Mặc dù pháp luật đã có những quy định về thủ tục thành lập, cách thức tổ chức, hoạt động, việc chia, tách, sáp nhập và sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề
Trang 1-TRẦN THU HÀ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM- THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Trang 2-TRẦN THU HÀ
VIỆT NAM- THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt
Nam- thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” là nghiên cứu của chính tôi
đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Trần Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập chương trình cao học ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, tôi chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam- thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” để nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Để hoàn thành luận văn này, lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Thị Tuyết Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Hội đồng góp đề cương luận văn đã có những ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô Khoa Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi trong thời gian học tại Trường Tôi cảm ơn quý thầy, cô đã tham gia giảng dạy chương trình cao học ngành Luật Kinh tế đã truyền đạt những kiến thức có giá trị về lý luận và thực tiễn để tôi có điều kiện, nền tảng cơ bản thực hiện nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người bạn, đồng nghiệp, người thân đã tận
tình hỗ trợ, động viên tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Xin kính chúc quý thầy, cô, các bạn học viên cao học ngành Luật Kinh tế Khóa 1, đồng nghiệp, bạn bè và người thân sức khỏe và thành công trong cuộc sống Xin trân trọng cảm ơn!
TÓM TẮT
Trang 5Bên cạnh thành quả của sự phát triển kinh tế, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã và đang phải đối mặt các vấn đề xã hội và môi trường như đói nghèo, bệnh tật, thất nghiệp, bất bình đẳng về giới, ô nhiễm môi trường, biến đổi khíhậu Để cân bằng giá trị kinh tế và xã hội, góp phần giải quyết những tồn tại trên, doanh nghiệp xã hội đã ra đời
cộng đồng, có các hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận nhằm tối đa hóa mục
cung cấp dịch vụ xã hội và việc làm cho những đối tượng thuộc nhóm người yếu thế
một trận đại dịch (làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp), sau đó lan sang nước Mĩ, Bắc Âu vào thế kỷ XVIII-XIX và lan mạnh trên thế giới vào những thập niên 80 của thế kỷ
XX Đến nay, nhiều nước như Anh, Mĩ, Ý, Singapore, Hàn Quốc đã công nhận doanh nghiệp xã hội và tạo lập khuôn khổ pháp lý để doanh nghiệp xã hội hoạt động
và phát triển
Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp xã hội xuất hiện khá muộn và được luật hóa tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Theo đó, doanh nghiệp xã hội cũng giống các doanh nghiệp khác trong tổ chức và hoạt động nhưng khác ở mục
đích phân phối và sử dụng lợi nhuận, đó là “sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận
hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký” Mặc dù pháp luật đã có những quy định về thủ tục thành
lập, cách thức tổ chức, hoạt động, việc chia, tách, sáp nhập và sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề như tài chính, chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước, chế tài xử phạt chưa được quy định hoặc có nhưng chưa rõ ràng,
cụ thể nên có thể nói từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực đến nay, số lượng thành lập và sự đóng góp của doanh nghiệp xã hội còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của xã hội và cần phải có giải pháp để hoàn thiện nhằm thúc đẩy doanh
hội theo pháp luật Việt Nam- thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” để
Trang 6nghiên cứu
trình nghiên cứu, các bài viết có liên quan, đặc biệt là các văn bản pháp luật quy định về doanh nghiệp xã hội của Anh, Ý và Hàn Quốc và áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, so sánh nhằm làm rõ về mặt lý luận, thực tiễn cũng như đặc điểm, vai trò, lợi ích của loại hình doanh nghiệp này đối với kinh tế,
xã hội của các quốc gia Bên cạnh đó tác giả cũng xem xét thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam, cụ thể là Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật khác có liên quan để rút ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều khoản liên quan đến vấn đề vốn, thuế, hỗ trợ và chế tài trong hệ thống pháp luật Việt Nam để các doanh nghiệp xã hội được phát triển bền vững
Kết quả nghiên cứu này có thể là tài liệu để nhà nước vận dụng sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan và hoàn chỉnh pháp luật doanh nghiệp xã hội; là tài liệu tham khảo cho những cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp xã hội; làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho giảng viên, sinh viên, học viên ngành luật kinh tế
MỤC LỤC
Trang 7Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh mục từ viết tắt vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tì nh hì nh nghiên cứu đề tài 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
8 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 9
1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội 9
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội 9
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội 18
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp xã hội 21
1.2 Các loại hì nh doanh nghiệp xã hội 23
1.2.1 Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận 23
1.4.2 Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận 23
1.3 So sánh doanh nghiệp xã hội với doanh nghiệp thông thường, NGO, NPO, quỹ từ thiện 24
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI- SO SÁNH VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 31
2.1 Các quy định của pháp luật về thành lập doanh nghiệp xã hội 31
2.1.1 Tiêu chí và điều kiện thành lập doanh nghiệp xã hội 31
2.1.2 Thủ tục thành lập doanh nghiệp xã hội 33
Trang 82.2 Quy định của pháp luật về tên của doanh nghiệp xã hội 38
2.3 Quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp xã hội 38
2.3.1 Quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội 39
2.3.2 Quy định của pháp luật về tài chính doanh nghiệp xã hội 41
2.3.3 Quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp xã hội 43
2.4 Quy định của pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ, viện trợ đối với doanh nghiệp xã hội 44
2.4.1 Quy định của pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ 44
2.4.2 Quy định của pháp luật về viện trợ, tài trợ 47
2.5 Quy định của pháp luật về đăng ký chuyển đổi cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ từ thiện và quỹ xã hội thành doanh nghiệp xã hội 48
2.6 Những quy định của pháp luật về tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp xã hội 50
2.6.1 Tổ chức lại doanh nghiệp xã hội 50
2.6.2 Giải thể doanh nghiệp xã hội 50
2.7 Những quy định về cơ chế theo dõi, giám sát của cơ quan có thẩm quyền đối với doanh nghiệp xã hội 51
Kết luận chương 2 54
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 55
3.1 Tì nh hì nh thành lập, hoạt động của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 55
