Căn cứ vào tình hình thực tiễn đó mà tác giả nghiên cứu đề tài này với việc tìm hiểu những khó khăn, bất cập mắc phải trong quá trình quản lý của nhà nước và đề xuất về phương hướng và c
Trang 1
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.s Võ Duy Nam Tô Tuấn An
Mssv : 5075242
Lớp: Luật Hành Chính, khóa 33
Cần Thơ, Tháng 11- 2010
Trang 2MỤC LỤC
1.Tính cấp thiết của đề tài .1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài .1
3 Mục đích nghiên cứu đề tài .2
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài .2
5 Phương pháp nghiên cứu .3
6 Bố cục của luận văn .3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Khái niệm .4
1.1.1 Thực phẩm là .4
1.1.2 An toàn thực phẩm .5
1.2 Một số khái niệm liên quan an toàn vệ sinh thực phẩm 5
1.2.1 Các loại thực phẩm .5
1.2.1.1 Thực phẩm bao gói sẵn .5
1.2.1.2 Thực phẩm biến đổi gen .6
1.2.1.3 Thực phẩm đã qua chiếu xạ .6
1.2.1.4 Thực phẩm có nguy cơ cao .7
1.2.1.5 Thức ăn đường phố 7
1.2.2 Các khái niệm liên quan đến thực phẩm trang 8
1.2.2.1 Ngộ độc thực phẩm .8
1.2.2.2 Sản xuất, kinh doanh thực phẩm .9
1.2.2.3 Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm .10
1.2.2.4 Sự cố về an toàn thực phẩm .11
1.2.2.5 Phụ gia thực phẩm .11
1.2.2.6 Vi chất dinh dưỡng và vitamin .12
1.2.3 Một số khái niệm mới chỉ được quy định trong Luật an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010 12
1.2.3.1 Thực phẩm chức năng .12
1.2.3.2 Kiểm nghiêm thực phẩm .13
Trang 31.2.3.3 Thời hạn sử dụng thực phẩm 13
1.3 Vai trò, ý nghĩa của an toàn vệ sinh thực phẩm .13
1.3.1 Vai trò của an toàn vệ sinh thực phẩm .13
1.3.2 Ý nghĩa của việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng 14
1.4 Vai trò, trách nhiệm của người tiêu dùng .15
1.4.1.Vai trò người tiêu dùng .15
1.4.2 Nhiệm vụ người tiêu dùng 16
1.4.3 Vai trò của Nhà nước ……… …… 17
1.5 Một số hành vi bị cấm và sẽ bị cấm về an toàn vệ sinh thực phẩm 17
1.5.1 Các hành vi bị cấm .17
1.5.1.1 Trong sản xuất - kinh doanh thực phẩm .17
1.5.1.2 Trong chế biến thực phẩm 18
1.5.1.3 Trong vận chuyển thực phẩm .19
1.5.1.4 Nhóm nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm .19
1.5.1.5 Nhóm quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm .20
1.5.2 Các hành vi sẽ bị cấm .21
Chương 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Cơ sở pháp lý 2.1 Tình hình xây dựng pháp luật, công tác chỉ đạo điều hành và chính sách của nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm .23
2.1.1 Tình hình xây dựng pháp luật .23
2.1.2.1 Công tác ban hành Luật .23
2.1.2.2 Các văn Bản khác .24
2.1.2.3 Một số văn bản quan trọng của Chính Phủ .25
2.1.2 Công tác ban hành và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật .26
2.1.2.1 Công tác ban hành tiêu chuẩn .26
2.1.2.2 Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật .27
2.1.2.3 Công tác chỉ đạo điều hành .28
2.2 Tổ chức bộ máy quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm .29
Trang 42.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý .29
2.2.2 Tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp trung Ương .31
2.2.2.1 Bộ Y Tế và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm .31
2.2.2.2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn .31
2.2.2.3 Bộ công thương .32
2.2.2.4 Bộ Khoa học và Công nghệ .33
2.2.2.5 Bộ Tài nguyên và Môi trường .33
2.2.3 Tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp địa phương .33
2.2.3.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh .34
2.2.3.2 Sở Y tế 34
2.2.3.3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn .36
2.2.3.4 Các Sở có liên quan .36
* Sở Công thương .36
* Sở Khoa học và Công nghệ .36
* Sở Tài nguyên và Môi trường .36
2.2.3.5 Cấp Huyện .37
2.2.3.6 Cấp xã .37
2.2.4 Nguồn nhân lực tham gia quản lý và hệ thống trang thiết bị kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm .37
2.2.4.1 Nguồn nhân lực tham gia quản lý .37
2.2.4.2 Thiết lập hệ thống và trang thiết bị kiểm nghiệm .38
2.3 Pháp luật về Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm .39
2.3.1 Thanh tra, kiểm tra .39
2.3.1.1 Thanh tra cục .39
2.3.1.2 Thanh tra Chi cục .40
2.3.2 Xử lý vi phạm .41
2.3.2.1 Vi phạm Hành chính .41
2.3.2.2 Vi phạm Pháp luật hình sự .44
Mục 2: Thực tiễn công tác quản lý 2.4 Tình hình chung và công tác tổ chức quản lý .45
Trang 52.4.1 Đặc điểm tình hình 42
2.4.2 Bộ máy tổ chức và biên chế .45
2.4.3 Chức năng nhiệm vụ .47
2.4.4 Công tác chỉ đạo và tổ chức hoạt động tuyên truyền của tỉnh Vĩnh Long 47 2.4.4.1 Công tác chỉ đạo .47
2.4.4.2 Tuyên truyền giáo dục .48
* Hoạt động tuyên truyền giáo dục năm 2009 .49
* Hoạt động tuyên truyền giáo dục 9 tháng đầu năm 2010 .51
2.5 Công tác kiểm tra , thanh tra và xử lý vi phạm .52
2.5.1 công tác thanh tra .52
2.5.1.1 Tổng số đoàn thanh tra, kiểm tra .52
2.5.1.2 Kết quả thanh tra, kiểm tra .53
2.5.2 Xử lý các cơ sở vi phạm .54
2.5.2.1 Xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2009 .54
2.5.2.2 Xử lý vi phạm về an toàn vệ sinh thực phẩm trong tám tháng đầu năm 2010 56 2.6 Thực trạng ngộ độc thực phẩm .57
2.6.1 Trong năm 2009 .57
2.6.2 Tình hình ngộ độc thực phẩm trong 9 tháng đầu năm 2010 .58
2.7 Kinh phí, hoạt động chứng nhận và công bố tiêu chuẩn quảng cáo, Công tác xã hội hóa quản lý và bảo đảm chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm .59
2.7.1 Kinh phí hoạt động của tỉnh .59
2.7.2 Hoạt động chứng nhận và công bố tiêu chuẩn quảng cáo .60
2.7.3 Xã hội hóa công tác quản lý và bảo đảm chất lượng VSATTP .61
Kết quả .62
CHƯƠNG 3: NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHẢI HOÀN THIỆN 3.2 Thuận lợi và Khó khăn .…64
3.2.1 Thuận lợi .64
3.2.2 Khó khăn, hạn chế .64
Trang 6* Khó khăn chung .64
* Khó khăn của tỉnh .65
3.3 Nguyên nhân .66
3.3.1 Nguyên nhân chủ quan .66
3.3.2 Nguyên nhân khách quan .67
3.4 Giải pháp và kiến nghị .68
3.4.1 Giải pháp .68
3.4.2 Kiến nghị .70
* Về mặt pháp luật .70
* Về mặt tổ chức quản lý .71
* Tuyên truyền giáo dục ý thức của công dân .72
* Phương hướng cuối năm 2010 của tỉnh Vĩnh Long 73
Kết Luận 75
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
…
…
…
…
…
…
…
…
……
…
…
…
…
…
…
…
…
…
……
…
……
……
…
…
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN …
…
Trang 8
……
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
…
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo chúng ta được biết khi xã hội ngày càng phát triển dân số càng tăng như
hiện nay thì tất cả mọi nhu cầu của người dân đều tăng cao như là ăn, mặc, ở, sinh hoạt, vui chơi, giải trí, và nhiều nhu cầu khác, đều cần phải được đáp ứng một cách đầy đủ Nhưng trong các nhu cầu đó vấn đề ăn uống là một vấn đề được đặt lên hàng đầu trong các vấn đề cần thiết, cấp bách nói trên và hiện nay ở Việt nam vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm được xem là một trong các mục tiêu quốc gia Và làm thế nào
để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu ăn uống của con người đã là một cái khó, nhưng ngoài việc đáp ứng đầy đủ về số lượng cho nhu cầu sử dụng thì việc đảm bảo về chất lượng của thực phẩm để đạt chất lượng và an toàn cho sức khỏe của người tiêu dùng lại là một việc không dễ Theo thống kê từ báo cáo của Ủy ban thưởng vụ Quốc hội
thì “trong giai đoạn 2004 -2008 nước ta xảy ra 2.160 vụ ngộ độc thực phẩm, trung
bình có 432 vụ/năm, riêng năm 2008 có 468 vụ với 8.656 người mắc, số ngừoi chết là
89 người 1 ” Trong năm 2009 có 152 vụ ngộ độc với hơn 5.200 người mắc trong đó có
35 người bị tử vong 2 Do tình hình ngộ độc thực phẩm trở nên trầm trọng và ít được
quan tâm,mặt khác trong quá trình hội nhập kinh tế thì lượng hàng hóa lưu thông
ngày càng nhiều và đa dạng khó có thể kiểm soát hết, chính vì vậy mà hiện nay chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay của toàn xã hội vì nó gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của tất cả mọi người, sự tồn tại của thế hệ đương đại và sự phát triển của thế hệ tương lai, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội loài người và nó cần sớm được giải quyết một cách nhanh chóng để đảm bảo tính mạng sức khỏe cho con người
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm đã có Tác giả Nguyễn Thúy Vân sinh viên khóa 32 khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã nghiên cứu đề tài về “ Quản
lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm- Lấy thực tiễn tỉnh Kiên Giang Nhưng tác giả chủ yếu chỉ đi sâu vào vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn
vệ sinh thực phẩm chứ không chuyên sâu vào quản lý nhà nước nên vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý, chính vì lý do đó mà tác giả muốn nghiên cứu bổ sung
1 Báo cáo số 225/BC-UBTVQH12 “ Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật
về quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm”
2 http://gaovnf1.vn/online/index.php/Gao-an-toan/nm-2009-35-ngi-t-vong-do-ng-c-thc-phm.html truy cập
Trang 10để hoàn thiện những thiếu xót về mặt quản lý của nhà nước, nhằm đóng góp vào phương thức quản lý của cả nước nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng.
