TÓM TẮT Với nghiên cứu “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CÔNG NHÂN NHẬP CƯ LÀM VIỆC TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”.. Thông qua mô hình hồi qui GLM cho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN SINH MINH TRUNG
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CÔNG NHÂN NHẬP CƯ LÀM VIỆC TẠI CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CÔNG NHÂN NHẬP CƯ LÀM VIỆC TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN SINH MINH TRUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các bạn học viên cao học cùng khóa đã chia sẽ cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tác giả trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Văn Sơn đã nhiệt tình hướng dẫn tác giả khi thực hiện luận văn này
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu, song không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô và quý vị đọc giả
Xin chân thành cảm ơn./
Trang 4TÓM TẮT
Với nghiên cứu “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP CỦA CÔNG NHÂN NHẬP CƯ LÀM VIỆC TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH” Tác giả đã rút ra được những kết luận có tính chất nhằm cải thiện thu nhập
tiền lương cho công nhân lao động Kết quả hồi qui đã tìm ra mối quan hệ của 11 yếu tố đối với thu nhập của công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp trên địa bàn TP HCM
Thông qua mô hình hồi qui GLM cho thấy các yếu tố: kinh nghiệm làm việc, trình độ học vấn, tiền thưởng, tăng ca, sức khỏe ngành may mặc xuất khầu, lắp ráp ô tô và quản đốc đều có tác động cùng chiều đến thu nhập của công nhân Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng không có sự khác biệt về giới tính đối với thu nhập của công nhân nhập cư Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt so với những nghiên cứu trước ở mức độ tác động của từng yếu tố đến thu nhập của công nhân Các tác giả cũng giải thích rằng, các yếu
tố sẽ tác động khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, tùy thuộc vào từng ngành, từng lĩnh vực
Công trình nghiên cứu này đã đưa ra mô hình từ các bài nghiên cứu trước với các bối cảnh khác nhau Sau khi được điều chỉnh phù hợp, thông qua các kiểm định thì đều đạt độ tin cậy và đều có ý nghĩa thống kê Nói sâu hơn thì nghiên cứu này đã đưa ra và chứng minh được một hệ thống thang đo lường các yếu tố tác động đến thu nhập của công nhân nhập cư trên địa bàn TP HCM, điều này giúp các nhà nghiên cứu và các nhà tổ chức cũng như doanh nghiệp Việt Nam có thể tham khảo cho những nghiên cứu liên quan sau này
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 6
1.5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài nghiên cứu 6
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Các khái niệm 8
2.1.1 Thu nhập 8
2.1.2 Nhập cư 10
2.1.3 Khu công nghiệp 11
2.2 Tổng quan về lao động nhập cư tại Tp.Hồ Chí Minh 41
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 41
2.2.2 Đặc điểm người lao động nhập cư 45
2.3 Các mô hình lý thuyết 11
2.4 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan 16
2.5 Mô hình nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Quy Trình Nghiên Cứu 28
3.2 Thiết kế nghiên cứu 29
Trang 63.2.1 Nghiên cứu định tính 30
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 31
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4 Mô hình nghiên cứu 36
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Xử lý mẫu 41
4.2 Thống kê mô tả 48
4.3 Kết quả ước lượng mô hình 53
4.3.1 Kiểm định mô hình nghiên cứu 53
4.3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu từ mô hình được lựa chọn 56
4.4 Mức độ phù hợp của mô hình (tác động biên margin) 59
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Hàm ý chính sách 62
5.3 Hạn chế của đề tài 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Phụ lục 1 71
Phụ lục 2 73
Phụ lục 3 75
Phụ lục 4 76
4.1 Thống kê mô tả 76
4.2 Bảng hệ số ma trận tương quan 78
4.3 Bảng kết quả chạy mô hình GLM trong nghiên cứu 79
4.4 Kiểm tra mô hình 81
4.5 Kiểm tra hệ số VIF 81
4.6 Kiểm tra tác động biên trong mô hình 82
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Đóng góp GDP của các ngành 42 Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 28
Trang 8DANG MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng lược các nghiên cứu trước 21
Bảng 4.1 Bảng phân bố mẫu trong nghiên cứu 49
Bảng 4.2 Bảng phân bố ngành nghề của công nhân 52
Bảng 4.3 Bảng hệ số VIF 55
Bảng 4.4 Bảng kết quả nghiên cứu 56
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EFA Exploratory Factor Analysis
HCM Thành phố Hồ Chí Minh
KMO Kaiser - Meyer – Olkin
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
Sig Significance level
SPSS Statistical Package for Social Sciences
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Các nội dung chính được đề cập trong chương này bao gồm: lý do nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ Nhiều khu công nghiệp và khu đô thị mới liên tiếp mọc lên, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, do đó đã thu hút một lượng lớn lao động từ các tỉnh về các thành phố lớn Điều này làm cho việc nhập cư đến các thành phố lớn ngày càng phổ biến Nhập cư trong nước đã góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc di chuyển của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong các khu công nghiệp và trong các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Đồng thời qua đó đã đóng góp vào phát triển kinh tế gia đình của số lượng lớn các gia đình có người di cư
Lao động nhập cư đã có những đóng góp vô cùng bất ngờ Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) dẫn nguồn của US Investment Services (USIS) cho biết:
Tổ chức Di trú thế giới (IOM) từng khẳng định có rất nhiều bằng chứng cho thấy sự đóng góp của người di cư Một nghiên cứu của ĐH London (Anh) công bố: Trong năm 2008-2009, những người nhập cư từ Đông Âu đóng thuế cho nước Anh nhiều hơn 37% so với mức phúc lợi họ được nhận Tại Mỹ, Hội đồng
Cố vấn kinh tế của tổng thống cũng ước tính nền kinh tế đầu tàu thế giới mỗi năm thu được khoảng 37 tỉ USD nhờ những người nhập cư và trên 10% số người tự kinh doanh là người nhập cư Ngân hàng Thế giới (World Bank) cũng ước tính nếu các nước đang có dân số giảm cho phép lực lượng lao động của mình tăng 3% bằng việc cho thêm 14 triệu lao động nhập cư trong khoảng thời gian từ 2001-2025 thì mỗi năm, nền kinh tế thế giới sẽ có thêm khoảng 365 tỉ USD Phần lớn số tiền này sẽ chảy về và tạo thành nguồn vốn quan trọng cho các nước đang phát triển (Báo cáo của Liên hiệp quốc tại Việt Nam, 2010)
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, có sự bùng nổ về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cùng với đó là sự phát triển