3.1.1 Tình hình thành lập doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 55
3.1.2 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam 57
3.2 Một số vướng mắc, bất cập về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đối với doanh nghiệp xã hội 68
3.2.1 Về vốn của doanh nghiệp xã hội 68
3.2.2 Về thuế đối với doanh nghiệp xã hội 69
3.2.3 Về hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ, giấy chứng nhận 70
3.2.4 Về chuyển đổi thành doanh nghiệp xã hội 71
3.2.5.Về tên của doanh nghiệp xã hội 71
3.2.6 Kiểm tra hoạt động, lợi ích xã hội, môi trường của doanh nghiệp xã hội 72
3.2.7 Thị trường và lao động của doanh nghiệp xã hội 73
Trang 93.3 Một số giải pháp hoàn thiện về đường lối, chủ trương, chính sách và các
quy định pháp luật đối với doanh nghiệp xã hội 73
3.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội 73
3.3.2 Một số đề xuất cụ thể để hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội 74
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Finance Institutions
Interest Company Regulations 2005
Enterprise Promotion Agency
Cooperation and Development
Social Innovation and Civic Participation
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt ở mức cao trong khu vực và thế giới; tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trung
đời sống vật chất của người dân được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với các vấn đề xã hội và môi trường như đói nghèo, bệnh tật, việc làm cho người nghèo, người khuyết tật, sự bất bình đẳng về giới, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu
Theo số liệu tại Hội thảo tham vấn xây dựng đề án đổi mới và phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016 – 2030 do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội tổ chức ngày 16/3/2016 tại Hà Nội, cả nước hiện nay có 20% dân số cần được trợ giúp xã hội Các đối tượng cần trợ giúp bao gồm: người cao tuổi (khoảng 9,2 triệu người), người khuyết tật (7,2 triệu người), trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (1,5 triệu trẻ), gần 5% hộ nghèo, 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm (do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa), 234.000 người nhiễm HIV, 204.000 người nghiện ma tuý, khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình; và
môi trường, biến đổi khí hậu gây thiệt hại cho Việt Nam gần 1% GDP/năm, ước tính giai đoạn từ năm 2016- 2020, có thể làm giảm GDP 0,6%/năm2, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người dân
Có thể nói, tăng tưởng kinh tế với các vấn đề xã hội, môi trường có mối
pháp để hài hòa các mối quan hệ này nhằm thúc đẩy sự tác động tích cực, giảm sự tác động tiêu cực tạo tiền đề cho kinh tế phát triển bền vững Vấn đề này trong thời gian qua luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và có những chủ trương, chính sách
1 Nguyễn Trọng Đàm- Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Thực trạng thực hiện chí nh sách
trợ giúp xã hội và giải pháp đổi mới giai đoạn tới, http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?ID
News=24255
2 Duy Phương/VOV-Trung tâm tin, Tác động môi trường đe dọa tăng trưởng kinh tế,
http://vov.vn/kinh-te/tac-dong-moi-truong-de-doa-tang-truong-kinh-te-580936.vov
Trang 12để giải quyết Trong các kỳ Đại hội của Đảng, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến Đại hội lần thứ XII (2016), Đảng luôn có những chủ trương, chính sách nhằm hài hòa mối quan hệ trên Tại Đại hội VIII (1996), Đảng chủ trương phát triển kinh
đói giảm nghèo, xã hội hóa trong giải quyết vấn đề xã hội Đại hội X (2006), Đảng chủ trương kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương Đại hội XI (2011) đề ra chủ trương phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, định hướng các chính sách về y tế, giáo dục, đào tạo, lao động và việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân, hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn, thực hiện cơ chế cung ứng
nghĩa, mở rộng các hình thức trợ giúp và cứu trợ xã hội, nhất là với các đối tượng khó khăn; bảo vệ môi trường, phát triển hài hòa, bền vững các vùng Đại hội XII (2016), Đảng chỉ ra những tồn tại của nền kinh tế thị trường như thất nghiệp, thiếu
sức khỏe của người dân, do vậy, Đảng chủ trương lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động, việc làm, thu nhập cho người lao động, đổi mới chính sách giảm nghèo đa
cấp các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nước sạch, thông tin, nhà ở cho người dân
sách hỗ trợ xã hội, hỗ trợ cho hoạt động giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường
do ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp và các tổ chức xã hội, từ thiện hoạt động chủ yếu là vận động tài trợ, quyên góp, gây quỹ từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện vì thế nguồn tài chính sẽ không bền vững nên không thể giải
dài, hiệu quả hơn và mô hình “Doanh nghiệp xã hội” được lựa chọn
Trang 13có các hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận nhằm tối đa hóa mục tiêu xã hội, tạo ra GDP cho quốc gia và mang lại lợi ích cho cộng đồng thông qua cung cấp dịch vụ xã hội và việc làm cho những đối tượng thuộc nhóm người yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người có HIV/AIDS, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số); là phương thức kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu xã hội, môi trường thể hiện qua các hoạt động kinh doanh trực tiếp liên quan đến vấn đề xã hội, môi trường mà nó hướng đến khi được thành lập; góp phần chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng môi trường, xã
khắc phục một phần những khuyết tật của cơ chế thị trường
Doanh nghiệp xã hội xuất hiện đầu tiên tại Vương quốc Anh năm 1665, sau một trận đại dịch (làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp), sau đó lan sang nước Mĩ, Bắc Âu vào thế kỷ XVIII-XIX và lan mạnh trên thế giới vào những thập niên 80 của thế kỷ
XX Ở Anh có khoảng 55.000 doanh nghiệp xã hội, đạt doanh thu 27 tỉ bảng, đóng góp 8,4 tỉ bảng/năm cho GDP, sử dụng 475.000 lao động, chiếm 5% tổng số lao
mạnh mẽ và tạo thành một trào lưu mới đầy triển vọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường cho các quốc gia Đến nay, nhiều nước như Anh, Mĩ, Canada, Ý, Singapore, Hàn Quốc, Malaysia đã công nhận doanh nghiệp xã hội và tạo lập khuôn khổ pháp lý để doanh nghiệp xã hội hoạt động và phát triển
Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp xã hội xuất hiện khá muộn và được luật hóa trong Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ
họp thứ 8 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Doanh nghiệp) Theo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp xã hội cũng giống các doanh nghiệp khác trong tổ chức và hoạt động nhưng điểm khác biệt cơ bản nhất là ở mục đích phân phối và sử dụng lợi nhuận Lợi nhuận của doanh nghiệp xã hội không dành để chia cho các nhà đầu
tư mà phần lớn lợi nhuận sẽ dùng cho tái đầu tư trở lại để giải quyết vấn đề xã hội
3 Chí nh phủ, Tờ trì nh số 166/TTr-CP ngày 22/5/2014 về Dự án Luật doanh nghiệp (sửa đổi), tr.6