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm hiện nay mặc dù đã được quan tâm đến, nhưng sự quan tâm đó vẫn chưa được thể hiện một cách sâu sắc và thực hiện triệt để
Và trong việc quản lý vấn đề này hiện nay ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập chưa được tháo gỡ từ khâu tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước đến thực tiễn quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, làm cho việc quản lý không đạt được hiệu quả như mong muốn Và sức khỏe của người dân không những không được đảm bảo mà ngày càng trong nguy cơ bị ảnh hưởng xấu đi Căn cứ vào tình hình thực tiễn đó mà tác giả nghiên cứu đề tài này với việc tìm hiểu những khó khăn, bất cập mắc phải trong quá trình quản lý của nhà nước và đề xuất về phương hướng và cách thức giải quyết, nhằm mục đích đóng góp phần nào vào phương hướng xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản lý và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về an toàn vệ sinh thực phẩm có thể giải quyết khó khăn trong quá trình quản lý của các cơ quan chức năng để đảm bảo sức khỏe cho người dân một cách tốt nhất
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu do thời gian có hạn nên tác giả sẽ giới hạn đề tài bằng cách xoay quanh một số vấn đề cốt lõi của đề tài Đưa ra một số vấn đề lý luận chung về khái niệm, đặc điểm, tính thời sự của việc vệ sinh an toàn thực phẩm trong tình hình hiện nay, nêu ra và phân tích một số quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề trên Tập trung nghiên cứu về công tác thực thi việc quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm của các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt chú trọng công tác quản lý của cơ quan chức năng trực tiếp và gián tiếp quản lý và việc ý thức của người dân về
an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Mặt khác phân tích , đánh giá một các loại hình mua bán thức ăn phổ biến hiện nay trên địa bàn cần được quan tâm, trên cơ sở đó tác giả sẽ chỉ ra một số vướng mắt khó khăn về thực tiển của việc áp dụng các quy định nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay, và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật cũng như áp dụng thực tiễn về cách thức áp dụng để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe cho người dân một cách tốt hơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, trong đó tác giả đặt biệt coi trọng phương pháp luận
Trang 11của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Đồng thời sử dụng phổ biến các phân tích luật viết, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp biện chứng, kết hợp thực tiễn, nhằm để phân tích, lý giải, chứng minh các vấn đề được nêu ra, trong đó có tổng hợp các bài viết, bài báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu và sử dụng một số tài liệu có liên quan để thực hiện bài viết.
6 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần danh mục từ viết tắt, mục lục, tài liệu tham khảo, thì bố cục nội dung chính của Luận văn gồm có 3 chương và phần kết luận:
Chương1: Cơ sở lý luận chung về an toàn vệ sinh thực phẩm
Chương 2: Cơ sở pháp lý và thực tiễn về an toàn vệ sinh thực phẩm
Chương 3: Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp hoàn thiện
Kết Luận
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
1.1 Khái niệm
1.1.1 Thực phẩm là
Theo chúng ta được biết thì thực phẩm là hai từ ngữ được sử dụng từ rất lâu, và
nó được hiểu là những gì có thể ăn hay uống được và mang lại chất dinh dưỡng giúp con người phát triển, khái niệm đầu tiên về thực phẩm đã xuất hiện năm 1999 là:
“Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ
chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm3.”
Khái niệm này đã khái quát được thực phẩm là gì trong giai đoạn này, nhưng về sau nó không còn phù hợp nữa vì sự bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm là bao gồm cả thuốc dùng để chữa bệnh mà đây thì không được xem là thực phẩm, mặc dù vậy nhưng nó đã phần nào khẳng định bước đầu hình thành nền pháp lý về ATTP ở Việt Nam Và để loại bỏ những sai xót trên nó đã được thay thế bởi một khái niệm tương đối hoàn chỉnh hơn trong một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và ở đây thực phẩm được định nghĩa là :
“Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc
đã qua chế biến, bảo quản4.”
Và đây là một khái niệm khá đầy đủ được sử dụng trong khoảng thời gian qua, nhưng do xã hội ngày càng phát triển thực phẩm cũng trở nên đa dạng và phong phú nên nó vẫn chưa được thể hiện một cách đầy đủ nhất, mà nó sẽ được thay thế bởi một khái niệm đầy đủ và có giá trị pháp lý cao hơn trong thời gian tới đây là Luật ATVSTP trong đó:
“Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã
qua sơ chế, chế biến, bảo quản Khái niệm thực phẩm này không bao gồm thuốc dùng cho người, các chất gây nghiện và thuốc lá5”
Qua khái niệm trên đã khái quát một cách đầy đủ và khắc phục những hạn chế, thiếu xót mà các văn bản trước đó mắc phải Từ đây ta có thể nhận thấy rằng vấn đề thực phẩm ngày càng trở nên quan trọng và là một vấn đề cấp thiết hiện nay, nó cần
3 Trích trong Quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm ban hành kèm theo Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
4 Trích trong “Pháp lệnh số 12” của Ủy Ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2003.
5 Trích Luật an toàn vệ sinh thực phẩm Luật số: 55/2010/QH12 Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2010.
Trang 13phải được giải quyết một cách tốt hơn.
1.1.2 An toàn thực phẩm
Trước tình hình sức khỏe người dân đang bị đe dọa bởi việc thực phẩm mất vệ sinh, kém chất lượng ngày càng tràn lan làm ảnh hưởng đến sức khỏe hiện nay thì việc giữ gìn ATVSTP là một đều hết sức cần thiết, vì vậy nên đảm bảo an toàn thực phẩm
“An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và
tính mạng con người”
An toàn thực phẩm được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người nói chung An toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo quản thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý , hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe của con người
Nói tóm lại An toàn thực phẩm là làm sao cho thực phẩm khi sử dụng không còn chứa mầm bệnh và chất độc hại cho cơ thể người sử dụng Nhưng để làm được chuyện đó thì thật không đơn giản chút nào, vì nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho thực phẩm không được đảm bảo vấn đề đó Có thể là do trong quá trình chế biến không loại bỏ được hết tác nhân gây hại, và phần lớn là mua thực phẩm không đảm bảo độ an toàn thực phẩm, vì do nhu cầu sử dụng thực phẩm hằng ngày của con người là rất lớn nên việc đáp ứng đủ đã là một vấn đề, còn chuyện giữ cho chúng được vệ sinh an to thì lại là một vấn đề khác, mặc khác do lợi nhuận mà người sản xuất sẵn sàng thu hoạch khi còn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hay người kinh doanh sử dụng nhiều chất bảo quản gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng Vì vậy để người tiêu dùng lựa chọn được thực phẩm an toàn là rất khó, và đảm bảo tất cả mọi người đều được sử dụng thực phẩm an toàn lại càng khó hơn Chính vì lẽ đó mà việc đảm bảo an toàn là hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay, để bảo vệ sức khỏe được tốt hơn
1.2 Một số khái niệm liên quan an toàn vệ sinh thực phẩm
1.2.1 Các loại thực phẩm
1.2.1.1 Thực phẩm bao gói sẵn
Là “thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay” Ngày nay với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của xã hội thì ngoài nhu cầu sử dụng thức ăn nhanh đường phố ra thì thực phẩm bao gói sẵn cũng là một trong những loại thực phẩm phù hợp với
Trang 14những người có công việc bận rộn hay ít có quỹ thời gian rảnh, có rất nhiều loại thực phẩm bao gói sẵn, có thứ có thể ăn ngay được như các loại bánh, , có loại phải qua chế biến nhưng phần lớn nếu sử dụng chúng thì tiết kiệm được thời gian rất nhiều mà vẫn đảm bảo được chất dinh dưỡng Ngày nay thực phẩm bao gói sẵn có rất nhiều dạng và chủng loại của nhiều công ty, cơ sở sản xuất khác nhau cho người sử dụng lựa chọn, nhưng ngoài mặt thuận tiện và lợi ích thì nó cũng không kém phần nguy hại cho sức khỏe người sử dụng Vì vậy mặc dầu việc sử dụng thực phẩm bao gói sẵn là một nhu cầu không thể thiếu nhưng người tiêu dùng nên cận thận với loại hàng hóa này để bảo vệ sức khỏe.
