Trình bày một biện pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác giảngdạy của giáo viên nơi đang làm việc. Thời lượng trình bày biện pháp không quá 30phút, bao gồm cả thời gian Ban Giám khảo trao đổi. Biện pháp được lãnh đạo cơsở giáo dục xác nhận áp dụng hiệu quả và lần đầu được dùng để đăng ký thi giáoviên dạy giỏi cơ sở giáo dục phổ thông và chưa được dùng để xét duyệt thành tíchkhen thưởng cá nhân trước đó.Lưu ý: khi đến tham dự thi, giáo viên nộp cho Ban giám khảo 03 bản báocáo biện pháp của cá nhân tại cơ sở giáo dục được áp dụng hiệu quả và 01 giấyxác nhận của Phòng GDĐT kèm theo minh chứng xác thực về việc giúp học sinhcó sự tiến bộ rõ rệt thông qua việc vận dụng hiệu quả biện pháp trong công tácgiảng dạy.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUỲNH LƯU
BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
(Phục vụ kỳ thi GVDG tỉnh cấp THCS chu kỳ 2020-2024)
Họ tên: Hồ Minh Khải Đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Quỳnh Nghĩa Chức vụ hiện giữ: Giáo viên
Môn dự thi: Toán
QUỲNH LƯU – NĂM 2020
Ghim theo
hình trên
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quỳnh Lưu, ngày 14 tháng 10 năm 2020
BÁO CÁOBIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY
Tên biện pháp: BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN TOÁN CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG KHI DẠY
TIẾT LUYỆN TẬP CHƯƠNG I HÌNH HỌC 9
Trong các hoạt động học tập nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cho họcsinh thông qua mỗi tiết học thì “hoạt động khởi động” đóng vai trò quan trọngtrong giờ học Nó là hoạt động khởi đầu nên có tác động đến cảm xúc, trí tuệ củangười học trong toàn tiết học Nếu tổ chức tốt hoạt động này sẽ tạo ra một tâm lýhưng phấn, tự nhiên để lôi cuốn học sinh vào giờ học Hơn nữa, nếu càng đadạng hình thức thì càng tạo nên những bất ngờ, thú vị cho học sinh Vì thế ngườihọc sẽ không còn cảm giác mệt mỏi, nhàm chán, nặng nề, lo lắng như khi giáoviên kiểm tra bài cũ hay yêu cầu học sinh lên bảng làm bài tập Các em sẽ đượcthoải mái tham gia vào hoạt động học tập một cách tự nhiên Giờ học cũng bớt
sự căng thẳng khô khan
Nhưng thực tế, dạy học lại cho thấy rất nhiều giáo viên khó tìm kiếm đượcmột cách khởi động để cho tiết học sinh động, hấp dẫn hoặc có tổ chức nhưnghiệu quả không cao, do hình thức tổ chức đơn điệu, rời rạc, nặng về kiến thức
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “ Biện pháp gây hứng thú học tập môn toán cho học sinh thông qua hoạt động khởi động khi dạy tiết luyện tập chương I hình học 9” làm báo cáo.
Trang 3b Nguyên nhân:
Trước đây bản thân tôi cũng như nhiều giáo viên khi hoạt động khởi độngchỉ giới thiệu một câu hoặc nói bâng quơ một câu hoặc yêu cầu HS làm 1 câunào đó, rồi đi vào nội dung của tiết học nên chưa tạo được không khí hấp dẫn,hứng thú để tiếp thu bài mới một cách tốt nhất
Mặt khác, Hình học là một môn học khó, trừu tượng, khô khan đối với họcsinh và khối lượng kiến thức học sinh cần lĩnh hội tương đối nhiều Phần lớnnhiều bài đều trừu tượng, khó hiểu Số học sinh yêu thích phân môn hình còn ít
c Yêu cầu cần giải quyết:
- Trong điều kiện hiện nay, giáo dục nước ta đang đổi mới từ “dạy học tiếpcận nội dung” chuyển sang “dạy học tiếp cận năng lực”, chuyển từ học sinh
“học được gì?” sang học xong học sinh “làm được gì?” Vì vậy nhiệm vụ đặt rađó là người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, để nâng cao hứng thú
và chất lượng học tập cho học sinh, nhằm góp phần phát triển các phẩm chất,năng lực ở người học, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tế
- Để có một tiết học thú vị hãy thu hút học sinh về phía mình từ những câu nóiđầu tiên, những hành động đầu tiên, để giúp học sinh dễ nhớ, dễ tập trung, dễ ấntượng Hãy lôi cuốn sự chú ý và hứng thú của tiết học bằng việc khởi độngnhững trò chơi, những tranh ảnh, những mô hình, những video xoay quanh nộidung tiết học
2
Trang 4liên quan đến bài học), tạo hứng thú cho học sinh, tạo ra tình huống có vấn đề đểdẫn dắt HS vào phần hình thành kiến thức mới.
3 Nội dung, cách thức thực hiện:
Có nhiều hình thức khởi động để tăng sự hứng thú học tập cho học sinh, phụthuộc vào hoàn cảnh, đối tượng và điều kiện từng trường Qua thời gian nghiêncứu và áp dụng có hiệu quả, tôi xin đưa ra một số hình thức hoạt động khởi độngsau đây
3.1 Khởi động bằng các bài tập hay câu hỏi tình huống trên hiệu ứng game mang thông điệp như bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh, giúp quân ta đánh giặc,… : (Thời gian tổ chức 10p)
Các câu hỏi trong phần khởi động có thể chỉ là một tình huống để cho học
sinh phát hiện hay huy động vốn hiểu biết của mình để giải quyết tình huống ấy.Các vấn đề hay câu hỏi được đưa ra sẽ giúp học sinh phát triển tư duy, xâu chuỗivấn đề một cách mạch lạc đồng thời tạo hứng thú cho học sinh vào tiết học mới
để khám phá vấn đề
Đây là phương pháp gây chú ý cho học sinh ngay từ đầu, vì học sinh phải
lắng nghe xem giáo viên hỏi cái gì và được giơ tay trả lời, nên học sinh đọng lạitrong đầu và nhanh chóng cuốn vào tiết học một cách hứng thú
Ví dụ: Khi dạy tiết 3,4 Luyện tập bài “Hệ thức về cạnh và đường cao trong tamgiác vuông”, giáo viên có thể tổ chức học sinh thông qua trò chơi đi tìm khobáu, hay trò chơi giúp Ngô Quyền đánh quân Hán, hoặc trò chơi giúp nhặt rác
bãi biển, hoặc trò chơi bảo vệ khu phố,… như các slides minh hoạ sau
3.2 Hình thức khởi động bằng Trò chơi đi tìm ẩn số: (Thời gian tổ chức 10p)
* Ý nghĩa của trò chơi đi tìm ẩn số.
