Trong hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Côngnghệ thì sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đóng một vai trò quan trọng, đó chính là công cụ, phương tiện và là cầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-****** -NGUYỄN THỊ YẾN NHƯ
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC
VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-****** -NGUYỄN THỊ YẾN NHƯ
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC
VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ khoa học
PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng PGS.TS Trần Thị Quý
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tớiPGS.TS Nguyễn Hữu Hùng, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôitrong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong và ngoài khoaThông tin - Thư viện của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Cảm
ơn các cô, chú và anh chị đang công tác tại Ban Thông tin - Thư viện và Đàotạo sau Đại học Viện Chiến lược & Chính sách Khoa học và Công nghệ đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin được dành lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã dànhcho tôi sự quan tâm và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành đề tài luận văn này
Hà Nội, ngàytháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Yến Nhƣ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề: 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 6
5 Phương pháp nghiên cứu: 6
6 Giả thuyết nghiên cứu: 6
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài: 7
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu: 7
9 Bố cục của luận văn: 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 8
1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 8
1.1.1 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 8
1.1.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 11
1.1.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 13
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 15
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ 18
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của Viện 18
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Viện: 19
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Viện: 21
1.2.4 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Viện 26
1.3 Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin của Viện 34
1.3.1 Yêu cầu đối với sản phẩm thông tin - thư viện 34
1.3.2 Yêu cầu đối với dịch vụ thông tin - thư viện 36
Trang 5CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN
-THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ 37
2.1 Các sản phẩm thông tin - thư viện của Viện 37
2.1.1 Hệ thống mục lục 37
2.1.2 Thư mục dạng in 40
2.1.3 Xuất bản phẩm 41
2.1.4 Cơ sở dữ liệu 46
2.2 Các dịch vụ thông tin - thư viện của Viện 54
2.2.1 Dịch vụ tra cứu thông tin 54
2.2.2 Dịch vụ phổ biến thông tin hiện tại (CAS - Current Awarensess Services) 57 2.2.3 Dịch vụ đọc mượn tài liệu 58
2.2.4 Dịch vụ trao đổi thông tin: 60
2.2.5 Dịch vụ dịch tài liệu 60
2.3 Các yếu tố tác động đến việc tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin -thư viện của Viện 61
2.3.1 Nguồn nhân lực 61
2.3.2 Trang thiết bị và cơ sở vật chất 61
2.3.3 Các chuẩn biên mục 62
2.3.4 Công cụ phân loại tài liệu 63
2.3.5 Phần mềm hỗ trợ xử lý thông tin 66
2.4 Đánh giá về hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện 66
2.4.1 Đánh giá về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 66
2.4.2 Điểm yếu và nguyên nhân: 70
Trang 6CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ
THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 73
3.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện 73
3.1.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin - thư viện 73
3.1.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ thông tin - thư viện 74
3.2 Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện 77
3.2.1 Xây dựng các sản phẩm thông tin - thư viện 77
3.2.2 Phát triển dịch vụ thông tin - thư viện mới 80
3.3 Các giải pháp khác 83
3.3.1 Phát triển nguồn lực thông tin và tăng cường đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin 83
3.3.2 Phát triển nguồn lực con người 87
3.3.3 Tổ chức quảng bá các SP&DV TTTV 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KH&CNQG Khoa học và công nghệ Quốc gia
DV TT-TV Dịch vụ thông tin - thư viện
KH&CN Khoa học và công nghệ
NISTPASS Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệSP&DV Sản phẩm và dịch vụ
SP&DV TT Sản phẩm và dịch vụ thông tin
SP&DV TT-TV Sản phẩm và dịch vụ thông tin- thư viện
SP TT-TV Sản phẩm thông tin- thư viện
TT-TL Thông tin - tư liệu
TT-TV Thông tin - thư viện
VDIC Trung tâm Thông tin phát triển Việt Nam
TTTV&ĐTSĐH Thông tin - thư viện và Đào tạo sau đại học
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Sự khác nhau trong sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện cho
người dùng tin 28
Bảng 2: Số lượng biểu ghi hiện tại trong Cơ sở dữ liệu Ilib tại Viện 51
Bảng 3: Đánh giá về trang Wed của Viện 70
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 1: Cơ cấu tổ chức của Viện 21
Hình 2: Sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa chiều sâu thông tin, mức độ xử lý thông tin và các nhóm người dùng tin 27
Hình 3: Tạp chí chính sách và quản lý khoa học và công nghệ 42
Hình 4: Kỷ yếu Kết quả nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học và công nghệ 43
Hình 5: Ấn phẩm Annual Report 44
Hình 6: Quy trình xử lý tiền máy 49
Hình 7: Giao diện của phầm mềm quản lý thư viện Ilib.Me 50
Hình 8: Các chức năng chính của Ilib.Me 50
Hình 9: Giao diện trang web của Viện 51
Hình 10: Màn hình tiềm kiếm trong modul biên mục 56
Hình 11: Quy trình phục vụ bạn đọc 59
Hình 12: Biểu đồ đánh giá về trang Web của Viện 70
Trang 9MỞ ĐẦU
Thế kỷ 21, thế kỷ của khoa học và công nghệ, thế kỷ của sự chuyểnmình từ nền kinh tế công nghiệp chuyển sang nền kinh tế tri thức Nền kinh tếtri thức đã trở thành mục tiêu và động lực thúc đẩy xã hội phát triển Trênthực tế, sự vận động của xã hội loài người đang tiếp cận tới một bước ngoặt
vô cùng to lớn để chuyển sang một thời đại mới về chất - đó là thời đại trí tuệ
mà động lực của thời đại này là cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới vớisức cạnh tranh cực kỳ to lớn Chính vì thế hoạt động thông tin ngày càng trởthành nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất
kỳ một quốc gia nào
Thật vậy, thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xãhội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phươngtiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, lànguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triểnkinh tế - xã hội Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyếtđịnh hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn
và trở nên kém hiệu quả Thông tin ngày nay đã được sử dụng như một nguồnlực kinh tế
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện ra đời không chỉ là kếtquả tất yếu của các hoạt động thông tin - thư viện mà còn thể hiện trình độphát triển của một cơ quan thông tin - thư viện Vai trò của sản phẩm và dịch
vụ thông tin - thư viện ngày càng quan trọng và có mối quan hệ chặt chẽ vớitoàn bộ các yếu tố cấu thành cơ quan thông tin - thư viện
Trong hoạt động của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Côngnghệ thì sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đóng một vai trò quan trọng,
đó chính là công cụ, phương tiện và là cầu nối giữa người dùng tin với nguồn