1.2.1.2 Thực phẩm biến đổi gen
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ y tế năm 1999 thì được gọi là thực phẩm sử dụng công nghệ gen “là những thực phẩm được chế biến từ những thực phẩm nguyên liệu đã bị biến đổi do áp dụng công nghệ gen và bao gồm các chất phụ gia thực phẩm và chất hổ trợ chế biến thực phẩm”
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH thì gọi là thực phẩm có gen bị biến
đổi “là thực phẩm có nguồn gốc từ sinh vật có gen đã bị biến đổi do sử dụng công
và ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm”
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH không gọi là thực phẩm chiếu
xạ mà gọi là thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ “là thực phẩm
được chiếu xạ bằng các nguồn có hoạt tính phóng xạ để bảo quản và ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm”
Theo luật ATVSTP năm 2010 thì gọi là thực phẩm đã qua chiếu xạ “là thực đã
được chiếu xạ bằng các nguồn phóng xạ để xử lý và ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm” Mặc dù tên gọi thực phẩm liên quan đến vấn đề chiếu xạ có khác nhau nhưng cuối cùng thì việc sử dụng phương pháp chiếu xạ cũng là nhằm mục đích ngăn ngừa
sự biến chất của thực phẩm làm cho thực phẩm giữ được giá trị dinh dưỡng của nó
1.2.1.4 Thực phẩm có nguy cơ cao
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ y tế năm 1999 không đề
Trang 15cập đến vấn đề này nên nó trở thành một điểm mới trong Pháp lệnh số 12 năm 2003
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của UBTVQH thì “Thực phẩm có nguy cơ cao
là thực phẩm có nhiều khả năng bị các tác nhân sinh học, hóa học, lý học xâm nhập gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dung” Và dường như loại thực phẩm này đã được giải quyết tốt bằng một phương pháp khác nên nó cũng không được nhắc đến trong Luật An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010
1.2.1.5 Thức ăn đường phố
Xã hội ngày càng phát triển và từ đó nhu cầu ăn uống cũng tăng theo, mặc khác
là do nhu cầu tạo cần phải tạo thêm thu nhập của những người có hoàn cảnh khó khăn, từ đó mà thức ăn đường phố xuất hiện và ngày một phát triển như hiện nay Và chính sự phát triển ngày càng tăng đó nên nó cũng trở thành một vấn đề cần được sự quan tâm và quản lý của nhà nước Để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh kịp thời vấn
đề này Bộ y tế đã đưa ra Quyết định 4196 trong đó thức ăn đường phố là:
“Thực phẩm đường phố là những thức ăn, đồ uống, kể cả rau, hoa quả tươi có
thể ăn ngay được bày bán trên đường phố hoặc nơi công cộng”
Từ đây cho thấy được thức ăn đường phố là một loại thức ăn có rất nhiều ưu điểm như là người ta có thể sử dụng ngay, mặc dù vậy nhưng nó cũng có mặc tiêu cực cần phải giải quyết chính từ việc bày bán trên đường phố đó có thể làm cho nó không đảm bảo vệ sinh Nhưng khi Pháp lệnh số 12 năm 2003 của ủy Ban Thường vụ Quốc hội ra đời thì dường như vấn đề này lại không được đề cập đến mà chỉ quy định chung để đảm an toàn vệ sinh thực phẩm Đến năm tháng 6 năm 2010 khi Luật an toàn vệ sinh thực phẩm được ban hành thì thức ăn đường phố được định nghĩa nhu sau:
“Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong
thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự”
Có thể chia thức ăn đường phố làm 3 loại: bán trong cửa hàng cố định, bán trên hè phố và bán rong Hiện nay, cả 3 loại hình này đang phát triển mạnh nhất là các cửa hàng ăn uống cố định mọc lên ở khắp nơi, việc phát triển các loại hình thức ăn đường phố trên là một nhu cầu tất yếu của cuộc sống, của xã hội, với việc đem lại nhiều thuận tiện cho người tiêu dùng
1.2.2 Các khái niệm liên quan đến thực phẩm
1.2.2.1 Ngộ độc thực phẩm
Trước đây mặc dù ngộ độc thực phẩm đã từng diễn ra trên thực tế, nhưng vẫn
Trang 16chưa có một văn bản pháp lý nào điều chỉnh vấn đề này, khi Pháp Lệnh số 12 năm
2003 ra đời thì ngộ độc thực phẩm được hiểu là:
"Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý xảy ra do ăn, uống thực phẩm có
chứa chất độc." nhưng hiện nay khái niệm này đã được Luật an toàn vệ sinh thực phẩm thể hiện một cách chính xác hơn là: “Ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý, xảy ra đột ngột, do hấp thụ thực phẩm bị ô nhiễm hoặc có chứa chất độc6”
Ngộ độc thực phẩm là bệnh mắc phải sau khi ăn những thức ăn không còn thích hợp, do Thức ăn nhiễm vi sinh vật hay độc tố của vi sinh vật, do virus, nấm mốc độc, thức ăn bị biến chất, ôi thiu, hoặc trong bản thân thực phẩm có chất độc : cóc, cá nóc, nấm độc, khoai tây mọc mầm Thức ăn nhiễm các chất hóa học: kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, các loại thuốc thú y (thuốc kích thích tăng trưởng, tăng trọng ), các loại hóa chất bảo quản thực phẩm, phẩm màu độc, hoặc thức ăn chế biến sẵn cũng có thể gây ngộ độc khi không được bảo quản tốt Sau khi chế biến không che đậy, vi khuẩn xâm nhập từ không khí, bụi, ruồi và sinh sôi rất nhanh, đặc biệt là các món ăn giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trứng, sữa có nguy cơ gây ngộ độc rất cao, hoặc do quá trình chế biến thức ăn không kỹ và không đúng nên gây ngộ độc NĐTP
là một vấn đề nghiêm trọng đến sức khỏe nó có thể gây tử vong cho con người Hiện nay tình trạng NĐTP ở nước ta rất đáng báo động, và càng nguy hại hơn là trong tháng an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng vẫn có nhiều người bị ngộ độc thực phẩm Tình hình chung cho thấy khả năng giám sát về an toàn vệ sinh thực phẩm của các cơ quan chức năng vẫn còn nhiều thiếu xót và chưa quản lý chặt nỗi vấn đề này Cụ thể
có rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm không tìm ra nguyên nhân
Vì vậy để tránh bị ngộ độc thực phẩm chúng ta cần phải thực hiện đúng các nguyên tắc sau để đảm bảo ATVSTP Đó là: Chọn thực phẩm tươi, sạch; Ăn chín, uống sôi, ngâm kỹ và rửa sạch rau quả khi ăn sống; Ăn ngay thức ăn khi nấu vừa xong; Che đậy, bảo quản cẩn thận thức ăn đã nấu chín; Đun kỹ thức ăn trước khi dùng lại; Thức ăn sống, chín phải để riêng, không dùng lẫn dụng cụ chế biến; Rửa tay trước khi chế biến và trước khi ăn; Giữ dụng cụ và nơi chế biến luôn khô sạch; Không ăn thức ăn ôi thiu; Chế biến thức ăn bằng nước sạch7
1.2.2.2 Sản xuất, kinh doanh thực phẩm
“ Sản xuất thực phẩm, kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số
hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến,
6 Khoản 11 Điều 2 Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm.
7 http://www.vnchannel.net/news/suc-khoe/200710/lam-gi-de-phong-ngo-doc-thuc-pham.31467.html.
Trang 17bao gói, bảo quản, vận chuyển, buôn bán thực phẩm.8”
Sản xuất thực phẩm là một quá trình bao gồm nhiều công đoạn như phải trồng
trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt để có được nguồn thực phẩm ban đầu Từ nguồn thực phẩm ban đầu này đưa qua quá trình sơ chế, chế biến mới có thể sử dụng được còn đối với những nơi không trực tiếp sản xuất ra thực phẩm nên phải sử dụng thực phẩm từ nơi sản xuất được đem đến thì cần phải có thêm một giai đoạn nữa là vận chuyển và thông qua buôn bán mới đến được người sử dụng Hiện nay Luật an toàn
vệ sinh thực phẩm đã được ban hành với nhiều tiến bộ hơn rất nhiều trong đó việc định nghĩa về sản xuất thực phẩm và kinh doanh thực phẩm được cụ thể và tách riêng biệt nhau
“Sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra sản phẩm thực phẩm”
“Kinh doanh thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động
giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm”
Nói cho cùng thì việc sản xuất thực phẩm là việc tạo ra nguồn thực phẩm cho con người sử dụng bằng cách thực hiện các hoạt động trên nhưng ở đây việc sản xuất không bao gồm khâu vận chuyển mà nó chỉ dừng lại ở giai đoạn thực phẩm đã được tạo ra Tóm lại sản xuất thực phẩm là một hoạt động duy nhất để tạo ra nguồn thực phẩm cho con người sử dụng vì vậy để nuôi sống con người và đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội vì vậy mỗi con người trong xã hội đều phải tham gia vào hoạt động này dù gián tiếp hay trực tiếp dưới sự quản lý của nhà nước để góp phần thức đẩy xã hội phát triển và sự phồn vinh của đất nước Còn kinh doanh thực phẩm là quá trình chuyển tiếp của sản xuất thực phẩm và phải qua nhiều giai đoạn nữa như là: bảo quản và vận chuyển đến nơi cần bán để bán, hay nói khác hơn đây là một việc làm tạo
ra lợi nhuận từ thực phẩm
1.2.2.3 Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm
Như chúng ta được biết điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm là các tiêu chuẩn
về thực phẩm và các tiêu chuẩn đó là “ những văn bản kỹ thuật về thực phẩm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành9”, những tiêu chuẩn này là cơ sở để người tạo
ra thực phẩm phải làm theo để đảm bảo cho thực phẩm được đảm bảo vệ sinh Khi
8 Trích Pháp lệnh số 12/2003/PL-UBTVQH11ngày 26 tháng 7 năm 2003 về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Trang 18Luật An toàn vệ sinh thực phẩm ra đời tiêu chuẩn này đã thay đổi khá nhiều, “ Điều
kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định
khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng thực phẩm10”
Theo đó ta có thể hiểu như sau, điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là ngoài những điều kiện mà người tạo ra thực phẩm phải đáp ứng khi làm ra thực phẩm thì còn có những điều kiện đối với thực phẩm hay là các điều kiện về kỹ thuật, môi trường trong quá trình tạo ra thực phẩm và còn có cả điều kiện về vận chuyển, kinh doanh cũng phải được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ Ví dụ: Việc kinh doanh thức ăn trong các nhà hàng khách sạn phải tuân theo các điều kiện tối thiểu về mặt không gian như : Phải xa cống rãnh, bãi rác và các nguồn gây ô nhiễm; vệ sinh dụng cụ chứa đựng trước khi sử dụng; có phương tiện che chắn nắng, mưa, bụi bẩn và côn trùng…Hay là trong sản xuất chế biến thì nghiêm cấm các loại hóa chất bị cấm sử dụng hay ngoài danh mục được phép sử dụng; sử dụng phương tiện bị ô nhiễm không đảm bảo
vệ sinh, phương tiện đã vận chuyển các chất độc hại để vận chuyển thực phẩm… tất
cả những điều kiện này là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để đảm bảo cho thực phẩm được vệ sinh an toàn, sạch sẽ và bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng
1.2.2.4 Sự cố về an toàn thực phẩm
“Sự cố về an toàn thực phẩm là tình huống ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng con người xảy ra do ngộ độc thực phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm11”
Điều đó có nghĩa là khi con người sử dụng phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh sẽ xảy ra hai trường hợp Một là gây NĐTP hoặc mầm bệnh sẽ từ thức ăn xâm nhập vào cơ thể người và gây bệnh, hai là những chất độc hại sẽ tích tụ trong cơ thể người từ lượng nhỏ đến lớn và gây ra các bệnh nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng Hiện nay các vụ ngộ độc thực phẩm hay các bệnh truyền qua đường ăn uống là tình trạng rất phổ biến, nó diễn ra hằng ngày, hàng giờ và là một mối nguy hại cho sức khỏe người dân và sự phát triển của cộng đồng
Thực tế có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này, theo Bộ Y tế thống kê thì các nguyên nhân sau là chủ yếu: Thứ nhất là do ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn (chiếm 33-49%) Thứ hai là do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất (chiếm từ 11-27%)
