2001: Phát triển các tiêu chuẩn FPLMTS/IMT2000 and UMTS [2] Nhìn lại quá trình phát triển của các mạng truyền thông di động, đầu tiên là các hệ thống điện thoại tế bào analog ra đời ở Mỹ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Trang 2Phạm Thu Trang
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI CÔNG NGHỆ SANG
HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG 4G
Ngành : Công nghệ Điện tử – Viễn thông
Chuyên ngành: Kỹ thuật vô tuyến điện tử và thông tin liên lạc
Trang 3MỤC LỤC
1.2 Tổng quan về hệ thông tin di động quá khứ, hiện tại và tương lai 4
PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG NGHỆ
NGHỆ DI ĐỘNG 4G
3.2 Những vấn đề cơ bản trong cấu hình hệ thống 4G 28
Trang 45.2 Tiến trình triển khai lên 4G từ 2.5G của mạng di động tại Việt Nam
KẾT LUẬN
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
3GPP The 3rd Generation Partnership Project Dự án cộng tác thế hệ thứ 3
ADC Analog Digital Converter Bộ chuyển đổi tương tự số
ADSL Asymmetric Digital Subriber Line Đường thuê bao số không đối xứng ALG
AMC Adaptation and Modulation Coding Bộ điều chế và mã hoá thích ứng
AMPS Advance Mobile Phone Service Dịch vụ điện thoại di động tiên tiến
API Application Program Interface Giao diện trình ứng dụng
AUC Authentication Center Trung tâm nhận thực
AWGN Additive White Gaussian Noise Tạp âm Gauss trắng cộng
BGP Border Gateway Protocol Đ ịnh tuyến biên
BPF Bandwidth Pass Filter Bộ lọc thông dải
BPSK Binary Pulse Shift Keying Khoá dịch pha nhị phân
BWA Broadband Wireless Access Truy cập không dây băng rộng
CDM Code Division Multiplexing Phân chia theo mã
CDMA Code Division Multiple Access Truy nhập phân chia theo mã
CEPT Conference European Post and Hội nghị bưu chính viễn thông Châu Âu
Trang 6CIDR Classless InterDomain Routing Định tuyến liên vùng không phân lớp
CSCF Call Session Control Function Chức năng điều khiển phiên cuộc gọi
DCS Digital Cellular System Hệ thống số tổ ong
DFS Dynamic Frequency Selection Lựa chọn tần số động
DFT Discrete Fourier Transform Biến đổi fourier rời rạc
DSP Digital Signal Processing Xử lý tín hiệu số
DVD
EDGE Enhanced Data for GSM Evolution Tốc độ số liệu gói tăng cường để phát triển
GSM
EIR Equipment Identity Register Bộ ghi dịch nhận dạng thiết bị
EIR Equipment Identity Register Thanh ghi nhận dạng thiết bị
ERMES
ERP Enterprise Resource Planning Hoạch định tài nguyên công ty
ETSI European Telecommunications Standard Viện chuẩn viễn thông Châu Âu
Institute
FDD Frequency Division Duplex Ghép công phân chia theo tần số
FDMA Frequency Division Multiple Access Truy nhập phân chia theo tần số
Trang 7GPRS General Packet Radio System Hệ thống vô tuyến gói chung
GSM Groupe Spécial Mobile Nhóm nghiên cứu thông thông tin di động
đặc biệt GSM Global System for Mobile Hệ thông tin di động toàn cầu
communication
HARQ Hybrid Automatic Repeat Request Yêu cầu phát tự động nhanh
HIPERLAN High Performance Radio Local Area Mạng nội hạt vô tuyến chất lượng cao
Network
HLR Home Location Register Bộ ghi dịch thường trú
HSDPA High Speed Downlink Packet Access Công nghệ truy nhập gói đường xuống tốc độ
cao HS-DSCH High Speed Downlink Shared Channel Kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao HSOPA
HSS Home Subscriber Server Serve lưu trữ thông tin về thuê bao
HSUPA High Speed Uplink Packet Access Công nghệ truy nhập gói đường lên tốc độ
cao IDFT Inverse Discrete Fourier Transform Biến đổi Fourier ngược, rời rạc
IEEE The Institute of Electrical and Electronic Viện kỹ thuật điện và điện tử
Trang 8IS Interim Standard Chuẩn tạm thời
ISDN Integrated Services Digital Network Mạng số liên kết đa dịch vụ
ISI InterSymbol Interference Nhiễu giữa các ký hiệu
ISM Industrial, Scientific, Medical band Công nghệ, khoa học, y tế
ISP Internet Service Provider Nhà cung cấp dịch vụ
ITU International Telecommunication Union Liên minh viễn thông quốc tế
LNA Low Noise Amplifier Bộ khuếch đại tạp âm thấp
MAN Metropolitan Area Network Mạng diện rộng
MCM MultiCarrier Modulation Điều chế đa sóng mang
MGCF Media Gateway Control Function Chức năng điều khiển tài nguyên đa phương
tiện MIMO Multi Output Multi Input Nhiều đầu vào, nhiều đầu ra
MMS Multimedia Message Tin nhắn đa phương tiện
MPLS MultiProtocol Label Switching Chuyển mạch nhãn đa giao thức
MRFP Multimedia Resource Function Provide Cung cấp tài nguyên đa phương tiện
MSC Mobile Switching Center Trung tâm chuyển mạch di động
NAT Network Address Translator Bộ phiên dịch địa chỉ mạng
NMT Nordic Mobile Telephone Điện thoại di động Bắc Âu
Trang 9OFDM Orthogonal Frequency Division Phân chia theo tần số trực giao
Multiplexing
OTA Over The Air Activation Môi trường không gian
PCS Personal Communication Service Dịch vụ truyền thông cá nhân
PDA Personal Digital Assistant Thiết bị trợ lý cá nhân dùng kỹ thuật số PDC Personal Digital Cellular Tế bào số hoá cá nhân
PDH Plesiorchronous Digital Hierarchy Mạng phân cấp số cận đồng bộ
PDN Public Data Network Mạng số liệu công cộng
PLMN Public Land Mobile Network Mạng di động mặt đất công cộng
PNC Public Network Computing Tính toán mạng công cộng
PSTN Public Switched Telephone Network Mạng chuyển mạch điện thoại công cộng
QPSK Quadrature Pulse Shift Keying Khóa dịch pha vuông góc
RAB Radio Access Bearer Vật mang truy nhập vô tuyến
RAC Radio Access Controller Bộ điều khiển truy nhập vô tuyến
RAN Radio Access Network Mạng truy nhập vô tuyến
RNC Radio Network Controller Bộ điều khiển mạng vô tuyến
RNS Radio Network Subsystem Hệ thống mạng con vô tuyến
Trang 10RRM Radio Resource Management Chức năng quản lý tài nguyên vô tuyến RTP Real time Transport Protocol Giao thức truyền tải thời gian thực SCM Single Carrier Modulation Điều chế sóng mang đơn