Trang 14hay môi trường đã đăng ký Mặc dù pháp luật đã có những quy định về thủ tục thành lập, cách thức tổ chức, hoạt động, việc chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp xã hội , tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề như tài chính, chính sách ưu tiên, hỗ trợ của Nhà nước, chế tài xử phạt chưa được quy định hoặc có nhưng chưa rõ ràng, cụ thể nên có thể nói từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực đến nay, số lượng thành lập
và sự đóng góp của doanh nghiệp xã hội còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng của xã hội và cần phải có giải pháp để hoàn thiện nhằm thúc đẩy doanh
xã hội theo pháp luật Việt Nam- thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” để
nghiên cứu
2 Tì nh hì nh nghiên cứu đề tài
Trên thế giới doanh nghiệp xã hội xuất hiện từ thế kỷ 17 và ở Việt Nam đến nay doanh nghiệp xã hội đã có một khoảng thời gian để phát triển Do đó, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết về doanh nghiệp xã hội, sau đây là một số tác phẩm mà tác giả được tham khảo:
Giáo trì nh Pháp luật về chủ thể kinh doanh, PGS.TS.Bùi Xuân Hải (chủ biên),
Nxb Hồng Đức, Hà Nội; TS.Nguyễn Thị Dung (chủ biên) và tập thể giảng viên Bộ
môn Luật thương mại Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Sách chuyên khảo Luật
kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội; CSIP, Khởi sự doanh nghiệp xã hội- Cẩm nang dành cho các tổ chức xã hội dân sự; A Collaborative Research Project of the
Social Enterprise Knowledge Network (2006), Effective Management of Social
Enterprises: Lessons from Businesses and Civil Society Organizations in Iberoamerica, Published by Harvard University
- Luận văn: Trần Thị Minh Hiền (2015), Doanh nghiệp xã hội theo pháp
luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội: tác giả đã căn cứ quy
định về doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện, tuy nhiên các giải pháp này hiện nay đã được quy định tại các
điều luật của Nghị định 96/2015/NĐ-CP; Lê Nhật Bảo (2017), Pháp luật về doanh
nghiệp xã hội của Vương quốc Anh và Hàn Quốc- Kinh nghiệm cho Việt Nam,
Trang 15Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: tác giả sử dụng pháp luật của Anh, Hàn Quốc quy định về doanh nghiệp xã hội từ đó so sánh và đề xuất giải pháp cho pháp luật Việt Nam, tuy nhiên giải pháp của tác giả còn mang tính đánh giá, nhận định, chưa nêu cụ thể cần chỉnh sửa, bổ sung điều luật nào, trong văn bản pháp luật nào
- Các công trình nghiên cứu, bài viết như: British Council-CIEM-CSIP
Nội; Trần Vũ Phương Linh, Phạm Lan Hương (2012), Những khó khăn và thách
thức của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học,
Trường Đại học kinh tế quốc dân; TS Nguyễn Thị Yến, Doanh nghiệp xã hội và
giải pháp phát triển doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số
Kinh nghiệm của nước Anh và một số gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 31, Số 4 (2015); ThS.Vũ Phương Đông,
Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam- Cần một mô hình để phát triển, Tạp chí Luật
học, số 9/2012; J Gregory Dees (2001), The Meaning of “Social
Entrepreneurship”; Department for Business, Innovation and Skills (2011), A Guide to Legal Forms for Social, UK; Matthew F.Doeringer, Fostering social enterprise: Hisrorical and international analysis, Duke Journal of Comparative
and International Law, volume 20, no 2 (2010)
Nhìn chung, qua các bài viết, công trình nghiên cứu trên cho thấy, đến thời điểm này đã có nhiều nghiên cứu về cách thức tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp xã hội nói chung trên thế giới và Việt Nam; đánh giá, phân tích về chính sách pháp luật của Việt Nam đối với doanh nghiệp xã hội; một số kiến nghị khắc phục nhưng còn mang tính chung chung, chưa cụ thể Do vậy, trong công trình nghiên cứu này, tác giả sẽ làm rõ hơn những điểm hạn chế, chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam và đề xuất sửa đổi tại những điều luật cụ thể, phù hợp với thực tiễn, giúp pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam được hoàn thiện hơn, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp xã hội phát triển bền vững
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 16Đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ những lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp
xã hội, qua đó cho thấy sự cần thiết phải có văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh; đồng thời phân tích, đánh giá những mặt được và chưa được của pháp luật hiện hành trong thực tiễn áp dụng, có so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện
Để đạt được những mục đích nêu trên, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ khi nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp xã hội để cho thấy sự cần thiết phải
có văn bản pháp lý về doanh nghiệp xã hội
- Nghiên cứu, đánh giá các nội dung chủ yếu của pháp luật Việt Nam hiện nay, có so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới về doanh nghiệp xã hội
và việc áp dụng trong thực tiễn, từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế để đề xuất phương hướng hoàn thiện
- Nghiên cứu, đánh giá còn được đặt trong mối liên hệ với các văn bản pháp luật khác có liên quan như: các luật về thuế, Luật Đầu tư năm 2014…
tác giả đề xuất giải pháp cụ thể trong các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tạo điều kiện doanh nghiệp xã hội hoạt động thuận lợi, đóng góp cho xã hội nhiều hơn
4 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm lời giải cho các câu hỏi:
- Doanh nghiệp xã hội là gì? Đặc điểm, tính chất và vai trò của doanh nghiệp xã hội với kinh tế- xã hội của quốc gia?
tên, chuyển đổi, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp xã hội; chính sách ưu đãi, hỗ trợ
và sự giám sát, kiểm tra của nhà nước đối với doanh nghiệp xã hội- so sánh với quy định của Anh, Ý, Hàn Quốc?
- Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của
Trang 17pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam và giải pháp hoàn thiện?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội- so sánh với pháp luật về doanh nghiệp xã hội của một số nước trên thế giới Theo đó, tác giả tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về doanh nghiệp xã hội; quá trình tổ chức, thành lập và chính sách hỗ trợ hiện nay của Nhà nước đối với doanh nghiệp xã hội trong Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết về một số điều của luật doanh nghiệp (sau đây viết tắt là Nghị định 96/2015/NĐ-CP)
và các văn bản pháp luật có liên quan, qua đó nêu ra những hạn chế của chính sách
và các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội, tạo cơ chế để doanh nghiệp xã hội phát triển tại Việt Nam
Đề tài sẽ nghiên cứu trên địa bàn cả nước và thời gian nghiên cứu từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 (ngày Luật Doanh nghiệp có hiệu lực) đến nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Đây là luận văn nghiên cứu khoa học pháp lý về doanh nghiệp xã hội ở Việt
Nam, do đó tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác- Lê nin; luận văn nghiên cứu quan điểm của quốc tế, pháp luật của một số nước về doanh nghiệp xã hội để so sánh, đối chiếu với lý luận và thực tiễn pháp luật tại Việt Nam