Trang 10lực thông tin, giúp họ truy cập, khai thác các nguồn tin một cách có hiệu quả.Bên cạnh đó, các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện còn giúp việc traođổi và chia sẻ nguồn lực thông tin của Viện với các cơ quan khoa học kháctrong hệ thống Vì vậy, chất lượng của các sản phẩm và dich vụ thông tin -thư viện được coi là thước đo hiệu quả hoạt động thông tin, là yếu tố quantrọng để một tổ chức khoa học và công nghệ hoàn thành tốt các chức năng vànhiệm vụ của mình trong giai đoạn đổi mới hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc gìn giữ và phổ biến thông tinnói chung, cung cấp các sản phẩm thông tin nói riêng, từ khi thành lập chođến nay, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ đã tạo lậpcác sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong lĩnh vực Chiến lược vàChính sách Khoa học và Công nghệ Các sản phẩm và dịch vụ thông tin -thưviện của Viện đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình hỗ trợ cho nghiêncứu và triển khai khoa học công nghệ cũng như truyền bá những thành tựukhoa học công nghệ, phục vụ cho người dùng tin chủ yếu là cán bộ lãnh đạo,quản lý; cán bộ nghiên cứu khoa học tại Viện và nghiên cứu ngoài Viện gópphần thông qua những quyết định quan trọng trong đổi mới và phát triển khoahọc, công nghệ Việt nam
Trong những năm qua, hoạt động thông tin - thư viện đã có sự đónggóp vào việc thực hiện các mục tiêu chung của Viện Tuy nhiên, trong giaiđoạn hiện nay với những yêu cầu đòi hỏi cao của người dùng tin và cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và xu thế hội nhập thì việccung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện cũng mới chỉđáp ứng phần nào nhu cầu tin trong và ngoài Viện, chất lượng các sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện chưa cao, còn đơn giản, nghèo nàn, thiếu đồng
bộ, chưa có nghiên cứu toàn diện về nhu cầu người dùng tin và sản phẩm dịch
vụ thông tin - thư viện chưa thực sự được người dùng đón nhận
Trang 11Đứng trước những yêu cầu đổi mới ngày càng cao và để tiến kịp vớicác tổ chức thông tin - thư viện hiện đại trong khu vực và cả nước, hoạt độngthông tin - thư viện của Viện cần hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượnghoạt động thông tin - thư viện, đặc biệt là phát triển toàn diện chất lượng và
số lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong lĩnh vực Chiếnlược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Do đó, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, phát triển các sản phẩm vàdịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học vàCông nghệ đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết Đó cũng là lý do mà vấn đề
"Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Viện Chiến lƣợc và Chính sách Khoa học và Công nghệ " được tác giả chọn làm đề tài cho luận văn
của mình
Nghiên cứu về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là một đề tài đãđược nhiều tác giả nghiên cứu tại các cơ quan khác nhau trên cả nước Nhưngthực chất hoạt động thông tin - thư viện trong bối cảnh nước ta là một nướcđang phát triển, đang trong quá trình hội nhập toàn cầu có rất nhiều biếnchuyển Đặc biệt, trong những năm qua sản phẩm và dịch vụ thông tin - thưviện tại các cơ quan thông tin - thư viện ngày càng phong phú và đa dạng.Nhưng làm sao để phát triển toàn diện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin
- thư viện cho phù hợp với tình hình cụ thể của các cơ quan thông tin - thưviện trong nước và bắt kịp với sự phát triển chung của thế giới là một vấn đề còngặp nhiều khó khăn và thách thức
Vấn đề cơ bản về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đã đượctrình bày về mặt lý thuyết trong cuốn giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thôngtin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn xuất bản năm 1998
Trang 12Vấn đề này cũng được đề cập đến trong môt số bài báo nghiên cứu
được công bố trên tạp chí chuyên ngành như “Một số vấn đề về chính sách
phát triển Sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Hữu Hùng , tạp chí Thông tin - Tư liệu, Số 2,2008; “Hệ thống ấn phẩm thông
tin: Hiện trạng và phương hướng phát triển” của tác giả Nguyễn Lan Hương,
Tạp chí Tư Liệu, số 2,1999; “Về hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin” của
tác giả Trần Mạnh, Tạp chí thông tin khoa học xã hội, số 5, 2003…
Hầu hết các bài viết trên đều mô tả về các sản phẩm và dịch vụ thôngtin - thư viện phổ biến hiện nay Đồng thời rút ra các phân tích, những đánhgiá và dự báo xu hướng phát triển của các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thưviện trong tương lai
Bên cạnh đó, vấn đề về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện đã
được nghiên cứu trong một số luận văn cao học như: “ Đa dạng hóa sản
phẩm và dịch vụ thông tin trong điều kiện hội nhập khoa học và công nghệ tại Trung tâm Thông tin tư liệu Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam” của
Đặng Thu Minh bảo vệ năm 2006; “Đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ thông
tin - thư viện đáp ứng nhu cầu tin thời kỳ đổi mới tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội” của Nguyễn Thị Thúy Nga bảo vệ năm 2007; “Đa dạng hóa dịch
vụ thông tin - thư viện tại Viện thông tin khoa học Xã hội” của Phùng Diệu
Anh bảo vệ năm 2006; “Phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện tại trường Dự bị Đại học thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Minh
Tâm bảo vệ năm 2012; “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
tại trường Đại học Ngoại thương Hà Nội” của tác giả Thạch Lương Giang
Trang 13phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằmhoàn thiện các sản phẩm và dịch vụ thông tin này.
Trong Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ có một
số luận văn cao học nghiên cứu về khía cạnh thông tin - thư viện như: “Khảo
sát hoạt động thông tin tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ " của Bùi Thị Phương Thảo bảo vệ năm 2009; "Quản lý thông tin phục
vụ cho hoạt động nghiên cứu và triển khai tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ " của Mạc Thị Thu Thủy bảo vệ năm 2008…
Như vậy, đến nay các đề tài viết về Viện Chiến lược và Chính sáchKhoa học và Công nghệ mới chỉ giải quyết một số khía cạnh trong hoạt độngchuyên môn nghiệp vụ thông tin - thư viện của Viện, chưa có đề tài nào đềcập trực tiếp và đi sâu nghiên cứu về phát triển toàn diện hệ thống sản phẩm
và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện
Do đó, tác giả luận văn sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của cáctác giả đi trước, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học để phântích thực trạng hệ thống sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiếnlược và Chính sách Khoa học và Công nghệ , trên cơ sở đó đề xuất một sốgiải pháp phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện, nâng caochất lượng phục vụ, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu tin của người dùngtin tại Viện
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy bộ sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong lĩnh vực khoa học và công nghệ làm đối tượng nghiên cứu
Trang 144 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin tronglĩnh vực khoa học và công nghệ của Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học
và Công nghệ để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch
vụ thông tin, đưa ra các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp, đápứng nhu cầu tin thực tế và tiềm năng của người dùng tin tại Viện
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Viện
- Khảo sát người dùng tin và nhu cầu tin tại Viện
- Nghiên cứu thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, phát triển các sản phẩm và dịch vụthông tin tại Viện, để đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng tin
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng,duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin; các quan điểm của Đảng và Nhànước về công tác thư viện
5.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp điều tra nghiên cứu bằng bảng hỏi
- Phương pháp quan sát, khảo sát thực tế
- Phương pháp thống kê
Hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của Viện chưa phát huy được hết nguồn lực thông tin của thư viện, chưa đáp ứng nhanh chóng và
Trang 15đầy đủ nhu cầu thông tin của người dùng tin Nếu phát triển phong phú cácloại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện thì sẽ nâng cao được hiệuquả phục vụ thông tin, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo và nghiên cứukhoa học của Viện.