SDH Synchronous Digital Hierarchy Mạng phân cấp số đồng bộ
SDP
SDR Software Defined Radio Phần mềm hệ thống vô tuyến lý tưởng
SIM Subscriber Identity Module Module nhận dạng thuê bao
SIP Session Initialization Protocol Giao thức khởi tạo phiên
SNR Signal to Noise Ratio Tỉ số tín hiệu trên tạp âm
STM Synchronous Transfer Mode Chế độ truyền tải đồng bộ
SVC Switching Virtual Connection Kết nối chuyển mạch ảo
TACS Total Access Communication System Hệ thống thông tin thâm nhập toàn bộ TDD Time Division Duplex Ghép song công phân chia theo thời gian TDMA Time Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo thời gian TPC Transmission Power Control Giao thức điều khiển truyền dẫn
TTI Transmission Time Interval Thời gian phát truyền dẫn
UAP Universal Access Point Điểm truy cập toàn cầu
Trang 11VLR Visitor Location Register Bộ ghi dịch tạm trú
VSF Variable Spread Frequency Trải sóng tuỳ biến
WAP Wireless Access Protocol Giao thức truy cập không dây
WCDMA Wideband Code Division Multiple Đa truy nhập phân chia theo mã băng rộng
Access
WLAN Wireless Local Area Network Mạng cục bộ không dây
Trang 12DANH SÁCH HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Lộ trình hệ thông tin di động
Hình 1.2 Các yêu cầu khi sang hệ thống 4G
Hình 2.1: Xu hướng công nghệ thông tin không dây
Hình 2.2: Mô hình mạng lõi toàn IP
Hình 2.3: Yêu cầu về thiết bị đầu cuối 4G
Hình 2.4 Tính đa dạng về thiết bị đầu cuối 4G
Hình 3.1 : Mô hình cấu trúc mạng 4G
Hình 3.2: Cấu hình hệ thống 4G
Hình 3.3: Liên lạc thông qua các kết nối multi-hop
Hình 3.4: Truyền dẫn đường downlink trên cơ sở trải VSF-OFCDMA
Hình 3.5: Truyền dẫn uplink trên cơ sở MC-DS-CDMA với FD-MC_DS_CDMA Hình 3.6: Môi trường mạng không đồng nhất trên cơ sở toàn IP
Hình 3.7: Nguyên lý OFDM
Hình 3.8: Cấu trúc mạng lõi 4G
Hình 3.9: Hệ thống phần mềm vô tuyến lý tưởng
Trang 13Hình 3.10: Đầu cuối đa chế độ gắn liền với WLAN và quét các hệ thống hiện tại
Nó có thể tải xuống phần mềm thích hợp bằng tay hoặc tự động.
Hình 3.11: Chuyển giao theo hai phương của thiết bị đầu cuối
Hình 3.12: Một ví dụ về tính di động cá nhân
Hình 4.1: Dịch vụ 4G
Hình 4.2: Khái niệm QoS và mối quan hệ QoS với chất lượng mạng
Hình 4.3: Mối liên hệ giữa các khái niệm QoS theo ETSI
Hình 4.4: Kiến trúc dịch vụ trong mạng di động thế hệ
sau Hình 4.5 Chất lượng dịch vụ QoS
Hình 5.1: Mô hình phát triển lên 4G từ GSM
Bảng 3.1 Các thông số hệ thống cho đường downlink
Bảng 3.2 Các thông số hệ thống cho đường uplink của hãng NTT
DOCOMO Bảng 3.3 Tóm tắt những thách thức chính và đề xuất các giải
pháp Bảng 4.1: Các tham số QoS trong mạng 4G
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG
1.1 NHỮNG ĐẶC THÙ CỦA HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG.
Nói đến thông tin di động là người ta nói đến việc liên lạc truyền thông bằngsóng điện từ Như chúng ta biết, từ năm 1897, Guliemo Marconi đã thực hiện việc liênlạc từ đất liền đến các con tầu trên biển bằng sóng điện từ, hay xa hơn là những tín hiệuphức tạp khác như vô tuyến truyền hình ra đời vào những năm 1930, vậy tại sao phảichờ đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX thông tin di động mới thực sự phát triển và cónhững bước tiến vượt bậc trong việc kết nối thế giới trong tầm tay, vào mọi lúc, mọinơi Để hiểu được điều này ta giả thiết: mỗi một cuộc liên lạc giữa hai người cần mộtđường truyền độc lập hay còn gọi là kênh vô tuyến Mỗi kênh cần tối thiểu một dảithông 3.103 Hz (đây là dải thông ứng với tiếng nói, trên thực tế chúng ta cần dải thônglớn hơn nhiều) Với dải thông từ 03Ghz (3.109 Hz) cho phép số người dùng là mộttriệu người dùng cùng một lúc Vậy làm thế nào để phục vụ hàng chục triệu thuê baotrong khi tài nguyên tần số vô tuyến là có hạn? Giải pháp đặt ra ở đây là sử dụng lại tần
số Điều đó có nghĩa một cuộc di động này có thể sử dụng lại tần số của một cuộc diđộng khác với điều kiện hai cuộc di động phải ở cách xa nhau về mặt địa lý đủ lớn đểsóng truyền đến nhau nhỏ hơn sóng của hai người trong cuộc đàm thoại Do vậy, đểthích hợp cho việc quản lý, người ta chia vùng phục vụ ra thành các ô nhỏ được gọi làcác ô tế bào Hai cuộc liên lạc ở hai ô tế bào đủ xa nhau để có thể sử dụng cùng một tần
số sóng điện từ thông qua việc quản lý tại một trạm trung tâm của tế bào [1]
Hệ quả tất yếu của giải pháp sử dụng lại tần số là:
Chuyển giao
Đăng ký vị trí.
Chống nhiễu cùng kênh và kênh lân cận.
Trang 154
- Quản lý kênh truyền
Tất cả các vấn đề trên đều phải xử lý trong thời gian thực Bên cạnh đó, các yêu cầucủa người dùng về thiết bị như kích thước, trọng lượng, tuổi thọ của pin đã đặt ra cácđòi hỏi rất cao về công nghệ điện tử và các kỹ thuật xử lý tín hiệu Chính vì vậy, chúng
ta phải đợi đến khi những tiến bộ của công nghệ điện tử chín muồi vào những năm 80,thông tin di dộng mới thâm nhập vào đời sống xã hội
1.2 TỔNG QUAN HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI.
Lịch sử phát triển
1873: Phương trình Maxwells
1886: Hertz chứng minh sự tồn tại của sóng vô tuyến
1895: Marconi phát minh điện báo vô tuyến
1900: Fessenden truyền tín hiệu thoại vô tuyến thành công:
Liên lạc vô tuyến giữa các tàu thuỷ và các trung tâm trên bờ
Liên lạc vô tuyến giữa máy bay và mặt đất
1921: Hệ thống vô tuyến phục vụ cảnh sát đầu tiên, Detroit
Các hệ thống điện thoại vô tuyến cá nhân đầu tiên ra đời
1946: Hệ thống điện thoại vô tuyến công cộng đầu tiên, St Louis
Ra đời các điện thoại vô tuyến HF (Sử dụng băng tần: 2-22Mhz )
1979: Ra đời mạng vô tuyến tổ ong AMPS
(AMPS là sự kết hợp của hệ thống AT&T tại Chicago và Motorola tại
Washington/Baltimore: chuẩn AMPS tương tự sử dụng dải tần 800Mhz)
Trang 161980: Tiêu chuẩn nhắn tin POCSAG.