10 Trích khoản 6 điều 2 Luật an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010.
Trang 19Thứ ba là bị đầu độc qua: nước, thức ăn, không khí chiếm tỷ lệ rất thấp Thứ tư là các loại thực phẩm vốn hàm chứa các chất độc tự nhiên (chiếm 6 - 37,5%) sẵn có nhiều trong sắn, măng; trong khoai tây đã mọc mầm; hay nấm mốc; thức ăn ôi thiu; Nấm độc, cá nóc, thịt cóc Ngoài ra còn có rất nhiều loại khác, chúng sẽ gây hại cho
cơ thể nếu người sử dụng không biết mà dùng phải chúng, để tránh khỏi bị nhiễm độc tốt nhất nên lựa chọn các loại thức ăn còn tươi sống và phải lưu ý kỹ đến khâu chế biến và bảo quản để tránh xảy ra các sự cố về ATTP
1.2.2.5 Phụ gia thực phẩm
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ y tế năm 1999 không có
đề cập đến vấn đề này
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội “ Phụ gia
thực phẩm là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thành phần
thực phẩm trong qua trình chế biến , xử lý, bao gói, vận chuyển thực phẩm nhằm giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính nào đó của thực phẩm”
Theo luật An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010 hiệu lực ngày 1.7.2011 thì “
Phụ gia thực phẩm là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng, được chủ định đưa
vào thành phần của thực phẩm trong quá trình sản xuất nhằm giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính của sản phẩm thực phẩm” Nói tóm lại phụ gia thực phẩm là được thêm vào thực phẩm nhằm giữ nguyên hoặc cải thiện đặc tính ban đầu của sản phẩm thực phẩm
1.2.2.6 Vi chất dinh dưỡng và vitamin
Theo quy định ban hành kèm theo Quyết định của Bộ y tế năm 1999 thì vi chất dinh dưỡng và vitamin lại không được đề cập đến
Theo Pháp Lệnh số 12 năm 2003 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội thì vi chất
dinh dưỡng và vitamin “ là vitamin, chất khoáng có hàm lượng thấp cần thiết cho sự
tăng trưởng, phát triển và duy trì sự sống của cơ thể người” Đây là một trong những loại chất quan trọng mà con người khi ăn thức ăn cũng chỉ để hấp thụ, lấy nó cho cơ thể
Theo luật An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010 hiệu lực ngày 1.7.2011 thì được gọi là Thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng “ là thực phẩm được bổ sung thêm các vitamin, khoáng chất hoặc các thành phần được phép khác nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡng của thực phẩm đó” Với cách gọi này người ta sẽ phân biệt được thế nào là vi chất dinh dưỡng và thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng, vì thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng là khi người tạo ra thực phẩm này hoặc đã thêm vitamin hoặc chất
Trang 20dinh dưỡng vào thực phẩm một lượng cần thiết nhất định, để khi sử dụng cơ thể sẽ hấp thụ nó.
1.2.3 Một số khái niệm mới chỉ được quy định trong Luật an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010
1.2.3.1 Thực phẩm chức năng:
Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hổ trợ một hoặc nhiều chức năng
của cơ thể người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng và giảm nguy
cơ mắc bệnh, bao gồm: thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học
Thực phẩm tươi sống: là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thủy hải sản, rau, củ, hoa quả tươi và các thực phẩm chưa qua chế biến khác, trừ thực phẩm đông lạnh
Lô sản phẩm thực phẩm: là các sản phẩm có cùng tên, nhãn hiệu, cơ sở sản xuất, hạn sử dụng hoặc ngày sản xuất
1.2.3.2 Kiểm nghiêm thực phẩm:
“Là việc thực hiện một hoặc các hoạt động thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp
với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn tương ứng đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bổ sung vào thực phẩm, bao gói, dụng cụ, vật liệu chứa đựng thực phẩm”
1.2.3.3 Thời hạn sử dụng thực phẩm
Là thời hạn mà thực phẩm vẫn giữ nguyên được giá trị dinh dưỡng và bảo đảm
an toàn trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãn theo hướng dẫn của nhà sản xuất Tùy theo loại sản phẩm thực phẩm, thời hạn sử dụng an toàn bao gồm: “ ngày hết hạn sử dụng”, “ thờ hạn sử dụng cuối cùng”, “ thời hạn sử dụng tốt nhất trước ngày” Sao đó sản phẩm không được đưa vào lưu thông trên thị trường” Với việc quy định thời hạn sử dụng và ghi thời hạn sử dụng đối với sản phẩm thực phẩm là một điều hết sức cần thiết, vì khi thực phẩm đã hết thời gian sử dụng sẽ không đảm bảo an toàn cho người sử dụng và gây nguy hại đến sức khỏe tính mạng của người tiêu dùng
1.3 Vai trò, ý nghĩa của an toàn vệ sinh thực phẩm
1.3.1 Vai trò của an toàn vệ sinh thực phẩm
Mọi người chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của việc sử dụng thực phẩm,
đó là nhu cầu hàng ngày, rất cấp bách và phải đáp ứng Vì ăn uống sẽ mang lại chất dinh dưỡng nuôi cơ thể lớn và cung cấp năng lượng cho chúng ta hoạt động, vì vậy nhu cầu sử dụng thực phẩm là rất cần thiết Ngoài việc cung cấp đầy đủ thức ăn cho
Trang 21nhu cầu sử dụng hằng ngày thì việc giữ VSATTP cũng là một việc cần thiết không kém Nhưng nếu chúng ta sử dụng thức ăn không đảm bảo vệ sinh thì nguồn nguy hại
đó sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta, và bệnh có thể vào từ "miệng" Thức
ǎn sẽ không còn giá trị cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể nếu không bảo đảm vệ sinh an toàn Khi ǎn phải thực phẩm bị ô nhiễm vi khuẩn hoặc các chất độc hại với lượng quá cao, sẽ gây ngộ độc thực phẩm cấp tính và nếu nặng có thể dẫn đến tử vong Thực phẩm kém vệ sinh an toàn không chỉ gây nên ngộ độc cấp tính một cách ồ
ạt dễ nhận thấy mà còn phải kể đến các bệnh mãn tính gây suy kiệt sức khỏe do nhiễm và tích lũy các chất độc hại như chì, thủy ngân, thuốc bảo vệ động thực vật, phẩm màu độc với lượng nhỏ nhưng kéo dài thời gian sử dụng, đặc biệt là các độc tố như vi nấm trong ngô, đậu, lạc mốc có thể gây ung thư gan Nói tóm lại an toàn vệ sinh thực phẩm nó làm ảnh hưởng đến sức khỏe và làm thúc đẩy hay kiềm hảm sự phát triển của cộng đồng người, nếu như sức khỏe con người không được đảm bảo thì ngoài việc phải chi một khoản tiền để khắc phục hậu quả do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra, thì phải sử một quỹ thời gian để khôi phục lại sức khỏe, vì vậy
sẽ làm cho các giai đoạn của quá trình phát triển bị đình trệ Nói cho cùng việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay, muốn đảm bảo được sự sống và phát triển mạnh khỏe thì phải đảm bảo được an toàn
vệ sinh thực phẩm cho người sử dụng, có thể nói sức khỏe đóng vai trò quan trọng đối với con người bao nhiêu thì an toàn vệ sinh thực phẩm đóng vai trò bấy nhiêu đối với việc đảm bảo sức khỏe, vì chỉ có sử dụng thực phẩm sạch thì mới có được sức khỏe tốt để thực hiện hoài bảo ước mơ trong cuộc sống
1.3.2 Ý nghĩa của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
Thực phẩm là một loại thức ăn mà con người phải sử dụng hằng ngày để có thể duy trì sự sống, làm việc và phát triển Việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe con người, nâng cao chất lượng cuộc sống hiện tại cũng như đối với phát triển nòi giống; chỉ khi con người có thể tồn tại và phát triển một cách mạnh khỏe, thì mới có thể bảo đảm cho sự phát triển của giống nòi sau này được bền vững và tốt hơn ATVSTP không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe chúng ta mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, chất lượng lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; tác động trực tiếp đến nguồn lực và môi trường đầu tư phát triển kinh tế - văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo của cả một thế hệ tương lai nếu như không đảm bảo tốt ATVSTP Chính vì vậy nếu thực phẩm sử
Trang 22dụng hằng ngày đều được đảm bảo thì sẽ giúp cho người sử dụng nó mạnh khỏe, phát triển tốt về năng lực, trí lực tạo ra một nguồn nguồn lao động dồi dào cho đất nước cho xã hội Và chính nguồn lực này sẽ lao động và tạo ra của cải cho xã hội, giúp cho nền kinh tế của quốc gia phát triển, góp phần ổn định kinh tế thế giới Tạo cho con người một cuộc sống ấm no, đầy đủ thoát được đói nghèo, vương tới cuộc sống tốt đẹp Đồng thời nó cũng tạo ra được một nguồn tài chính dồi dào có thể đầu tư để duy trì và phát triển văn hóa, giáo dục, an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường một cách tốt hơn Và cũng chỉ có sự phát triển về năng lực trí lực đó mới cung cấp một tiềm lực quân sự mạnh mẽ, tinh nhuệ có thể đảm bảo được an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia và sự phát triển bền vững của của quốc gia đó Chính vì lẽ đó