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài:
- Về mặt khoa học: Đề tài nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về các
sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện
- Về mặt ứng dụng: Đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ
thông tin - thư viện tại Viện, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, gópphần nâng cao chất lượng phục vụ trực tiếp cho Cán bộ lãnh đạo và Quản lý, Cán
bộ nghiên cứu khoa học, người dùng tin ngoài Viện phục vụ cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin -thư viện tại Viện
- Đánh giá về hiện trạng, khả năng phát triển và ứng dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện
- Đưa ra những giải pháp đổi mới và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thôngtin - thư viện tại Viện
9 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảovà Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Chương 2: Hiện trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Viện Chiến
lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ
CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.1.1 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.1.1.1 Sản phẩm thông tin - thư viện
Thuật ngữ sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạtđộng nhất là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.Tùy vào tính chất hoạt độngcủa mỗi ngành có những khái niệm tương ứng Trong lĩnh vực TT-TV, dựavào tính chất hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin khái niệm sản phẩmđược định nghĩa: “là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân/tậpthể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của những người sửdụng các cơ quan thông tin - thư viện”.[10, tr20]
Quá trình hoạt động để tạo ra sản phẩm thông tin - thư viện là quá trình
xử lý thông tin gồm biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, tổngquan, tổng luận cũng như các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin khác
Như vậy, sản phẩm thông tin - thư viện đối tượng nghiên cứu của luậnvăn là các sản phẩm mục lục thư viện, thư mục, danh mục, tạp chí tóm tắt, bàitóm tắt, tổng quan, tổng luận, CSDL, bản tin điện tử, website
Chất lượng của các loại sản phẩm này được phản ánh qua các tiêu chínhư “mức độ bao quát nguồn tin”; “chất lượng của các đơn vị cấu thành sảnphẩm”; “khả năng cập nhật thông tin” và “khả năng tìm kiếm thông tin quasản phẩm”
Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện:
Chu kỳ sống: mỗi loại sản phẩm thông tin - thư viện có một chu kỳ sống Chúng tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế Từ lúc sinh ra
Trang 17đến mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể được chia thành 5 giai đoạn:Giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành, suy giảm và hủy.
Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trưởng: Trong xu thế đổimới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thànhnhư là một triết lý Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin - thư việnđang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sảnphẩm
Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới: một số nhân tốbên ngoài sẽ thúc đẩy phát triển và giới thiệu những sản phẩm thông tin mớibao gồm: Những sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thóiquen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn và việc gia tăng sự cạnhtranh quốc tế
Gia tăng sự lựa chọn và sử dụng thông tin: Trong những năm gần đây,NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn.Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông vàinternet NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởikhông gian và thời gian
Môi trường tồn tại và nguồn lực: Thực tế ngày nay khối lượng gia tăngnhanh chóng dẫn tới việc khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tàiliệu, một cơ quan thông tin - thư viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó cóthể thu nhập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản Điều này bắt buộc các cơquan phải có chính sách phát triển các SP TT-TV phù hợp và sử dụng nguồnnhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phảithực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thư viện khác
Do đó các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tựhoàn thiện mình trên tất cả các phương diện: tăng trưởng nguồn lực thông tin,
đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phụcvụ
Trang 181.1.1.2 Dịch vụ TT-TV:
Trên thực tế khái niệm dịch vụ cho đến nay chưa có một định nghĩathống nhất vì tính vô hình và khó nắm bắt của nó Khác với sản phẩm, cácloại dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm bắt hay nhận diệnbằng các giác quan, chính vì vậy việc tạo cho khách hàng nhận biết được tiềmnăng của dịch vụ, tức là tạo cho khách hàng một cảm giác hữu hình về dịch
vụ là rất cần thiết Dịch vụ luôn gắn với người cung cấp dịch vụ, chất lượngdịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ, kỹ năng…, chất lượng dịch vụ rấtkhó xác định ngay cả nhiều khi đối với cùng một cá nhân thực hiện nhưngchất lượng có sự thay đổi theo thời gian Một sản phẩm có thể được hìnhthành từ các bộ phận riêng lẻ, sản xuất độc lập.Tuy nhiên, đối với dịch vụ thìkhông thể tiến hành như vậy Sự tổn thất do tồn kho của sản phẩm có thể xácđịnh được nhưng tổn thất do tồn kho dịch vụ thì khó xác định được đầy đủ
Theo giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của tác giảTrần Mạnh Tuấn, khái niệm dịch vụ TT-TV được hiểu là “những hoạt độngnhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các
cơ quan thông tin - thư viện nói chung”.[ 10, tr24-25]
Dịch vụ TT-TV có mối quan hệ chặt chẽ giữa NDT và cán bộ thông tin
thư viện Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thông tin thư viện triển khai các dịch vụ, ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thông tin
thư viện tạo ra NDT được thỏa mãn nhu cầu thông tin của mình
Dịch vụ TT-TV có thể chia thành các nhóm cơ bản như dịch vụ cungcấp tài liệu, dịch vụ tra cứu tin, dịch vụ trao đổi thông tin Tiêu chuẩn đánhgiá chất lượng của dịch vụ qua các tiêu chí như “chi phí thực hiện dịch vụ”;
“chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để cung cấp cho NDT”; “tính kịpthời của dịch vụ” và “tính thuận tiện của dịch vụ” Việc nắm vững các đặcđiểm, tiêu chí này nhằm có chiến lược tổ chức hoạt động các dịch vụ thôngtin một cách có hiệu quả
Trang 19 Một số đặc tính của dịch vụ thông tin - thư viện:
Tính vô hình (Intangibility): Khác với SP TTTV, dịch vụ thông tin thư viện không có hình hài rõ rệt, không thể hình dung trước khi nó bắt đầu,không thể lưu trữ như hàng hóa hay nhận diện được bằng giác quan Chính vìvậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ thông tin, cần tạo cho NDT biếttiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết các dịch vụ đó
-Tính đồng thời: Việc tạo ra các dịch vụ thông tin -thư viện và cung cấpcác dịch vụ ấy cho NDT được diễn ra đồng thời