1982: Dịch vụ INMARSAT
1982: Các mạng vô tuyến tổ ong NMT450
(NMT450: điện thoại di động Bắc Âu_phát triển hệ thống 450Mhz có cấu trúc ô nhỏ)1984: Các mạng vô tuyến tổ ong TACS (Hệ thống thông tin thâm nhập toàn bộ)
1991: Các mạng vô tuyến tổ ong GSM
1992: Hệ thống điện thoại không dây DECT
1995: Mạng CDMA đầu tiên
1995: Mạng nhắn tin ERMES
1996: Mạng TETRA
2001: Phát triển các tiêu chuẩn FPLMTS/IMT2000 and UMTS [2]
Nhìn lại quá trình phát triển của các mạng truyền thông di động, đầu tiên là các
hệ thống điện thoại tế bào analog ra đời ở Mỹ và Châu Âu (1G) dựa trên kỹ thuật tương
tự chỉ có khả năng truyền thoại, rồi đến những công nghệ liên quan đến kỹ thuật số (2G
và 3G) đã làm thay đổi căn bản trong lĩnh vực thông tin di động, trong xử lý tín hiệu số
và ứng dụng dịch vụ
Trong những năm đầu thập kỷ 80, hệ thống điện thoại tế bào tương tự đã đượcphát triển nhanh chóng ở Châu Âu đặc biệt là Scandinavia và Anh, Pháp, Đức Mặc dùmỗi quốc gia này đều phát triển chuẩn cho riêng hệ thống của mình nhưng các chuẩnnày đều được tương thích với nhau về mặt thiết bị cũng như quá trình vận hành Tuynhiên một tình huống không mong đợi đã xảy ra, đó là các thiết bị di động không chỉ bịgiới hạn vùng hoạt động trong vùng biên giới giữa các quốc gia mà nói còn ảnh hưởngđến thị trường tiêu thụ thiết bị cũng như tính thiếu kinh tế của thiết bị Các quốc giaChâu Âu đã sớm nhận ra điều này, vào năm 1982, Hội nghị Bưu chính viễn thông
Trang 176
-Châu Âu (CEPT) đã thành lập nhóm nghiên cứu có tên gọi Groupe Spécial Mobile(GSM) để nghiên cứu và phát triển hệ thông tin di động cố định mặt đất công cộng giữacác vùng Châu Âu Hệ thống này phải hội tụ được các đặc tính như sau:
Chất lượng thoại tốt
Chi phí cho thiết bị và sử dụng dịch vụ phải mang tính kinh tế
Hỗ trợ chuyển vùng quốc tế (roaming)
Có khả năng hỗ trợ các thiết bị cầm tay
Sử dụng trải phổ hiệu quả
Tương thích với mạng ISDN
Phát triển từ thế hệ thứ nhất 1G(các hệ thống analog), hệ thông tin di động thế hệ thứhai(2G) - hệ truyền thông toàn cầu GSM với các tế bào số hoá cá nhân PDC (PersonalDigital Cellular), chuẩn tạm thời IS(Interim Standard) sử dụng kỹ thuật số cho luồngđịnh hướng tiếng nói đã là tâm điểm của cuộc cách mạng kỹ thuật số Vào năm 1989,Công nghệ GSM được chuyển giao cho Viện chuẩn viễn thông Châu Âu(ETSI) Cácdịch vụ mang tính thương mại mắt đầu được cung cấp vào giữa năm 1991, và vào năm
1993, 36 mạng GSM đã có mặt trên 22 quốc gia Mặc dù được chuẩn hoá tại Châu Âu,nhưng GSM không còn là chuẩn riêng của Châu Âu Hơn 200 mạng GSM (bao gồm cảDCS1800 và PCS1900) đã được ứng dụng tại 100 quốc gia trên toàn thế giới Vào đầunăm 1994, mạng GSM có 1.3 triệu thuê bao trên toàn thế giới và con số này đến năm
1997 là 55 triệu thuê bao Ngày nay GSM đã trở thành thuật ngữ chung cho hệ thôngtin di động toàn cầu (Global System for Mobile Communication)
Từ khi hệ GSM thành công trong việc chuẩn hóa từ Châu Âu sang toàn cầu, nótrở thành hệ thống truyền thông di động toàn cầu Việc nâng cấp hệ thống GSM (2G)qua GPRS và EDGE (EGPRS) cũng như WAP và imode (2.5G) cho phép tốc độ truyền
dữ liệu cũng như tốc độ truyền thoại được cải thiện trước khi có 3G GSM được thiết
Trang 18kế cho các dịch vụ thoại số hay cho dữ liệu truyền dưới dạng bit tốc độ thấp phù hợpvới kênh thoại là 9.6Kbps.