Thông qua việc đoán các “ẩn số” được giáo viên chuẩn bị sẵn, học sinh rènluyện được kĩ năng phản xạ nhanh, tập trung suy nghĩ, sử dụng ngôn ngữ Toánhọc chính xác Thông qua việc mô tả ẩn số, lắng nghe các bạn khác trả lời ẩn số,học sinh ôn lại được toàn bộ hệ thống kiến thức mà giáo viên muốn đề cập Trò chơi tìm ẩn số chuẩn bị nhanh, đơn giản nhưng hiệu quả cao, đặc biệttrong việc ôn lại nội dung lý thuyết Chỉ cần có các mẩu giấy nhỏ ghi nội dungtừ khóa là có thể kiểm tra được nội dung kiến thức cần kiểm tra của học sinh vàhọc sinh ôn lại bài hiệu quả Trò chơi này có thể áp dụng trong hoạt động khởiđộng thay cho kiểm tra bài cũ và hoạt động luyện tập của mỗi bài học hoặc trong
Trang 5phần kiến thức cần nắm vững của các bài ôn tập chương Sự thú vị của trò chơinằm ở phần gợi ý ẩn số của người chơi chính
* Cách chơi:
- Bước 1: Giáo viên yêu cầu HS không giở sách vở trong quá trình tham gia
chơi
- Bước 2: Giáo viên chọn 1 học sinh lên bục giảng làm người chơi chính.
- Bước 3: Người chơi chính lên bốc thăm ngẫu nhiên từ 1 đến 5 mẩu giấy nhỏ,
bên trong mẩu giấy đã được giáo viên viết ẩn số cần tìm Sau đó người chơichính diễn tả lại ẩn số đó để học sinh còn lại của lớp đoán nội dung ẩn số
Lưu ý: Yêu cầu ngôn ngữ mà người chơi chính sử dụng để miêu tả không có từ
nào chạm vào các từ trong ẩn số
* Ví dụ: Khi dạy Luyện tập bài “Tỉ số lượng giác của góc nhọn”- Hình học 9,giáo viên có thể gợi ý như sau
* Ẩn sô 1 (HS dưới lớp trả lời): Nếu 2 góc phụ nhau thì sin (tan) góc này bằng
cosin(cotang) góc kia
Gợi ý (Người chơi chính miêu tả): Nội dung định lí sgk
*Ẩn số 2 (HS dưới lớp trả lời): sin x (x là góc nhọn)
Gợi ý (Người chơi chính miêu tả): Kí hiệu của cạnh đối/cạnh huyền
trong tam giác vuông
Sau đây là hình ảnh hoạt động tại lớp 9A, 9B trường THCS Quỳnh Nghĩa
Lớp 9A Lớp 9B
3.3 Hình thức khởi động bằng Trò chơi đấu trường Toán học: (Thời gian tổ
chức 10p)
* Ý nghĩa của trò chơi đấu trường Toán học:
Học sinh được rèn luyện kĩ năng phản xạ nhanh và tập trung suy nghĩ khingười chơi chính trả lời các câu hỏi của các bạn phía dưới lớp đặt ra Thông quaviệc đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, học sinh phát triển được năng lực giải quyếtvấn đề, năng lực ngôn ngữ; cũng như phát triển được các phẩm chất đáng có củangười người học
* Cách chơi:
- Bước 1: Giáo viên yêu cầu không giở sách vở trong quá trình tham gia chơi.
- Bước 2: Giáo viên chọn 1 học sinh lên bục giảng làm người chơi chính
4
Trang 6- Bước 3: Các nhóm cử đại diện đặt 1 câu hỏi ngắn gọn, chính xác thuộc nội
dung bài học cho người chơi chính trả lời (GV định hướng, cố vấn cho HS đặt câu hỏi)
* Ví dụ : Khi dạy Luyện tập bài “Tỉ số lượng giác của góc nhọn”, giáo viên tổchức khởi động như sau:
- Nhóm 1 hỏi (hs phía dưới lớp): “Bạn cho tôi biết sin300=?”
+ Người chơi chính trả lời(hs lên bục giảng): =1/2.
- Nhóm 2 hỏi (hs phía dưới lớp): Bạn cho tôi biết sin520= tỉ số lượng giác củagóc nào nhỏ hơn 450?
+ Người chơi chính trả lời(hs lên bục giảng): cos380
Sau đây là hình ảnh hoạt động tại lớp 9A, 9B trường THCS Quỳnh Nghĩa
Lớp 9A Lớp 9B
Trò chơi này tùy thuộc vào câu hỏi của người hỏi đặt ra cho người chơi chính,nhưng phải là kiến thức thuộc bài học, giáo viên có nhiệm vụ cố vấn
Việc “Học mà chơi – Chơi mà học” là một phương châm được đề cao trong
hoạt động dạy học do có tác dụng khơi dậy nhiều hứng thú cho người dạy lẫnngười học đồng thời tạo ấn tượng sâu sắc về bài học, nhằm giúp việc học nhẹnhàng mà hiệu quả
3.4 Khởi động bằng ghép chữ để được công thức, định nghĩa, định lý, hệ quả Toán học đúng: (Thời gian tổ chức 10p)
Cách làm này huy động được tất cả mọi người trong nhóm tham gia, đạtđược nhiều phẩm chất và năng lực cho người học (NL thẩm mỹ; NL ngôn ngữ;
NL tự chủ; NL giao tiếp hợp tác; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo), và có thể ápdụng được cho các tiết Luyện tập Hình học
Ví dụ: Khi dạy Luyện tập bài “Tỉ số lượng giác của góc nhọn”, giáo viên yêu
cầu các nhóm ghép các mảnh giấy (giáo viên đã viết các cụm từ vào từng mảnh giấy nhỏ) để tạo thành một định lí đúng đã học để tìm ra từ khoá (COVID) đại
nạn toàn cầu thời gian qua như sau:
Nếu 2 góc phụ nhau thì Sin (tang) góc này bằng côsin (cotang) góc kia
Trang 7Sau đây là các hình ảnh đã tổ chức tại lớp học.