Tính chất không đồng nhất (heterogeneity): Dịch vụ thông tin gắn với
cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ, bên cạnh đó chất lượng của các dịch vụthông tin - thư viện nhiều khi không đồng nhất, yêu cầu của NDT cũng khácnhau, phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian
Tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability): Thông thường đểthực hiện một dich vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một sốbước hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thuđược kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn
1.1.2 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Hoạt động thông tin KH&CN là loại hình hoạt động được hình thành
do sự phân công laođộng khoa học và đã trở thành một lĩnh vực hoạt độngđộc lập không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế nào Trong hoạt động thôngtin KH&CN thì hệ thống SP&DV TT-TV giữ một vai trò, vị trí rất quantrọng.Việc đáp ứng nhu cầu "nắm bắt được thông tin, hiểu được phải thu thập
nó như thế nào, xử lý nó ra sao và sử dụng nó cho các mục đích khác nhau"phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống các SP&DV TT-TV
Đối với Viện thì hệ thống SP&DV giữ vai trò vô cùng quan trọng vớinhững ý nghĩa như sau:
Giúp nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn NCT củaNDT;
Trang 20Nâng cao năng lực kiểm soát tài nguyên thông tin và trang bị thông tintrong xã hội;
Bảo vệ an toàn và lâu dài môi trường thông tin (điều này đặc biệt có ýnghĩa khi ta nhìn theo chiều của lịch sử và coi thông tin là một loại di sản vănhóa, chứng tích của nền văn minh);
Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong hệ thống thông tin quốc
gia; Dễ dàng tạo lập thị trường mới về thông tin
Đối với NDT:
Trong môi trường thông tin hiện nay, chỉ với các thao tác rất đơn giảntrong một khoảng thời gian cực ngắn và trên cơ sở các thiết bị khá phổ biến,con người có thể nhận được một trữ lượng thông tin mà mình cần rất lớn.Chính các SP&DV TT đã tạo cho con người khả năng ấy
Liệu con người bị chìm ngập trong đại dương thông tin bao la, có định
vị và tìm được cho mình nguồn tin phù hợp hay không? Đây là việc rất khó,nếu không muốn nói là vô cùng khó Con người chỉ có thể tìm được cái mìnhcần nếu như họ đến được nơi có thể chứa những cái họ cần Như vậy, rõ ràng
là mức độ hiểu biết về sự phân bố các nguồn thông tin có một vai trò quantrọng trong việc con người có thể tránh khỏi những tác động tiêu cực mà hiệntượng bùng nổ thông tin gây ra Cùng một nội dung, thông tin có thể đượctrình bày ở nhiều tài liệu/vật mang tin khác nhau.Câu hỏi đặt ra đối với NDT
là nên lựa chọn tài liệu nào?Trên vật mang tin gì?Thông qua hình thức nào?Sao cho đảm bảo được những yêu cầu đặt ra về tính chính xác, kịp thời, mức
độ đầy đủ, tin cậy, tiện lợi và kinh tế nhất.Các SP&DV TT-TV sẽ giúp họ trảlời những câu hỏi trên, giúp họ có được những thông tin mình cần
Đối với cơ quan thông tin:
Thông qua hệ thống SP&DV TT-TV có thể xác định được mức độđóng góp của cơ quan TT-TV vào sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Trang 21Nói một cách khác sức mạnh của cơ quan TT-TV thể hiện ở khả năng cungcấp các dịch vụ thông tin theo yêu cầu, ở khả năng tạo ra các sản phẩm thôngtin có giá trị gia tăng cao được NDT chấp nhận Ngược lại SP&DV TT-TVchính là công cụ cơ bản để thỏa mãn nhu cầu của NDT.Đây cũng chính là chỉ
số rất quan trọng để nghiên cứu, đánh giá chất lượng hoạt động của cơ quanTT-TV
Bằng việc tạo ra các SP&DV TT - TV thích hợp, đặc biệt là dựa trênnhững thành tựu của công nghệ tin học, các cơ quan TT-TV giúp cho conngười ở mọi lúc, mọi nơi đều có điều kiện học tập, nghiên cứu; có thể truycập và khai thác được nguồn di sản trí tuệ chung của loài người; giúp cho mọi
cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau một cách thuận tiện và nhanhchóng nhất hay nói cách khác là đã thu hẹp khoảng cách giữa con người
SP&DV TT-TV đóng vai trò là cầu nối giữa các cơ quan TT-TV vớiNDT; giữa cán bộ thông tin - thư viện với nguồn tin Các cơ quan TT-TV cóchức năng cung cấp thông tin cho NDT, để thực hiện tốt chức năng này, cơquan TT-TV phải quản lý tốt nguồn tin của mình Vì vậy, SP&DV TT-TVđược tạo ra không chỉ nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của NDT mà còn giúpcác cơ quan TT-TV có thể quản lý, kiểm soát tốt nguồn tin và cung cấp chúngmột cách hiệu quả tới NDT Nếu như đối với NDT, SP&DV TT-TV được coi
là phương tiện giúp họ tiếp xúc và khai thác có hiệu quả nguồn thông tin, thìđối với các cơ quan TT-TV, SP&DV TT-TV đóng vai trò như là công cụ để
họ phổ biến, cung cấp thông tin đến NDT
1.1.3 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Giữa SP&DV TT-TV có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, nhiềukhi không thể tách rời nhau vì khi thực hiện một dịch vụ nào đó đều cần phải
sử dụng tới một hay một số sản phẩm đã có, bên cạnh một bộ phận nguồn tincũng như một số trang thiết bị kỹ thuật
Trang 22Sản phẩm thông tin - thư viện chính là một trong những nguồn khaithác thông tin quan trọng và tin cậy của cơ quan thông tin - thư viện bởi sảnphẩm là kết quả của quá trình xử lý thông tin do các cán bộ thông tin - thưviện thực hiện
Giữa SP&DV TT-TV thường tồn tại mối quan hệ chuyển hóa lẫnnhau.Tức là với sản phẩm thì có thể đánh giá được chất lượng của nó thôngqua dịch vụ tạo nên
Mặt khác để đáp ứng được yêu cầu cụ thể của NDT, thông thường cáccán bộ TT-TV phải tiến hành đồng thời việc tạo ra các sản phẩm và thực hiệncác dịch vụ tương ứng Vì vậy với mỗi sản phẩm thì đều có một hoặc một sốdịch vụ tương ứng, mục đích của các dịch vụ này là nhằm giúp cho sản phẩm
đó được sử dụng, được khai thác với hiệu quả cao nhất và ngược lại ứng vớimỗi dịch vụ thì có một hoặc một số sản phẩm với mục đích để cho dịch vụ đóđược triển khai có hiệu quả tốt nhất
Nói cách khác, các SP&DV TT-TV cần được xem xét trong quan hệtương hỗ với nhau, cái này làm cơ sở cho cái kia một cách liên hoàn Các cơquan TT-TV muốn cho sản phẩm được mở rộng, phát triển thì cần đa dạnghóa các loại hình dịch vụ.Mặt khác muốn phát triển dịch vụ thì cần khôngngừng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng của sản phẩm
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là một thể phức hợp bao gồmnhiều yếu tố cấu thành, đóng vai trò quan trọng để thực hiện các mục tiêu củacác cơ quan thông tin - thư viện SP&DV TT-TV thích hợp giúp cho conngười ở mọi lúc, mọi nơi đều có thể truy cập và khai thác nguồn di sản trí tuệcủa con người giúp mọi cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau và traođổi mọi thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng
Sản phẩm và dịch vụ đều do quá trình lao động tạo ra, đều là kết quảcủa quá trình xử lý thông tin, đều nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin
và giúp con người trao đổi thông tin với nhau Trong mối quan hệ giữa sản
Trang 23phẩm và dịch vụ có sự kết hợp chặt chẽ giữa cái mới và cái cũ, giữa truyềnthống và hiện đại, giữa con người và công nghệ.