Để có thể đáp ứng được các nhu cầu về sử dụng dịch vụ Internet ngày càng caocủa người dùng và cũng là một bước đệm cho 3G, các mạng thông tin di động hiện nay
đã phát triển công nghệ, đưa dịch vụ vô tuyến gói chung GPRS 2.5G (General PacketRadio Services) đến với khách hàng Hệ thống này được ra đời và được nâng cấp dựatrên hệ thống GSM có sẵn để truyền thông gói IP với tốc độ truyền khoảng 171Kbps,nhưng trên thực tế tốc độ chỉ đạt khoảng 100Kbps do một phần dung lượng được dùngcho việc hiệu chỉnh lỗi trên đường truyền vô tuyến Với công nghệ này, người dùng cóthể truy cập Internet từ điện thoại di động có tính năng WAP (Wireless AccessProtocol) để gửi tin nhắn hình ảnh và âm thanh; chia sẻ các kênh truyền số liệu tốc độcao và ứng dụng truyền thông đa phương tiện, thương mại điện tử…Đây là một côngnghệ chuyển mạch gói được phát triển trên nền tảng của GSM sử dụng đa truy cậpphân chia theo thời gian (TDMA) Với các chức năng được tăng cường, GPRS làmgiảm giá thành, tăng khả năng thâm nhập các dịch vụ số liệu cho người dùng Với sựphát triển của các ứng dụng GPRS cho phép các nhà khai thác đa dạng hoá các dịch vụcủa mình Các dịch vụ mới sẽ làm tăng dung lượng đường truyền trên các tài nguyên
vô tuyến và các hệ thống cơ sở Để cung cấp các dịch vụ mới cho người sử dụng điệnthoại, GPRS là một bước quan trọng để hội nhập tới các mạng thông tin thế hệ ba.GPRS cho phép các nhà khai thác triển khai dịch vụ trên nền của cấu trúc mạng lõi toàn
IP cho các ứng dụng số liệu và các dịch vụ 3G với ứng dụng chủ yếu truyền số liệu vàthoại tích hợp
Liên minh viễn thông quốc tế ITU bắt đầu phát triển các tiêu chuẩn cho hệ thôngtin di động 3G vào những năm cuối của thập niên 90 Thế hệ thứ ba này được chuẩnhoá vào năm 1999 bao gồm chuẩn ETSI của Châu Âu, UMTS, CDMA2000 từ Mỹ vàWCDMA của Nhật Bản Những hệ thống này mở rộng các dịch vụ đa phương
Trang 198
-tiện chất lượng cao nhiều tốc độ và hội tụ các mạng thành phần cố định, tế bào và vệtinh Hệ thông tin di động thế hệ thứ ba (3G) được thiết kế để hoạt động tại băng tầncao hơn, hỗ trợ cho cả hai dịch vụ thoại truyền thống và truyền dữ liệu multimedia nhưaudio và video Tốc độ download của hệ 3G là 128Kbps khi sử dụng trong ô tô,384Kbps khi thiết bị đứng yên hoặc chuyển động với vị trí cố định và khi truyền trongmôi trường picocell tốc độ của nó có thể lên tới 2Mbps Các ứng dụng 3G thông dụnggồm hội nghị truyền hình di động, chụp và gửi ảnh kỹ thuật số nhờ các điện thoại máyảnh, gửi nhận email, file đính kèm dung lượng lớn, tải tệp tin video và MP3, nhắn tindạng chữ chất lượng cao Các thiết bị hỗ trợ 3G cho phép chúng ta download và xemphim từ các chương trình TV, kiểm tra tài khoản ngân hàng, thanh toán hoá đơn điệnthoại qua mạng, nhận và gửi các bưu thiếp kỹ thuật số Hơn nữa, chúng ta còn đượcthưởng thức video giàu đồ hoạ, âm thanh vòm lập thể (surrounding sound) chất lượngcao, game ba chiều mới mẻ (3D), giàu tính năng multimedia của thẻ modem vô tuyến,hay PDA hợp thời trang
Trong khi 2G hoạt động trong các băng tần 900 và 1800/1900Mhz, 3G hoạtđộng trong băng tần 2Ghz và hệ thống mới này có nhiệm vụ chuyển giao những dịch
vụ đa phương tiện với dung lượng lớn hơn Hệ 3G và 2G sẽ tiếp tục tồn tại trong mộtthời gian với sự tối ưu hoá dự phòng các dịch vụ giữa chúng Nhiều dạng chuyển giaobằng vệ tinh khác nhau được sử dụng để cải thiện phạm vi phủ sóng tại thành thị, ngoại
ô, và vùng nông thôn Năm 2004, điểm mốc đáng nhớ cho công nghệ 3G, công nghệ3G đã tác động rất lớn đến đời sống hàng ngày của con người, mọi lúc, mọi nơi và hầunhư mọi việc được thực hiện trên điện thoại di động Một điều quan trọng là khi côngnghệ ngày càng hội tụ và các tiêu chuẩn tương thích với nhau, người tiêu dùng khôngcòn quan tâm đến mạng sử dụng là GSM hay CDMA nữa mà họ chỉ quan tâm đến việcmáy di động của họ có thể hoạt động ở bất cứ nơi đâu họ đến Nếu chúng ta nhìn xahơn nữa, ứng dụng giải trí sẽ là yếu tố kích thích lớn trong tăng trưởng 3G Các thống
kê do nhà khai thác DoCoMo (Nhật Bản) đưa ra cho thấy 88% tỉ lệ gói đến từ truy cập
Trang 20Internet di động và trong số này 77% truy cập là liên quan đến giải trí Tại Hàn Quốc,các ứng dụng được yêu cầu phần lớn là các dịch vụ về video, audio, TV trực tiếp,…Ngoài ra, các dịch vụ khác như download nhạc chuông, mua sắm cũng rất phổ biến.Những dịch vụ này mang lại cho các nhà khai thác doanh thu rất lớn Tóm lại với sựphát triển ngày càng rộng khắp của công nghệ 3G, CDMA, các cơ hội là vô tận Chúng
ta không còn sống trong một thế giới nơi mà tiêu chuẩn và công nghệ hạn chế chúng ta.Nhu cầu ngày càng tăng về thiết bị mới, công nghệ cao, tính năng ưu việt đánh dấu sự
ra đời của một thời đại di động vô tuyến
Trang 21Hình 1.1: Lộ trình hệ thông tin di động
1.3 GIỚI THIỆU HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG 4G.
Trang 22Hệ 4G là một khái niệm được xây dựng trên cơ sở mạng của các mạng, hệ thốngcủa các hệ thống tích hợp trên nền IP Hệ 4G là sự hội tụ của cả mạng có dây và khôngdây cũng như sự tích hợp giữa máy tính, thiết bị điện tử và các công nghệ viễn thông.