3.5 Hình thức khởi động bằng việc sử dụng tranh, ảnh, mô hình hoặc video có liên quan đến nội dung bài học: (thời gian
Tranh ảnh, mô hình và video với âm thanh, âm nhạc
sẽ để lại một ấn tượng rất sâu trong tâm trí người khác
Ví dụ: Khi dạy Luyện tập bài “Một số hệ thức về cạnh
và góc trong tam giác vuông-Hình 9”… giáo viên cho
học sinh xem mô hình ngôi nhà, cái cây, cột đèn, và
hỏi muốn tìm chiều cao của vật theo mô hình ( mà
không được đo chiều cao trực tiếp vật đó) ta cần làm
như thế nào ?
Ngoài ra còn nhiều trò chơi khác tùy vào nội dung bài học để áp dụng cho phù hợp.
4 Hiệu quả:
a Mức độ phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn nhà trường:
Đây là các phương pháp khởi động có tính lan tỏa sự hứng thú, kích thích tìmtòi của lứa tuổi học sinh Học sinh sẽ luôn có tâm trạng mong chờ đến tiết học.Các hình thức khởi động này cũng rất phù hợp với trường có số lượng học sinhđông, và nếu mở đầu bằng hình thức khởi động hay có thể lôi cuốn học sinh vềphía bài học, đồng thời là phương pháp ổn định lớp rất hiệu quả Bên cạnh đócác hình thức khởi động này cũng tương đối đơn giản phù hợp với mọi đốitượng, cũng như trường thiếu thốn cơ sở vật chất như trường tôi
b Mức độ đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH, KTĐG:
Năm học 2020 – 2021 là năm học tiếp tục thực hiện đổi mới giáo dục “dạy họctheo chủ đề”; “dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực họcsinh” Nội dung biện pháp phù hợp đổi mới PPDH đang thực hiện chuyển từchương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học,nghĩa là từ chỗ quan tâm HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học
Sau khi áp dụng các hình thức khởi động ở trên để giảng dạy, tôi đã nhận được
sự ủng hộ nhiệt tình của học sinh và đồng nghiệp Nhiều học sinh đã tự tìm hiểu,
tự nghiên cứu kiến thức, do đó đã phát huy được tính tích cực của học sinh trong
6
Trang 8quá trình dạy học, học sinh nắm kiến thức nhanh hơn và nhớ lâu hơn, đồng thờigóp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực ở người học Vì vậyviệc khắc sâu kiến thức cho học sinh thông qua hoạt động khởi động phải được
sử dụng thường xuyên
c Kết quả cụ thể:
Qua các hình thức tổ chức hoạt động khởi động như trên, học sinh có cơ hộihình thành và phát triển được các phẩm chất, năng lực học tập như: Phẩm chấtyêu thương, chăm học, chăm làm, trung thực và trách nhiệm; Năng lực tính toán,năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo,năng lực ngôn ngữ, năng lực tự học Các em học sinh trước đây học yếu nay đãtiến bộ rõ rệt
Bên cạch đó tôi nhận thấy:
truyền thống trước đây
Tổ chức hoạt động khởi động theo các trò chơi, tranh ảnh, mô hình, -Số lượng học sinh chú
ý
-Số lượng học sinh
tham gia học tập
- Số lượng học sinh tiếp
thu được bài học
- Điểm kiểm tra đánh
giá
- Ít học sinh chú ý
- ít học sinh tham gia vì
đã có chuẩn bị ở nhà,hoặc xem sách giải
- Chiếm khoảng 30-40%
- 70% HS không làm hết bài tập yêu cầu, nhiều hs điểm thấp
-Phần lớn học sinh chú ý
- Phần lớn học sinh thamgia hợp tác làm việc theoyêu cầu của giáo viên
- Chiếm khoảng 60-70%
- Làm BT xong, đúng yêucầu 70%
d Khả năng phát triển/mở rộng/vận dụng của biện pháp:
Biện pháp này có thể phát triển, mở rộng và vận dụng nhiều hơn nữa trong
các tiết dạy Môn Toán nói chung, Hình Học nói riêng và cũng như nhiều mônhọc khác Một mở đầu hay sẽ làm cho tiết học đậm lại mãi trong tâm trí học trò,từ đó để thấy rằng Toán học là một môn học thú vị, là thứ nghệ thuật đầy hấpdẫn, luôn tiềm ẩn những khoảnh khắc thăng hoa đầy ấn tượng Tôi tin rằng vớiphần khởi động tốt cộng với phương pháp giảng dạy phù hợp, số lượng học sinhyêu thích môn Toán nói chung và Hình Học nói riêng sẽ ngày càng nhiều Chấtlượng học tập môn Toán sẽ ngày càng được nâng lên
5 Minh chứng:
Trang 9Một số hình ảnh sử dụng các hình thức khởi động trong các tiết Luyện tập Hình Học của học sinh khối 9 trường THCS Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Lưu ! (có hình ảnh và video đính kèm)
8
Trang 10PHÒNG GD&ĐT QUỲNH LƯU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TH&THCS QUỲNH DIỄN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quỳnh Diễn, ngày 10 tháng 10 năm 2020
BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY Tên biện pháp:
Nâng cao chất lượng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bằng phương pháp phát triển tư duy cho học sinh từ việc khai thác 1 bài toán
c) Yêu cầu cần giải quyết: Nâng cao tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện môn toán lớp 9
của trường tôi trong năm học 2019 - 2020
2 Mục tiêu của biện pháp
a) Mục tiêu chung:
- Giúp cho học sinh phát hiện những cái mới từ những cái đã biết Hơn nữa khigặp 1 bài toán mới cùng dạng nhưng thay đổi cách hỏi thì học sinh biết sử dụng nhữngkết quả của những bài toán đã làm được để giải quyết cho bài toán mới
- Góp phần phát triển các năng lực cho học sinh theo định hướng đổi mới củachương trình GDPT mới 2018 như năng lực tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề và
Trang 11- Ngoài rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo còn phải gây hứngthú cho học sinh trong học tập, giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức 1 cách chủđộng.