Trang 11chóng mặt của hệ thống các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) tại Việt Nam Cùng với sự phát triển của các KCN và KCX là quá trình dịch chuyển lao động và các dòng di cư từ nông thôn đến KCN và KCX Lao động
di cư đến các KCN, KCX, nơi có nhiều cơ hội việc làm, chẳng hạn như TP HCM với tỷ suất di cư thuần là 116% Sự dịch chuyển của người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu lao động, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế gia đình (Nguyễn Thị Loan, 2013)
Theo báo cáo tình hình lao động nhập cư trong các KCN ở Bình Dương, tính đến năm 2013, trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã có 13 KCN đi vào hoạt động, thu hút 125 dự án đầu tư trong nước và 261 dự án đầu tư nước ngoài Các KCN đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Bình Dương Trong đó, tổng doanh thu các doanh nghiệp KCN đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 57,58%/năm, chiếm tới 60,33% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh năm 2013 Những thành tựu nêu trên có một phần đóng góp rất lớn của nguồn lao động nhập cư Tính đến năm 2013, trong tổng số lao động trong các KCN toàn tỉnh thì lao động nhập cư chiếm 93,81% Cá biệt có những công ty 100% lao động đều là người nhập cư Như vậy có thể thấy, lao động nhập cư là nguồn lực đóng vai trò quyết định trong việc bổ sung lực lượng lao động cho sự phát triển các KCN ở Bình Dương, chủ yếu là lao động phổ thông (75,59%) (Bộ Lao động,
thương binh và xã hội, 2013)
Theo báo cáo nghiên cứu việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội của người lao động nhập cư (tại hai thành phố Hải Phòng và TPHCM) của Tổ chức ActionAid công bố năm 2014, có đến 90% người lao động nhập cư ở khu vực không chính thức không tiếp cận được các dịch vụ an sinh xã hội như y tế (ngoại trừ bảo hiểm y tế cho trẻ dưới 6 tuổi), giáo dục, thông tin, và các hỗ trợ khác Một báo cáo khác về người nghèo đô thị của Tổ chức Oxfam trên dữ liệu của TPHCM, Hà Nội và Hải Phòng từ 2009-2012 nêu tình trạng nghèo ở nhóm người lao động nhập cư tự do và công nhân trầm trọng hơn cả trong nhóm nghèo đô thị, do các yếu tố chi phí cuộc sống cao, việc làm bấp bênh, thiếu hòa nhập xã hội, hạn chế tiếp cận dịch vụ công, và môi trường sống kém tiện nghi
và an toàn Trong đó, những người nhập cư có mang theo con nhỏ thường phải
Trang 12cho con học các trường tư và dân lập (nhất là mẫu giáo), có chi phí cao hơn và chất lượng thấp hơn trường công lập Vì không có hộ khẩu, họ phải dùng nước
và điện “câu” từ các hộ cho thuê nhà với giá đắt gấp đôi bình thường Cũng do việc tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội và các dịch vụ y tế, giáo dục dựa vào
hộ khẩu, nên người nhập cư khó tiếp cận được với các hỗ trợ của chính quyền như người nghèo bản địa (Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2013)
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam, có sức hút mạnh mẽ nhất hiện nay so với cả nước Điểm nổi bật về dân số TP HCM là việc gia tăng cơ học về dân số diễn ra mạnh mẽ Lực lượng này góp một phần quan trọng cho quá trình tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra những thách thức cần giải quyết Đô thị hóa và dân nhập cư đặt ra cho thành phố nhiều thách thức 70% số công nhân làm việc ở các KCN - KCX là lao động nhập cư Với thu nhập thấp, chỉ đủ trang trải cuộc sống hàng ngày nên không ai có thể tích lũy vốn để mua nhà ở, phải ở trọ trong điều kiện nhếch nhác, không đảm bảo an toàn, không được hưởng thụ văn hóa, không được nâng cao tay nghề… Nhu cầu nhà ở là một nhu cầu bức thiết của người lao động Hiện tại, TP có nhiều chính sách hỗ trợ công nhân mua nhà thu nhập thấp, nhà lưu trú… nhưng số công nhân tiếp cận được với chính sách này khá ít ỏi (Tổng cục thống kê, 2011)
Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới, cả nước có khoảng 5,6 triệu người không có hộ khẩu thường trú ở nơi cư trú, còn gọi là dân nhập cư ở nơi họ đang sinh sống TP.HCM là nơi có tỷ lệ dân nhập cư lớn nhất cả nước, chiếm tới 36% dân cư Không có hộ khẩu thường trú, những người nhập cư hiện đang bị phân biệt đối xử bằng hàng loạt chính sách gây khó khăn (Tổng cục thống kê, 2011)
Theo một khảo sát của TP.HCM, dân nhập cư vào TP chủ yếu để tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, TP.HCM cũng thừa nhận dân nhập cư đã đóng góp cho TP khoảng 30% GDP mỗi năm (Báo cáo điều tra Lao động việc làm của Tổng cục thống kê, 2014) Di cư đã trở thành chiến lược của nhiều hộ gia đình vì nó giúp
họ thoát nghèo hoặc không bị lún sâu vào đói nghèo Mặt khác, di cư cũng làm
Trang 13gia tăng nhu cầu địa phương về dịch vụ, hàng hóa, tạo việc làm và thu nhập cho người không di cư… Tuy chưa có thống kê chính xác bao nhiêu gia đình ở nông thôn có nhà xây kiên cố và vật dụng đắt tiền được tạo ra từ những đồng tiền của
di dân lao động đến TP.HCM, song có một thực tế là dân nhập cư đóng góp rất đặc biệt vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn
Người nhập cư ở TPHCM đến từ mọi miền đất nước, nhiều nhất là miền Trung và miền Tây Nam bộ Có thể nói người nhập cư là nguồn cung ứng lao động quan trọng cho nhu cầu cấp bách của các khu công nghiệp và các công trình xây dựng đang ngày mở ra ngày càng nhiều Họ đã đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố, một bộ phận lao động trí óc là một nguồn lực quý báu bổ sung vào đội ngũ quản lý, chuyên viên và trí thức của thành phố
Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế của TPHCM đã mang lại những
cơ hội học vấn, nghề nghiệp và cả sự cải thiện về thu nhập, môi trường sống của người lao động Tất cả tạo nên sự hấp dẫn, thu hút người lao động từ các tỉnh chuyển đến đây để sinh sống và làm việc Tuy nhiên với mức lương tối thiểu như hiện chỉ mới đáp ứng được 75% mức sống tối thiểu Khi tiền lương không đủ trang trải cuộc sống, sức khỏe không bảo đảm, công nhân khó hoàn thành định mức công việc, về lâu dài, sẽ tạo ra lớp người nghèo mới ảnh hưởng nghiêm trọng đến an sinh xã hội
Người nhập cư đã, đang và sẽ tiếp tục là lực lượng lao động chủ chốt ở các khu vực đô thị lớn, đặc biệt là TP HCM, góp phần làm nên công cuộc thay đổi cơ cấu kinh tế quan trọng của đất nước trong vòng 15 năm tới, nhưng có rất ít chính sách, quy hoạch và chiến lược chuẩn bị và hỗ trợ cho sự dịch chuyển lớn này
Vì vậy, cần phải có một nghiên cứu cụ thể hơn nữa nhằm điều tra mức thu nhập hiện nay của các công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để từ đó có những cơ sở khoa học kiến nghị cho việc xây dựng một chính sách hợp lý nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực gây ra bởi hiện tượng xã hội này, điều tiết và kiểm soát nó bằng các phương pháp vĩ mô, song song với nó là có các chính sách để chăm lo phúc lợi xã hội, nâng cao mức