Sự tích hợp này đã cho phép tốc độ truyền tải dữ liệu lên tới 100Mbps và thậm chí lêntới 1Gbps tuỳ thuộc môi trường truyền dẫn là indoor hay outdoor với chất lượng QoSend-to-end và độ bảo mật cao Hệ 4G có khả năng cung cấp dịch vụ ở mọi nơi mọi lúcvới chi phí hợp lý và sự tiện lợi trong quá trình tính cước.[3]
Hệ thông tin di động thế hệ 3G được chuẩn hoá theo IMT-2000, bắt đầu đưa vàoứng dụng tại Nhật Bản từ tháng 10/2001 Nó đã cho chúng ta thấy sự đa dạng về cácdịch vụ truyền thông đa phương tiện Điều này cũng cho thấy rằng thông tin di độngđóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta và nó sẽ còn mở rộngphạm vi như một bước tiến để cải thiện cuộc sống Theo các nhà phân tích, mạng 4G sẽđược triển khai vào khoảng năm 2010, mạng này có thể hỗ trợ chuyển vùng toàn cầu(roaming) thông qua nhiều mạng di động và mạng không dây Với đặc tính này, ngườidùng có thể truy nhập vào nhiều dịch vụ khác nhau, phạm vi vùng phủ sóng rộng hơn,một thiết bị ứng dụng cho nhiều tiện ích, chi phí thấp, độ tin cậy truy cập không dâycao ngay cả khi có sự cố của một hay nhiều mạng Các mạng 4G có khả năng cùng hoạtđộng trên nền IP cho truy nhập Internet di động thông suốt và tốc độ truyền lên tới50Mbps
So với mạng di động thế hệ ba, 4G có nhiều ưu thế hơn hẳn: dung lượng được
mở rộng, các mạng 4G hoàn toàn là chuyển mạch gói, các phần tử mạng số hoá, tốc độtruyền tải dữ liệu cao hơn, cung cấp các dịch vụ truyền thông đa phương tiện với chiphí thấp
Các yêu cầu được đặt ra cho hệ thống:
Truyền thông dải rộng
Trang 23-11-Cho đến tận bây giờ phần lớn lưu lượng truyền tải trên hệ thống thông tin di động làcác tín hiệu thoại Hệ thông tin di động thế hệ hai (2G), hệ thống tế bào số cá nhân(PDC), giới thiệu các dịch vụ thương mại điện tử, thư tín điện tử email Hệ thống IMT-
2000 cung cấp các giải pháp về truyền dẫn dữ liệu tại tốc độ cao từ 64Kbps đến384Kbps Hơn thế nữa, việc tăng tính khả dụng của các dịch vụ băng rộng như ADSL,
hệ thống truy cập cáp quang qua các mạng LAN văn phòng và mạng LAN gia đình cóthể sẽ dẫn đến các yêu cầu về tính tương thích dịch vụ trong các môi trường truyềnthông di động
Chi phí giá thành thấp
Khi các dịch vụ băng rộng được đưa vào ứng dụng, người dùng có thể trao đổi được rấtnhiều loại hình thông tin, lúc này là các nhà cung cấp dịch vụ cần phải giảm giá mộtcách đáng kể để mức giá thấp hơn hay ít nhất cũng phải bằng mức tính cước của dịch
vụ hiện thời Hệ thống chuẩn IMT-2000 đặt ra mục tiêu giảm giá cước và tăng tốc độtruyền một cách hiệu quả Bên cạnh đó, hệ thông tin di động 4G đã đưa ra một giảipháp kênh truyền thông dải rộng với mức chi phí thấp
vụ Hơn thế nữa, các thiết bị đầu cuối được cung cấp cần phải có màn hình hiển thị lớn
ví dụ như PDA và các máy tính cá nhân hỗ trợ không dây, đặc biệt là các thiết bị tươngthích với các dịch vụ tiên tiến Thường thì các thiết bị này được sử dụng trong gia đình,chúng ta cần cung cấp các vùng dịch vụ đủ lớn và tính năng đầy đủ hơn
Dịch vụ đa dạng
Trang 24Với mục tiêu phục vụ nhiều đối tượng người dùng Trong tương lai, chúng ta dự định
sẽ tăng cường, cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như tính năng của hệ thống nhằmcung cấp dịch vụ đa dạng, tiện ích và chân thực nhất chứ không đơn thuần là chỉ cungcấp các dịch vụ thoại truyền thống và đương nhiên các loại hình dịch vụ này là hoàntoàn dễ dàng sử dụng
Như chúng ta đã biết phổ của sóng vô tuyến là tài nguyên chủ yếu cho các công nghệkhông dây do vậy hệ 4G được định hướng nghiên cứu nhằm vào những hệ thống trảiphổ hiệu quả Những công nghệ đầy tiềm năng đã được nghiên cứu và hứa hẹn một sựcải tiến về hiệu quả sử dụng phổ thông qua các giải pháp đang tồn tại
Các công nghệ anten được cải tiến: giải quyết các vấn đề về dung lượng
Các kỹ thuật MIMO (Multi Input Multi Output).
Các khả năng tích hợp hệ thống và khả năng cấu hình lại hệ thống.
Công nghệ truy cập không dây: OFDMA (Orthogonal Frequency Division
Multiple Access), MC-CDMA (Multi Carrier Code Division Multiple Access)
Hội tụ mạng tế bào và quảng bá
Hạ dịch vụ mới
Hạ tầngdịch vụ mới
khai dịch vụ mới Bắt đầu dịch vụ mới dựa trên Triểnkhai nhanhcácácdịch vụ mới
- Dễ khai các dịch vụ mới những khả năng mới - Dễ dàngtriểnkhai các dịch vụ mới
Kết nối và giao linh hoạt
Kết nối và chuyểngiao linh hoạt giữanhiều
hệnhiềuthốnghệtruythốngnhậptruy nhập Các dịch vụ cao cấp nhờ nâng cao
phẩm chất và tính năng mạng
Tốc độ truyền dẫn: 384 Kbps
Dung lượng hệ thống
Chi phí
100Mbps (tốc độ cao nhất của môi trường
di động); 1Gbps (tốc độ tối đa trong môi trường indoor)
gấp 10 lần hệ thống 3G
1/101/100 per bit
Trang 25Hệ thống trạm gốc 50ms hoặc nhỏ hơn
Trang 26Hình 1.2 Các yêu cầu khi sang hệ thống 4G
Các nhà cung cấp dịch vụ đã và đang nghiên cứu phát triển công nghệ mạngkhông dây 4G để thiết lập một chuẩn 4G toàn cầu theo định hướng của ITU Hãng NTTDocomo đã trình diễn khả năng truyền dữ liệu của điện thoại di động với tốc độ kỷ lục.Trong thí nghiệm ôtô chạy với tốc độ 20km/h, các mẫu điện thoại sử dụng để xem 32luồng video với độ nét cao Đại diện NTT Docomo cho biết, điện thoại có thể nhận dữliệu với tốc độ 100Mbps khi đang chuyển động và lên tới 1Gbps khi ở trạng thái tĩnh.Với tốc độ này, một DVD có thể được tải về chỉ trong một phút Công nghệ mạng diđộng tốc độ cao của NTT Docomo vẫn còn đang được thử nghiệm, các cuộc thí nghiệmđiện thoại thế hệ 4G sử dụng phương thức trải sóng tuỳ biến VSF-Spread OFDM đãcho thấy tăng tốc độ tải về bằng cách sử dụng sóng đa tần để gửi cùng một luồng dữliệu Một cách thức thực hiện khác đối với mạng di động là các kết hợp nhiều đầu vào