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống, lịch sử để làm rõ các nội dung liên quan của đề tài Ngoài
số liệu của cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước để minh chứng cho luận điểm được đưa ra Cụ thể:
- Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp luận, phương pháp phân tích,
nghĩa, sự cần thiết của các quy định đó cũng như tính khả thi khi áp dụng; sử dụng
Trang 18phương pháp tổng hợp để tìm những bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện; sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra những điểm khác biệt và tương đồng giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới để có sự tham khảo, học hỏi nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
sánh để nêu lên những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật của quốc gia mình
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm làm rõ tính chất, vai trò của doanh nghiệp xã hội trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay của Việt Nam và sự cần thiết phải có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về doanh nghiệp xã hội Đồng thời, với
xã hội và thúc đẩy doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam phát triển nhằm thực hiện
Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu để nhà nước vận dụng sửa đổi, bổ sung các luật có liên quan và hoàn chỉnh pháp luật doanh nghiệp xã hội; là tài liệu tham khảo cho những cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp xã hội; làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho giảng viên, sinh viên, học viên ngành luật kinh tế
8 Kết cấu của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và Kết luận, Luận văn được kết cấu thành 03 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp xã hội
- Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp xã hội- so sánh với một số nước trên thế giới
- Chương 3: Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp xã hội
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội
Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của doanh nghiệp xã hội
Tại Vương Quốc Anh
Theo một nghiên cứu của MacDonald M & Howarth C.(2008), khái niệm DNXH xuất hiện đầu tiên tại Vương quốc Anh Năm 1665, tại London, thủ đô của nước Anh, xảy ra một trận Đại Dịch (Great Plague), làm cho giới chủ doanh nghiệp rút các xưởng sản xuất và cơ sở kinh doanh ra khỏi London, gây ra tình
đã thành lập một xí nghiệp sản xuất và tuyên bố lợi nhuận của xí nghiệp sẽ được
tiên trên thế giới Sau đó, mô hình này lan rộng khắp nước Anh và từ thế kỷ 18-19 lan rộng đến các quốc gia và Châu lục trên thế giới như Mỹ, Châu Phi, Châu Âu, Châu Á
Tuy nhiên, giai đoạn 1929-1933, thế giới xảy ra cuộc Đại suy thoái kinh tế, làm nhiều nhà tư bản bị phá sản, lạm phát và thất nghiệp xảy ra nghiêm trọng Trong bối cảnh này xuất hiện học thuyết của Keynes đề cao vai trò của Nhà nước trong điều tiết kinh tế và phúc lợi xã hội, từ đó nhiều Nhà nước phúc lợi xã hội ra đời, làm cho hoạt động của doanh nghiệp xã hội trên thế giới bị suy giảm
Đến năm 1979 loại hình doanh nghiệp này lại được phát triển mạnh mẽ ở Anh khi Thủ tướng Thatcher4 chủ trương giảm vai trò của Nhà nước trong cung cấp dịch vụ công và phúc lợi xã hội do kinh tế bị suy thoái, thất nghiệp tăng cao Trong thập niên 90, tại Anh xuất hiện hàng trăm tổ chức trung gian hỗ trợ doanh nghiệp xã hội như Tổ chức đối tác doanh nghiệp xã hội Anh (1997), doanh nghiệp
xã hội London (1998), Liên minh doanh nghiệp xã hội (Social Enterprise
4 Margaret Thatcher, https://vi.wikipedia.org/wiki/Margaret_Thatcher, truy cập ngày 05/7/2018
Trang 20Coalition); hiện Liên minh doanh nghiệp xã hội (nay được đổi tên là doanh nghiệp
xã hội Vương quốc Anh- Social Enterprise UK) là tổ chức có ảnh hưởng và mạng lưới rộng nhất trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp xã hội Bên cạnh đó, để hỗ trợ doanh nghiệp xã hội phát triển, năm 2001, Chính phủ Anh đã thành lập Bộ phận doanh nghiệp xã hội (Social Enterprise Unit) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp (Department of Trade and Industry- DTI); năm 2006 Bộ phận doanh nghiệp
xã hội trở thành một phần của Văn phòng Khu vực Thứ ba (Office for the Third Sector) thuộc Văn phòng Nội Các (Cabinet office); năm 2010, Văn phòng Khu vực Thứ ba trở thành Văn phòng Xã hội Dân sự (Office for Civil Society) thuộc Văn phòng Nội Các, chịu trách nhiệm về các tổ chức tình nguyện, từ thiện và doanh nghiệp xã hội.5
Ở Anh, hình thức tổ chức và địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội rất đa dạng và phong phú, bao gồm: (1) doanh nghiệp xã hội do một thương nhân đơn lẻ hoặc hội hợp danh của các doanh nhân đơn lẻ thành lập (không được gọi là công ty
và không phải đăng ký kinh doanh); (2) tổ chức từ thiện có hoạt động kinh doanh
lợi ích cộng đồng (Community Benefit Societies hoặc BenComms), trước đây là các làng nghề và hội ái hữu (Industrial and Provident Societies); (4) công ty hợp danh hữu hạn (limited liability partnerships- LLP), công ty TNHH, công ty cổ
nghiệp xã hội, được điều chỉnh bởi Luật Công ty 2004, 2006; hình thức pháp lý này được tác giả sử dụng để so sánh với Việt Nam Theo báo cáo nghiên cứu
“Điển hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam” năm 2016 của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)- Hội đồng Anh Việt Nam (British Council)- Trường Đại học kinh tế Quốc dân, hiện tại Vương quốc Anh có khoảng 70.000 DNXH, đóng góp cho nền kinh tế 24 tỉ bảng Anh và tạo việc làm cho gần một triệu người
5 British Council-CIEM-CSIP (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: khái niệm, bối cảnh và chí nh sách,
Hà Nội
Trang 21Mỹ
Ở Mỹ, năm 1973, giá dầu tăng cao dẫn đến suy thoái kinh tế kéo dài, do đó
cho phúc lợi xã hội và tài trợ cho các tổ chức phi lợi nhuận (NPO); trong khi đó,
thế có việc làm và doanh thu từ hoạt động kinh doanh là giải pháp được lựa chọn,
từ đó xuất hiện khái niệm doanh nghiệp xã hội Khái niệm doanh nghiệp xã hội ở
Mỹ là khái niệm rộng, dùng để chỉ các hoạt động thương mại của các tổ chức dưới nhiều hình thức như NPO, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty hợp
(Low-profit limited liability company- L3C) Ở Mỹ đến nay vẫn chưa có Luật riêng để điều chỉnh doanh nghiệp xã hội mặc dù từ năm 2008 có một số bang như Vermont, Illinois, Kansas, Louisiana, Maine, Michigan, North Dakota, Rhode Island, Utah, Vermont, Wyoming ban hành quy định cho phép thành lập và hoạt động của loại
hình L3C, là loại hình công ty kết hợp mục tiêu xã hội với việc phân chia lợi nhuận nhưng mục tiêu xã hội là mục tiêu hàng đầu Tuy vậy, để thúc đẩy doanh nghiệp xã
tham gia của công dân (Office of Social Innovation and Civic Participation- SICP)7 SICP làm việc chủ yếu với các tổ chức phi lợi nhuận trong khu vực tư nhân và khu vực nhà nước nhằm tổ chức, khuyến khích các sáng kiến xã hội và thiết lập quy trình, thủ tục giúp Chính phủ giải quyết các thách thức về xã hội Mục
cộng đồng; tăng cường đầu tư vào những sáng kiến cộng đồng mang lại hiệu quả
Trang 22hội đó, góp phần cùng Chính phủ giải quyết vấn đề về xã hội, môi trường
Châu Phi