b) Mục tiêu cụ thể: Nâng cao tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện năm học 2019-2020
3.Nội dung và cách thức thực hiện
Với mục tiêu trên, năm học 2019-2020 (thời gian cụ thể từ 27/8/2019 đến8/12/2019) tôi đã nghiên cứu một số biện pháp để nâng cao chất lượng bồi dưỡnghọc sinh giỏi lớp 9 Một trong những biện pháp có hiệu quả đó là phương pháp pháttriển tư duy cho học sinh từ việc khai thác 1 bài toán (bài toán gốc) Sau một số bàitoán tôi thường hướng dẫn học sinh khai thác sâu các kết quả và cái đã biết để tìm
ra các bài toán mới Vì vậy, từ bài toán gốc tôi đã hướng dẫn học sinh tìm ra đượcchuỗi bài toán từ dễ đến khó
Sau đây là 1 ví dụ :
Bài toán 1:(Bài toán gốc)
Cho tam giác ABC nhọn Các đường cao AD, BE cắt nhau tại H
Chứng minh: a) ∆BHD ∆BCE
b) ∆BHD ∆ACD Đây là bài toán cơ bản, đa số học sinh đều
giải được Từ bài toán gốc này tôi đã khai thác
ra các bài toán tương tự và các bài toán phức tạp
và khó hơn (kiến thức chỉ đến chương II hình học 9)
Phân tích tìm bài toán mới : Hình 1
Giáo viên gợi ý: (Hình 1) Theo kết quả bài toán 1a) ta có ∆BHD ∆BCE ta
suy ra ? ( )
Từ ta suy ra đẳng thức nào? ( BH.BE = BD.BC )
Từ đó đưa ra bài toán sau :
Bài toán 2: Cho tam giác ABC nhọn Các đường cao AD, BE cắt nhau tại H
Chứng minh: BH.BE = BD.BC (1)
Phân tích tìm bài toán mới :
Giáo viên gợi ý: Dựa vào kết quả của bài toán 2
Tương tự nếu tam giác ABC nhọn có 3 đường cao
AD, BE,CF cắt nhau tại H, ta có đẳng thức nào?
(Học sinh có thể phát hiện ra 1 số đẳng thức tương tự,
trong đó có đẳng thức CH.CF = DC.BC (2))
Từ (1) và (2) ta có BH.BE + CH.CF = ?
( BH.BE + CH.CF = BD.BC + DC.BC = (BD +DC).BC = BC2 )
Hình 2
1
Trang 12Từ đó ta có bài toán sau :
Bài toán 3: Cho tam giác ABC nhọn Các đường cao AD, BE, CF cắt nhau tại H
Chứng minh: BH.BE + CH.CF = BC2 (3)
Phân tích tìm bài toán mới :
Giáo viên gợi ý: (Hình 2) Dựa vào kết quả của bài toán 3, tương tự ta có đẳng thức
nào?
( BH.BE + AH.AD = AB2 (4)
CH.CF + AH.AD = AC2 (5))Từ (3),(4),(5) ta suy ra AB2 + BC2 + AC2 = ?
(AB2 + BC2 + AC2 = 2(AH.AD + BH.BE + CH.CF) )Từ đó ta có bài toán sau :
Bài toán 4:Cho tam giác ABC nhọn Các đường cao AD, BE, CF cắt nhau tại H
Chứng minh : AH.AD + BH.BE + CH.CF = (AB2 + BC2 + AC2)
Phân tích tìm bài toán mới :
Giáo viên gợi ý:
Dựa vào kết quả của bài toán 1b)
∆BHD ∆ACD ta suy ra
( )
Từ ta suy ra điều gì ? ( DH.DA = CD.BD )
Từ đó ta có bài toán sau :
Bài toán 5: Cho tam giác ABC nhọn Các đường cao AD, BE cắt nhau tại H
Chứng minh : DH.DA = CD.BD
Phân tích tìm bài toán mới :
Giáo viên gợi ý : Dựa vào kết quả của bài 5
và bất đẳng thức côsi, hướng dẫn học sinh
phân tích để khai triển tìm ra bài toán mới như sau:
Dễ thấy BD + DC = BC
Áp dụng bất đẳng thức cô si ta có BD.DC≤ ?
Từ đó ta có bài toán sau:
Bài toán 6: Cho tam giác ABC nhọn, với BC không đổi Các đường cao AD, BE
cắt nhau tại H
Trang 13Chứng minh :
Phân tích tìm bài toán mới :
Giáo viên gợi ý :
Dựa vào kết quả bài toán 5 và tỉ số lượng giác của góc nhọn trong tam giác vuông,hướng dẫn học sinh khai triển để tìm ra bài toán mới như sau:
Tam giác ABD vuông tại D, ta có tanB = ?
( tanB = ) (6)
Tam giác ACD vuông tại D,ta có tanC = ?
(tanC = ¿ (7)Từ (6) và (7) ta suy ra tanB.tanC = ?
Bài toán 8: Cho tam giác ABC nhọn có các đường cao AD,BE,CF cắt nhau tại H.