mà việc đảm bảo ATVSTP có một ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội và an ninh quốc phòng, nói tóm lại muốn phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng lợi ích quốc gia dân tộc thì phải phát triển nguồn lực con người, và muốn phát triển nguồn lực con người thì phải đảm bảo ATVSTP vì nó là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, hiện nay vấn đề này cũng đã trở thành mục tiêu quốc gia và là một trong những mối quan tâm trọng yếu của thế giới
1.4 Vai trò, trách nhiệm của người tiêu dùng và Nhà nước
1.4.1.Vai trò người tiêu dùng
Ngoài việc quản lý của nhà nước bằng các biện pháp thanh, kiểm tra, giám sát
và xử lý các hành vi vi phạm thì người tiêu dùng cũng là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc đảm bảo ATVSTP Vì người tiêu dùng là người trực tiếp sử dụng thực phẩm, nếu người tiêu dùng nhận thức được vai trò của mình là đảm bảo tốt vấn
đề ATVSTP không để xảy ra tình trạng NĐTP thì sẽ góp phần giúp nhà nước quản lý tốt vấn đề này, đồng thời bảo vệ được sức khỏe người tiêu dùng, mặt khác sẽ góp phần nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho thế hệ tương lai được tốt hơn Và nếu không xảy ra NĐTP hay các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe liên quan đến thực phẩm thì nhà nước hay người tiêu dùng sẽ không phải chi ra một khoảng chi phí để khắc phục
sự cố, thì sẽ giúp tiết kiệm được ngân sách nhà nước mặt khác giúp người tiêu dùng
có thể tiết kiệm được một phần chi phí đáng kể trong cuộc sống, dùng phần chi phí đó làm công việc khác giúp cuộc sống tốt hơn Mặt khác nếu người tiêu dùng biết lựa chọn sử dụng sản phẩm một cách thông minh đảm bảo an toàn cho sức khỏe, thì sẽ hạn chế được một tiêu cực từ nhà sản xuất là họ sẽ không dám làm hàng hóa giả hay kém chất lượng vì sẽ không buôn bán được Mặt khác giúp cho sự cạnh tranh hàng hóa theo xu hướng chất lượng giữa các cơ sở sản xuất khác nhau, làm cho hàng hóa
Trang 23ngày càng đảm bảo chất lượng giúp cho danh nghiệp không ngừng tiến bộ trong công tác sản xuất của mình, hạn chế vi phạm pháp luật Và do yếu tố trực tiếp sử dụng, tiêu dùng các sản phẩm thực phẩm nên khi có xảy ra vi phạm thì người được biết trước là người tiêu dùng, cho nên dưới sự giúp đỡ và chung tay của họ sẽ giúp nhà nước quản
lý về ATVSTP tốt hơn
1.4.2 Nhiệm vụ người tiêu dùng
Hiện nay vấn đề quan trọng là làm sao để cả cộng đồng cùng tham gia hưởng ứng, thực hiện tốt, đảm bảo ATVSTP, bởi đó là trách nhiệm không của riêng ai Bằng những biện pháp đồng bộ, từ các cơ quan chức năng cho đến người sản xuất và cuối cùng là người tiêu dùng, đều phải đồng tâm hiệp lực, thực hiện với mục tiêu giữ gìn sức khỏe cho thế hệ chúng ta hôm nay cũng chính là cho thế hệ con cháu mai sau Trong đó quan trọng nhất là người tiêu dùng cần phải biết “tự bảo vệ mình” Trong việc sử dụng thực phẩm, đặc biệt hạn chế sử dụng thức ăn bày bán ở những nơi không đảm bảo về ATVSTP Thực hiện tốt quy định của pháp luật về ATVSTP, tuân thủ các nguyên tắc trong việc tiêu dùng sản phẩm thực phẩm, phối hợp với cơ quan nhà nước quản lý về ATVSTP
Để làm được đều đó người tiêu dùng phải làm những việc sau: Cần hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong việc thực hiện các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; nhất là về các nội dung “ 10 nguyên tắc vàng chế biến thực phẩm an toàn”, “ 5 chìa khóa vàng để có thực phẩm an toàn”; tuân thủ đầy đủ các quy định, hướng dẫn về an toàn thực phẩm của người sản xuất, kinh doanh về vận chuyển, lưu giữ, bảo quản và sử dụng thực phẩm an toàn; mặt khác tuyên truyền giúp đỡ người khác cùng hiểu và làm theo pháp luật Tuân thủ các quy định của pháp luật về môi trường trong quá trình sử dụng thực phẩm; đấu tranh với các hành vi vi phạm về ATVSTP; kịp thời cung cáp thông tin khi phát hiện nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, khai báo khi bị ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm Để giúp Nhà nước quản lý tốt hơn, chặt chẽ hơn và có thể đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân
1.4.3 Vai trò của Nhà nước
Có thể nói trong suốt chuổi thực phẩm, từ sản xuất, vận chuyển, bảo quản, buôn
bán cho đến tiêu dùng Thì nhà nước không trực tiếp làm bất kỳ một khâu nào, nhưng với cương vị là người quản lý nhà nước đóng một vai trò hết sức quan trọng trong chuổi thực phẩm đó, là làm thế nào để chuổi thực phẩm đó được được vận hành một cách chắc chắn và an toàn để tạo ra các sản phẩm sạch và đảm bảo vệ sinh cho người
Trang 24tiêu dùng hay có thể nói Nhà nước là chất xúc tác trong chuổi thực phẩm đó Trong
đó nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời điều chỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm; ban hành các quy chuẩn về kỹ thuật, chất lượng và các quy chuẩn cần thiết cho công việc sản xuất thực phẩm an toàn; quy định các hình thức kỷ luật,
xử phạt, khen thưởng hợp lý làm cơ sở cho người dân thực hiện, cho nhà sản xuất làm theo, đồng thời tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc để quản lý cho công tác quản lý Ngoài ra nhà nước còn xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn kỹ thuật cao,
đã phân công nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị có liên quan để thực hiện nhiệm vụ quản lý, xây dựng cơ sở vật chất để thực hiện công tác quản lý như xây dựng phòng thí nghiệm, xét nghiệm để thực hiện việc quản lý của mình Thanh tra, kiểm tra, giám sát xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý để đảm bảo
an toàn cho người tiêu dùng, có hình thức xử phạt khen thưởng, kỹ luật nhằm tạo niềm tin cho nhân dân Đồng thời tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm cho người dân nâng cao vốn hiểu biết và cách phòng tránh; xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực phẩm an toàn để bảo đảm rằng các sản phẩm thực phẩm được tạo ra là an toàn vệ sinh, không gây hại cho người sử dụng
1.5 Một số hành vi bị cấm và sẽ bị cấm về an toàn vệ sinh thực phẩm:
1.5.1 Các hành vi bị cấm
1.5.1.1 Trong sản xuất - kinh doanh thực phẩm
Sản xuất thực phẩm là một hoạt động tất yếu của cuộc sống, nếu không sản xuất thì sẽ không có để tiêu dùng Nhưng vấn đề quan trọng ở đây là sản xuất như thế nào để thực phẩm được bảo đảm an toàn cho người sử dụng, đó cũng là mục tiêu quan trọng hiện nay nhằm mục đích đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng Quá trình sản xuất thực phẩm luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về sức khỏe, vì vậy đảm bảo an toàn cho con người là mối quan tâm chính Hiện nay Nhà nước cấm không được sản xuất, kinh doanh các loại thực phẩm sau: Thực phẩm đã bị thiu, thối, biến chất, nhiễm bẩn
có thể gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người; Thực phẩm có chứa chất độc hoặc nhiễm chất độc; Thực phẩm có ký sinh trùng gây bệnh, vi sinh vật gây bệnh hoặc vi sinh vật vượt quá mức quy định; Thịt hoặc sản phẩm chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc kiểm tra không đạt yêu cầu; Gia súc, gia cầm, thuỷ sản chết do bị bệnh, bị ngộ độc hoặc chết không rõ nguyên nhân; sản phẩm chế biến từ gia súc, gia cầm, thuỷ sản chết do bị bệnh, bị ngộ độc hoặc chết không rõ nguyên nhân; Thực
Trang 25phẩm nhiễm bẩn do bao gói, đồ chứa đựng không sạch, bị vỡ, rách trong quá trình vận chuyển; Thực phẩm quá hạn sử dụng; Sản xuất, kinh doanh động vật, thực vật có chứa mầm bệnh có thể lây truyền sang người, động vật, thực vật; Sản xuất, kinh doanh thực phẩm từ nguyên liệu không phải là thực phẩm hoặc hóa chất ngoài danh mục được phép sử dụng; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực phẩm có gen đã bị biến đổi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép; cấm kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ12.