Ở Châu Phi, sự hình thành và phát triển DNXH tương tự như ở Mỹ, đó là sự rút lui của Chính phủ trong hỗ trợ tài chính cho các tổ chức phi lợi nhuận cũng như phúc lợi xã hội bắt nguồn từ khủng hoảng giá dầu trong thập niên 70 Ngoài ra, các diễn viên nước ngoài, tổ chức nước ngoài như Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế có ảnh hưởng lớn đến chính sách của Chính phủ Châu Phi bởi điều kiện viện trợ, tài trợ Với sự giảm sút chi tiêu cho phúc lợi xã hội của Chính phủ thì sự lan rộng và lớn mạnh ở khu vực tư nhân với sự xuất hiện các doanh nghiệp xã hội
để thực hiện xứ mệnh xã hội
Châu Âu
Khác với Mỹ và Châu Phi, ở Châu Âu, doanh nghiệp xã hội (DNXH) xuất
vấn đề kinh tế, xã hội Trong thập niên 70, các quốc gia ở Châu Âu cũng bị ảnh hưởng bởi giá dầu tăng cao, làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp, gây khó khăn cho Chính phủ trong giải quyết phúc lợi xã hội Trong bối cảnh đó, các DNXH xuất hiện với mục tiêu chính của họ lúc này là tìm kiếm việc làm cho người nghèo, góp phần
pháp lý riêng để DNXH hoạt động và phát triển Tuy nhiên, thuật ngữ DNXH
phủ hoạt động kinh doanh thì một số quốc gia như Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp gọi là hợp tác xã Năm 1997, Bồ Đào Nha hình thành hình thức pháp
lý cho “Hợp tác xã hội đoàn kết”; tại Tây Ban Nha là “Hợp tác xã sáng kiến xã hội” năm 1999; tại Hy Lạp là “Hợp tác xã xã hội trách nhiệm hữu hạn” vào năm
1990 Trong khi đó, năm 1991, Ý ban hành Luật hợp tác xã xã hội (Act Social Cooperatives- Luật số 381/1991) cho hình thức pháp lý phi lợi nhuận của những nhóm tình nguyện cung cấp các dịch vụ xã hội hoặc tạo điều kiện hội nhập cho những nhóm người có hoàn cảnh khó khăn Để thúc đẩy sự đa dạng trong sản xuất
Trang 23hàng hóa và dịch vụ, năm 2005, Luật doanh nghiệp xã hội của Ý ra đời (Luật số 118/2005) và năm 2006, Chính phủ Ý ban hành Nghị định số 115/2006 hướng dẫn Luật số 118/2005 Đến năm 2016, Ý ban hành Luật số 106/2016 về việc cải cách Lĩnh vực thứ ba, DNXH và dịch vụ dân sự (có hiệu lực từ ngày 03/7/2016) và
định 95/2018 (có hiệu lực từ ngày 11/8/2018) sửa đổi, bổ sung Nghị định 112/2017,
để hướng dẫn Luật số 106/2016 về doanh nghiệp xã hội (thay thế Nghị định 115/2006)
Châu Á
hoảng tài chính năm 1997 Hệ quả của khủng hoảng tài chính năm 1997 làm tỉ lệ
được nhu cầu của người dân Trong bối cảnh đó, giai đoạn 1998-2006 các tổ chức
phủ giải quyết một phần khó khăn thách thức của vấn đề xã hội Ngày 08 tháng 12 năm 2006, Hàn Quốc ban hành Luật Phát triển DNXH, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Theo quy định của Luật Phát triển DNXH và các Nghị định hướng dẫn, Hàn Quốc có 05 loại hình DNXH: (1) loại tạo việc làm: cung cấp việc làm cho các nhóm dễ bị tổn thương; (2) loại cung cấp dịch vụ xã hội: cung cấp dịch vụ xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương; (3) loại hỗn hợp: tạo việc làm và cung cấp dịch vụ xã hội cho các nhóm dễ bị tổn thương (như nhóm người có thu nhập thấp, người già, người tàn tật, nạn nhân mại dâm, người bị thất nghiệp lâu dài, những phụ nữ bị mất việc làm ); (4) các loại khác: các loại có mục đích xã hội; (5) loại đóng góp cho cộng đồng địa phương: góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
ty lợi ích công cộng, tổ chức tư nhân phi lợi nhuận, tổ chức phi chính phủ, công ty phúc lợi xã hội, hợp tác xã người tiêu dùng, công ty phi thương mại (Điều 8 Nghị định 27299 ngày 30/6/2016) Từ khi Luật Phát triển DNXH ra đời, đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của DNXH Hàn Quốc Đến năm 2018, Hàn Quốc có 1.937
Trang 24công ty được chứng nhận là DNXH.8
Với Việt Nam, DNXH trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời, tồn
và đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em lang thang, người khuyết tật và người nghèo Sự hình thành và phát triển DNXH Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau:
- Trước năm 1986: Giai đoạn này kinh tế Việt Nam là kinh tế tập trung quan liêu bao cấp với hai thành phần kinh tế cơ bản, đó là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể; Nhà nước giữ vai trò là chủ thể duy nhất có trách nhiệm đảm bảo
được phép hoạt động tại Việt Nam Trong bối cảnh kinh tế này, có nhiều hợp tác
xã ra đời hoạt động dưới hình thức sở hữu tập thể Các hợp tác xã thời kỳ này chủ yếu là các hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, một số hoạt động lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp Các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp (may mặc, mỹ nghệ, đan lát ) được thành lập chủ yếu để giúp cho người khuyết tật, người nghèo có
- Từ năm 1986-2010: Với chính sách “mở cửa”, Việt Nam thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài phục vụ cho phát triển kinh tế cũng như các khoản
ngoài cho các dự án hỗ trợ nhà nước giải quyết các vấn đề về xã hội (như xóa đói giảm nghèo, dạy nghề ), môi trường (giảm ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải ); điển hình là giai đoạn 1986-1992, có khoảng 70 đến 100 tổ chức NGO với tổng giá trị viện trợ khoảng 20-30 triệu đô la Mỹ/năm9 Bên cạnh đó, Việt Nam tạo lập
thiện, quỹ xã hội, chẳng hạn như: Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg ngày
Trang 25tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010, Quyết định
30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã
nghiệp thông thường nhưng về đặc điểm và tính chất thì tương tự DNXH, ví dụ như Quỹ Trợ Vốn cho Người Lao Động Nghèo Tự Tạo Việc Làm (Quỹ CEP):
Quỹ chỉ nhằm phục vụ cho chi phí hoạt động, không nhằm mục tiêu lợi nhuận; Trường Nữ công Tư thục Hoa Sữa: thành lập năm 1994, hoạt động dạy nghề nấu
ăn, làm bánh mì/bánh ngọt, phục vụ bàn và tìm việc làm cho thanh niên có hoàn cảnh khó khăn; Công ty Cổ phần Tò He, thành lập năm 2006, dạy vẽ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tranh của các em được công ty sử dụng để sản xuất các mặt hàng thời trang
người Việt Nam đạt khoảng 1.160 đô la/người 10 và theo tiêu chí của Ngân hàng
đó nhu cầu cho các dịch vụ xã hội, cơ sở hạ tầng cơ bản phục vụ người nghèo, vùng sâu, vùng xa còn rất lớn Trong bối cảnh đó, xuất hiện một số tổ chức NGO như Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cồng đồng (CSIP- thành lập năm 2008), Trung tâm Phát triển Doanh nghiệp Xã hội Tia Sáng (SPARK), thực hiện sứ mệnh
hỗ trợ (trực tiếp và gián tiếp) cho các cá nhân, tổ chức ý tưởng cũng như cách thức
12 Ngày 02/3/2011, Đại sứ quán Anh tại Hà Nội đã họp báo thông báo Anh sẽ dừng viện trợ cho Việt Nam vào năm 2016 vì Việt Nam đã là một nền kinh tế đang nổi dậy đầy năng động, theo http://plo.vn/quoc- te/nam-2016-anh-dung-vien-tro-cho-viet-nam-141179.html
Trang 26tổ chức, hoạt động của DNXH, góp phần giúp Chính phủ giải quyết sự thiếu hụt nguồn vốn cho các hoạt động phát triển cộng đồng Với sự hỗ trợ của các tổ chức trên, có nhiều cá nhân thành lập công ty mang đặc điểm của DNXH như Công ty
An toàn sống, thành lập năm 2010, tạo việc làm cho những người nhiễm HIV/AIDS; Công ty Cổ phần thời trang KSC Việt Nam, thành lập năm 2013, cung cấp dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh có chất lượng và cạnh tranh về giá,
niệm DNXH trở nên phổ biến hơn; đặc biệt năm 2014, lần đầu tiên trong văn bản pháp quy, Việt Nam chính thức công nhận loại hình DNXH thông qua ban hành Luật Doanh nghiệp, tạo điều kiện cho DNXH phát triển