Tính tanABC.tanACB theo k Biết k =
Bài toán 9:
Cho tam giác ABC nhọn, có BC cố định Các đường cao BE, CF cắt nhau tại HChứng minh: BH.BE + CH.CF không đổi
Bài toán 10:
Cho tam giác ABC nhọn, BC cố định nội tiếp đường tròn (O), các đường cao AD,
BE, CF Trực tâm H Xác định vị trí điểm A trên cung lớn BC để đạt giá trịlớn nhất
Bài toán 11 (Đề thi học sinh giỏi huyện Quỳnh Lưu năm học 2007-2008)
Cho tam giác ABC nhọn, Các đường cao BE; CF cắt nhau tại H
3
Trang 14c) Kết quả cụ thể:(Có minh chứng kèm theo)
Khi chưa áp dụng biện pháp phát triển tư duy cho học sinh từ việc khai thác 1bài toán Tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện còn thấp, số điểm trên các bài thi cũng chưacao
Kết quả các năm học chưa áp dụng biện pháp như sau:
Năm học 2017-2018, tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện môn toán là 50%
Năm học 2018-2019, tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện môn toán là 25%
Kết quả năm học 2019-2020 tôi đã áp dụng biện pháp như sau:
Số học sinh tham gia thi học sinh giỏi huyện lớp 9 môn toán là: 4 em
Số học sinh đạt giải khuyến khích là : 2 em Số học sinh đạt giải ba là: 1 em
Vì thế, năm học2019-2020 tỉ lệ đạt học sinh giỏi huyện môn toán đạt 75%
d) Khả năng phát triển /mở rộng/vận dụng của biện pháp
Trong thời gian tới, tôi sẽ tiếp tục áp dụng phương pháp phát triển tư duy chohọc sinh từ việc khai thác 1 bài toán để nâng cao chất lượng trong công tác bồidưỡng học sinh giỏi Ngoài ví dụ trên và 1 số chuyên đề tôi đã khai thác được, tôi sẽtìm tòi nghiên cứu thêm 1 số chuyên đề nữa để năm học 2020-2021 tỉ lệ đạt họcsinh giỏi huyện cao hơn nữa
GIÁO VIÊN DỰ THI
Bùi Thị Hiền
Trang 15SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUỲNH LƯU
BÁO CÁO
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY
Họ tên: Hồ Thị Ngọc Oanh
Đơn vị công tác: Trường THCS Sơn Hải
Chức vụ hiện giữ: Giáo viên
Môn dự thi: Toán
5
Trang 16NGHỆ AN – NĂM 2020
Trang 17CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Về phía giáo viên:
- Trong quá trình dạy học toán thì đa số giáo viên có sự quan tâm đến các bàitoán thực tiễn trong dạy học nhưng không chủ động tìm hiểu mà chú ý đến sửdụng bài tập ở sách giáo khoa, sách bài tập Dẫn đến hiệu quả vận dụng cácbài toán thực tiễn vào dạy học chưa cao
- Có thể thấy số lượng các bài toán thực tiễn trong phần hình học 9 khôngnhiều đặc biệt là chưa liên tục và không đều mà không phải bất cứ nội dungnào, hoạt động nào cũng có thể đưa ra được những bài tập xuất phát từ thực
tế Do vậy đòi hỏi giáo viên cần có sự lựa chọn các nội dung sát với thực tiễn
để học sinh có điều kiện áp dụng kiến thức toán học vào cuộc sống
Về phía học sinh:
-Khi học toán, nhiều học sinh đặt câu hỏi, ví dụ như: Học tỷ số lượng giác củagóc nhọn có áp dụng ngoài cuộc sống không cô? Nhiều học sinh chưa thấyđược toán học vận dụng vào thực tế
- Khi dạy học ở tiết luyện tập hệ thức về cạnh và góc trong tam giác vuông tôi
đã cho các em làm bài tập đơn giản
Khi đó tôi nhận được kết quả lời giải như sau AC=AB.tan B=5.tan600=
và hầu hết các học sinh trong lớp làm đúng kết quả Sau đó tôi đưa ra bài toánđược cho ở dạng nội dung thực tiễn như sau:
Bài 2: Hãy nghĩ cách đo chiều cao của tháp mà không được trèo lên tháp.
Biết
các tia nắng mặt trời tạo với mặt đất một góc xấp xỉ bằng 340 Giả sử em có
một dụng cụ là thước dây dài
Trang 18Sau 5 phút để cho các em suy nghĩ, tôi kiểm tra kết quả của 38 học sinhtrong lớp học thì tôi nhận thấy được 8 câu trả lời đúng, phần còn lại thì khôngtrả lời được hoặc trả lời sai
Khi đó tôi nhận thấy rằng: Phần lớn học sinh làm được các bài toán liênquan đến số liệu thay vào công thức để tính toán Còn đối với bài toán thựctiễn thì học sinh lại gặp khó khăn, lúng túng và còn yếu khi giải quyết các yêucầu của bài toán
c) Yêu cầu cần giải quyết
Từ những vấn đề mà học sinh hỏi, học sinh còn yếu trong học toán thì tôi
đã biết mình phải điều chỉnh cách dạy như thế nào cho phù hợp Vì thế trongquá trình dạy học tôi luôn hướng chọn các bài toán vận dụng thực tiễn chohọc sinh
2.Mục tiêu của biện pháp
a) Mục tiêu chung
- Tăng cường các bài toán thực tiễn vào dạy học là một mục tiêu, một nhiệm
vụ quan trọng của việc dạy học toán ở trường học: thay cho việc dạy học sinhmột khối lượng lớn kiến thức, trước hết ta phải dạy cho học sinh cách huyđộng có hiệu quả kiến thức đã được học để giải quyết những tình huống xuấthiện trong thực tiễn
- Góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất năng lực cho học sinhtheo định hướng đổi mới của chương trình GDPT 2018
b)Mục tiêu cụ thể
- Nhằm nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh-Thấy được vai trò của toán học trong đời sống thực tiễn
3 Nội dung, cách thức thực hiện biện pháp
Là một giáo viên dạy môn Toán, tôi đã áp dụng nhiều biện pháp trong quátrình dạy học để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Bản thân tôi luôn suynghĩ là làm thế nào để học sinh không thấy chán nản khi học giờ toán và yêuthích bộ môn Học sinh thấy được môn toán rất gần gũi với đời sống củamình Trong dạy học tôi thường linh hoạt đưa các hình ảnh thực tế, các bàitoán thực tiễn vào dạy học Mỗi hoạt động thì tôi đều nghiên cứu bài dạy chọnhình ảnh và bài tập phù hợp với từng tiết dạy
a)Trong dạy học ở hoạt động “Khởi động” tôi đưa ra các ví dụ sau:
Ví dụ 1 : Khi dạy bài “ Một số hệ thức về cạnh và góc trong tam giác vuông” Giáo viên có thể đưa ra tình huống sau cho học sinh suy nghĩ?
Trang 19
Học sinh có thể sử dụng định nghĩa tỉ số
lượng giác của góc nhọn để tìm ra kết quả
Giáo viên đặt vấn đề ngoài cách sử dụng định
nghĩa tỷ số lượng giác của góc nhọn thì hôm
nay chúng ta sẽ tìm hiểu cách khác
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Diện tích hình tròn,
hình quạt tròn” Tôi đưa ra mẩu chuyện
Trong câu chuyện “ Con người cần nhiều ruộng đất không?” Toxtoi có kể
về một nông dân có quyền nhận mảnh ruộng mà anh ta chạy được một vòngquanh nó trong một ngày Để có nhiều ruộng đất, anh ta phải chạy theo đườngnào: theo cạnh hình vuông, theo cạnh hình chữ nhật, hay theo đường tròn? Vấn đề đặt ra là trong các đường có cùng một chu vi, đường nào bao bọcdiện tích lớn nhất?