Mối quan hệ giữa các loại SP&DV TT-TV là hết sức chặt chẽ, tácđộng, hỗ trợ nhau và nhiều khi không thể tách rời để hướng tới mục đích caonhất là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụngthông tin của NDT Mối quan hệ giữa SP&DV TT-TV có tính liên kết chặtchẽ và tương tác cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩmthông tin - thư viện phải luôn đi liền việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cânđối, đồng bộ dịch vụ thông tin - thư viện phù hợp Đây là vấn đề cần đượcquan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả vàchất lượng hoạt động của cơ quan TT - TV
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.1.4.1 Yếu tố chủ quan
Năng lực chuyên môn của người thực hiện dịch vụ có ý nghĩa quyếtđịnh tới chất lượng của nó Có thể hiểu một cách đơn giản đó là các kỹ năng
mà người thực hiện cung cấp thông tin phải có như:
+ Có năng lực chuyên môn;
+ Có thể giao tiếp với NDT ( hiểu đầy đủ và chính xác NCT của NDT);+ Thông thạo ngoại ngữ (tổng hợp tin từ nhiều nguồn tài liệu, giúp NDT vượt qua rào cản ngôn ngữ để họ tiếp cận với thông tin);
+ Có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại để khai thác các nguồntin
1.1.4.2 Yếu tố khách quan
Cuộc cách mạng công nghệ, mà hệ quả của nó là hiện tượng “bùng nổthông tin” đã khiến cho các nguồn thông tin hiện nay trở nên quá tải, NCTcủa NDT cũng vì thế mà ngày càng đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chất lượng tốthơn, do đó cần có trang thiết bị hiện đại mới có thể đáp ứng được yêu cầu đốivới việc truyền tải thông tin
Trang 24Nắm bắt nhu cầu và thói quen sử dụng thông tin của NDT, bởi lẽ vớimỗi nhóm NDT lại hướng tới nhu cầu tin khác nhau.Triển khai được nhữngSP&DV TT- TV phù hợp NCT sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Tiếp theo đó, các công cụ hỗ trợ để cung cấp thông tin cho NDT cũngcần được quan tâm đến, đó là các phần mềm chuyên dụng cho lĩnh vực thôngtin - thư viện
Đặc biệt, một yếu tố khách quan có ảnh hưởng khá quan trọng đến việctạo ra SP&DV TT- TV đó là nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin mạnh,
có giá trị cao sẽ giúp nâng cao chất lượng các dịch vụ và sản phẩm mà Trungtâm thông tin - thư viện đó tạo ra
1.1.5 Các tiêu chí đánh giá sản phẩm và dich vụ thông tin - thư viện
Hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện phần lớn phụthuộc vào chất lượng của các SP & DVTT-TV Để có thể phát triển được đadạng các loại hình SP & DVTT-TV thì cần đưa ra những tiêu chí cơ bản để cóthể đánh giá được chất lượng, đánh giá được sự phù hợp của các SP & DVTT-
TV có đáp ứng được nhu cầu tin của mọi đối tượng người dùng tin hay không
1.1.5.1 Đối với sản phẩm thông tin - thư viện
SPTT-TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin, do một cá nhân haytập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT Để tạo ra đượcSPTT-TV thì cần phải có một quá trình xử lý thông tin như biên mục, phânloại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải
SPTT-TV được hình thành nhằm thỏa mãn những NCT Do đó để cóthể đưa ra được những sản phẩm tốt có chất lượng và đáp ứng được nhu cầucủa NDT thì cần có những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng của sảnphẩm thông tin Và cho đến nay cùng có rất nhiều tiêu chí để đánh giá chấtlượng của SPTT-TV như:
Trang 25- Mức độ bao quát nguồn tin
Mức độ bao quát nguồn tin thể hiện ở khả năng bao quát toàn bộ nguồntin, thể hiện ở sự đầy đủ, đa dạng, phong phú bao quát các lĩnh vực thông tin
mà người dùng tin quan tâm Bên cạnh đó, mức độ bao quát nguồn tin khôngchỉ đòi hỏi ở sự phát triển đồng đều giữa các loại hình sản phẩm mà phải pháttriển các loại hình mới phù hợp với những đối tượng NDT mới
- Mức độ chính xác, khách quan
Tính chính xác khách quan thể hiện thông tin phải sát thực với tài liệugốc, đảm bảo những nguyên tắc trong việc sử dụng và xử lý thông tin từ biênmục, phân loại, định từ khóa Bên cạnh đó khắc phục, loại bỏ những thôngtin không cần thiết, không rõ ràng, nội dung sai lệch hoặc không chính xác
- Khả năng cập nhật thông tin và tìm kiếm thông tin
Khả năng cập nhật thông tin thể hiện ở chỗ thông tin phải được tiếnhành đều đặn, bổ sung thường xuyên, đảm bảo tính liên tục Còn khả năng tìmkiếm thông tin thể hiện ở các phương tiện tra cứu tin phải giúp NDT dễ sửdụng, khai thác Tốc độ tìm tin linh hoạt, nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng tối
đa NCT cho NDT Ngoài ra, khả năng tim kiếm thông tin phải được thể hiện
ở dưới nhiều hình thức tìm khác nhau như: mục lục chữ cái, mục lục phân loại, thư mục hay trên các cở sở dữ liệu
- Mức độ thân thiện của sản phẩm
Mức độ thân thiện của sản phẩm thể hiện ở hình thức của sản phẩmphải gây được sự chú ý, thiện chí với NDT Sản phẩm được tạo ra đảm bảogiúp NDT dễ khai thác, nếu sản phẩm có hàm lượng khoa học cao cần có cácchương trình hướng dẫn NDT sử dụng sản phẩm, sao cho sản phẩm đạt hiệuquả khai thác tối ưu
Trang 261.1.5.2 Đối với dịch vụ thông tin - thư viện
Cũng giống như SP TT-TV , để đánh giá được chất lượng dịch vụ thông tin - thư viện cũng cần có những tiêu chí sau:
- Chi phí thực hiện dịch vụ: đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá
dịch vụ Chi phí này gồm chi phí hiện và chi phí ẩn
+ Chi phí ẩn phản ánh những khoản chi khó xác định: trình độ, kinh nghiệm, chuyên môn để xây dựng và bảo trì các nguồn thông tin
+ Chi phí hiện là tất cả những chi phí dễ dàng nhận thấy như chi phí in
ấn tài liệu, chi phí sao chụp tài liệu, dịch tài liệu
- Chất lượng của sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để cung cấp cho người
dùng tin: tức là thông tin trong sản phẩm phải chính xác, khách quan, có độ tin
cậy lớn, độ ổn định của sản phẩm cao
- Tính kịp thời của dịch vụ: các kết quả mà dịch vụ đạt được có đủ để
người dùng tin sử dụng một cách hiệu quả và hợp lý hay không
- Tính thuận tiện: thể hiện các dịch vụ đó có thuận tiện hay không, sử
dụng dịch vụ đó một cách dễ dàng nhất, nhanh nhất, thủ tục đơn giản nhất
1.2 Cơ sở thực tiễn về Viện chiến lƣợc và chính sách Khoa học và Công nghệ
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của Viện
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (tên giao dịchquốc tế là National Institute for Science and Technology Policy and StrategyStudies - NISTPASS) Là cơ quan nghiên cứu của Bộ KH&CN, được thànhlập theo Quyết định số 248/TTg, ngày 23 tháng 4 năm 1996 của Thủ tướngChính phủ trên cơ sở hợp nhất hai Viện:
- Viện nghiên cứu Quản lý Khoa học và Kỹ thuật
- Viện nghiên cứu Dự báo và Chiến lược Khoa học và Công nghệ ViệnNghiên cứu và Quản lý Khoa học và Kỹ thuật đã có bề dày hoạt
động 18 năm xây dựng và phát triển, trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau Với những tên gọi khác nhau, Viện được phát triển từ Tổ nghiên cứu
Trang 27chính sách khoa học và kỹ thuật (1978-1981), Ban nghiên cứu tổ chức vàquản lý Khoa học kỹ thuật (1982-1984).
Viện nghiên cứu Dự báo chiến lược Khoa học và Công nghệ 1996) đã hình thành và phát triển từ văn phòng của tiển ban nghiên cứu chiếnlược khoa học và kỹ thuật do phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp làm trưởngTiểu ban (1983-1986), phát triển thành Trung tâm nghiên cứu Dự báo vàChiến lược khoa học và kỹ thuật (1989-1993)
(1993-Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ (sau đây viếttắt là Viện) là đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN, có chức năng giúp Bộ trưởngnghiên cứu về chiến lược, chính sách quản lý KH&CN
Kế thừa và phát huy truyền thống của 2 tổ chức tiền thân Viện luônhoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Viện đã có nhiều đóng góp tích cựcvào sự phát triển KHCN của đất nước, đặt nền móng cho lĩnh vực chiến lược
và chính sách KHCN
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Viện:
Theo quyết định số 101/QD-BKHCN ngày 18/01/2007 của Bộ trưởng
Bộ KH&CN, Viện có chức năng và nhiệm vụ sau:
báo, xây dựng chiến lược phát triển, chính sách và cơ chế quản lý KH&CN
- Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược, chính sách
và quản lý KH&CN theo hướng đổi mới và phát triển bền vững các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể bao gồm:
+ Phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển KH&CN của quốcgia, ngành, vùng gắn với phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệ môitrường
+ Các lĩnh vực, định hướng KH&CN ưu tiên phát triển phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện, nhu cầu thực tế của Việt Nam
Trang 28+ Phương thức tổ chức và cơ chế quản lý các nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở.