Suy cho cùng vấn đề ở đây là để sản xuất thực phẩm cung ứng cho người tiêu dùng thì phải sản xuất thực phẩm an toàn theo những quy định của nhà nước, nếu không sẽ vi phạm pháp luật về ATVSTP
1.5.1.2 Trong chế biến thực phẩm
Để có một chế độ dinh dưỡng tốt ngoài việc xác định các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng để cung cấp, bổ sung các chất cần thiết cho cơ thể, còn bao gồm cả cách chế biến và giữ vệ sinh, an toàn đối với thực phẩm cũng như dụng cụ chế biến Nhằm đảm bảo vệ sinh trong quá trình chế biến nhà nước nghiêm cấm một số hành vi sau Cấm sử dụng các loại thực phẩm bị ôi thiu, trầy xước, có mùi lạ, có chứa hoá chất, nhiễm chì, chất bảo quản hay thực phẩm có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng các dụng cụ chứa đựng, gắp, múc, chế biến thực phẩm không bảo đảm vệ sinh Cơ sở chế biến thực phẩm phải thực hiện mọi biện pháp để thực phẩm không bị nhiễm bẩn, nhiễm mầm bệnh có thể lây truyền sang người, động vật, thực vật; phải bảo đảm quy trình chế biến phù hợp với quy định của pháp luật về ATVSTP; chỉ được phép sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm,
vi chất dinh dưỡng trong danh mục được phép sử dụng và sử dụng đúng liều lượng, giới hạn quy định; Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình chế biến thực phẩm
có trách nhiệm: Sử dụng thiết bị, dụng cụ có bề mặt tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được chế tạo bằng vật liệu bảo đảm yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm; sử dụng đồ chứa đựng, bao gói, dụng cụ, thiết bị bảo đảm yêu cầu vệ sinh an toàn, không gây ô nhiễm thực phẩm; sử dụng nước để chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn quy định; dùng chất tẩy rửa, chất diệt khuẩn, chất tiêu độc an toàn không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng của con người và không gây ô nhiễm môi trường, đó là những yêu cầu cần thiết khi chế biến thực phẩm
Trang 261.5.1.3 Trong vận chuyển thực phẩm
Cấm chở gia súc, gia cầm sống trên cùng phương tiện chở hành khác và chở thịt, phụ phẩm, các sản phẩm chế biến lẫn với gia súc, gia cầm sống Cấm vận chuyển gia súc, gia cầm sống ở vùng có dịch bệnh sang vùng khác Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình vận chuyển thực phẩm phải bảo quản thực phẩm và các thành phần của thực phẩm không bị ô nhiễm do các tác nhân sinh học, hóa học, lý học không được phép có trong thực phẩm; nghiêm cấm không được sử dụng phương tiện vận chuyển thực phẩm không bảo đảm các điều kiện sau đây: được chế tạo bằng vật liệu không làm ô nhiễm thực phẩm hoặc bao gói thực phẩm; dễ dàng tẩy rửa sạch; dễ dàng phân biệt các loại thực phẩm khác nhau; chống được sự ô nhiễm, kể cả khói, bụi
và lây nhiễm giữa các thực phẩm với nhau; duy trì, kiểm soát được các điều kiện bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình vận chuyển, cấm sử dụng phương tiện vận chuyển gia súc, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất độc hại để vận chuyển thực phẩm Phương tiện vận chuyển và bao bì chứa đựng trong quá trình vận chuyển phải được cọ rửa, tẩy trùng khô ráo sạch sẽ trước và sau khi vận chuyển
1.5.1.4 Nhóm nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm
Hiện nay để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước ngoài việc sản xuất tiêu dùng cho nhu cầu trong nước thì chúng ta còn trao đổi hàng hóa, hay nhập khẩu một số hàng hóa thực phẩm mà chúng ta chưa thể hay không thể sản xuất được như lúa mì, lúa mạch, để đáp ứng nhu cầu đó và đảm bảo được sức khỏe của nhân dân nhà nước cũng đã quy định về việc xuất nhập khẩu hàng hóa thực phẩm Đối với việc nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm nhà nước nghiêm cấm những hành vi sau: Cấm nhập khẩu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực phẩm có gen đã bị biến đổi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, đồng thời phải chịu trách nhiệm về ATVSTP do mình nhập khẩu, xuất khẩu Ngoài ra còn cấm nhập khẩu Thuỷ sản cấm khai thác, thuỷ sản
có dư lượng chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép, thuỷ sản có độc tố tự nhiên gây nguy hiểm đến tính mạng con người ; Giống cây trồng không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh; giống cây trồng gây hại đến sản xuất và sức khỏe con người, môi trường, hệ sinh thái ; Giống vật nuôi không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh; giống vật nuôi gây hại cho sức khỏe con người, nguồn gen vật nuôi, môi trường, hệ sinh thái Nếu trường hợp nhập khẩu, xuất khẩu phải thực phẩm nhập khẩu không đạt yêu cầu ATVSTP có thể bị thu hồi, tái chế, chuyển
Trang 27mục đích sử dụng, tiêu hủy hoặc tái xuất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải chịu mọi chi phí cho việc xử lý thực phẩm mà mình nhập khẩu, xuất khẩu không đạt yêu cầu13
1.5.1.5 Nhóm quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm
Quảng cáo và ghi nhãn thực phẩm là một trong những phương thức giúp người tiêu dùng dễ dàng tìm hiểu, nhận biết về thực phẩm, để có thể lựa chọn thực phẩm nhanh chóng và tốt hơn Nhưng thực tế hiện nay lại xuất hiện các loại hàng hóa giả, không đảm bảo chất lượng được chào bán ở khắp nơi và quảng cáo không những bị lợi dụng làm mất đi giá trị tích cực mà còn trở thành một tiêu cực làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống trong nhiều lĩnh vực trong đó có thực phẩm Để đảm bảo tốt cho sức khỏe của nhân dân và đồng thời ngăn chặn nguy cơ làm ảnh hưởng đến sức khỏe Nhà nước đã cấm một số hành vi liên quan đến việc quảng cáo và ghi nhãn thực phẩm là việc quảng cáo về thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực phẩm có gen đã bị biến đổi và các vấn đề liên quan đến thực phẩm phải đúng sự thật, rỏ ràng, chính xác, trung thực, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng
Về việc ghi nhãn hàng hóa thì cấm ghi không đầy đủ, chính xác, rõ ràng, cấm việc ghi gian dối về tên thực phẩm, định lượng, thành phần cấu tạo, hay chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của thực phẩm, cấm ghi sai lệch về ngày sản xuất, thời hạn bảo quản hoặc hạn sử dụng, hướng dẫn bảo quản, sử dụng thực phẩm và xuất xứ thực phẩm nếu là thực phẩm nhập khẩu và không được ghi trên nhãn thực phẩm dưới bất kỳ hình thức nào về thực phẩm có công hiệu thay thế thuốc chữa bệnh Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đóng gói sẵn trên lãnh thổ Việt Nam phải ghi nhản thực phẩm trước khi xuất xưởng thực phẩm Nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật
về ATVSTP14
1.5.2 Các hành vi sẽ bị cấm
Hiện nay ngoài các hành vi bị nghiêm cấm bởi Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số 12 năm 2003 của UBTVQH thì vẫn còn một số các hành vi vẫn chưa được điều chỉnh, và để kịp thời bổ sung hoàn thiện pháp thì Luật An toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010 ra đời đã nghiêm cấm những hành vi đó Như là sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm; Sử dụng nguyên liệu
13 Phụ lục 1 về Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh ,Ban hành kèm theo Nghị định số
59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ.
Trang 28thực phẩm đã quá hạn sử dụng hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm Trong sản xuất, kinh doanh, thì cấm: Thực phẩm bao gói sẵn không có nhãn hoặc vi phạm các quy định về ghi nhãn; thực phẩm bị biến chất; thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép; thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không sạch, bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển; Thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú
y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu; thực phẩm đã bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền không cho phép sản xuất, kinh doanh để phòng, chống dịch bệnh
Luật an toàn vệ sinh thực phẩm cũng cấm: Sử dụng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ để sản xuất thực phẩm; Kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ; Sử dụng hóa chất độc hại để bảo quản thực phẩm; KDTP quá hạn sử dụng; Cấm: Che giấu, làm sai lệch, xóa bỏ hiện trường, bằng chứng về sự cố an toàn thực phẩm hoặc các hành vi cố ý khác cản trở việc phát hiện, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; Người mắc bệnh truyền nhiễm tham gia sản xuất, KDTP; Sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại cơ sở không có giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định; Quảng cáo sai sự thật, gây nhầm lẫn đối với người tiêu dùng; Đăng tải, công bố các thông tin sai lệch về an toàn thực phẩm gây bức xúc cho
xã hội và thiệt hại cho sản xuất,kinh doanh15
Trang 29đã được Đảng, Nhà nước quan tâm sâu sắc, điều này đã được thể hiện cụ thể bằng hành động cụ thể: Thành lập Cục quản lý chất lượng, ATVSTP (tiền thân của Cục ATVSTP ngày nay) năm 1999 Ngay trong năm này, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
số 08 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm chất lượng ATVSTP; năm 2000 đã phê duyệt chương trình bảo đảm ATVSTP là một trong 10 chương trình mục tiêu quốc gia của Bộ Y tế; năm 2003, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/7/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/11/2003
Pháp lệnh ATVSTP số 12/2003/PL-UBTVQH được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/7/2003 gồm 07 chương, 54 điều Một trong những nội dung rất mới của Pháp lệnh này là đã quy định “kinh doanh thực phẩm là kinh doanh có điều kiện (Điều 4)” Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng quy định những hành vi cấm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quyền, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm; quản lý thực phẩm sản xuất trong nước, thực phẩm nhập khẩu, phòng chống ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm; quảng cáo thực phẩm; nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ATVSTP đối với các Bộ, UBND các cấp…Đây có thể nói
là một văn bản Pháp luật đầu tiên quy định tương đối đầy đủ các khía cạnh quản lý nhà nước về An toàn vệ sinh thực phẩm
2.1.2.1 Công tác ban hành Luật
Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về ATVSTP, nhiều văn bản Luật
Trang 30có liên quan tới công tác quản lý ATVSTP cũng đã được ban hành như:
lực
2 29/6/2006 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 01/01/2007
3 21/11/2007 Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa 01/7/2008
An toàn vệ sinh thực phẩm được tốt hơn:
4 Thông Tư liên tịch Các Bộ + Ủy ban của trung ương 15
Trang 31ban hành hơn một nghìn văn bản; và năm 2006 Chính phủ phê duyệt chương trình hành động bảo đảm ATVSTP giai đoạn 2006-2010 theo hướng trở thành chương trình mục tiêu quốc gia độc lập; năm 2007, phê duyệt 6 dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia bảo đảm ATVSTP giai đoạn đến 2010 với tổng kinh phí khoảng 1300 tỷ đồng Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác bảo đảm ATVSTP; đã tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác bảo đảm ATVSTP vào tháng 01/2007 và lần 2 vào tháng 3/2008; chỉ đạo các bộ ngành liên quan đề xuất xây dựng dự án luật An toàn thực phẩm để trình Quốc hội vào năm 2009 Các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành hàng loạt các Quyết định, Thông tư, Thông tư liên tịch để hướng dẫn chi tiết thi hành các nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSTP, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ cho lĩnh vực quản lý mới, đặc biệt quan trọng này.