Trang 14sống cho công nhân nhập cư đang làm việc tại địa bàn Vì những lý do trên, tác
giả đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
2) Đo lường tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập
cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh 3) Đề xuất hàm ý chính sách để góp phần làm tăng thu nhập cho lao động nhập cư đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập
cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
Đối tượng khảo sát: lao động ngoại tỉnh di cư đến làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: các khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh Địa bàn khảo sát tập trung tại khu chế xuất Tân Thuận và các khu công nghiệp Tân Bình, Linh Xuân Đây là 3 khu vực nằm ở 3 vùng đón dân di
cư ở các tỉnh thành khác Những nơi này tập trung rất nhiều doanh nghiệp hoạt động rất nhiều lĩnh vực và là một kênh rộng lớn thu hút các công nhân các tỉnh thành khác
- Phạm vi thời gian: cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập trong khoảng thời gian từ 2014 đến 2016
Trang 151.4 Phương pháp nghiên cứu
Trên căn bản của phương pháp luận suy diễn (hay nghiên cứu định lượng), các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để thực hiện đề tài này bao gồm:
Phương pháp thu thập thông tin:
- Đối với thông tin sơ cấp: Áp dụng kết hợp các phương pháp phỏng vấn chuyên gia và điều tra thực tế để thu thập thông tin
- Đối với thông tin thứ cấp: Áp dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn để thu thập thông tin thứ cấp từ cơ sở dữ liệu của các trang web và chủ yếu là từ tổng cục thống kê
Phương pháp xử lý thông tin: Áp dụng phối hợp các phương pháp thống kê
mô tả và phân tích hồi qui
Công cụ xử lý thông tin: Sử dụng phần mềm Stata 14
1.5 Ý nghĩa đóng góp của đề tài nghiên cứu
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh Tác giả tìm ra một số đóng góp mới của đề tài, đó là đối với công nhân, hầu như trình độ học vấn là ngang nhau, đều rất thấp, đa phần nhà tuyển dụng quan tâm đến độ tuổi và tay nghề (kinh nghiệm làm việc), do đó biến học vấn không đưa vào mô hình Và các biến độc lập trong mô hình của tác giả có mức độ tác động khác nhau đối với thu nhập so với các nghiên cứu trước Từ đó, tác giả có một số đề xuất hàm ý chính sách thiết thực cho các cơ quan, đơn vị hữu quan để góp phần làm tăng thu nhập cho lao động nhập cư đang làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Luận văn được bố cục theo kết cấu gồm 5 chương, nội dung các chương được trình bày như sau:
• Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Trang 16Chương này giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, nêu rõ lý do hình thành nên
đề tài, đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và giới thiệu sơ lược kết cấu đề tài
• Chương 2: Cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu
Đây là chương trình bày các lý thuyết, mô hình, các nghiên cứu trước làm cơ sở cho các lập luận trong luận văn này Đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
• Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương này đưa ra một quy trình nghiên cứu cụ thể từ nghiên cứu sơ bộ (định tính) đến nghiên cứu chính thức (định lượng) Đồng thời tiến hành xây dựng thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
• Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày kết quả phân tích dữ liệu sau khi đã thu thập xong Các bước phân tích gồm: thống kê đặc điểm mẫu nghiên cứu, kiểm định phương sai , kiểm định và đưa ra kết quả kiểm định của mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp phân tích hồi quy Các phương pháp kiểm định trên được thực hiện thông qua phần mềm Stata
Trang 17CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Trong chương 2, tác giả trình bày cơ sở khoa học và mô hình nghiên cứu của
đề tài Chương này bao gồm các phần chính như các khái niệm liên quan, tổng quan
về lao động tại TP HCM, lược khảo các lý thuyết và đưa ra mô hình nghiên cứu
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Thu nhập
Khái niệm thu nhập từ tiên lương lao động được từ tiếng việt định nghĩa như sau:
- Thu nhập là việc nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó, hay là các khoản thu nhập được trong một khoảng thời gian nhất định thường tính theo tháng, năm,… (trang 925 – Từ điển Tiếng Việt năm 1994)
Từ định nghĩa trên cho ta thấy khi nói đến thu nhập thường người ta nói đến hai khía cạnh:
(1) Phương thức thu nhập: Thu nhập bằng gì, tiền hay sản phẩm,…
(2) Mức thu nhập: Cao hay thấp, so sánh chung trong xã hội hoặc cụ thể trên mỗi địa bàn
- Thu nhập của hộ gia đình hay cá nhân là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà
hộ, các thành viên trong hộ hay cá nhân đó nhận được trong một thời gian nhất định, bao gồm:
(1) Thu từ tiền công, tiền lương;
(2) Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ( đã trừ chi phí sản xuất) và thuế sản xuất);
(3) Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được) Thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định mua gì và mua bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết định khả năng mua của người tiêu dùng
- Mức thu nhập: mức là cái xác định về mặt nhiều ít, làm căn cứ để nhằm đạt tới trong hoạt động, để làm chuẩn đánh giá, so sánh (Trang 163 – Từ điển Tiếng Việt 1994) Từ đó có thể hiểu mức thu nhập là các khoản thu nhập được định
Trang 18mức quy đổi ra tiền tệ hoặc sản phẩm so sánh lẫn nhau, mức thu nhập thường được đánh giá là cao hoặc thấp
- Cơ cấu thu nhập: cơ cấu là cách tổ chức các thành phần thực hiện chức năng của chính thể Như vậy có thể hiểu cơ cấu thu nhập trên bình diện theo các loại
tổ chức thành phần Tuy nhiên ở đây xét chủ thể của thu nhập là các hộ gia đình, các nhóm xã hội tạo nên thu nhập Vậy cơ cấu của nhóm xã hội đó là các yếu tố xã hội như nghề nghiệp giới tính, tuổi tác, học vấn,…
Theo trường phái cổ điển, trong lí luận về phương pháp các nguồn thu nhập thì tiền công, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của thu nhập (M.Keynes, 1992) Theo K.Marx (Trích Nguyễn Hữu Thảo và cộng sự, 2003), trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh của Gôta” xác định sản phẩm được sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định gồm hai phần cơ bản Thứ nhất là phần bù đắp những hao phí về tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất, đây là phần khôi phục, hay tái sản xuất ra những tư liệu sản xuất cần thiết Kế đến là phần của cải mới được sáng tạo ra Phần của cải mới sản xuất ra này chính là thu nhập Vậy thu nhập với tính cách là phạm trù kinh tế, là phần của cải mới được sản xuất do các ngành, các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế dùng để khôi phục lại sức lao động, tái sản xuất ra đời sống của người sản xuất và tích luỹ tăng thêm vốn vật chất cho sản xuất, hay thực hiện tái sản xuất mở rộng