và nhiều đầu ra sử dụng kỹ thuật MIMO Kỹ thuật này được sử dụng để gửi dữ liệu quamột số tuyến trên mạng, nhằm tăng dung lượng dữ liệu được truyền tải trên mạng Với
kỹ thuật MIMO điện thoại di động có thể nhận dữ liệu từ nhiều trạm trong tầm liên lạc
1.4 KẾT LUẬN
Với những ưu thế vượt trội hơn hẳn so với các thế hệ di động trước, mạng diđộng thế hệ thứ tư có thể giải quyết vấn đề như lưu lượng người dùng, các giao diệnkhông gian, các thiết bị đầu cuối, các môi trường truyền sóng vô tuyến, các kiểu môhình chất lượng dịch vụ Mục tiêu của 4G ở đây là vừa giải quyết được các yêu cầu củangười dùng, của các nhà khai thác dịch vụ cũng như các yêu cầu về kỹ thuật để có thểtích hợp được với các hệ thống có sẵn Hệ thông tin di động 4G sẽ cung cấp tốc độtruyền dẫn cao hơn và dung lượng lớn hơn so với hệ thống IMT-2000
Trang 27-14-CHƯƠNG 2 YÊU CẦU HẠ TẦNG VIỄN THÔNG VÀ XU
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
2.1 YÊU CẦU HẠ TẦNG VIỄN THÔNG
Như chúng ta đã biết, mạng hiện thời chủ yếu là phục vụ thoại, với sự phát triểnnhanh chóng của các dịch vụ số liệu, các nhu cầu về dịch vụ phi thoại như Internet,truyền số liệu, thương mại điện tử ngày càng gia tăng Thông tin di động thế hệ thứ haiGSM mặc dù đã sử dụng công nghệ số nhưng vì là hệ thống băng hẹp và được xâydựng trên cơ sở chuyển mạch kênh nên không đáp ứng được các yêu cầu này Trongbối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hoá hệ thống thông tin di động thế hệ bavới tên gọi IMT-2000 Hệ thông tin di động thế hệ ba cung cấp các dịch vụ viễn thôngbao gồm: truyền thông thoại, truyền số liệu tốc độ bit thấp, truyền thông đa phươngtiện, video cho người dùng làm việc ở vùng công sở, vùng dân cư, trong các phươngtiện vận tải…
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin di động thìviệc chuyển sang hệ thông tin di động thứ tư trong vài thập kỷ tới là điều hoàn toàn cóthể Hệ thống thông tin di động tập trung vào việc tích hợp các hệ thống hiện tại nhưGSM, WLAN, Bluetooth Khác hẳn với 3G chỉ tập trung vào phát triển các chuẩn mới
và phần cứng, 4G sẽ tập trung vào các dịch vụ thông minh mang tính chất cá nhân,cung cấp các hệ thống hoạt động ổn định và dịch vụ chất lượng cao Mục tiêu chính ởđây là truyền tải toàn bộ lưu lượng một cách hiệu quả trên kỹ thuật chuyển mạch gói(kể cả các dịch vụ đang thực hiện trên nền chuyển mạch kênh như thoại) Xu hướngchính là phát triển các công nghệ băng rộng, tích hợp các công nghệ khác nhau: cốđịnh/di động, Internet, multimedia, chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói Mạng lõi
sử dụng chuyển mạch gói: ATM, IP hoặc kết hợp IP và ATM
Trang 282.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG
Thông tin di động đang trong giai đoạn phát triển như vũ bão nhằm đáp ứng như cầukhông ngừng tăng của khách hàng về số lượng, chất lượng và cả loại hình dịch vụ Về
cơ bản, chúng ta có thể chia thành các hướng phát triển như sau:
Từ những năm 1989, trên thế giới đã có những nghiên cứu với quy mô lớn lớnnhằm phát triển hệ thống vô tuyến cá nhân: sự kết hợp thông minh của mạng PSTN, xử lýtín hiệu số hiện đại và công nghệ RF Khái niệm PCS (Personal Communication Service)khởi xướng ở Anh khi ba công ty lớn được cung cấp dải tần 1800Mhz PCS là hệ thống vôtuyến tổng hợp các đặc điểm mạng và các đặc điểm cá nhân trong hệ tế bào (ví dụ cụ thể làmạng Cityphone hiện nay) Các thử nghiệm lớn được tiến hành nhằm lựa chọn kỹ thuậtchung cho điều chế, đa truy cập và kỹ thuật mạng PDN (Public Data Network) là khái niệmmạng mà người dùng có thể thu tín hiệu và thực hiện cuộc gọi ở bất kỳ đâu với thiết bị cánhân gọn nhẹ
Xu hướng phát triển mạng vô tuyến indoor: cho phép người dùng kết nối máy tính văn phòng trong các toà nhà lớn
Xu hướng chuẩn hoá IMT-2000, được quyết định bởi ITU, xây dựng chuẩn và quyhoạch trên toàn thế giới IMT-2000 hứa hẹn hệ thống di động tương thích toàn cầu đa năng,thế hệ thứ ba tích hợp các dịch vụ nhắn tin, kéo dài và tế bào cũng như vệ tinh vào một hệ diđộng đa năng Tổng cộng có 230Mhz phổ trong dải từ 1885Mhz và 2110 đến 2220Mhz Cácdịch vụ trong thời kỳ quá độ gồm GPRS và UMTS
Xu hướng phát triển hệ viễn thông vệ tinh LEO: cùng với sự phát triển của côngnghệ vũ trụ, hệ thông tin vệ tinh phối hợp với hệ thông tin di động mặt đất tạo nên kết nốitoàn cầu thích hợp với mọi loại địa hình cũng như mọi loại hình thông tin
Trang 29-16-Trên mạng cố định đang diễn ra một quá trình hội tụ về công nghệ và dịch vụ giữamạng viễn thông và Internet dựa trên kỹ thuật chuyển mạch gói IP Internet đang pháttriển từng ngày từ các modem tốc độ thấp, đến nay đã phát triển nhiều phương thứctruy nhập tốc độ cao và linh hoạt hơn trong đó Wireless LAN thực sự là một thách thứcvới mạng di động tuy khả năng còn di động còn hạn chế
Đứng trước sự phát triển của Internet cùng với các dịch vụ phong phú mới của mạng cốđịnh, các nhà cung cấp dịch vụ không thể bằng lòng với những gì đang có trên mạng diđộng 2G như tín hiệu thoại thông thường và SMS Nhiều tổ chức viễn thông lớn và các
tổ chức chuẩn hóa quốc tế cố gắng đưa ra một kiến trúc mạng di động mới nhằm thíchứng với sự phát triển của công nghệ IP cũng như có thể đáp ứng nhu cầu của kháchhàng về dịch vụ mới một cách tốt nhất 3GPP là một tổ chức mở về chuẩn hoá mạng diđộng trong thế hệ mới với việc nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị cho mạng di độngtrên con đường tiến tới hội tụ công nghệ 3GPP đã tiến hành các nghiên cứu cho cácmạng di động khác nhau nhưng đều hướng tới một đích chung, đó là mạng di động thế