2.1.2.3 Một số văn bản quan trọng của Chính Phủ
Triển khai thực hiện Pháp lệnh này, Chính phủ, các bộ ngành hữu quan, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã khẩn trương ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, trong đó có phải kể đến các văn bản quan trọng, làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện Đó là:
Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ban hành ngày 07/9/2004 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ATVSTP Nghị định gồm 6 chương với 36 điều, hướng dẫn chi tiết về: Điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Thủ tục, thẩm quyền kiểm tra ATVSTP nhập khẩu, xuất khẩu; Công bố tiêu chuẩn ATVSTP đối với sản phẩm; Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATVSTP và trách nhiệm phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm; ; Kiểm tra, thanh tra ATVSTP
Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, ngoài các quy định xử phạt các vi phạm chung trong lĩnh vực y tế, Nghị định đã quy định cụ thể các hành vi vi phạm về ATVSTP và mức xử phạt tại Điều 15 của Nghị định;
Quyết định số 43/2006/QĐ-TTg ngày 20/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm ATVSTP Tăng cường năng lực quản lý nhà nước và xây dựng hệ thống tổ chức quản lý ATVSTP hiệu quả từ Trung ương đến địa phương Đẩy mạnh công tác thông tin và giáo dục - truyền thông về ATVSTP tại cộng đồng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các văn bản quy
Trang 32phạm pháp luật về ATVSTP trong giai đoạn 2006 – 2010, , Bảo đảm ATVSTP phục
vụ tiêu dùng, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân; phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Và Chỉ thị 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm ATVSTP Nhằm đưa ra các giải pháp cấp bách
để giải quyết vấn đề ATVSTP, từ đó nêu lên nhiệm vụ cụ thể của từng Bộ, Ngành có liên quan trong việc quản lý an toàn thực phẩm, là phải chủ động nhanh chóng thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm quản lý tốt công tác đảm bảo ATVSTP trong phạm
vi quyền hạn của mình
Quyết định số 149/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về ATVSTP giai đoạn 2006 – 2010 Nhằm xây dựng và nâng cao năng lực hệ thống quản lý ATVSTP, nhằm bảo đảm ATVSTP phù hợp các tiêu chuẩn tiên tiến của khu vực và thế giới; góp phần bảo vệ sức khỏe
và quyền lợi người tiêu dùng thực phẩm; đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập kinh
tế quốc tế;
Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/07/2008 quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về ATVSTP, nhiệm vụ quyền hạn của từng cơ quan trong công tác tổ chức, thực hiện thanh tra, kiểm tra thực phẩm nhằm đảm bảo
an toàn thực phẩm trong cả nước
QĐ số 734/QĐ-TTg ngày 25/5/2010 Quyết định phê duyệt kế hoạch thực hiện Nghị quyết 34/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội ATVSTP Là việc xây dựng kế hoạch về việc xây dựng pháp luật thực hiện quản lý Nhà nước về an toàn
vệ sinh thực phẩm
2.1.2 Công tác ban hành và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật
2.1.2.1 Công tác ban hành tiêu chẩn
Có thể nói tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là một trong những công cụ không thể thiếu trong quá trình quản lý về ATVSTP của Nhà nước, vì muốn xem xét một loại thực phẩm nào đó có đảm bảo chất lượng hay không thì cần phải có những tiêu chí nhất định để so sánh đối chiếu thì mới biết được, đối với thực phẩm thì nó là một
số liệu cụ thể về mặt số lượng hay trọng lượng , từng loại sản phẩm hàng hóa Và để làm tốt được công tác quản lý chuyên ngành của mình thì các Bộ ngành có liên quan
đã không ngừng ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết
Theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật có hiệu lực thi hành
từ 01/01/2007 thì việc xây dựng, ban hành tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật
Trang 33quốc gia, chuyển đổi tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành thành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được các bộ quan tâm triển khai Trong lĩnh vực nông nghiệp đã có 1.249 tiêu chuẩn ngành được rà soát và lập thành danh mục, tiếp tục việc chuyển đổi tiêu chuẩn ngành thành tiêu chuẩn quốc gia và chuyển đổi tiêu chuẩn quốc gia ngày càng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm chất lượng trong sản xuất và ATVSTP trong lĩnh vực nông nghiệp Tính đến năm 2009, nước ta đã có 406 tiêu chuẩn Việt Nam qui định về ATVSTP Trong đó có 139 tiêu chuẩn Việt Nam phù hợp tiêu chuẩn ISO, 45 tiêu chuẩn Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn Codex, 72 tiêu chuẩn Việt Nam phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn quốc tế khác, tỷ lệ này đạt 63% trong tổng số các tiêu chuẩn Hiện nay, năm 2010 Bộ Y tế đã ban hành được một số tiêu chuẩn quy chuẩn quốc gia mới: Thông tư số 30/2010/TT-BYT ngày 2/6/2010, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm sữa dạng lỏng; Thông tư số 31/2010/TT-BYT, Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm sữa dạng bột; Thông tư số 32/2010/TT-BYT, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm phomat; Thông tư số 33/2010/TT-BYT, ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm chất béo.
Mặc dù vậy nhưng do hiện tại, trên thị trường có đến hàng chục ngàn loại thực phẩm, nên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật để quản lý chất lượng ATVSTP vẫn chưa thể đáp ứng được toàn bộ
2.1.2.2 Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
Còn về áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thì: Qua công tác thanh tra, kiểm tra, hầu hết các cơ sở kinh doanh thực phẩm quy mô lớn đều áp dụng, tuân thủ nghiêm túc quy chuẩn kỹ thuật về thực phẩm, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu còn áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiến tiến như HACCP, GAP Theo báo cáo của
Bộ NN&PTNT, đến nay đã có 448 doanh nghiệp chế biến thủy sản áp dụng HACCP1 được công nhận đạt tiêu chuẩn ngành, 300 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường của các nước Liên minh Châu Âu, số doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Canada là 238 doanh nghiệp, Hàn Quốc là 442 và Trung Quốc là 444, Liên bang Nga là 30 doanh nghiệp Các doanh nghiệp chế biến thịt, chè, rau quả cũng đã
và đang tích cực triển khai các biện pháp quản lý chất lượng, một số cơ sở đã áp dụng nguyên tắc HACCP đạt được hiệu quả khả quan
1 HACCP là tiêu chuẩn đặt ra các nguyên tắc của hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn hay "hệ thống phân tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm" đã được Uỷ ban tiêu chuẩn hoá thực phẩm – CODEX -
Trang 34Việc thiếu Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong quản lý ATVSTP cũng gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước nhất là trong việc phát hiện và xử lý vi phạm Và đến năm 2009 thì vấn đề này đã có nhiều tiến triển, chỉ trong năm 2009 với hàng loạt các tiêu chuẩn kỹ thuật về thực phẩm được bạn hành cụ thể là Ngày 31 tháng 7 năm
2009, Bộ NN&PTNT2 ban hành 13 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện ATVSTP trong sản xuất Thuỷ sản, trong quý 2 năm 2010 Nhằm thực hiện tốt Nghị quyết số 34/2009/QH12 của Quốc hội khoá XII về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng ATVSTP Ngày 20 tháng 05 năm 2010 Bộ y tế ban hành 15 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các chất phụ gia, chất sử dụng, chất bổ sung vào thực phẩm Nhìn chung, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về ATVSTP còn thiếu; tiến độ ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thực phẩm còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Sự chậm chễ nói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là nguồn kinh phí đầu tư cho việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia còn rất hạn chế, thủ tục chuyển đổi, xây dựng ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật còn chưa rõ ràng; nguồn nhân lực xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tại các bộ ngành còn thiếu, lại không có chuyên môn sâu về lĩnh vực tiêu chuẩn
2.1.2.3 Công tác chỉ đạo điều hành
Triển khai thực hiện pháp luật về quản lý chất lượng ATVSTP, Chính phủ, các
Bộ, UBND các tỉnh đã quan tâm, tích cực chỉ đạo việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng ATVSTP Về phía Chính phủ
đã ban hành Nghị định 163/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ATVSTP; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 43/2006/QĐ-TTg về “Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm ATTP cho đến năm 2010” và Chỉ thị 06/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm ATVSTP Bên cạnh đó, để tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 48/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về ATVSTP ở Trung ương Trên cơ sở đó, UBND các tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt “Kế hoạch hành động bảo đảm chất lượng ATVSTP” làm căn
cứ cho hoạt động quản lý chất lượng ATVSTP của địa phương Ngoài ra, công tác chỉ đạo, điều hành cũng được tăng cường khi có dịch bệnh như phòng chống dịch cúm gia cầm, phòng chống dịch tiêu chảy cấp Do vậy đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước và nhận thức của xã hội về bảo đảm chất lượng ATVSTP
Trang 352.2 Tổ chức bộ máy quản lý chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm
Là việc phân bố nhiệm vụ quyền hạn hay phân công trách nhiệm cho các chủ thể quản lý trong quá trình quản lý Thực hiện công việc đó nhà nước đã triển khai thực hiện Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, từ đó việc làm đó làm cho bộ máy cơ quan quản lý nhà nước từng bước được kiện toàn từ TW đến địa phương Và theo quy định tại Nghị định 79/2008/NĐ-CP, ở TW, có 5 bộ chịu trách nhiệm chính trong chuỗi cung cấp thực phẩm3, trong đó Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATVSTP Tại mỗi bộ có đơn vị đầu mối là cục hoặc vụ giúp
Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng ATVSTP đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của bộ4 Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo liên ngành ATVSTP trung ương được thành lập để chỉ đạo việc phối hợp hoạt động giữa các bộ trong các vấn đề liên ngành về ATVSTP
2.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý ( Phụ lục 2 )
2.2.2 Tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp trung Ương
2.2.2.1 Bộ Y Tế và Cục An toàn vệ sinh thực phẩm
Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATVSTP Vì ATTP là một trong các bộ phận thuộc sự quản lý Bộ Y Tế5 Bộ Y tế có nhiệm vụ giúp Chính phủ thống nhất thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATVSTP; chủ trì thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSTP đối với các sản phẩm có nguồn gốc sản xuất trong nước và nhập khẩu đã thành thực phẩm lưu thông trên thị trường; làm Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về ATVSTP ở TW và Ủy ban Luật Thực phẩm quốc tế của Việt Nam, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm ATVSTP; phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế tài chính6
Giúp việc cho Bộ Y Tế có Cục An toàn vệ sinh thực phẩm là Cục quản lý chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng, ATVSTP đối với các sản phẩm đã thành thực phẩm có nguồn gốc sản xuất trong nước và nhập khẩu lưu thông trên thị trường trong phạm vi cả nước Cục An toàn
3 Chương 2 Nghị định 79/2008/NĐ-CP hệ thống tổ chức và quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm.
4 Ở Bộ Y tế có Cục an toàn vệ sinh thực phẩm; Bộ NN&PTNT có Cục quản lý chất lượng nông lâm thủy sản; Bộ Công thương có Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Tổng cục Môi trường, Bộ KH&CN có Cục quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa trực thuộc Tổng cục TC- ĐL-CL làm đầu mối.