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vai trò nghiên cứu và phát triển, đổi mới và phát triển công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội
+ Cơ chế chính sách phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
+ Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến tác động môi trường và tác động xã hội đối với các dự án phát triển kinh tế xã hội, KH&CN
+ Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về luật pháp KH&CN, tham gia xâydựng các quy định pháp lý về quản lý KH&CN Chính sách phát triển, cơ chếquản lý và hoạt động các loại hình tổ chức KH&CN phù hợp với điều kiện kinh tếthị trường và hội nhập quốc tế.Các tổ chức nghiên cứu và phát triển, các doanhnghiệp KHCN; các khu công nghệ cao; các tổ chức dịch vụ
+ Đánh giá năng lực và trình độ công nghệ của quốc gia, ngành, lĩnhvực, vùng và doanh nghiệp; tác động hiệu quả của hoạt động KH&CN đến pháttriển bền vững
- Tham gia xây dựng, cơ chế, chính sách và pháp luật về KH&CN
- Đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý KH&CN theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, đào tạo chuyên môn theo những lĩnh vực liên quan đếnchức năng nghiên cứu của Viện và theo các quy định của nhà nước
- Thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo các quy định của nhànước
- Thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo phân cấp của Bộ xâydựng và phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế với các nhà KH&CN, các tổ chứcquốc tế trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện
Trang 29- Xuất bản các ấn phẩm, tạp chí trên cơ sở các kết quả nghiên cứu vàcác hoạt động liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Viện theo quy định củapháp luật.
- Quản lý công tác tổ chức, cán bộ theo phân cấp của Bộ
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Viện:
Viện có bộ máy tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thủ trưởng Banlãnh đạo Viện gồm một Viện trưởng và ba Viện phó, tổ chức của Viện hiện
có theo sơ đồ (Hình 1):
Hình 1: Cơ cấu tổ chức của Viện
Viện được cơ cấu tổ chức thành tám phòng ban Đứng đầu các phòngban là trưởng ban, phó ban Các nhân viên chịu sự chi phối của trưởng banhoặc phó ban trong công việc của mình thực thi các nhiệm vụ chuyên mônđược giao
Như vậy Viện là một cơ quan nghiên cứu khoa học quan trọng trong bộmáy quản lý nhà nước của Bộ KH&CN, Viện đã có nhiều những đóng góptrong việc xây dựng các chiến lược và chính sách phục vụ cho sự nghiệp pháttriển KH&CN của quốc gia
Trang 30 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban:
- Ban lãnh đạo:
Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về toàn bộ các mặt côngtác của Viện, Viện trưởng cũng có quyền quy định các chức năng nhiệm vụcủa các phòng ban Khi cần thiết Viện trưởng có quyền trình Bộ trưởng quyếtđịnh thành lập hoặc giải thể các bộ phận trực thuộc để phục vụ cho việc thựchiện những công việc mà Nhà nước giao cho theo chức năng và nhiệm vụ củaViện và cụ thể là của các Ban, phòng, trung tâm trực thuộc Viện
Phó Viện trưởng có trách nhiệm giúp Viện trưởng phụ trách phần côngviệc của Viện theo sự phân công của Viện trưởng và được quyền quyết địnhnhững vấn đề thuộc phạm vi nhiệm vụ quyền hạn được giao Khi Viện trưởngvắng mặt sẽ có một Viện phó được ủy quyền thay mặt Viện trưởng quản lýđiều hành hoạt động của Viện
- Hội đồng Khoa học:
Theo Quyết định số 60/QĐ-CLCS ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Việntrưởng Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ về việc banhành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Khoa học có chức năng cốvấn cho Viện trưởng những căn cứ khoa học để quyết định các vấn đề quantrọng về các hoạt động nghiên cứu - triển khai và đào tạo của Viện về:
- Định hướng chiến lược phát triển Viện trong từng thời kỳ, lựa chọncác hướng, các chương trình, đề tài nghiên cứu, kế hoạch và biện pháp tổ chứcthực hiện;
- Đánh giá các kết quả hoạt động khoa học và công nghệ, đào tạo củaViện nói chung và chất lượng chuyên môn của các công trình, đề tài nghiên cứu
do các cá nhân, đơn vị trực thuộc Viện thực hiện nói riêng;
- Xét chọn và đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ và Nhà nước khenthưởng các công trình khoa học có chất lượng, các cán bộ khoa học có nhiềuthành tích trong công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo
Trang 31Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, ban khác được quy định theoQuyết định số 64/QĐ-CLCS ngày 01 tháng 8 năm 2008 của Viện trưởng ViệnChiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ về việc ban hành chứcnăng, nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc Viện như sau:
- Ban Dự báo và Chiến lược Khoa học &Công nghệ:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược phát triển KH&CN, chính sách đổi mới phục vụ phát triển bền vững;
+ Nghiên cứu xác định xu thế và định hướng ưu tiên trong phát triểnKH&CN phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện, nhu cầu thực tế của ViệtNam;
+ Tham gia tổ chức và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các dự báo, chiến lược và chính sách KH&CN, chính sách đổi mới;
+ Tham gia với các cơ quan, tổ chức, hiệp hội trong và ngoài nướcnghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng thuộc các lĩnh vựcchuyên môn có liên quan
- Ban Chính sách nhân lực và tổ chức KH&CN:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách nhân lực
KH&CN với tiếp cận của hệ thống đổi mới quốc gia;
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống tổ chức KH&CN, phương pháp luận đánh giá tổ chức KH&CN;
+ Tham gia tổ chức và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các
cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN; các chính sách phát triển,
cơ chế quản lý và hoạt động của các loại hình tổ chức KH&CN phù hợp với điềukiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế;
+ Tham gia với các cơ quan, tổ chức, hiệp hội trong và ngoài nướcnghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng thuộc các lĩnh vựcchuyên môn có liên quan
Trang 32- Ban Chính sách Đầu tư và Tài chính KH&CN:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế, chính sách đầu tư vàtài chính cho sự phát triển KH&CN và đổi mới;
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và cơ chế quản lý nhiệm vụ KH&CN các cấp;
+ Tham gia tổ chức và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các