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Vị trí tương đối của đường thẳng và đường tròn”
giáo viên đưa ra hình ảnh sau:
2
Theo các nhà chuyên môn, để an toàn, chân thang phải được đặt sao cho tạo với mặt đất
Trong thực tế đo góc khó hơn đo độ dài, giả
sử thang dài 3m ta tính xem chân thang được đặt cách chân tường là bao nhiêu mét để nó tạo được với mặt đất một
Trang 20Bánh của tàu hỏa và đường ray tàu trên một đoạn đường có vị trí như thế nàovới nhau? (Nếu xem bánh xe của tàu hỏa là hình tròn và đường ray là đườngthẳng).
Trả lời: Vì bánh xe chuyển động trên đường ray nên bánh xe và đường raytiếp xúc với nhau
Ví dụ 4: Khi dạy bài “Góc nội tiếp” Giáo viên đưa ra nội dung sau
Thử tìm hiểu xem tại sao một số nhà hát cổ kính nhất thế giới lại thường
được thiết kế dạng vòng tròn chẳng hạn Nhà hát Verona Arena của I-ta-li-a
b)Trong hoạt động “Hình thành kiến thức” tôi đưa ra một số bài toán có nội
dung thực tế để học sinh dễ tiếp thu kiến thức
Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Hình trụ- Diện tích xung quanh và thể tích của hình trụ” Ở phần 2- Cắt hình trụ bởi một mặt phẳng Tôi cho học sinh thực
hiện các hoạt động sau Đọc và trả lời câu hỏi
Câu hỏi 1: Coi cái giò là một hình trụ Nếu cắt ngang thì mặt cắt là hình gì?
Trang 21Câu hỏi 2: Coi khúc gỗ là một hình trụ , nếu cắt dọc hình trụ ta được mặt cắt
là hình gì?
Trả lời:
Câu hỏi 1: Mặt cắt là hình tròn
Câu hỏi 2: Mặt cắt là hình chữ nhật
Qua phần trả lời câu hỏi trên thì sẽ đi hình thành kiến thức:
Khi cắt hình trụ bởi một mặt phẳng song song với đáy, thì phần mặtphẳng nằm trong hình trụ( mặt cắt) là một hình tròn bằng hình trònđáy
Khi cắt hình trụ bởi một mặt phẳng song song với trục thì mặt cắt làmột hình chữ nhật
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Hình cầu Diện tích mặt cầu và thể tích hình cầu” ” Ở
phần 2- Cắt hình cầu bởi một mặt phẳng Tôi cho học sinh thực hiện các hoạtđộng sau Đọc và trả lời câu hỏi
Câu hỏi 1: Khi cắt quả cam có dạng hình cầu ở hình 1 thì mặt cắt là hình gì?Câu hỏi 2: Khi cắt quả dâu hấu có dạng hình cầu ở hình 2 thì mặt cắt là hìnhgì?
Câu hỏi 3: Bình nuôi cá cảnh trong hình 3, mặt nước phía trên cùng có dạnghình gì?
4
Trang 22c) Trong hoạt động “Củng cố kiến thức” tôi thường đưa ra các bài toán thực
tế liên quan đến kiến thức toán học vừa xây dựng để học sinh nhớ lâu và hiểusâu kiến thức
Tôi đã tổ chức cho học sinh giải quyết các bài toán ở các hoạt
động” khởi động”
Ví dụ 1: Củng cố sau khi học xong bài “Một số hệ thức về
cạnh và góc trong tam giác vuông” (Toán 9- tập I)
Một chiếc thang dài 3m Cần đặt chân thang cách chân tường
một khoảng bằng bao nhiêu để nó tạo được với mặt đất một góc
“an toàn” 650 (tức là đảm bảo thang không bị đổ khi sử dụng)?
Trang 23Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Diện tích hình tròn, hình quạt tròn”
Trong câu chuyện “ Con người cần nhiều ruộng đất không?” ở phần khởiđộng
Giáo viên chuyển về bài toán: Cho một hình chữ nhật, một hình vuông vàmột hình tròn có chu vi là 16 m Hình nào có diện tích lớn nhất?
Giả sử hai cạnh hình chữ nhật là 3 m và 5 m; Cạnh hình vuông là 4m
Bán kính hình tròn là R=C:2 =8 (m)
Hình nào có diện tích lớn nhất
S1=3.5=15 m2; S2=42=16 m2; S3= R2 20,4 m2
Hình tròn có diện tích lớn nhất
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Góc nội tiếp”
Thử tìm hiểu xem tại sao một số nhà hát cổ kính nhất thế giới lại thường
được thiết kế dạng vòng tròn chẳng hạn Nhà hát Verona Arena của I-ta-li-a
Nhà hát Verona Arena
Trả lời: Người ta hay xây các nhà hát hình tròn vì để khi người xem ngồi bất
kì ở đâu trong rạp hát cũng có thể nhìn sân khấu một góc như nhau và quansát được toàn bộ buổi biểu diễn
6
Trang 24d) Trong hoạt động “Vận dụng” tôi thường đưa ra các bài toán thực tế liên
quan đến kiến thức toán học Với mục đích học sinh luôn thấy được ứngdụng của toán học vào thực tiễn, toán học rất gần gũi với đời sống
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Một số hệ thức về cạnh và góc trong tam giác vuông” (Toán 9- tập I)
Tính chiều cao của cột cờ tại sân trường, biết bóng của cột
cờ được chiếu bởi ánh sáng Mặt Trời xuống đất dài 10,5m
và góc tạo bởi tia sáng với mặt đất là 35o45’ (h.56)
Trả lời: Theo hình vẽ ta có, trong tam giác vuông ABC:
AB = AC.tanC = 10,5.tan35o45' = 7,56 (m)
Vậy chiều cao cột cờ là 7,56m.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Hình nón- hình nón cụt- diện tích xung quanh và thể tích của hình nón, hình nón cụt” thì tôi cho học sinh làm bài tập 21
( Trang 118 sgk);
Bài 21( trang 118 sgk) Cái mũ của chú hề với các kích thước cho theo hìnhvẽ Hãy tính tổng diện tích vải cần có để làm nên cái mũ ( không kể riểm,mép, phần thừa)
Trả lời:
Diện tích vải cần có để làm nên cái mũ gồm diện tích
xung quanh của hình nón và diện tích của vành nón
Bán kính đường tròn đáy của hình nón:
(cm)Diện tích xung quanh hình nón:
Sxq = π.r.l = π.7,5.30 = 225π (cm2)
Diện tích vành nón (hình vành khăn): (cm2)
Diện tích vải cần để may: 225π + 250π = 475π ≈ 1492,3 (cm2)
Sau khi học sinh làm xong bài tập thì tôi cho học sinh thực hành làmnhững đồ chơi gửi tặng các em mầm non như: Cái mũ chú hề, mũ sinh nhật…
Trang 254 Hiệu quả
a) Mức độ phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn nhà trường.