Với những nội dung trình bày nêu trên cho thấy đa số DNXH được hình thành trên thế giới xuất phát từ các vấn đề của xã hội, từ nhu cầu, mong muốn của con người là cần một giải pháp để thay thế trợ cấp của nhà nước, sự hỗ trợ tài
tạo sự cân bằng giữa giá trị kinh tế và giá trị xã hội; đáp ứng yêu cầu của một bộ
lợi nhuận mà vì lợi ích của cộng đồng, xã hội
Các khái niệm về doanh nghiệp xã hội
Mặc dù mô hình DNXH hình thành từ thế kỷ 17, đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa chung, thống nhất về khái niệm DNXH Hiện nay có nhiều tổ chức đưa ra định nghĩa về DNXH, nội dung của mỗi định nghĩa đó phụ thuộc vào mục tiêu, sự phát triển mà tổ chức đó hướng đến cũng như những kết quả mà tổ chức mong muốn đạt được thông qua DNXH
Năm 2002, Bộ Thương mại và công nghiệp Anh trong công bố Chiến lược
một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa
Trang 27hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” 13 Định nghĩa này cho thấy rõ đặc
điểm, tính chất, vai trò cũng như hình dạng của DNXH; theo đó, DNXH là một mô
đăng ký thành lập) hoặc một nhóm doanh nghiệp không phải là công ty (không phải đăng ký thành lập) do một thương nhân hoặc một nhóm thương nhân thành
mục tiêu đã đặt ra, không phân chia cho cá nhân là nhà đầu tư
Định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development - OECD), “DNXH là những tổ chức hoạt
động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”14 Định nghĩa này có nội hàm rộng hơn so với định nghĩa của
song khi thành lập nhưng nhấn mạnh mục tiêu xã hội cao hơn “DNXH còn cung
cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường”
Tổ chức hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng- CSIP của Việt Nam đưa ra định
nghĩa DNXH “DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân
xã hội dưới nhiều hì nh thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể DNXH lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh
vai trò của doanh nhân xã hội; DNXH được xác định không phụ thuộc vào hình thức pháp lý mà phụ thuộc mục đích và điều kiện, lấy mục tiêu vì lợi ích của xã
15 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)- Hội đồng Anh Việt Nam (British Council)- Trường
Đại học kinh tế Quốc dân (2016), Điển hình doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam, Hà Nội, tr.12
Trang 28hội làm chủ đạo Với định nghĩa này, CSIP muốn khuyến khích phát triển DNXH Việt Nam
Với Việt Nam, khái niệm DNXH vẫn chưa được định nghĩa trong Luật Doanh nghiệp mà chỉ nêu các tiêu chí để xác định là DNXH, theo đó, tại Điều 10
(1) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
(2) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;
đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký
Như vậy, Việt Nam mặc dù chưa có định nghĩa về DNXH nhưng qua các
pháp luật, nhằm thực hiện mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường và sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội
Mặc dù đến nay DNXH vẫn chưa có định nghĩa chung mà có nhiều định nghĩa khác nhau, mỗi định nghĩa có nội hàm phụ thuộc vào trình độ phát triển của quốc gia, khu vực và mục tiêu, đặc thù của tổ chức nhưng nhìn chung, DNXH có một số đặc điểm chung cơ bản sau:
Thứ nhất, DNXH có hoạt động kinh doanh và tạo nguồn thu từ hoạt động kinh doanh
DNXH hoạt động kinh doanh để tạo nguồn thu cho doanh nghiệp và giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu đề ra khi thành lập Hoạt động kinh doanh cũng là hoạt động của doanh nghiệp thông thường nhưng đối với DNXH thì tính chất hoạt động kinh doanh là giải quyết vấn đề xã hội, môi trường Hoạt động kinh doanh của DNXH để tạo ra lợi nhuận phục vụ cho cộng đồng và xã hội, khác với doanh nghiệp thông thường, hoạt động kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho
giữa DNXH và các NGO, NPO, quỹ từ thiện, đó là các tổ chức này chỉ nhận tài trợ
Trang 29(tiền hoặc vật chất khác) để thực hiện các chương trình, dự án xã hội, cộng đồng; tuy vậy, nó giúp cho DNXH thực hiện mục tiêu được bền vững khi chủ động được
là giải pháp để hoạt động của DNXH ổn định, năng động và hiệu quả DNXH hoạt động kinh doanh dưới sự cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thông thường nhưng do tính chất đặc thù của mình, ví dụ như hoạt động trong các lĩnh vực lợi nhuận thấp: y tế, nông nghiệp, xử lý ô nhiễm môi trường trong khi đó vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ như một doanh nghiệp thông thường nên DNXH sẽ gặp
doanh nghiệp thông thường, đòi hỏi các nhà sáng lập DNXH phải có chiến lược kinh doanh khác biệt, kiên trì với mục tiêu đã đề ra và phải tạo lập niềm tin với
Thứ hai, DNXH sử dụng phần lớn lợi nhuận giải quyết các vấn đề xã hội
mà doanh nghiệp đặt ra khi thành lập
các vấn đề xã hội, cộng đồng Để có lợi nhuận, DNXH thực hiện hoạt động kinh doanh như những doanh nghiệp thông thường sau đó DNXH sử dụng phần lớn lợi nhuận (theo tỉ lệ %) để tái phân bổ trở lại cho tổ chức, cộng đồng và phục vụ mục tiêu xã hội Tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia mà các DNXH sẽ có tỉ lệ %
Nam ít nhất là 51%, Thái Lan ít nhất là 70%, Hàn Quốc là 2/3 Trong khi đó, doanh nghiệp thông thường, lợi nhuận sẽ được phân phối cho các thành viên/cổ đông sau khi thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, tái đầu tư, trích lập các quỹ (phúc lợi, dự phòng tài chính, khen thưởng ) Điểm này tạo sự khác biệt giữa DNXH và doanh nghiệp thông thường
Việc sử dụng lợi nhuận để giải quyết các vấn đề xã hội nên thành lập DNXH không là mục tiêu làm giàu của người sáng lập DNXH mà là những sáng kiến xuất phát từ lòng trắc ẩn, tình yêu thương, sự mong muốn được giúp đỡ của
họ đối với cộng đồng; và sự chia sẻ với Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã
Trang 30hội
Thứ ba, DNXH đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu
DNXH thành lập là để tìm kiếm lợi nhuận nhằm duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhưng mục tiêu xã hội phải là mục tiêu hàng đầu Điểm này của DNXH giống với các NGO, tổ chức phi lợi nhuận, quỹ từ thiện nhưng khác với doanh nghiệp thông thường
DNXH thành lập xuất phát từ vấn đề xã hội đã hoặc đang và sẽ phát sinh trong thực tế, cần được giải quyết thông qua hoạt động kinh doanh Ngay từ khi mới thành lập, DNXH phải xác định mục tiêu cụ thể là giải quyết các vấn đề xã hội thông qua hàng hóa, dịch vụ hoặc hỗ trợ những người có hoàn cảnh khó khăn, người yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, người có HIV/AIDS, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số) và được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch Trong khi đó, doanh nghiệp thông thường khi phát hiện nhu cầu
về sản phẩm, dịch vụ của xã hội sẽ thành lập doanh nghiệp để sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người tiêu dùng nhằm thu lợi nhuận, lợi nhuận là mục tiêu chính và được phân chia cho các cá nhân, tổ chức đầu tư vào doanh nghiệp đó
Thứ tư, DNXH phục vụ nhu cầu của nhóm người yếu thế trong xã hội