Theo kinh tế học, thu nhập là luồng tiền lương, trả lãi, cổ tức và các nguồn thu khác
mà một cá nhân hay một quốc gia nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm (Samueson và Nordhalls, 2001)
Tại Việt Nam, theo Tổng Cục Thống Kê (2014), thu nhập người lao động được định nghĩa như sau: “Thu nhập từ việc làm là khoản tiền công dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật trả cho người làm công ăn lương đối với thời gian hoặc công việc đã làm, cùng với khoản tiền trả cho thời gian không làm việc như nghỉ phép hoặc nghỉ hè hàng năm, nghỉ lễ hoặc các thời gian nghỉ khác được trả lương, bao gồm cả những khoản tiền công khác được nhận thường xuyên có tính chất như lương trước khi người chủ khấu trừ [các khoản mà người chủ đã đóng cho người làm công ăn lương như: thuế, đóng bảo hiểm xã hội, tiền đóng cho chế độ hưu trí, phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội trả
Trang 19thay lương (trả cho người lao động trong thời gian nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động), phí đoàn thể và các khoản nghĩa vụ khác của người làm công ăn lương] Không tính vào thu nhập từ việc làm các khoản sau: tiền bảo hiểm xã hội và tiền cho chế độ hưu trí mà người chủ đã đóng cho người làm công ăn lương và những phúc lợi
mà người làm công ăn lương đã nhận được từ các khoản này, tiền chi trả cho kết thúc hợp đồng, các khoản phúc lợi không thường xuyên (như tiền thưởng cuối năm, tiền biếu, )”
Tóm lại, theo nghiên cứu này, thu nhập của công nhân có nghĩa là tất cả các khoản tiền lương mà doanh nghiệp, người sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ theo số lượng và chất lượng công việc họ đã thực hiện, bên cạnh lương còn có các khoản tiền phụ cấp, các khoản tiền thưởng, được tính chung vào thu nhập của người công nhân
2.1.2 Nhập cư
Theo Tổng cục dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), di cư là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những người giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú Hiểu về di dân theo cách tiếp cận trên đây dựa vào những đặc điểm sau:
Một là, con người di chuyển khỏi địa điểm nào đó đến một nơi nào đó, với một khoảng cách nhất định Nơi đi (Nơi xuất cư) và nơi đến (nơi nhập cư) phải được xác định, có thể là vùng lãnh thổ hơặc một đơn vị hành chính Khoảng cách giữa hai điểm là đồ dài di cư Hay là, con người di cư bao giờ cũng với những mục đích nhất, họ đến một nơi nào đó và “ở lại” đó trong một thời gian nhất định
Hai là, nơi đi (xuất phát) là nơi ở thường xuyên, được qui định theo hình thức đăng lý hộ khẩu hoặc đăng lý nhân sự xác định của quản lý cấp hành chính
có thẩm quyền và nơi ở mới Tính chất cư trú là điều kiện cần để xác định di dân
Ba là: khoảng cách ở lại mới nới trong bao lâu là đặc điểm quan trọng xác định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không Tùy mục đích, thời gian
“ở lại” có thể là một số năm, một số tháng
Có thể nói rằng, hiện tượng nhập cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là sự di chuyển dân cư từ các vùng nông thôn vào đô thị, mà thực
Trang 20chất đó còn là hiện tượng xã hội của sự thu hút cả nông dân lẫn thị dân ở các vùng kém phát triển vào thành phố này - với tính cách là cực phát triển mạnh nhất với một lực hấp dẫn đô thị mạnh nhất của cả nước hiện nay Có hơn một phần ba (35,2%) người nhập cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh vốn là thị dân của các thành phố, trú xã khác Hai vùng có số thị dân di cư nhiều nhất là Bắc Bộ và Trung
Bộ (chiếm 40,0% và 39,0% của số người nhập cư từ hai miền này)(Nguyễn Thị Hồng Xoan, 2013)
2.1.3 Khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất
2.2 Các mô hình lý thuyết
- Lý thuyết di cư của EG Ravenstein
Lý thuyết của EG Ravenstein ra đời trong những năm 80 của thế kỉ 19
Lý thuyết này đóng vai trò cho việc phát triển lý thuyết di dân, Ravenstein nghiên cứu các cuộc di chuyển dân cư ở nước Anh và ông nhận thấy sự di dân
có mối liên quan đến quy mô dân số, mật độ và khoảng cách di chuyển Qua đó Ravenstein đã đi đến xây dựng những lý thuyết mang tính chất tổng quát hóa, trong đó rất nhiều quan điểm vẫn có ý nghĩa cho đến tận ngày nay có thể kể như:
+ Phần lớn các cuộc di chuyển chỉ diễn ra trên một khoảng cách ngắn;
+ Giới nữ chiếm ưu thế trong số lượng người di chuyển trong khoảng cách ngắn;
+ Đối với mỗi dòng di dân đều có di dân ngược;
+ Sự di dân chuyển từ vùng sâu, xa xôi vào thành phố thường phần lớn diễn ra theo các giai đoạn;
+ Động cơ chính yếu của di dân là động cơ kinh tế
Những lý thuyết di dân mang tính chất tổng quát hóa của Ravenstein được rút ra từ các quy luật dân số do ông trình bày như sau:
Trang 21Bảy quy luật động thái dân số của E.G.Ravenstein:
Chúng ta đã hoàn toàn chứng minh được rằng các tập đoàn di dân lớn chỉ tiến hành di chuyển trong khoảng cách ngắn và hậu quả là sự thay đổi mang tính chất toàn bộ hay sự thay thế dân số đã tạo ra các dòng di dân theo hường đến các trung tâm thương mại và khu công nghiệp nơi có thể thu hút người di dân
Kết quả của dòng di chuyển này, mặc dù diễn ra trên phạm vi cả nước bị giới hạn bởi các quá trình thu hút vẫn diễn ra theo cơ chế sau: dân cư của một nước sẽ nhanh chóng chuyển đến các vùng lân cận, các thị trấn, thị
xã có tốc độ tăng trưởng nhanh, khoảng cách dân số ở các vùng nông thôn sẽ được bù đắp lại nhờ những người di cư từ các vùng hẻo lánh hơn cho đến khi lực hút từ các thành phố có tốc độ tăng trưởng nhanh dần dần tác động đến những ngõ hẻo lánh nhất Số người di dân được kê khai
ở một trung tâm thu hút nào đó sẽ tăng chậm lại với khoảng cách tỷ lệ với dân số gốc ở nơi họ đã ra đi
Quá trình nới giãn ( phân hóa) là quá trình ngược lại của quá trình thu hút và thể hiện những đặc trưng tương tự
Mỗi dòng di dân lớn thường tạo ra một dòng di dân ngược để bù đắp lại
Người di dân thực hiện những cuộc di chuyển với khoảng cách xa với sở thích đến một trong những trung tâm công nghiệp và thương mại lớn
Những người gốc ở thành phố, thị xã thường ít di chuyển hơn so với những người ở các vùng nông thôn của đất nước
Nữ giới thường dễ di dân hơn so với nam giới
Dựa trên lý thuyết này về sau, một số tác giả khác đã nghiên cứu phát triển thêm Gursharan (2009) với lý thuyết lực hấp dẫn, giả định sự tồn tại mối quan hệ ngược giữa số người di chuyển và khoảng cách người di chuyển Stark (1991) cho rằng khoảng cách cơ học không có ý nghĩa quan trọng Người di cư lựa chọn nơi định cư ở nơi nào đó là do các yếu
tố kinh tế - xã hội, hoặc các cơ hội mà người di cư có thể tiếp cận được, đấy là cơ sở hình thành nên sự quyết định của người di dân Todara
