạ, thành phần nông dược, tần
Trang 40suất phun thuốc, liều lượng sử dụng, mực nước trên ruộng khi phun thuốc, tuổi lúa khi phun thuốc, thâm niên trong canh tác lúa, quản lý chất thải chứa hoặc đựng nông dược sau khi sử dụng, biện pháp bảo hộ lao động khi phun thuốc và ảnh hưởng sức khỏe trực tiếp khi phun thuốc, trình độ văn hóa, kiến thức áp dụng IPM, chương trình “3 giảm 3 tăng”, phương pháp bốn đúng trong sử dụng thuốc BVTV Các bước thực hiện như sau:
Bước 1: soạn phiếu phỏng vấn;
Bước 2: phỏng vấn thử;
Bước 5: tiến hành phỏng vấn
phụ lục bảng 1
Bảng 3: Số hộ được phỏng vấn ớ các mô hình tại vùng nghiên cứu
Dựa vào danh mục các loại hóa chất BVTV cho phép, hạn chế và cấm sử dụng
ở Việt N
nhãn thuốc để làm cơ sở đánh giá thực trạng sử dụng hóa chất BVTV trên các mô hình canh tác