Nhóm người yếu thế trong xã hội bao gồm người nghèo, những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật Họ là những người dễ bị từ chối hoặc khó tiếp cận các các sản phẩm và dịch vụ phục vụ nhu cầu đời sống thường ngày Các doanh nghiệp thông thường thường bỏ qua nhóm đối tượng này vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, trong khi đó phúc lợi xã hội từ nhà nước lại chưa bao phủ hết thì các DXNH cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các đối tượng này với mức giá mà họ có thể chi trả được Hiện nay, đa số DNXH Việt Nam và các nước hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ cho nhóm người yếu thế
Ngoài những đặc điểm chung trên, DNXH Việt Nam có một số đặc điểm riêng khi xem xét theo tính pháp lý:
Thứ nhất, DNXH phải là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 31Với Việt Nam, để được Nhà nước công nhận là DNXH, các cá nhân, tổ chức phải thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp được đăng ký thành lập với 05 loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần Như vậy, Việt Nam chỉ công
hợp tác xã là DNXH, điều này so với một số quốc gia, tổ chức trên thế giới có sự khác biệt Một số quốc gia như Anh, Mỹ, Ý công nhận DNXH không phụ thuộc
chức, doanh nghiệp đó khi thành lập Với quan điểm này, các NGO, NPO, quỹ từ thiện, hợp tác xã cũng là DNXH, làm cho mô hình DNXH tại các nước này rất đa dạng, phong phú
Thứ hai, DNXH đặt mục tiêu xã hội, môi trường lên hàng đầu
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, DNXH cũng như các doanh nghiệp
thông thường, được đăng ký thành lập, có pháp nhân, có hoạt động kinh doanh và
môi trường được đặt lên hàng đầu được thể hiện qua bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trong thủ tục đăng ký thành lập DNXH theo quy định; trong khi đó, doanh nghiệp thông thường thì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu Việc đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu của DNXH giống với các tổ chức như quỹ từ thiện, NGO, NPO nhưng các tổ chức này không thực hiện hoạt động kinh doanh để tạo nguồn thu mà nguồn thu để hoạt động do viện trợ, tài trợ của cá nhân, tổ chức
Trang 32hàng năm doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội, môi trường
đã đăng ký, nhưng không thấp hơn 51% trên tổng lợi nhuận
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp xã hội
Trải qua thời gian khá dài để hình thành và phát triển, DNXH đã chứng minh vai trò quan trọng của mình đối với kinh tế, xã hội của các quốc gia:
DNXH có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo việc giải quyết các mục
lợi nhuận để tái đầu tư cho chính nó và cho cộng đồng, xã hội, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế ổn định của quốc gia
Ngoài ra, DNXH đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia, góp phần vào sự phát triển kinh tế Do DNXH có hoạt động kinh doanh, DNXH thực hiện sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ cho nhu cầu người dân, qua đó, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận để duy trì hoạt động và
các DNXH chiếm tỉ trọng rất lớn và đóng góp nhiều cho nền kinh tế, ví dụ như Anh, năm 2005 có khoảng 55.000 DNXH với doanh thu 27 tỉ bảng, đóng góp cho nền kinh tế 8,4 tỉ bảng
Bên cạnh đó, DNXH góp phần cải thiện cuộc sống của những nhóm yếu thế Nhóm yếu thế thường gặp những rào cản về khả năng, nghề nghiệp, làm cản trở
họ hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng Trách nhiệm chăm lo nhóm này chủ yếu thuộc về Nhà nước, tuy nhiên, trong khi Nhà nước chưa bao quát hết và các doanh nghiệp thông thường bỏ qua vì lý do tối đa hóa lợi nhuận thì DNXH xuất hiện để lấp vào khoảng trống ấy DNXH hỗ trợ nhóm người yếu thế bằng cách tạo
ra những sản phẩm, dịch vụ với mức giá phù hợp với điều kiện sống của họ; tạo việc làm phù hợp với sức khỏe, nhu cầu của họ, giúp họ cải thiện cuộc sống và đóng góp cho xã hội
DNXH còn có vai trò đưa ra các giải pháp tối ưu để giải quyết những vấn đề
về xã hội, môi trường Trong việc giải quyết các vấn đề môi trường, xã hội vẫn còn không ít các lĩnh vực chưa nhận được đầu tư rộng rãi từ nhà nước và các doanh nghiệp thông thường như biến đổi khí hậu, năng lượng thay thế, tái chế và các
Trang 33DNXH sẽ thực hiện điều đó
đầu tư mà là giải quyết vấn đề xã hội, môi trường, DNXH đã góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng; làm thay đổi nhận thức về đạo đức trong kinh doanh và trách nhiệm đối với xã hội của doanh nghiệp, doanh nhân
1.2 Các loại hì nh doanh nghiệp xã hội
1.2.1 Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận
Doanh nghiệp xã hội phi lợi nhuận có thể hiểu là những tổ chức có hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận nhưng 100% lợi nhuận đó được sử dụng để phục vụ cho mục tiêu xã hội Các DNXH loại này thường hoạt động dưới nhiều
được phát triển lên từ nền tảng NGO, bên cạnh đó cũng có một số xác định được
mô hình ngay từ khi thành lập
Xuất phát từ sự khác nhau ở mục tiêu, phương thức hoạt động, hiệu quả xã hội và nguồn tài trợ có thể chia DNXH phi lợi nhuận thành 03 nhóm:
(1) Nhóm cung cấp dịch vụ, sản phẩm liên quan đến việc giải quyết các vấn
đề xã hội, môi trường;
(2) Nhóm mang hàng hóa, dịch vụ đến những người yếu thế trong xã với mức giá rẻ;
(3) Nhóm tạo việc làm cho những nhóm yếu thế
Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước không công nhận các NGO, NPO, quỹ từ
định tại Luật doanh nghiệp Đến nay, có một số DNXH thành lập theo Luật Doanh nghiệp và trong bản Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường công bố 100% lợi nhuận được giữ lại để tái đầu tư cho các mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng
ký, chẳng hạn như Công ty TNHH Kendo Việt Nam (thành lập ngày 16/5/2018), Công ty cổ phần DNXH Nhân Ái Care Việt Nam More (thành lập ngày 27/4/2018),
Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận có thể hiểu là những tổ chức có
Trang 34hoạt động kinh doanh để tạo ra lợi nhuận nhưng không tối đa hóa lợi nhuận và sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội, phần lợi nhuận còn lại được chia cho cổ đông, nhà đầu tư
Đa số các các doanh nghiệp loại này do doanh nhân xã hội sáng lập với mục
phương tiện để đạt mục tiêu xã hội Lợi nhuận thu được phần lớn sử dụng để tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh nghiệp, một phần được phân
chia cho các cổ đông, nhà đầu tư DNXH không vì lợi nhuận thường hoạt động dưới hình thức quỹ tín dụng/tổ chức tài chính vi mô hoặc công ty trách nhiệm hữu
số tổ chức tài chính vi mô trên thế giới như Grameen Bank và BRAC ở desh, SKS Microfinance ở Ấn độ, Bina Swadaya ở Indonesia, KIVA ở Mỹ Ở
thương (Quỹ TYM) của Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổ chức tài
xác định ngay từ đầu;
(2) Lợi nhuận là mục tiêu nhưng phần lớn để tái đầu tư hoặc để trợ cấp cho các nhóm người yếu thế trong xã hội, một phần được chia cho nhà đầu tư;
ích xã hội, ít sử dụng các khoản hỗ trợ không hoàn lại cho các hoạt động chính của
tổ chức
DNXH vì nó chưa được đăng ký thành lập theo đúng quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp
Trang 351.3 So sánh doanh nghiệp xã hội với doanh nghiệp thông thường, NGO, NPO, Quỹ từ thiện
DNXH là doanh nghiệp được thành lập với mục tiêu xã hội là mục tiêu hàng đầu, lợi nhuận của doanh nghiệp chủ yếu được tái đầu tư cho các hoạt động