Trang 22(1971) cho rằng nơi nào có điều kiện kinh tế tốt hơn sẽ khiến di dân chuyển đến nơi đó mạnh mẽ…
- Lý thuyết về phân phối thu nhập
Theo William Petty, lương là khoản tiền để công nhân có thể đảm bảo cuộc sống tối thiểu về vật chất Lương cao sẽ làm công nhân không muốn làm việc Vì vậy cần phải hạ lương thấp.Người có tiền để có thu nhập cần mua đất đai để có địa tô hay gửi ngân hàng để có lợi tức
David Ricardo cũng có cùng quan điểm đó, ông ủng hộ với chế độ trả lương thấp, vì lương cao sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm và không khuyến khích đầu
tư Về lợi nhuận: Ông giải thích hiện tượng xu hướng lợi nhuận giảm dần do đầu tư tăng là do đất đai xấu bị đưa vào sản xuất nên dẫn đến chi phí tăng là giá nông sản tăng và lương tăng Cùng với địa tô tăng khiến cho lợi nhuận giảm Kết quả công nhân không lợi nhưng không thiệt (lương danh nghĩa tăng nhưng mức lương thực thì không đổi), địa chủ có lợi do địa tô tăng, chỉ nhà tư bản bị thiệt do lợi nhuận giảm
Theo K Marx (Trích Nguyễn Hữu Thảo và cộng sự, 2001), lương là giá
cả của sức lao động, biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động
Giá trị lao động tạo thành bởi 2 yếu tố: tư liệu sinh hoạt và quá trình đào tạo
Xu hướng tiền lương thực tế sẽ bị giảm dần theo thời gian dưới chế độ tư bản
Về lợi nhuận, lợi tức, địa tô đều là biểu hiện của giá trị thặng dư bị giới chủ bóc lột giới lao động làm thuê
- Lý thuyết vốn con người (Human capital theory): đã được đề xuất bởi Schultz
(1961) và phát triển rộng rãi bởi Becker (1964) Trong những năm sáu mươi, lý thuyết này đã được phát triển do nhận thức rằng sự tăng trưởng của vốn vật chất con người là một phần của sự tăng trưởng trong tăng trưởng thu nhập Theo lý thuyết vốn con người cho thấy rằng: giáo dục và đào tạo làm tăng năng suất của người lao động bằng cách truyền đạt kiến thức và kỹ năng hữu ích, do đó nâng
Trang 23cao thu nhập tương lai của người lao động bằng cách tăng thu nhập suốt đời của
họ Mặc nhiên công nhận rằng chi phí đào tạo và giáo dục là tốn kém và nên được coi là phần đầu tư kể từ khi nó được thực hiện nhằm tăng thu nhập cho cá nhân
Becker đưa ra giả định cơ bản:
- Thị trường vốn con người hoàn hảo biểu thị bằng việc các cá nhân tham gia tự
do vào thị trường
- Tiền lương là khoản chi phí trả cho người lao động, khi đó tiền lươngđược xác định: wt = rtH * Ht
rtH : tổng số vốn con người (Stock of human capital)
Ht: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn con người (Rate of return to human capital)
- Hàm thu nhập của Mincer (1974)
Hàm thu nhập của Mincer được mọi người biết đến và ứng dụng rất nhiều trong các đề tài nghiên cứu về thu nhập Ông đã đưa ra hàm toán học để biểu thị mối quan hệ giữa số năm đi học, kinh nghiệm làm việc với thu nhập của một cá nhân
Mô hình thu nhập bỏ qua yếu tố kinh nghiệm của Mincer được biểu thị như sau: Gọi: S: là số năm đi học
Y0: là thu nhập hàng năm của người không có đi học
Ys: là thu nhập hàng năm của người có S năm đi học
r : là lợi suất biên, tức tỷ lệ phần trăm thu nhập tăng lên khi tăng thêm một năm đi học
Thì hàm thu nhập theo số năm đi học của Mincer là:
lnY s = lnY 0 + r.S
Phương trình trên cho thấy logarith của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm
đi học S, và hệ số của S biểu thị tỷ lệ phần trăm gia tăng thu nhập khi tăng thêm một năm đi học chính là tỷ suất biên r Đây là hàm thu nhập thô sơ nhất
Mô hình học vấn trở nên đầy đủ hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là
Trang 24quá trình đào tạo sau khi thôi học và sự đào tạo này là có chi phí Diễn dịch toán học của Mincer đã qui đổi yếu tố kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn đến hàm thu nhập phụ thuộc vào cả số năm đi học và số năm kinh nghiệm Hàm được thể hiện như sau :
lnY t = ao+ a 1 S + a 2 t + a 3 t 2 + V
Các biến số trong hàm thu nhập Mincer:
• Biến phụ thuộc Yt , thu nhập ròng trong năm t, được xem là mức thu nhập của dữ liệu quan sát được
• Biến độc lập S là số năm đi học của quan sát cá nhân có mức thu nhập Yt
• Biến độc lập t, là số năm biểu thị kinh nghiệm tiềm năng, với giả định kinh
nghiệm là liên tục và bắt đầu ngay khi không còn đi học, được tính bằng tuổihiện tại quan sát được trừ đi số năm đi học và trừ đi tuổi lúc bắt đầu đi học: t = A – S – b Ở đây, A là tuổi hiện tại và b là tuổi bắt đầu đi học (Mincer [1974], tr.84)
V là các biến kiểm soát khác
Hệ số a1 cho ta giá trị ước lượng suất sinh lợi của việc đi học, giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi tăng thêm một năm đi học;
Hệ số a2 giải thích phần trăm tăng thêm của thu nhập khi kinh nghiệm tiềm năng tăng thêm một năm Hệ số này mang dấu dương
Hệ số a3 là âm, biểu thị mức độ suy giảm của thu nhập biên theo thời gian làm việc
Mincer (1974) đã chỉ ra rằng giáo dục và đào tạo làm tăng năng suất của các cá nhân bằng cách tăng kỹ năng và kiến thức của họ Và kỹ năng, kiến thức
đó lại dẫn đến kết quả là làm tăng lợi nhuận cho các cá nhân Vì vậy, theo lý thuyết vốn nhân lực thì giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng cho hoạt động kinh tế của một cá nhân Mincer (1974) đề xuất hàm thu nhập và nó được sử dụng rộng rãi đến bây giờ, nó cũng được gọi là hàm Mincer hoặc mô hình hồi quy thu nhập Mincer Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhận diện các yếu
Trang 25tác động đến thu nhập của người lao động, phát triển dựa trên hàm Mincer Tổng hợp các yếu tố tác động đến thu nhập của người lao động được mô tả như sau :
Nguồn : Tống Quốc Bảo, 2015
Nghiên cứu này phát triển mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình Mincer, trong đó bổ sung thêm một số biến kiểm soát khác dựa trên dữ liệu thu được từ các nghiên cứu khác liên quan và thực tế khảo sát
2.3 Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan
Phan Thị Hữu Nghĩa , 2011, đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến thu nhập cá nhân tại TP Hồ Chí Minh Qua kết quả khảo sát với dữ liệu là 504 lao động làm việc tại TP HCM cho thấy có 4 nhân tố tác động đến thu nhập của cá nhân, bao gồm: cấp độ phân cấp, giáo dục, loại hình doanh nghiệp và kinh nghiệm Nhân tố tác động mạnh nhất là cấp độ phân cấp, tiếp theo là nhân tố giáo dục, nhân tố loại hình doanh nghiệp và cuối cùng là nhân tố kinh nghiệm Kết quả khảo sát cũng cho thấy không có mối quan hệ giữa các nhân tố công việc/nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, quê quán (vùng miền) và thu nhập Từ nghiên cứu này tác giả đúc kết được 2 yếu tố đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm giáo dục và kinh nghiệm làm việc Tác giả không lựa chọn 2 nhóm biến còn