hệ thứ ba Một loạt các kiến nghị đề xuất cũng được ITU chấp nhận trong bộ tiêu chuẩn
về 3G (IMT-2000) Mạng 4G ra đời có thể được hiểu như sự hội tụ giữa 3G vàWireless LAN Mạng này cung cấp một băng thông rất cao và khả năng di động toàncầu dựa trên cơ sở IP
Hình dưới đây cho ta thấy các đặc trưng cơ bản trong tiến trình phát triển của kỹ thuậtliên quan đến di động và xu thế hội tụ trong tương lai của các mạng di động
Xu hướng tiến đến 4G không phải là sự thay đổi hoàn toàn về công nghệ mà là sự nângcấp từng bước từ các mạng đang tồn tại nhằm đảm bảo sự tương thích cũng như tránh
sự lãng phí trong đầu tư của các nhà khai thác
Trang 30WirelessLAN (CSMA/CA) WiredLAN
Hình 2.1: Xu hướng công nghệ thông tin không dây
2.3 XU HƯỚNG SỬ DỤNG IP TRONG THÔNG TIN DI ĐỘNG 4G
Ba bước cơ bản để có thể đưa IP vào mạng di động:
Trang 311 Triển khai IP trên mạng lõi di động:– Bảo mật, QoS
Trang 32– Quản lí di động, đánh số
2 Triển khai IP trên mạng lõi và mạng truy nhập vô tuyến:
– Kết nối thời gian thực: 85-90% lưu lượng là thoại có nén
– Các bộ dẫn đường: xử lý đồng bộ cả PDH và SDH
– Tách biệt công đoạn quản lý QoS và tránh truyền các gói dữ liệu có độ dài
– Chia thành các phần tập trung thuê bao và phần trung kế
– Cần quá trình chuyển đổi từ STM sang các mạng IP
– Cơ chế quản lý tài nguyên thích hợp cho mở rộng phát triển
– Cơ chế tái định tuyến nhanh để khai thác đồng thời với GSM
– Giao thức phần mềm thích hợp cho IPv6
– Yêu cầu chức năng địa chỉ và di động
3 Giải pháp toàn IP cho tất cả các kết nối tới đầu cuối di động
– Bộ dẫn đường: hỗ trợ toàn bộ phần tử
– Để quản lí thiết bị di động: cần hai địa chỉ IP thường trú và tạm trú sử dụng không gian địa chỉ IPv6
– Các vấn đề kĩ thuật gắn với triển khai IP:
Quản lí chất lượng dịch vụ: đảm bảo QoS cho các loại dịch vụ khác nhau
An toàn bảo mật: cần thống nhất, trong suốt đ IPv6 (hiện tại đang dùng IP-VPN)
Mở rộng dung lượng mạng
Mở rộng không gian địa chỉ
Điều chỉnh để có thể hoạt động đối với kết nối vô tuyến chất lượng thấp hơn so với kết nối hữu tuyến truyền thống
Trang 33Di động đầu cuối
– IP di động (Mobile Internet Protocol):
MIP hỗ trợ khả năng di động ở lớp IP (lớp mạng) cho các thiết bị đầu cuối với hai đặc trưng cơ bản:
Sự di động hoàn toàn trong suốt đối với các ứng dụng bên trên lớp IP, các ứng dụng được thực hiện giống như khi các thiết bị đầu cuối không di chuyển
Là một giao thức dựa trên IP nên MIP có thể được triển khai trên bất kỳ mạngnào, bao gồm cả các mạng hữu tuyến như PSTN, ISDN, Ethernet, xDSL…và các mạng vôtuyến như WLAN, GPRS, UMTS…
Thuê bao di động có địa chỉ IP tĩnh duy nhất Kết nối được duy trì khi thuê bao dichuyển từ vùng phục vụ của PDSN này sang PDSN khác Hiện nay, 3GPP và 3GPP2đang cố gắng thống nhất mô hình mạng lõi toàn IP
Trang 34Hình 2.2: Mô hình mạng lõi toàn IP
Mạng lõi được IP hoá: tách biệt giữa truyền tải, điều khiển và dịch
vụ Ưu điểm khi tiến tới mạng lõi toàn IP thống nhất:
– Cho phép tích hợp với các mạng truy nhập theo công nghệ khác nhau
– Tiết kiệm chi phí xây dựng hệ thống
– Xây dựng và phát triển dịch vụ dễ dàng
– Roaming toàn cầu
2.4 YÊU CẦU ĐỐI VỚI THIẾT BỊ ĐẦU CUỐI 4G
Trang 35-21-Hình 2.3: Yêu cầu về thiết bị đầu cuối 4G
Các thiết bị đầu cuối của 4G có các yêu cầu cơ bản sau:
Trang 36Hình 2.4 Tính đa dạng về thiết bị đầu cuối 4G
Yêu cầu bắt buộc đối với đầu cuối 4G để vận hành mạng:
Có giao diện để tích hợp card SIM đa dụng (Universal SIM)
Có khả năng đăng kí và huỷ bỏ thiết bị ra khỏi mạng của nhà khai thác
Có khả năng cập nhật thông tin vị trí
Hỗ trợ các dịch vụ hướng kết nối và không kết nối
Có trường nhận dạng cố định
Có khả năng hỗ trợ các dịch vụ khẩn cấp không cần sử dụng USIM
Hỗ trợ kích hoạt các thuật toán nhận dạng và bảo mật khi có yêu cầu
Các chức năng mới, nâng cao:
Sử dụng được giao diện chương trình ứng dụng API.
Có khả năng tải thông tin, giao thức, các chức năng mới hay API vào thiết bị.
Trang 37-23- Có khả năng bảo dưỡng môi trường định vị thường trú ảo (VHE) sử dụng cùng giao diện người sử dụng hoặc giao diện khác khi đang roaming.
Có khả năng lắp đặt thêm các card IC khác.
Phân loại đầu cuối:
Theo dạng chuyển mạch kết nối: chế độ CS (Circuit Switching), PS (Packet Switching) và PS/CS.
Theo kết nối vô tuyến và kết nối mạng: một chế độ vô tuyến, nhiều chế độ vô tuyến, đơn mạng, đa mạng.
Đầu cuối cơ bản có khả năng sử dụng cho cả 2G và 3G nhưng phải thực hiện thao tácchuyển chế độ cho phù hợp Đầu cuối hai chế độ: có khả năng tự động nhận biết và sửdụng cho cả hệ thống 2G và 3G Đầu cuối đa phương tiện ngoài khả năng tự lựa chọnchế độ còn có thêm khả năng lựa chọn thông số tối ưu cho kết nối đang thực hiện Đầucuối chuyên biệt: được sử dụng kết hợp với các ứng dụng di động khác và chủ yếudùng cho các kết nối chuyển mạch gói
2.5 KẾT LUẬN
Việt Nam đang trong quá trình chuyển giao công nghệ tiến tới thế hệ mạng diđộng 3G và 4G, tiến hành các nghiên cứu lý thuyết ban hành các tiêu chuẩn về giaodiện mạng Hiện giờ các nhà cung cấp và các nhà khai thác đang đề xuất phương ántriển khai thử nghiệm 3G tại các phạm vi hẹp như mạng Vinaphone, Mobiphone Cácnhà khai thác mạng di động hiện tại và các nhà cung cấp mới như Viettel, SPT, ETC,…thực hiện việc nâng cấp mạng dựa trên lộ trình từ 2G, 2.5G đến 3G nhưng trên thực tếvẫn chưa có sự đầu tư trực tiếp nào vào 3G, 4G…Sau thời gian này, chúng ta sẽ cómức độ chủ động cao về các thế hệ mạng di động tương lai