cơ chế, chính sách đầu tư và tài chính cho phát triển KH&CN và hoạt động đổimới;
+ Tham gia với các cơ quan, tổ chức, hiệp hội trong và ngoài nướcnghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng thuộc các lĩnh vựcchuyên môn có liên quan
- Ban Chính sách đổi mới và phát triển thị trường Công nghệ:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của thị trường công nghệ; cơ chế, chính sách phát triển thị trường công nghệ, chuyển giao công nghệ;
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận đánh giá năng lực,trình độ công nghệ; tác động và hiệu quả của hoạt động đổi mới công nghệ đếnphát triển bền vững;
+ Tham gia tổ chức và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật; các
cơ chế, chính sách xây dựng năng lực công nghệ doanh nghiệp, ngành, quốc gia;các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp làm chủ, thích nghi và pháttriển công nghệ mới;
+ Tham gia với các cơ quan, tổ chức, hiệp hội trong và ngoài nướcnghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng thuộc các lĩnh vựcchuyên môn có liên quan
- Ban Thông tin - Thư viện và Đào tạo sau Đại học:
+ Thông tin - Thư viện:
Nghiên cứu chính sách phát triển cơ chế quản lý và hoạt động của các
tổ chức thông tin KH&CN phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế;
Trang 33 Nghiên cứu NCT về chiến lược, chính sách và quản lý KH&CN, xáclập các phương thức đảm bảo thông tin, các dịch vụ và sản phẩm thông tin phùhợp phục vụ cho việc nghiên cứu đào tạo về chiến lược, chính sách và quản lýKH&CN cho cán bộ trong và ngoài Viện;
Thu thập, khai thác, xử lý, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác nghiên cứu chuyên môn của Viện;
Tạo lập các CSDL, các nguồn lực TT-TV bên ngoài và nội sinh phục
vụ nghiên cứu của chiến lược, chính sách và quản lý KHCN;
Xây dựng thư viện đặc thù (kết hợp truyền thống và hiện đại) đảm bảo thông tin tư liệu cho hoạt động nghiên cứu;
Lưu trữ và quản lý các công trình nghiên cứu của Viện;
Tổ chức biên soạn và xuất bản kỷ yếu khoa học của Viện;
Tổ chức biên soạn và xuất bản các ấn phẩm thông tin phân tích, tổng luận chuyên đề theo yêu cầu của lãnh đạo;
+ Đào tạo sau Đại học:
Tổ chức và thực hiện đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ chuyên ngành quản lý KH&CN theo quy định của các văn bản pháp luật về giáo dục và đào tạo;
Tổ chức, tham gia biện soạn và phát hành các loại giáo trình, bàigiảng, chuyên khảo, tư liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo trong chươngtrình chính khóa về chuyên ngành Chính sách KH&CN và Quản lý
Trang 34- Tạp chí Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ:
Nhiệm vụ của Tạp chí sẽ công bố các công trình nghiên cứu về các vấn
đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng thực hiện chiến lược, chính sách vàquản lý KH&CN ở Việt Nam; Trao đổi, phổ biến kinh nghiệm quốc tế về xâydựng, thực hiện chiến lược chính sách và quản lý KH&CN
Nhiệm vụ của Trung tâm là tham gia với các cơ quan, tổ chức, hiệp hộitrong và ngoài nước nghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn, đào tạo, bồidưỡng thuộc các lĩnh vực chuyên môn có liên quan
1.2.4 Đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại Viện
1.2.4.1 Người dùng tin:
- Khái niệm:
NDT là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin.Đó là đối tượng phục
vụ của công tác TT-TV.NDT vừa là khách hàng của các dịch vụ TT-TV, họcũng đồng thời là người sản sinh ra thông tin mới NDT giữ vai trò như yếu tốtương tác hai chiều với các đơn vị thông tin, thể hiện ở các mặt sau:
+ NDT luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động của đơn vị thông tin.+ NDT tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền thông tin.+ NDT cũng tham gia sản sinh ra thông tin mới, tham gia vào các dòng thông tin bằng tiếp xúc cá nhân
Trang 35+ Các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, cán bộ có trách nhiệm điềuhành hoạt động KH&CN, kinh tế - xã hội của một đơn vị, một địa phương haymột quốc gia.
Các cơ quan TT-TV cần nắm bắt nhu cầu của NDT để qua đó, xây dựng
các SP&DV TT-TV thích hợp Những đánh giá về NDT được thể hiện ở:+ Nội dung của thông tin được cung cấp: nội dung này thay đổi theo bản chất công việc và nhiệm vụ mà NDT phải hoàn thành
Ví dụ: các nhà lãnh đạo, quản lý cần những thông tin xác thực, tổnghợp, cô đọng và đã được phân tích một cách có hệ thống, các thông tin chiếnlược có tính dự báo để giúp họ đưa ra được những quyết định đúng đắn Cáccán bộ nghiên cứu cần những thông tin chi tiết về những chuyên ngành hẹp,những vấn đề còn đang đặt ra, những thông tin định hướng nghiên cứu trongkhoa học Còn các cán bộ chuyên môn quan tâm đến các thông tin dữ kiện,các số liệu và phương pháp cụ thể liên quan đến các ngành mà họ quan tâm
Trang 36Bảng 1: Sự khác nhau trong SP&DV TT-TV cho NDT
Cán bộ quản lý Cán bộ nghiên cứu
Thông tin dữ kiện
Truyền dữ liệu Dịch tài liệu
Trong phần lớn các tài liệu đề cập đến dịch vụ TT-TV, các tác giả đều
có chung nhận định rằng, để nâng cao hiệu quả dịch vụ TT-TV, việc nghiêncứu NDT là cần thiết và cần hướng vào các mục tiêu sau:
+ Phân tích yêu cầu của NDT, tức là nội dung và các loại hình tài liệu màNDT cần Nó cho phép xác định các SP&DV thông tin đáp ứng với yêu cầucủa NDT;
+ Phân tích thói quen và tập quán thông tin của NDT, nó giúp cơ quan TT-TVthỏa mãn yêu cầu của NDT
Những nghiên cứu này cung cấp cơ sở cần thiết cho việc định hướnghoạt động của cơ quan TT-TV, phục vụ cho một đối tượng NDT xác định.Một số phương pháp thường được các cơ quan TT-TV sử dụng là:
+ Phương pháp phỏng vấn;
+ Phương pháp điều tra bằng cách chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi;
+ Phân tích các biểu ghi, các mẫu thống kê về tình hình phục vụ và yêu cầu của NDT;
+ Tổ chức các buổi họp mặt gặp gỡ với NDT
Sự phát triển của một cơ quan TT-TV đặt ra nhiệm vụ phải làm choNDT tiềm năng hiểu về đơn vị của mình và những lợi ích mà họ có thể nhậnđược, đồng thời phải làm cho họ tham gia và ủng hộ hoạt động của đơn vị
Trang 37- Đặc điểm NDT tại Viện:
NDT là một chủ thể tạo nên sự tương tác với các đơn vị thông tin Điềunày thể hiện qua hai khía cạnh:
+ Thứ nhất: NDT là đối tượng phục vụ của hệ thống TT-TV, là người tiêu thụcác SP&DV của cơ quan TT-TV;
+ Thứ hai: NDT được coi là người sản xuất “nguyên liệu thông tin” cho hoạt động của cơ quan thông tin tư liệu
Sau khi nhận được các SP&DV thông tin theo yêu cầu NDT tham giavào hầu hết các hoạt động thông tin như: Đánh giá nguồn tin, giúp đỡ, lựachọn, và bổ sung tài liệu, hiệu chỉnh các hoạt động thông tin