Trang 26lại, nguyên nhân do đối tượng khảo sát là công nhân ngoại tỉnh và không phân biệt loại hình doanh nghiệp, đồng thời đối với công nhân thì không có sự khác biệt về nhóm lao động (cùng một nhóm, chỉ phân biệt tay nghề cao hay thấp, được đưa vào biến kinh nghiệm)
Sử Thị Thu Hằng, 2012, phân tích các nhân tố tác động đến thu nhập của lao động trong lĩnh vực dịch vụ tại Nam Trung Bộ dựa trên hàm thu nhập của Mincer (1974) Nghiên cứu này đã cho thấy có 3 nhóm nhân tố có ảnh hưởng đến thu nhập cá nhân, đó là: những nhân tố liên quan đến cá nhân (vốn con người, bao gồm tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm, giáo dục), những nhân tố liên quan đến đặc điểm nghề nghiệp (sự khác biệt giữa các nhóm lao động) và nhân tố loại hình doanh nghiệp và khu vực Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này giải thích được 42,4% sự biến thiên của thu nhập vào các biến độc lập Nghiên cứu còn cho thấy rằng nhóm nhân tố vốn con người có ảnh hưởng nhiều nhất, trong đó biến kinh nghiệm có ảnh hưởng mạnh nhất đến thu nhập, tiếp đó là biến số năm đi học của cá nhân Mô hình cũng cho thấy có sự chênh lệch trong thu nhập giữa Nam
và Nữ, giữa người lãnh đạo với các người giữ chức vụ khác, có sự khác biệt giữa lao đông kỹ thuật cao và lao động có kỹ thuật với những chức vụ khác về thu nhập Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn nhóm biến vốn con người (bao gồm tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm và giáo dục để đưa vào mô hình nghiên cứu của mình Tác giả không lựa chọn 2 nhóm biến còn lại, nguyên nhân do đối tượng khảo sát
là công nhân ngoại tỉnh và không phân biệt loại hình doanh nghiệp, đồng thời đối với công nhân thì không có sự khác biệt về nhóm lao động (cùng một nhóm, chỉ phân biệt tay nghề cao hay thấp, được đưa vào biến kinh nghiệm)
Tống Quốc Bảo, 2015 phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của lao động trong khu vực dịch vụ tại Việt Nam Nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp phân tích định lượng dựa trên dữ liệu của “Cuộc điều tra khảo sát mức sống
hộ gia đình Việt Nam năm 2012” của Tổng Cục Thống Kê và sử dụng mô hình hồi quy phân vị để thấy được sự khác biệt trong phân phối thu nhập trên từng khoảng phân vị Kết quả nghiên cứu cho thấy số năm đi học, kinh nghiệm, thời gian làm việc trung bình, nam giới, thành thị, lãnh đạo, lao động bậc cao, lao động bậc trung, lao động có kỹ thuật, khu vực Đông Nam Bộ, khu vực Đồng
Trang 27bằng sông Hồng có tác động thuận chiều với thu nhập của người lao động, trong khi loại hình kinh tế nhà nước, khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung lại có tác động nghịch chiều với thu nhập của người lao động
Zhou, 2002 nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến thu nhập của thanh niên, trường hợp tại Harare Nghiên cứu được thực hiện tại Harare cho thấy rằng thu nhập của thanh niên chịu ảnh hưởng của các yếu tố số năm đi học, trình độ học vấn cao nhất đạt được và trình độ đào tạo nghề Nghiên cứu cho thấy người
đi học đại học có thu nhập cao hơn người không đi học là 46% Tuy nhiên nghiên cứu lại tìm thấy số năm đi làm và biến nhân khẩu học, kinh tế xã hội có tác động rất thấp đến thu nhập của thanh niên Trong đó biến nhân khẩu bao hàm các yếu
tố về gia cảnh như số người trong gia đình, số người không có việc làm lại tác động tiêu cực đến thu nhập Dựa trên kết quả của Zhou , 2002 và thực trạng lao động nhập cư tại TP HCM, tác giả lựa chọn biến trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc và nhân khẩu học để đưa vào mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu của Prema và Pang , 1999 về yếu tố quyết định thu nhập của cá nhân ở Đài Loan trong quá trình tăng trưởng kinh tế, cho thấy tầm quan trọng của yếu tố nhân khẩu học như một vài nhân tố thiết yếu bao gồm độ tuổi, sự thay đổi trong số thành viên trong gia đình, và số người không lao động trong các hộ gia đình Các yếu tố này tác động lên việc đề ra các chính sách công nhằm gia tăng thu nhập Các yếu tố về , sự thay đổi trong số thành viên trong gia đình, và số người không lao động trong các hộ gia đình được tác giả kế thừa và đưa vào nghiên cứu
Nghiên cứu của Newman, 2006 về Điều tra mức sống và thu nhập của dân
cư Việt Nam, thực hiện vào khoảng tháng 8, 9 năm 2006 ở 12 tỉnh thành Họ kết luận rằng thu nhập là một nhân tố tích cực trong việc xác định mức sống của người dân Quy mô của từng hộ gia đình có ảnh hưởng tiêu cực tới việc tạo ra thu nhập, và cho thấy rằng những hộ gia đình có quy mô lớn thì sẽ có nhiều nguồn chi tiêu hơn những hộ có quy mô nhỏ với ít nguồn chi tiêu có sẵn Yếu tố quy mô của từng hộ gia đình được tác giả kế thừa và đưa vào nghiên cứu
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan , 2013 về đời sống, việc làm và thu nhập
Trang 28của lao động di cư từ nông thôn tới khu công nghiệp - nghiên cứu tại khu công nghiệp Sông Công, Thị Xã Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên cho thấy rằng lực lượng lao động di cư tại các KCN chiếm tỷ trọng rất cao Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thu nhập của người lao động di cư tại các KCN chịu tác động của các yếu tố
về đặc điểm giới tính, độ tuổi, số giờ làm việc, kỹ năng và hoàn cảnh sống ở địa phương Nghiên cứu này có bối cảnh khá tương đồng với bài nghiên cứu của tác giả và được kế thừa các yếu tố như giới tính, độ tuổi, kỹ năng và hoàn cảnh sống
ở địa phương để đưa vào nghiên cứu
Ruth Mayhew, 2011, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương của luật sư Nghiên cứu khảo sát các luật sư đang làm việc tại New York, Chicago và San Francisco cho thấy luật là một trong những nghề thu nhập cao nhất, tuy nhiên, thu nhập cho các luật sư khác nhau rất nhiều dựa trên một số yếu tố Ngoài
vị trí địa lý, các yếu tố ảnh hưởng đến phạm vi lương của luật sư bao gồm vị trí của luật sư trong một công ty luật, đối tượng khách hàng (đại diện cho cá nhân hoặc công ty), loại hình công ty Lương cho luật sư làm việc trong lĩnh vực phi lợi nhuận thường thực hiện nhiều hơn các luật sư người dành sự nghiệp của họ để nguyên nhân phi lợi nhuận, chẳng hạn như trợ giúp pháp lý đáng kể Ngoài ra yếu tố về gia đình cũng ảnh hưởng đáng kể đến danh tiếng và nguồn thu nhập của giới luật sư Từ nghiên cứu trên, áp dụng vào thực tiễn bối cảnh và đối tượng nghiên cứu, tác giả đã kế thừa yếu tố gia cảnh để đưa vào mô hình nghiên cứu với tên gọi quy mô hộ gia đình và số người phụ thuộc
Church , 2012, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của đồng
tính nam Một cuộc khảo sát được tiến hành trên mạng sử dụng một hình thức lấy mẫu thuận tiện để phát triển khung mẫu, thủ tục lấy mẫu liên quan đến các thành viên của các tổ chức đồng tính nam và đồng tính nữ quyền và cộng đồng trực tuyến Chỉ sử dụng các thành viên của các tổ chức quyền đồng tính, giới thiệu một số hạn chế quan trọng và có thể hạn chế khả năng khái quát của các kết quả