Trang 38CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ DI ĐỘNG 4G
3.1 MÔ HÌNH MẠNG 4G.
3.1.1 Nhược điểm và ưu điểm của mạng 3G và 3.5G
Mạng thông tin di động thế hệ ba WCDMA
Mạng thông tin di động thế hệ ba ra đời khắc phục được các nhược điểm của các mạngthông tin di động thế hệ trước đó Với cấu trúc mạng dùng giao thức IP kết hợp vớicông nghệ ATM hỗ trợ tốc độ lên tới 2Mbps, mạng di động thế hệ ba WCDMA có thể
hỗ trợ người dùng các dịch vụ như: hội nghị truyền hình, truy cập Internet tốc độ cao,download các file dữ liệu kích thước nhỏ…
Tuy nhiên, mạng di động này vẫn còn một số nhược điểm như: luồng dữ liệu tốc độcao được truyền dẫn với tốc độ lớn nhất là 2Mbps, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu củangười dùng, khả năng đáp ứng các dịch vụ thời gian thực như hội nghị truyền hình làchưa cao, rất khó trong việc download các file dữ liệu có kích thước lớn
Mạng thông tin di động thế hệ ba WCDMA chưa đáp ứng được các yêu cầu như: khảnăng tích hợp với các mạng khác (ví dụ: WLAN, WiMax,…) chưa tốt, tính mở củamạng chưa cao, khi đưa một dịch vụ mới vào mạng sẽ gặp rất nhiều vấn đề do tốc độmạng thấp tài nguyên băng tần hạn chế
Mạng thông tin di động thế hệ 3,5G HSDPA và HSUPA
Cuộc cách mạng của thị trường thông tin di động đưa ra các yêu cầu nâng cấp cải tiến
về cả dung lượng lẫn tốc độ truyền dẫn dữ liệu Mạng thông tin di động thế hệ baWCDMA ra đời là một bước phát triển mạnh mẽ về tốc độ và chất lượng dịch vụ Tuynhiên, tốc độ dữ liệu tối đa trong WCDMA chỉ đạt tới 2Mbps Để tăng khả năng hỗ trợcho các dịch vụ dữ liệu chuyển mạch gói, đặc biệt là nâng cao tốc độ truyền dữ liệu,
Trang 39-24-mà trước hết là tốc độ download, 3GPP đã phát triển và chuẩn hoá trong phiên bảnRelease5 một công nghệ mới, đó là công nghệ truy nhập gói download tốc độ cao(HSDPA) với những tính năng mới được đề cập trong các phiên bản R5 của 3GPP cho
hệ thống truy nhập vô tuyến WCDMA/UTRA –FDD và được xem như là một trongnhững công nghệ tiên tiến cho hệ thống thông tin di động 3.5G HSDPA bao gồm mộttập các tính năng mới kết hợp chặt chẽ với nhau để cải thiện dung lượng mạng và tăngtốc độ dữ liệu đỉnh trên 10Mbps đối với lưu lượng gói đường xuống downlink Nhữngcải thiện về mặt kỹ thuật cho phép các nhà khai thác có thể đưa ra nhiều dịch vụ tốc độbit cao, cải thiện chất lượng dịch vụ (QoS) của các dịch vụ hiện có với chi phí thấpnhất Khả năng hỗ trợ tốc độ dữ liệu và tính di động của HSDPA là chưa từng có trongcác phiên bản trước đây của 3GPP
Các khía cạnh kỹ thuật trong nội dung của HSDPA bao gồm:
Phát kênh chia sẻ
Điều chế và mã hoá thích ứng.
Kỹ thuật phát đa mã.
Yêu cầu lặp lại tự động nhanh HARQ.
Mục đích của HSDPA là hỗ trợ truy nhập gói đường xuống tốc độ cao bằng cách sửdụng một kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao (HS-DSCH) và hỗ trợ thoại được tíchhợp trên kênh DCH và dữ liệu tốc độ cao trên kênh HS-DSCH trên cùng một sóngmang Lợi ích của HSDPA cho đường xuống khi hầu hết lưu thông dữ liệu 3G đượctrông đợi đầu tiên là đường xuống Release6 sẽ nói về cải tiến, nâng cấp đường lênHSUPA (High Speed Uplink Packet Access) HSUPA sử dụng tương tự các đặc điểmchính như HSDPA, nhưng thay vì áp dụng cho đường xuống thì nó lại áp dụng chođường lên Điều này sẽ làm tăng tốc độ đường truyền xuống
Trang 40Các mạng thông tin di động thế hệ 3 WCDMA và thế hệ 3.5 HSDPA và HSUPA ra đời
đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng như: tốc độ truyền dữ liệu lêntới 2Mbps đối với mạng WCDMA, 10Mbps đường xuống với công nghệ 3.5G, có thểtruy nhập nhiều dịch vụ như: truyền hình hội nghị, truy cập Internet tốc độ cao,
Tuy nhiên, các mạng di động này còn nhiều nhược điểm như: tốc độ truyền dữ liệu cònthấp dẫn đến chất lượng của các dịch vụ thời gian thực chưa cao, tính di động kém Khingười dùng đi vào vùng phủ sóng của các mạng khác như WLAN, WiMax,…mà khôngnằm trong vùng phủ sóng của mình thì mạng không thể phục vụ người dùng được.Ngoài ra, việc sử dụng IPv4 cũng gây ra các hạn chế như không đủ địa chỉ để khai theoyêu cầu của mạng,…Khả năng triển khai các dịch vụ mới trên các mạng này là rất khó
do hạn chế về tốc độ truyền thông và băng tần Trong tương lai, người dùng mongmuốn được sử dụng nhiều loại hình dịch vụ khác nhau với tốc độ truyền cao lên tớihàng trăm Mbps, có chất lượng tốt, có thể thâm nhập vào mạng từ mọi nơi, có khả năng
sử dụng các dịch vụ mới một cách dễ dàng
3.1.2 Mô hình mạng thông tin di động 4G.
Phạm vi của mạng 4G sẽ bao phủ toàn bộ từ các phần truyền dẫn vô tuyến,truyền dẫn trong mạng lõi đến tận các ứng dụng trên thiết bị đầu cuối Với yêu cầu mộtkiến trúc phân lớp cho hệ thống, nhằm đảm bảo tính mở và tính thích ứng cho hệ thống,các thành phần chức năng trong mạng sẽ được chuẩn hoá theo các chức năng chung vàmỗi chức năng chung này sẽ đại diện cho chức năng trong một lớp Với yêu cầu này,cấu trúc trên cơ sở của bốn lớp chức năng được phân chia tương ứng với bốn phạm vichức năng của các thành phần trong hệ thống mạng
Tính tích hợp hệ thống được giải quyết trên lớp truyền dẫn Các hệ thống sửdụng môi trường truyền vô tuyến được tích hợp chung vào mạng RAN Với mô hìnhnày, các mạng truy nhập vô tuyến được tích hợp vào một môi trường chung, có nghĩa
là thuê bao di động đầu cuối ở bất cứ môi trường truyền vô tuyến nào cũng đảm bảo