Tăng cường các bài toán thực tiễn trong dạy học phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn Biện pháp tôi đưa ra phùhợp tất cả các đối tượng học sinh, cũng như điều kiện của nhà trường nơi tôidạy học
b) Mức độ đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.
Biện pháp tôi đưa ra góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm pháttriển năng lực của học sinh Biện pháp phù hợp đổi mới phương pháp dạy họcđang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sangtiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS họcđược cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học
c) Kết quả, hiệu quả của biện pháp trong việc nâng cao chất lượng công tác giảng dạy ở cơ sở:
Qua thực hiện và vận dụng biện pháp trên trong quá trình dạy học tôi nhậnthấy các em có sự hứng thú và tích cực hơn trong quá trình học tập bộ môn.Học sinh rất hào hứng và dễ tiếp thu bài khi giáo viên liên hệ toán học vớithực tiễn Khi học toán học sinh không còn cảm giác mệt mỏi, chán nản Việc
áp dụng biện pháp trên trong dạy toán thì phát triển các năng lực : năng lựcgiải quyết vấn đề toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực tư duy vàlập luận toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng công cụ,phương tiện học toán cho người học theo định hướng đổi mới của chươngtrình giáo dục phổ thông mới 2018 Kết quả bài kiểm tra khi học sinh làm bàitoán thực tiễn được nâng lên Kết quả cụ thể như sau : Tỷ lệ học sinh làm bàiđược toán thực tiễn phân môn Hình 9 kết quả trung bình khoảng 65%
d) Khả năng phát triển, mở rộng, vận dụng của biện pháp
Trong thời gian tới “Tăng cường các bài toán thực tiễn trong dạy học Hình 9góp phần hình thành và phát triển năng lực cho học sinh” vẫn tiếp tục được ápdụng trong quá trình dạy toán của bản thân Trong quá trình dạy học việc ápdụng các bài toán thực tiễn cho học sinh không chỉ ở hình 9 mà còn ở tất cảcác khối lớp mà giáo viên đang giảng dạy Trong chương trình GDPT 2018thì việc áp dụng kiến thức toán học để giải quyết một số vấn đề thực tiễn làmục tiêu xuyên suốt trong khi giảng dạy
5 Minh chứng
Kết quả số học sinh làm được bài toán thực tiễn trong kiểm tra chương I hình 9ngày càng tăng lên Cụ thể
8
Trang 26Năm học Sĩ số Số học sinh làm được
bài toán thực tiễn Tỉ lệ
%
Số học sinh khônglàm được Tỉ lệ %
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY:
“Phát hiện và khắc phục một số sai lầm thường gặp cho học sinh khi giải toán trong tập hợp số nguyên”.
(Tham gia kỳ thi GVDG Tỉnh THCS năm 2020)
Họ tên: LƯU THỊ KIM TUYÊN
Đơn vị công tác: Trường THCS Quỳnh Tam
Chức vụ hiện giữ: Tổ phó tổ KHTN
Trang 27Môn dự thi: Toán
NGHỆ AN – NĂM 2020
10
Trang 28SỞ GD&ĐT NGHỆ AN
PHÒNG GD&ĐT QUỲNH LƯU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quỳnh Lưu, ngày 28 tháng 9 năm 2020
BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY
(Tham gia thi GVDG tỉnh cấp THCS năm 2020)
Họ tên: Lưu Thị Kim Tuyên
Đơn vị công tác: Trường THCS Quỳnh Tam
Chức vụ hiện giữ: Tổ Phó
Môn dự thi: Toán
Sơ lược về nhiệm vụ và thành tích cá nhân
- Nhiệm vụ giảng dạy được phân công trong năm học 2020-2021:
Dạy toán 7A, 9B, 8C chủ nhiệm 9B
- Thành tích đã đạt được trong thời gian qua: Đạt GVGT 9 chu kỳ, GVGH 2 chu kỳ
Tên biện pháp: “ Phát hiện và khắc phục một số sai lầm thường gặp cho học sinh khi giải toán trong tập hợp số nguyên”
1 Lý do chọn biện pháp:
Với các em học sinh lớp 6 bước đầu làm quen với chương trình THCS nêncòn nhiều bỡ ngỡ, gặp không ít khó khăn Trong quá trình truyền đạt kiếnthức cho các em và qua những giờ luyện tập trên lớp, kiểm tra bài tập vềnhà tôi nhận thấy một điều, có những kỉ năng giải toán mà học sinh rất dễ bịngộ nhận và mắc sai lầm trong khi giải (kể cả học sinh khá giỏi) Nếu trongquá trình dạy học toán, giáo viên đưa ra những tình huống sai lầm mà các em
dễ bị mắc phải, phân tích và chỉ rõ cho các em thấy được những nguyên nhândẫn đến sai lầm, điều đó sẽ giúp cho các em không những khắc phục được sailầm mà còn hiểu kĩ hơn bài mình đang học Dựa trên thực trang đó tôi đã thực
hiện biện pháp:“ Phát hiện và khắc phục một số sai lầm thường gặp cho học sinh khi giải toán trong tập hợp số nguyên”.
2 Mục đích, yêu cầu của biện pháp.
- Giúp các em phát hiện được những sai lầm khi giải toán trong tập hợp sốnguyên mà các em mắc phải, từ đó hướng dẫn cho các em khắc phục được
Trang 29những sai lầm và tránh được những sai lầm khi giải các bài toán tương tự, cácbài toán có liên quan.