5 Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003
Trang 36vệ sinh thực phẩm có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có trụ sở làm việc tại thành phố Hà Nội Kinh phí hoạt động của Cục do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác Lãnh đạo cục gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng
do Bộ Y tế bổ nhiệm và miễn nhiệm Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ
Y tế và trước pháp luật về mọi hoạt động của Cục Các Phó Cục trưởng giúp việc Cục trưởng, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công7 Cơ cấu tổ chức gồm các Phòng, văn phòng và trung tâm ứng dụng kỹ thuật về chất lượng, ATVSTP Với nhiệm vụ là tham mưu giúp cho Bộ Y Tế quản lý, thực thi pháp luật và thực hiện thanh tra chuyên ngành về ATVSTP trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình
2.2.2.2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý về ATVSTP, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước thuộc lĩnh vực chất lượng, ATVSTP nông lâm thủy sản và muối Với phạm
vi quản lý là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước về ATVSTP đối với nông, lâm, thuỷ sản và muối trong quá trình sản xuất
từ khi trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, đánh bắt, giết mổ động vật, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu; vệ sinh an toàn trong nhập khẩu động vật, thực vật, nguyên liệu dùng cho nuôi, trồng, chế biến hoặc tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập8,
Có nhiệm vụ là tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình, dự án, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy trình, quy phạm kỹ thuật về chất lượng nông lâm thủy sản và muối Quản lý nhà nước
về sản xuất, thu hoạch, bảo quản nông sản; thống nhất quản lý giống về chế biến nông sản; quản lý nhà nước về giống cấy trồng nông nghiệp, giống vật nuôi nông nghiệp; ; quản lý nhà nước về bảo vệ thực vật, thú y, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật; tổ chức kiểm dịch đối với động vật nuôi nông nghiệp, động vật rừng và thực vật xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật và Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia
Giúp việc cho Bộ NN&PTNT có Cục QLCLNLS&TS là cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lãnh đạo cục gồm Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ nhiệm, về bộ máy gồm có các phòng, Thanh tra Cục và văn phòng, thực hiện chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước chuyên ngành và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực
7 Điều 1 và Điều 2 của Quyết Định số 48/2008/QĐ-BYT.
Trang 37chất lượng, ATVSTP nông sản, lâm sản, thuỷ sản và muối thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên phạm vi cả nước9.
2.2.2.3 Bộ công thương
Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm về công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, lưu thông hàng hoá trong nước; xuất nhập khẩu, quản lý thị trường Chủ trì thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về ATVSTP đối với sản phẩm thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất của các cơ sở chế biến thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ từ khi nhập nguyên liệu để chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu10, phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn Ban Quản lý chợ, doanh nghiệp quản lý chợ thực hiện các quy định của pháp luật về ATVSTP trong chợ; Hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức quản lý thị trường các cấp phối hợp với các tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành trong việc kiểm tra, thanh tra các quy định của pháp luật về ATVSTP11
Giúp việc cho Bộ có Vụ Khoa học và Công nghệ, Cục quản lý thì trường trực thuộc Bộ Công thương tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về ATVSTP trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên phạm
vi cả nước12
2.2.2.4 Bộ Khoa học và Công nghệ
Với vai trò thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia về ATVSTP, thẩm định các
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATVSTP để các Bộ quản lý ngành ban hành; tham gia kiểm nghiệm về ATVSTP Chỉ đạo Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATVSTP Giúp cho Bộ KH&CN là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Bộ KH&CN tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ KH&CN thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên phạm vi cả nước và sự phân công cụ thể của Bộ
2.2.2.5 Bộ Tài nguyên và Môi trường
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm Chỉ đạo Tổng cục Môi trường tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm Với sự trợ giúp của
9 Điều 1 QĐ 29/2008/QĐ-BNN.
10 Khoản 3 Điều 2 Nghị định 79/2008/NĐ-CP.
1 1 Khoản 3 Điều 18 Nghị định 79/2008/NĐ-CP.
Trang 38Tổng cục Môi trường là cơ quan trực thuộc TN&MT, với nhiệm vụ tham mưu giúp
Bộ trưởng TN&MT thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ trên phạm vi cả nước13
2.2.3 Tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm cấp địa phương
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng ATVSTP trong phạm vi địa phương Tham mưu giúp UBND tỉnh là Sở Y
tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và các sở, ban, ngành hữu quan khác Ban chỉ đạo liên ngành an toàn vệ sinh thực phẩm các cấp (được thành lập tới cấp xã) có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp hoạt động liên ngành tại địa phương Hiện tại cả nước đã có 63 Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm của tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục quản lý chất lượng ATVSTP trực thuộc Sở Y tế hoặc Khoa ATVSTP của Trung tâm Y tế dự phòng; và một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Chi cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, và thành lập Phòng quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản thuộc Sở NN&PTNT, vấn đề tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về thực phẩm hiện nay cũng tương đối đạt được, có thể thực hiện được nhiệm vụ quản lý ATVSTP và sẽ tiếp tục hoàn thiện hơn bộ máy quản lý này cho phù hợp trong thời gian tới
2.2.3.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Kiện toàn tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm về ATVSTP trên địa bàn
cấp tỉnh Đảm bảo biên chế cho các tổ chức làm nhiệm vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm của địa phương Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện các quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật khác liên quan về ATVSTP thuộc phạm vi trách nhiệm của địa phương
2.2.3.2 Sở Y tế
Sở Y tế là cơ quan thường trực sẽ chủ trì, phối hợp với các sở ban ngành, đoàn thể trong tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường công tác thông tin tuyên truyền phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và giáo dục kiến thức ATVSTP với nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, thấy rõ trách nhiệm, lương tâm của người sản xuất, chế biến và mua bán lương thực thực phẩm, kinh doanh dịch vụ ăn uống Đặc biệt chú ý đến các
Trang 39hoạt động nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của doanh nghiệp, trách nhiệm của người tiêu dùng trong việc bảo đảm ATVSTP, chủ động phòng ngừa ô nhiễm thực phẩm
Tham mưu giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ATVSTP theo phân cấp và
theo quy định của pháp luật trên địa bàn cấp tỉnh; làm Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về ATVSTP cấp tỉnh Trong đó quan trọng nhất là Chi ATVSTP, là tổ chức do UBND tỉnh, thành phố thuộc trung ương quyết định thành lập và trực thuộc Sở Y tế giúp Giám đốc Sở thực thi pháp luật và thực hiện thanh tra chuyên ngành về ATVSTP trên địa bàn cấp tỉnh Tham mưu cho UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATVSTP, thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về ATVSTP, thực hiện thanh tra chuyên ngành về ATVSTP trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật14
* Cơ cấu tổ chức của Chi Cục an toàn vệ sinh thực phẩm
Lảnh đạo Chi cục: Gồm có Chi cục trưởng và các Phó Chi cục trưởng Chi
Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Giám Đốc Sở Y tế và pháp luật về toàn bộ hoạt động của Chi cục, Phó Chi cục trưởng chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng, việc bổ nhiệm miễn nhiệm Chi Cục trưởng và Phó Chi cục trưởng do UBND dân tỉnh, Thành phố quyết định
Tổ chức, biên chế và hoạt động
Tổ chức: Mỗi Chi cục không quá 04 phòng, gồm có phòng đăng ký và chứng nhận sản phẩm; phòng thông tin, truyền thông và quản lý ngộ độc thực phẩm; phòng thanh tra; phòng hành chính tổng hợp
Biên chế: Biên chế hành chính nằm trong tổng biên chế của Sở Y tế được UBND tỉnh giao hàng năm, được xác định theo vị trí công tác của các chức danh, bao gồm: Chi cục trưởng, không quá 02 Phó Chi cục trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng
và tương đương, các công chức thuộc phòng có chuyên ngành y (đặc biệt là vệ sinh dịch tễ và y tế công cộng), dược, bảo vệ thực vật, thú y, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm, luật, thương mại và các chuyên ngành khác có liên quan15
Hoạt động: hoạt động theo chế độ thủ trưởng
Chi Cục An toàn vệ sinh thực phẩm chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc Bộ Y tế
14 Khoản 1 mục I Thông tư liên tịch số 12/2008/TTLT_BYT_BNV, ngày 30/12/2008 của Bộ Y Tế
và Bộ nội vụ 02/01/2009.
1 5 Khoản 4 mục 3 Thông tư liên tịch số 12/2008/TTLT_BYT_BNV, ngày 30/12/2008 của Bộ Y Tế
Trang 402.2.3.3 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về ATVSTP trên địa bàn cấp tỉnh đối với ngành, lĩnh vực: nông, lâm, thuỷ sản và muối theo phân cấp và theo quy định của pháp luật trong suốt quá trình sản xuất từ khi nhập khẩu động vật, thực vật, nguyên liệu (dùng cho nuôi, trồng, chế biến), nuôi, trồng, thu hoạch, đánh bắt, khai thác, giết mổ, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu Cơ quan giúp cho Sở Nông nghiệp trực tiếp quản lý ATVSTP là Chi Cục hoặc Phòng Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản thuộc
Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thuộc Sở giúp Giám đốc Sở thực thi pháp luật và thực hiện thanh tra chuyên ngành về ATVSTP trên địa bàn cấp tỉnh và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các Cục chuyên ngành thuộc
Bộ NN&PTNT16 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của
các tổ chức do UBND cấp tỉnh quy định
2.2.3.4 Các Sở có liên quan
* Sở Công thương: Giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ATVSTP trên
địa bàn cấp tỉnh đối với các cơ sở chế biến thực phẩm ở địa phương theo phân cấp và theo quy định của pháp luật trong suốt quá trình sản xuất từ khi nhập nguyên liệu để chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu, giúp Sở Công thương có Chi cục quản lý thị trường
* Sở Khoa học và Công nghệ
Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về ATVSTP trên địa bàn cấp tỉnh Và Chi Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng là tổ chức trực thuộc Sở KH&CN giúp Giám đốc Sở thực hiện nhiệm vụ
về ATVSTP theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp
vụ của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng trên địa bàn cấp tỉnh17
* Sở Tài nguyên và Môi trường
Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh triển khai các biện pháp kiểm soát môi trường trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh Với sự trợ giúp của Chi Cục Bảo vệ môi trường trực thuộc Sở TN&MT giúp Giám đốc Sở thực hiện nhiệm vụ
về kiểm soát môi trường trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh theo quy định của pháp luật và theo hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Tổng cục Môi trường18
16 Khoản 2 Điều 4 Nghị định 79/2008/NĐ-CP
17 Khoản 4 Điều 4 Nghị định 79/2008/NĐ-CP