Để nghiên cứu nhận biết NCT thì phải thông qua các đối tượng NDTkhác nhau Người ta thường chia NDT thành hai loại: NDT thực tế và NDTtiềm năng
+ NDT thực tế là người hiện đang sử dụng thông tin phục vụ hoạt động tácnghiệp của mình, bao gồm: Cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy,cán bộ sản xuất - kinh doanh
+ NDT tiềm năng được quan niệm chủ yếu là học sinh, sinh viên những ngườitrong tương lai sẽ gia nhập đội ngũ NDT thực tế
Qua điều tra, khảo sát căn cứ vào chức năng, công việc của từng NDT thì NDT tại Viện được chia ra thành các nhóm chính sau:
+ NDT là cán bộ lãnh đạo, quản lý;
+ NDT là cán nghiên cứu khoa học tại Viện;
+ NDT nghiên cứu ngoài Viện
Các tiêu thức trên là cơ sở để các cơ quan TT-TV tổ chức và hoàn thiệnhoạt động thông tin tại đơn vị mình, nhằm phục vụ nhu cầu của NDT ngàymột tốt hơn
Trang 38+ NDT là cán bộ lãnh đạo, quản lý:
NCT của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Bộ, Ban, ngành thường
là những yêu cầu thông tin tổng quan và phân tích:
Thông tin tổng quan xu thế phát triển KH&CN, dự báo xu thế phát triểnKH&CN của một số nước trên thế giới và khu vực, tác động của KH&CN đếnphát triển kinh tế - xã hội Việt Nam;
Dữ liệu, số liệu về tiềm lực KH&CN, năng lực công nghệ, thành tựu KHCNtrong nước và quốc tế;
Tác động của KH&CN đến phát triển kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế
Các yêu cầu tin được đặt ra trong bối cảnh cụ thể khi có các phái đoàncác nước sang thăm và làm việc Khi phái đoàn cán bộ trong nước ra nướcngoài làm việc, đàm phán, ký kết các hiệp định, khi Quốc hội họp thông quamột số dự thảo luật Thời gian để đáp ứng các yêu cầu tin thường rất ngắntrong vòng một tuần hoặc từ hai đến ba ngày
Thông tin yêu cầu thường là những thông tin mới nhất, chính xác, đượctrả lời dưới dạng báo cáo tổng quan, phân tích hoặc các tài liệu gốc Kết quảđáp ứng các yêu cầu tin này thường là các báo cáo tổng quan và thông tin thưmục Tuy vậy, các yêu cầu tin trên mới được đáp ứng ở mức độ thông tin thưmục hoặc toàn văn, hầu như chưa có báo cáo tổng quan và phân tích
Tại Viện thì nhóm NDT này là lãnh đạoViện, lãnh đạo các ban, đây lànhững người trực tiếp quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khaicấp Viện, cấp Bộ và cấp Nhà nước Họ là những người ra quyết định hoặcchuẩn bị ra quyết định ở các cấp khác nhau, đề ra phương hướng, xây dựng kếhoạch, tổ chức và giám sát việc triển khai công tác chung cho các cán bộtrong Viện Mặc dù chỉ chiếm 15% số cán bộ nhưng 80% trong nhóm này cótrình độ tối thiểu từ Tiến sĩ trở lên Bên cạnh công tác lãnh đạo, quản lý, hầuhết họ vẫn trực tiếp làm công tác nghiên cứu khoa học, 60% số cán bộ thuộc
Trang 39nhóm này trực tiếp làm chủ nhiệm, quản lý đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước Do vậy, để quản lý tốt, họ không những cần thông tin đầy đủ, chính xác trong nội
bộ Viện mà còn cần sử dụng và xử lý các thông tin chung về chính trị xã hội Trong năm 2013, Viện đã và đang thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thực hiện 02 đề tài cấp nhà nước, trong đó: (1) Hợp tác về KH&CNtheo Nghị định thư với Lào; và (2) Đề tài thuộc Chương trình KX.06 “Nghiên cứu cơ chế và giải pháp tăng cường hội nhập hoạt động KH&CN củaViệt Nam với hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” (2012 - 2014) Nhiệm vụthứ nhất đã hoàn thành các nội dung, sản phẩm theo yêu cầu như xây dựng vàhoàn thiện dự thảo luật KH&CN Chiến lược KH&CN Lào giai đoạn 2012 -
2020, tầm nhìn 2030 và đã được Chính phủ Lào thông qua và trình Quốc hộiLào (luật KH&CN), Bộ Chính trị Đảng NDCM Lào (Dự thảo chiến lược).Nhiệm vụ thứ hai hiện đang được tích cực triển khai thực hiện, theo kế hoạch
sẽ kết thúc cuối năm 2014
Thực hiện 05 đề tài cấp Bộ chuyển tiếp 2012 - 2013 và 3 đề tài cấp Bộ
2013 - 2014; các đề tài đều cố gắng hoàn thành theo đúng tiến độ dự kiến vàthời gian được phép gia hạn Các đề tài đã nghiệm thu được hội đồng đánhgiá cao về nội dung kết quả nghiên cứu đáp ứng được các yêu cầu đặt ra
Thực hiện được 06 đề tài cơ sở 2013, tập trung nội dung nghiên cứulàm tiền đề cho các nhiệm vụ KH&CN cấp Bộ những năm tiếp theo, đồngthời góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu cho cán bộ của Viện
+ NDT là cán bộ nghiên cứu khoa học tại Viện:
Đây là lực lượng NDT chủ chốt của Viện Số cán bộ này có trình độ đạihọc trở lên, thời gian dành cho việc nghiên cứu tài liệu tương đối nhiều từ 20đến 40% quỹ thời gian nghiên cứu Họ là những người thường xuyên tạo racác thông tin mới qua các công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu đượccông bố, họ cũng là những khách hàng thân thiết của bộ phận TT-TV
Trang 40Do cán bộ nghiên cứu trong Viện có nhiều công trình nghiên cứu độclập nên NCT của họ còn bao gồm các chủ đề khác nhau NCT của cán bộnghiên cứu thường thể hiện rõ lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của họ Yêucầu tin diễn ra thường xuyên, thời gian đáp ứng yêu cầu không gấp gáp nhưđối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt yêu cầu tin của cán bộ nghiên cứu
có thể dự báo trước
+ NDT nghiên cứu ngoài Viện:
Chủ yếu là học viên Cao học và nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạothạc sĩ, sinh viên các trường đại học như: Đại học Khoa học Xã hội và Nhânvăn, Đại học Dân lập Đông Đô, Đại học Văn hóa và các sinh viên thực tập,độc giả nước ngoài quan tâm đến chuyên môn của Viện Số NDT này chiếmkhoảng 10%.Họ sử dụng tư liệu chủ yếu phục vụ công tác học tập, nghiên cứucủa họ
Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ là cơ quannghiên cứu khoa học, trong đó cán bộ làm công tác nghiên cứu chiếm 2/3tổng số cán bộ, nên công tác đảm bảo thông tin tư liệu cho hoạt động nghiêncứu đóng vai trò hết sức quan trọng
Đối tượng NDT chính là các cán bộ nghiên cứu, một số cán bộ ngoài hoạtđộng nghiên cứu còn tham gia công tác quản lý hành chính cơ quan: Việntrưởng, phó viện trưởng, trưởng ban, phó ban Hầu hết họ đều có trình độ họcvấn cao, có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng các chiến lược, chính sách vềKH&CN, có khả năng trong đảm nhiệm các khâu nghiên cứu cơ bản, điều tra,nghiên cứu ứng dụng, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc về KH&CN vàmôi trường của đất nước Ngoài ra, cán bộ nghiên cứu về quản lý thuộc các cơquan khác trong và ngoài Bộ KH&CN, học viên cao học và nghiên cứu sinh ởcác cơ sở đào tạo Sau Đại học cũng sử dụng thông tin tại Viện