- Bước đầu hình thành cho các em tính tích cực, tự giác, chủ động, khơi dậytính cẩn thận, chịu khó, sáng tạo khi giải toán
- Giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập môn toán
3 Nội dung cách thức thực hiện biện pháp
Tôi là giáo viên được phân công giảng dạy môn toán 6 nhiều năm, quađiều tra bằng cách cho học sinh làm bài viết 15 phút, 45 phút, chấm vở bài tập
số học của học sinh, tôi nhận thấy trong bài làm của học sinh thường cónhững sai sót như sau:
*) Thứ nhất: Sai lầm khi giải toán liên quan đến các phép toán: cộng, trừ,
nhân, chia, nâng lên lũy thừa trong tập Z
Bài toán 1: Thực hiện phép tính
a) - 5 + (- 10 )
b) 3 + (- 8 ) c) -2 - 5
- HS thường thực hiện sai như sau: a) - 5 + (-10 ) = 15
b) 3 + (- 8 ) = 5
c) - 2 - 5 = - 3
+) Nguyên nhân: Học sinh chưa nắm vững quy tắc cộng hai số nguyên cùng
dấu ( khác dấu) nên đã áp dụng sai
+) Biện pháp khắc phục:
Việc dụng quy tắc cộng các số nguyên cùng dấu ( khác dấu) vào làm bài tậpđối với học sinh là khá khó, để khắc phục điều này tôi thường làm như sau.Trong cuộc sống, ta quan niện nợ là số âm, có là số dương nên để làm đượccác bài toán trên thì các em gắn với thực tế quá trình trả nợ Nếu trả nợ nhưng
1
Trang 30vẫn còn nợ thì kết quả thu được là một số âm, nếu trả nợ mà còn thừa tiền đưa
b) 15 (30 + 2) + 15 30 = 15 30 + (15) 2 + 15 30 = 15 2 = 30
c) 7 46 + 54 7 = 7 (46 + 54) = 7.100 = 700
Trang 31Bài toán 3: Thực hiện phép tính:
+) Biện pháp khắc phục:
a) Giáo viên đưa hai đề bài: Tính -70 : 2 5 và tính -70 : ( 2 5)
Yêu cầu học sinh nêu sự khác nhau của hai đề bài và giáo viên đưa ra cáchgiải đúng cho hai bài tập trên để học sinh so sánh:
- 70 : 2 5 = (- 70 : 2 ) 5 = - 35 5 = - 175 (thực hiện từ trái sang phải)
- 70 : (2 5) = -70 : 10 = -7 (thực hiện trong ngoặc trước)
Từ đó giáo viên đi đến nhấn mạnh sự khác nhau giữa hai kết quả và kết hợpchỉ ra cho học sinh thấy sai lầm trên để học sinh rút kinh nghiệm
b) Tôi đưa hai bài toán: Tính -17 – 43 + 7 và tính -17 – (43 + 7)
Yêu cầu học sinh nêu sự khác nhau của hai đề bài và giáo viên đưa ra cáchgiải đúng cho hai bài tập trên để học sinh so sánh
- 17 – 43 + 7 = - 60 + 7 = - 53 (thực hiện từ trái sang phải)
- 17 – (43 + 7) = -17 – 50 = - 67 (thực hiện trong ngoặc trước)
Từ đó giáo viên đi đến nhấn mạnh sự khác nhau giữa hai kết quả và kết hợpchỉ ra cho học sinh thấy sai lầm trên để học sinh rút kinh nghiệm c) Tôi đưa hai bài toán: Tính (18 - 5) 3 và tính 18 – 5 3
Yêu cầu học sinh nêu sự khác nhau của hai đề bài và giáo viên đưa ra cáchgiải đúng cho hai bài tập trên để học sinh so sánh
3
Trang 32( 18 - 5) 3 = 13 3 = 39 (tính trong ngoặc trước)
18 – 5 3 = 18 - 15 = 3 ( tính phép nhân trước phép trừ sau)
Từ đó giáo viên đi đến nhấn mạnh sự khác nhau giữa hai kết quả và kết hợpchỉ ra cho học sinh thấy sai lầm trên để học sinh rút kinh nghiệm
Bài toán 4: Tìm x, biết: -2x + 50 : 25 = 4
HS thường thực hiện giải như sau:
+) Nguyên nhân: Do học sinh không phân biệt được bài toán thứ tự thực hiện
phép tính với bài toán tìm x, đã xác định số 25 trong biểu thức là số chia vàxem
–2x + 50 là số bị chia nên dẫn đến sai lầm
Trang 33Từ đó giáo viên đi đến nhấn mạnh sự khác nhau giữa hai kết quả và kết hợpchỉ ra cho học sinh thấy sai lầm trên để học sinh rút kinh nghiệm
số thừa số đúng bằng số mũ) Trường hợp đặc biệt khi tính giá trị của luỹ thừabậc không, cần tuân theo quy ước
5
Trang 34b) Chỉ rõ cơ số của hai lũy thừa trên và nhắc lại cho học sinh khi nhân hailũy thừa cùng cơ số ta giữ nguyên cơ số và cộng số mũ với nhau.
Đáp án đúng: 23 25 = 23+5 = 28
c) không có công thứ công (trừ) hai lũy thừa có cùng cơ số, mà đối vớinhững bài toán như thế thì phải tuân theo thứ tự thực hiện phép tính đó là phảitính lũy thừa trước rồi mới đến phép cộng ( hoặc phép trừ)
Đáp án đúng là 23 + 22 = 8 + 4 = 12; 23 - 22 = 8 - 4 = 4
+) Bài tập tương tự:
Bài tập: Tính giá trị các biểu thức
a) 24 b) 33 34 c) 33 - 32 d) 33 + 32
*) Thứ hai Sai lầm khi vận dụng “Quy tắc dấu ngoặc”
Quy tắc dấu ngoặc không khó đối với học sinh nhưng khi làm bài các
em rất hay bị nhầm lẫn, đặc biệt trong trường hợp khi có dấu trừ đứng trước dấungoặc
Bài toán 6: a) Bỏ dấu ngoặc rồi tính: ( 25 + 45) - (60 - 25 + 45)