vì hành viên chính thống của tổ chức đồng tính là tương đương và giáo dục tốt Các yếu tố đo lường bao gồm giới tính, độ tuổi, dân tộc, khuynh hướng tình dục, trình độ giáo dục, tình trạng việc làm, thu nhập, nhà nước mà họ làm việc,
Trang 29kích thước tổ chức, nhiệm kỳ tổ chức, và nhiệm kỳ công việc Các mẫu bao gồm
264 cá nhân người tự nhận mình là người đồng tính, những người sống tại Hoa
Kỳ, và người được báo cáo là việc làm toàn thời gian Đa số người được hỏi đã hoàn thành một số hình thức của giáo dục bậc sau trung học 11,7% đã hoàn thành trung học, 6,8% đã hoàn thành đào tạo kỹ thuật hoặc dạy nghề, 10,6% trình
độ của một liên kết, 41,3% có bằng Cử nhân, 4,5% có trình độ chuyên môn chuyên nghiệp, 19,3% trình độ thạc sĩ và 4,9% trình độ tiến sĩ Về tiết lộ khuynh hướng tình dục, 18,3% cho biết đã từng tiết lộ khuynh hướng tình dục của mình cho đồng nghiệp, 28,5% cho một số người, 22,4% đối với hầu hết mọi người và 30,8% cho tất cả mọi người Kiểm tra tương quan cho thấy thu nhập tương quan đáng kể với tuổi tác, giáo dục, kích thước tổ chức, nhiệm kỳ tổ chức, nhiệm kỳ công việc, pháp luật bảo vệ, tỷ lệ đồng tính nam và đồng nghiệp đồng tính nữ, và phân biệt đối xử nhận thức Độ tuổi và giáo dục, là yếu tố dự báo mạnh mẽ của thu nhập cho cả hai người đàn ông đồng tính Đối với nam giới đồng tính, thu nhập có liên quan đáng kể đến tuổi tác (β = 0,19, p <0,05) và giáo dục (β = 0,26,
p <0,001) Các biến nhân khẩu học hoặc làm việc khác là có liên quan đáng kể đến thu nhập Có một mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê tiêu cực giữa thu nhập của những người đàn ông đồng tính và tỷ lệ của đồng nghiệp đồng tính nam
và đồng tính nữ (β = -.18, p <0,01) Nghiên cứu đã chỉ ra rõ ràng rằng thu nhập của những người đàn ông đồng tính là thấp hơn so với các đối tác khác giới của
họ Nghiên cứu này không cho thấy thu nhập của những người đàn ông đồng tính
có liên quan tiêu cực đến tỷ lệ người đồng tính nam và đồng nghiệp đồng tính nữ
Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã đưa vào mô hình nghiên cứu 3 yếu tố bao gồm giới tính, độ tuổi và giáo dục
Trang 30Cá Nhân – Hàm Ý Cho Chính Sách Công , Trường Hợp Tp.Hcm
Giới tính, tuổi, kinh nghiệm, vùng miền
Kết quả khảo sát cũng cho thấy không có mối quan
hệ giữa các nhân tố công việc/nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, quê quán (vùng miền) và thu nhập
vụ tại Nam Trung
Bộ dựa trên hàm thu nhập của Mincer
Giới tính, vị trí làm việc, lao động kỹ thuật cao
Mô hình cũng cho thấy có
sự chênh lệch trong thu nhập giữa Nam và Nữ, giữa người lãnh đạo với các người giữ chức vụ khác, có sự khác biệt giữa lao đông kỹ thuật cao và lao động có kỹ thuật với những chức vụ khác về thu nhập
vụ tại Việt Nam
Khu vực, lãnh đạo, thời gian làm việc, giới tính
Kết quả nghiên cứu cho thấy số năm đi học, kinh nghiệm, thời gian làm việc trung bình, nam giới, thành thị, lãnh đạo, lao động bậc cao, lao động bậc trung, lao động có kỹ thuật, khu vực Đông Nam
Bộ, khu vực Đồng bằng sông Hồng có tác động thuận chiều với thu nhập
Trang 31của người lao động, trong khi loại hình kinh tế nhà nước, khu vực Bắc Trung
Bộ và Duyên hải miền Trung lại có tác động nghịch chiều với thu nhập của người lao động
Trình độ học vấn, nhân khẩu học, thu nhập
Nghiên cứu cho thấy người đi học đại học có thu nhập cao hơn người không đi học là 46% Tuy nhiên nghiên cứu lại tìm thấy số năm đi làm và biến nhân khẩu học, kinh
tế xã hội có tác động rất thấp đến thu nhập của thanh niên
Ruth Mayhew,
2011 nghiên cứu
về các yếu tố ảnh
hưởng đến mức
lương của luật sư
Nghiên cứu các yếu
tố ảnh hưởng đến mức lương của luật
sư Nghiên cứu khảo sát các luật sư đang làm việc tại New York, Chicago và San Francisco
Loại hình công
ty, sức khỏe,
vị trí, gia đình
Ngoài vị trí địa lý, các yếu tố ảnh hưởng đến phạm vi lương của luật sư bao gồm vị trí của luật sư trong một công ty luật, đối tượng khách hàng (đại diện cho cá nhân hoặc công ty), loại hình công ty Nguyễn Thị
Thu nhập, di
cư, nhân khẩu học, kỹ thuật, kinh nghiệm
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thu nhập của người lao động di cư tại các KCN chịu tác động của các yếu tố về đặc điểm
Trang 32động di cư từ
nông thôn tới khu
công nghiệp -
nghiên cứu tại khu
công nghiệp Sông
giới tính, độ tuổi, số giờ làm việc, kỹ năng và hoàn cảnh sống ở địa phương
2.4 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu của tác giả dựa trên hàm Mincer, phát triển và bổ sung theo các nghiên cứu trước đây Dựa theo hàm Mincer thì có 3 nhóm yếu tố tác động đến thu nhập, đó là đặc điểm cá nhân, đặc điểm nghề nghiệp, loại hình kinh tế và khu vực Tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện riêng cho đối tượng công nhân tại TP HCM nên yếu tố loại hình kinh tế và khu vực không đưa vào mô hình nghiên cứu Bên cạnh đó, Prema và Pang (1999) cũng đã xem xét những yếu tố quyết định thu nhập trong quá trình phát triển kinh tế cho thấy tầm quan trọng của yếu tố nhân khẩu học như một vài nhân tố thiết yếu bao gồm độ tuổi,
sự thay đổi trong số thành viên trong gia đình, và số người không lao động trong các hộ gia đình (Zhou, 2002) Ở Việt Nam, Carol Newman sử dụng thông tin từ
Bộ dữ liệu Điều tra mức sống dân cư vào khoảng tháng 8, 9 năm 2006 ở 12 tỉnh thành Họ kết luận rằng thu nhập là một nhân tố tích cực trong việc xác định mức sống của người dân Quy mô của từng hộ gia đình có ảnh hưởng tiêu cực tới việc tạo ra thu nhập, và cho thấy rằng những hộ gia đình có quy mô lớn thì sẽ có nhiều nguồn chi tiêu hơn những hộ có quy mô nhỏ với ít nguồn chi tiêu có sẵn Nguyễn Thị Loan (2013) cũng chỉ ra rằng thu nhập của người lao động di cư tại các KCN chịu tác động của các yếu tố về đặc điểm giới tính, độ tuổi và hoàn cảnh sống ở địa phương
Trang 33Bảng 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
1 Giới tính Sử Thị thu Hằng (2012)
Church (2012) Nguyễn Thị Loan (2013)
2 Trình độ học vấn Mincer (1974)
Zhou (2002) Phan Thị Hữu Nghĩa (2011)
Sử Thị thu Hằng (2012) Tống Quốc Bảo (2015)
3 Kinh nghiệm làm việc Mincer (1974)
Zhou (2002) Phan Thị Hữu Nghĩa (2011)
Sử Thị thu Hằng (2012) Nguyễn Thị Loan (2013)
4 Độ tuổi Phan Thị Hữu Nghĩa (2011)
Sử Thị thu Hằng (2012) Church (2012)
Prema và Pang (1999) Nguyễn Thị Loan (2013)
5 Quy mô hộ gia đình Ruth Mayhew (2011)
Zhou (2002) Prema và Pang (1999) Nguyễn Thị Loan (2013)
6 Tiền thưởng Ruth Mayhew (2011)
7 Vị trí làm việc Nguyễn Thị Loan (2013)
8 Được đào tạo chuyên môn Zhou (2002)
9 Tăng ca Church (2012)
10 Ký túc xá cho công nhân Nguyễn Thị Loan (2013)
11 Sức khỏe Ruth Mayhew (2011)
12 Bảo hiểm xã hội Nguyễn Thị Loan (2013)