xã hội và cộng đồng chứ không sử dụng để phân chia cho cổ đông và nhà đầu tư Trên thế giới hiện nay tồn tại nhiều hình thức DNXH như hợp tác xã, doanh nghiệp mang tính xã hội (các loại hình công ty), các tổ chức hoạt động vì xã hội và cộng đồng
NGO, theo nhận định của Hội đồng Kinh tế Xã hội của Liên hợp quốc
(ECOSOC) tại Nghị quyết 1996/31, là “bất cứ tổ chức nào được thành lập không
phải do cơ quan chính phủ hoặc một thỏa thuận liên chí nh phủ”, “Các nguồn lực
cơ bản sẽ lấy từ đóng góp chủ yếu của các thành viên tham gia trong nước, các thành tố khác, hoặc các thành viên cá nhân” NGO có các hình thức tồn tại như hiệp hội, hội/quỹ từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác không
hoặc chùa.16 Hiện nay có nhiều loại NGO: NGO dựa trên cộng đồng, NGO cấp quốc tế, NGO cấp quốc gia, NGO cấp thành phố Các NGO ra đời với nhiều mục đích khác nhau, thông thường là thúc đẩy mục tiêu chính trị, xã hội, môi trường, cải thiện phúc lợi cho những người bị thiệt thòi.17
NPO là tổ chức không phân phối các quỹ thặng dư của nó cho các cá thể hay cổ đông mà sử dụng các quỹ này để tài trợ cho các mục tiêu hướng tới của tổ
dưới hình thức hội hoặc quỹ từ thiện hoặc hiệp hội thương mại
http://www.hcmcbar.org/NewsDetail.aspx?CatPK=4&NewsPK=85, truy cập ngày 15/7/2018
17 Trần Vũ Phương Linh, Phạm Lan Hương (2012), Những khó khăn và thách thức của doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam hiện nay, Trường Đại học kinh tế quốc dân
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_phi_l%E1%BB%A3i_nhu%E1%BA%A Dn
Trang 36Quỹ từ thiện là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức thành lập, được tổ chức, hoạt động với mục đích chính nhằm hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và các đối tượng khác thuộc diện khó khăn cần sự trợ giúp của xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.19
Doanh nghiệp (doanh nghiệp thông thường/doanh nghiệp truyền thống) là
tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo
các loại hình như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên, hai thành viên), công ty cổ phần, nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế và xã hội
- Về mục tiêu kinh tế: doanh nghiệp hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu quan trọng nhất, đó là tối đa hóa lợi nhuận
- Về mục tiêu xã hội: doanh nghiệp tạo uy tín cho mình trên thị trường, đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động và nâng cao phúc lợi cho các thành viên của doanh nghiệp
So sánh DNXH và doanh nghiệp thông thường cho thấy, cả hai đều có hoạt động kinh doanh nhưng xét về tổng thể, có nhiều điểm khác nhau Điểm khác nhau thứ nhất, đó là DNXH đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, còn doanh nghiệp thông thường thì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là quan trọng nhất Điểm khác biệt thứ hai,
đó là kế hoạch kinh doanh DNXH căn cứ vào vấn đề xã hội để lập kế hoạch kinh doanh, trong khi đó, doanh nghiệp thông thường dựa vào nhu cầu thị trường
Quy trì nh hì nh thành DNXH và doanh nghiệp thông thường:21
Doanh nghiệp thông thường Doanh nghiệp xã hội
19 Điều 3, Nghị định 30/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chí nh phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
20 Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
21 Phan Đức Hiếu, Nghị định 96/2015/NĐ-CP: nội dung cơ bản về doanh nghiệp xã hội
Trang 37Vấn đề
xã hội
Kinh doanh
Lợi nhuận
Giải pháp xã hội
Thiết kế sản phẩm
Ngoài ra, DNXH và doanh nghiệp thông thường có sự khác biệt về sự phân chia lợi nhuận DNXH sử dụng phần lớn lợi nhuận để đầu tư cho chính mục tiêu xã hội đã đề ra khi thành lập, doanh nghiệp thông thường phân chia lợi nhuận cho các
cổ đông, nhà đầu tư Thêm nữa, DNXH và doanh nghiệp thông thường có sự khác
Khi so sánh giữa DNXH và NGO, NPO, quỹ từ thiện có thể thấy được điểm giống nhau cơ bản của các tổ chức này đó là mục tiêu xã hội là mục tiêu hàng đầu, điểm khác nhau rõ nét nhất đó là hoạt động kinh doanh là hoạt động đặc thù và thế mạnh của DNXH so với NGO, NPO, quỹ từ thiện Hoạt động kinh doanh giúp cho DNXH chủ động nguồn vốn để thực hiện mục tiêu của mình, ngoài ra, còn đóng góp cho kinh tế những sản phẩm, dịch vụ, tạo việc làm cho một bộ phận những người yếu thế trong xã hội Đối với các NGO, NPO, quỹ từ thiện không có hoạt động kinh doanh, nguồn vốn để thực hiện mục tiêu xã hội của họ có được từ tài trợ của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, do đó mục tiêu hoạt động, phương pháp thực hiện phụ thuộc vào nhà tài trợ Các NGO, NPO, quỹ từ thiện thực hiện mục tiêu của mình thông qua chương trình, dự án và thường có phạm vi hoạt động hẹp,
Trang 38thời gian không dài lâu, do đó giải quyết vấn đề không triệt để Ngược lại, DNXH với nguồn vốn hoạt động luôn được bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh nên thời gian thực hiện mục tiêu kéo dài, phạm vi hoạt động do doanh nghiệp tự quyết định, không bị ràng buộc bởi cá nhân, tổ chức khác
Bảng 1: Bảng so sánh sự khác nhau giữa DNXH với NGO, NPO, quỹ từ thiện và doanh nghiệp thông thường
Tiêu chí NGO, NPO, quỹ
Doanh nghiệp thông thường
Nguồn vốn
Được tài trợ từ một hoặc các tổ chức,
cá nhân
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh và tài trợ
Doanh thu từ kinh doanh
Trang 39Tiêu chí NGO, NPO, quỹ
Doanh nghiệp thông thường
Lợi ích
Không tạo ra sản phẩm, dịch vụ, lao động
Tạo ra sản phẩm, dịch vụ, lao động cho nhóm yếu thế là chủ yếu
Tạo ra sản phẩm, dịch
vụ, lao động cho xã hội
Tái đầu tư lại cho tổ chức, mở rộng quy
mô hoạt động, phân phối cho cộng đồng
Chia cho chủ sở hữu và
Với những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa DNXH với doanh nghiệp thông thường, NGO, NPO, quỹ từ thiện như trên, có thể nhận định rằng DNXH là
“sản phẩm lai” giữa doanh nghiệp thông thường và NGO, NPO, quỹ từ thiện
Kết luận chương 1
Trang 40Trên thế giới, mô hình DNXH xuất hiện đầu tiên tại Vương quốc Anh từ thế
kỷ 17 và lan rộng sang các quốc gia khác trên thế giới vào thập niên 80 của thế kỷ
20 DNXH ra đời xuất phát từ nhu cầu của con người cần một giải pháp mới, mang
trị kinh tế và xã hội của các quốc gia, đáp ứng yêu cầu của một bộ phận cá nhân, tổ chức cần thành lập một mô hình doanh nghiệp hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì lợi ích của cộng đồng, xã hội
Mặc dù ra đời rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất cho khái niệm DNXH mà tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau của các tổ chức trên thế giới Mỗi định nghĩa đó có nội dung phụ thuộc vào nhận thức cũng như trình độ phát triển, mục tiêu hướng đến của tổ chức đó Tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đều xác định DNXH là tổ chức có hoạt động kinh doanh nhằm tạo nguồn thu để
tạo ra sự khác biệt giữa DNXH và doanh nghiệp thông thường nhưng cho thấy sự giống nhau giữa DNXH và NGO, NPO, quỹ từ thiện Do đó, có thể nói DNXH là sản phẩm “lai” của doanh nghiệp thông thường với NGO, NPO, quỹ từ thiện
và xã hội của các quốc gia: về kinh tế, DNXH đóng góp không nhỏ cho doanh thu của quốc gia; về xã hội, góp phần giải quyết vấn đề xã hội, môi trường Vì vậy, Chính phủ các quốc gia xây dựng và ban hành khung pháp lý hoàn chỉnh để DNXH hoạt động và phát triển là rất cần thiết
Chương 2