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 34Dùng phương pháp hồi quy và tương quan để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người công nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Mô hình tổng quát như sau:
Y = b0 + b1 X1 + b2 X2 + … + bn Xn + Ɛ
Trong đó:
- Y: Thu nhập của công nhân
- X1, X2, , Xn: Các biến độc lập là các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm, v.v )
Trang 35Bảng 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập công nhân nhập cư
X1 Giới tính Giới tính của người lao động (Nam / Nữ)
X2 Trình độ học vấn Số năm đi học (Năm) +
X4 Qui mô hộ gia đình Số người trong gia đình của người lao động -
X5 Số người phụ thuộc Số người phụ thuộc vào người
X6 Độ tuổi Số tuổi của người công nhân +
X7 Bảo hiểm xã hội cuộc sống vả trong công việc Bảo hiểm những rủi ro trong
làm của người công nhân
+
X8 Sức khỏe Công nhân có sức khỏe tốt thì họ đảm đương được công việc tốt
hơn
+
X9 Ngành nghề Tùy thuộc vào ngành nghề làm việc mà mức thu nhập của người
công nhấn có thể cao hay thấp
+
X10 Vị trí làm việc Chứ vụ cấp bậc quản lý hay
X11 Tăng ca Giờ làm thêm của công nhân +
X12 Đào tạo chuyên môn Nâng cao kỹ năng tay nghề thông qua các khóa đào tạo
chuyên môn nghiệp vụ
+
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Trang 36Tóm tắt chương 2
Chương 2 đã trình bày các khái niệm về thu nhập, nhập cư và khu công nghiệp để giải thích rõ hơn về tên đề tài Đồng thời chương này cũng đã nêu được các lý thuyết nền tảng về thu nhập như Lý thuyết di cư của EG Ravenstein, Lý thuyết về phân phối thu nhập hay hàm thu nhập của Mincer Bên cạnh đó tác giả cũng đã đưa ra 1 số nghiên
cứu tham khảo của các tác giả Phan Thị Hữu Nghĩa , 2011, Sử Thị Thu Hằng, 2012,
Ruth Mayhew, 2011 và Zhou , 2002 để làm rõ cho mô hình đề xuất của nghiên cứu Tác giả đề xuất mô hình gồm 1 biến phụ thuộc là thu nhập của công nhân và 12 biến độc lập gồm giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, bảo hiểm xã hội, sức khỏe, ngành nghề, vị trí làm việc, tăng
ca, đào tạo chuyên môn Mô hình này sẽ được hiệu chỉnh sau khi nghiên cứu định tính cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu trước khi đưa vào nghiên cứu định lượng chính
thức
Trang 37CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ trình bày chi tiết hơn về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và phát triển các thang đo
3.1 Quy Trình Nghiên Cứu
Quy trình nghiên cứu được thực hiện bao gồm các bước như sau:
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Đặt vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Xây dựng mô hình
Nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia và thảo luận
nhóm)
Hiệu chỉnh mô hình
Nghiên cứu định lượng (Mẫu
Trang 38Quy trình nghiên cứu được thực hiện bao gồm các bước cụ thể như sau:
Đặt vấn đề, xác định mục tiêu nghiên cứu: Từ thực trạng tình hình lao động
nhập cư tại Tp HCM ngày càng gia tăng, đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp và chế xuất đã hình thành nên vấn đề cần nghiên cứu, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý thuyết: Dựa trên các lý thuyết, các nghiên cứu trước tác
giả đưa ra và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập
cư tại các khu công nghiệp và chế xuất trên địa bàn TP HCM
Xây dựng mô hình: Từ thực trạng và cơ sở lý thuyết tác giả xây dựng mô
hình các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của công nhân nhập cư tại các khu công
nghiệp và chế xuất trên địa bàn TP HCM
Nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh mô hình: Thực hiện nghiên cứu định tính
bằng phương pháp phỏng vấn 1 số chuyên gia, sau đó thực hiện thảo luận nhóm gồm 10 đáp viên nhằm bổ sung và hiệu chỉnh mô hình cho phù hợp
Nghiên cứu định lượng: từ kết quả nghiên cứu định tính tác giả xây dựng
bảng câu hỏi và tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu
Phân tích bằng Stata: Sau khi thu thập xong dữ liệu, tiến hành mã hóa,
nhập liệu và làm sạch dữ liệu Tiến hành phân tích thống kê mô tả, phân tích hồi
qui và phân tích phương sai anova
Phân tích kết quả, đưa ra khuyến nghị: Từ kết quả phân tích thu được tác
giả sẽ đưa ra kết luận và một số hàm ý chính sách
3.2 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Với phương pháp này, tác giả sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy dựa trên bộ dữ liệu bảng như đã thu thập được để xây dựng các mô hình hồi quy tuyến tính GLM và
Trang 39kiểm định các giả thuyết nghiên cứu đặt ra nhằm kiểm chứng mối quan hệ tác động của các yếu tố tác động đến thu nhập của công nhân
3.2.1 Nghiên cứu định tính
Từ các lý thuyết kinh tế học và các nghiên cứu thực nghiệm trước được đề cập ở chương 2, mô hình nghiên cứu tác giả đưa ra gồm 1 biến phụ thuộc và 12 biến độc lập tác động đến thu nhập của công nhân nhập cư Tuy nhiên, sau quá trình nghiên cứu định tính, biến trình độ học vấn được loại khỏi mô hình do không nhận được sự đồng thuận của đối tượng khảo sát (Phụ lục 1) Kết quả cụ thể như sau:
Tác giả tham khảo 4 chuyên gia, bao gồm 1 thạc sỹ kinh tế học, 1 quản đốc nhà xưởng sản xuất thức ăn gia súc, 1 giám đốc công ty sản xuất thiết bị định vị và 1 quản lý nhân sự của hệ thống siêu thị Lotte (phụ lục 3) Tất cả đều đồng ý với ý kiến thay đổi biến thành quy mô hộ gia đình và số người phụ thuộc để phù hợp hơn với bối cảnh nghiên cứu Đồng thời, các chuyên gia cũng cho rằng không nên đưa biến học vấn vào mô hình nghiên cứu vì họ cho rằng đối với công nhân khi tuyển dụng hầu như trình độ học vấn đều rất thấp và họ không quan tâm đến điều đó, thu nhập của công nhân chủ yếu do tay nghề cao hay thấp Ngoài ra, tất
cả đều đồng tình với 5 biến còn lại của mô hình đề xuất
Khi thảo luận nhóm gồm 10 công nhân tại các nhà máy thì 8/10 ý kiến cho rằng
họ không quan tâm đến học vấn, học vấn cao hay thấp không ảnh hưởng đến thu nhập cuả họ Đa số đều nhất trí với 11 yếu tố còn lại của mô hình bao gồm giới tính, độ tuổi, kinh nghiệm, quy mô hộ gia đình, số người phụ thuộc, bảo hiểm xã hội, sức khỏe, ngành nghề, vị trí làm việc, tăng ca, đào tạo chuyên môn Các đối tượng thảo luận đều cho rằng ngôn từ sử dụng mô tả các biến mô hình và câu hỏi khảo sát là dễ hiểu và chấp nhận được (phụ lục 1,3)
Trang 40Bảng 3.1 Kết quả thảo luận nhóm
3 Kinh nghiệm làm việc 9/10 đồng ý
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm hai phần (phụ lục 2):
Phần 1: câu hỏi gạn lọc nhằm loại bỏ các ứng viên không phù hợp (là công nhân ngoại tỉnh làm việc tại TP HCM, bao gồm đối tượng lao động ngoại tỉnh
đã nhập cư cùng với gia đình họ và đã có hộ khẩu thường trú tại Tp.Hồ Chí Minh và lao động ngoại tỉnh làm việc tại Tp.Hồ Chí Minh, độc thân hoặc có gia đình đi theo nhưng không nhập hộ khẩu