1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sang kien day hoc theo ban do tu duy SINH 9

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 9,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách hào hứng, giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não, …

Trang 1

ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC

“cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động

Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh chưa biết cách học, mà chỉ họcthuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ đượckiến thức trọng tâm, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liênquan với nhau

Với đặc trưng riêng của môn Sinh học: môn học nghiên cứu đối tượngsống bao gồm: nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo, các quá trình sinh lí, hóa sinh,các mối quan hệ giữa các tổ chức sống với nhau và với môi trường, sự vận độngcủa thế giới sống qua không gian và thời gian, thì phương pháp chuyển tải bằng

sơ đồ thường mang lại hiệu quả cao

Trong giảng dạy GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ, … và cảlớp có chung cách trình bày giống như cách của GV, chứ không phải do HS tựxây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đếnhình ảnh, màu sắc và đường nét

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu,nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình Vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy - học sẽ dầnhình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cáchnhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài mộtcách hào hứng, giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối

đa tiềm năng của bộ não, …

Việc ứng dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khácnhư vấn đáp gợi mở, thuyết trình, họat động nhóm… có tính khả thi cao gópphần đổi mới PPDH

Trang 2

Mặt khác đổi mới phương pháp dạy và học xưa nay thường gắn nhiều vớikhoa học công nghệ, đòi hỏi hạ tầng cơ sở vật chất tốt Những điều kiện này lạithường khó thực hiện ở vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn VớiBĐTD, nhiều trường học ở các tỉnh vùng sâu, vùng cao vẫn có thể áp dụng Với những lý do trên đã đưa tôi đến chọn đề tài “Ứng dụng Bản Đổ Tư Duytrong dạy và học Sinh học ở cấp THCS”

II – PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu là một trường THCS, cụ thể là học sinh trườngPTDTNT Phó Bảng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Thời gian nghiên cứu trong 2 năm học: năm 2013 – 2014, 2014 – 2015

2 Đối tượng nghiên cứu:

- Là học sinh cấp THCS, là những học sinh từ lớp 6 đến lớp 9, có độ tuổitrung bình từ 11 đến 15 tuổi, và có trình độ nhận thức không đồng đều

III – MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

- Nhằm giúp các em hiểu bài hơn sau mỗi phần bản đồ tư duy Bản đồ tưduy sẽ giúp các em sáng tạo hơn; tiết kiệm thời gian hơn; ghi nhớ tốt hơn; nhìnthấy bức tranh tổng thể; phát triển nhận thức, tư duy…

IV – ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu dựa trên thực tế học sinh của trường PTDTNT Phó Bảng

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra (phỏng vấn, trưng cầu ý kiến, phiếu điều tra…)

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp trò chuyện/đàm thoại

Trang 3

phương pháp dạy học truyền thống là chỉ tập trung nghiên cứu kĩ nội dung dạy

để thiết kế cách truyền đạt kiến thức của thầy

- Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tập trung thiết kếcác hoạt động của trò sao cho họ có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thứcmới dưới sự chỉ đạo của thầy Bởi một đặc điểm cơ bản của hoạt động học làngười học hướng vào việc cải biến chính mình, nếu người học không chủ động

tự giác, không có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lực của người thầy chỉ đem lạinhững kết quả hạn chế

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

- Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá là một hình thức của đổi mớiphương pháp dạy học, và thông qua đó thì giáo viên phải có phương pháp dạysao cho phù hợp Việc đổi mới phương pháp dạy cùng với sự hỗ trợ đắc lực củacác phương tiện kĩ thuật đã và đang phần nào đạt được những yêu cầu đặt ra.Đặc biệt là phương pháp tổ chức hoạt động nhóm của học sinh dưới sự hướngdẫn của giáo viên, dạy giáo án điện tử, ứng dụng các phần mềm công nghệthông tin vào giảng dạy Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi mất rất nhiều thờigian, trong khi một tiết học trên lớp chỉ có 45 phút thì không đủ thời gian chocác hoạt động

- Do Sinh học là môn học đòi hỏi nhiều tư duy để suy luận và vận dụngthực tiễn, kiến thức môn học đa dạng phong phú, đặc biệt là các quá trình về sựsống, các cơ chế của quá trình, lượng kiến thức dài, đa phần là mới và khó,ngoài ra còn có nhiều hình ảnh và đoạn phim mô tả các quá trình tương đối trừutượng trong sinh học như các giai đoạn trong quá trình hô hấp tế bào, diễn biếnquá trình nguyên phân, quá trình giảm phân, …Như vậy, trong quá trình dạy vàhọc chúng ta sẽ thường gặp một số khó khăn:

- Học sinh sẽ tập trung ghi bài mà không tham gia thảo luận nhóm, hoặc chỉtập trung thảo luận nhóm, trao đổi và quan sát hình ảnh mà không ghi bài Nhưvậy, học sinh không thể nắm được ý chính của bài để định hướng học tập

- Mặt khác, hạn chế của học sinh là chưa biết cách học, cách ghi kiến thứcvào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộcnhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật”trong bài học, trong tài liệu tham khảo, hoặc không biết liên tưởng, liên kết cáckiến thức có liên quan với nhau

- Để làm một bài kiểm tra theo hình thức tự luận đòi hỏi học sinh phải đảmbảo được kiến thức trọng tâm, những vẫn đề chính và trình bày các vấn đề theomột hệ thống logic Tuy nhiên qua quan sát từ thực tế giảng dạy thì học sinh cònhạn chế trong việc tư duy để lập luận và trình bày đầy đủ kiến thức

Trang 4

- Tỉ lệ học sinh giỏi từ 0 HS lên 2 HS rồi lên 3 HS

- Tỉ lệ học sinh khá từ 28 HS lên 33 HS rồi lên 42 HS

- Tỉ lệ học sinh trung bình từ 27 HS xuống 14 HS

- Tỉ lệ học sinh yếu từ 9 HS xuống 1 HS

Trang 5

* Nhìn thấy “bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết.

* Kích thích hứng thú học tập của học sinh

* Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức

* Giúp hệ thống hóa kiến thức

2 Cách tạo bản đồ tư duy trong giảng dạy môn sinh học cấp thcs:

Bước 1: Bắt đầu từ một chủ đề chúng ta sẽ ghi lại một từ hoặc một hình ảnhtượng trưng cho ý tưởng đầu tiên

Bước 2: Viết ra hoặc vẽ lại những điều đầu tiên xuất hiện trong đầu khi bắtđầu nghĩ về vấn đề liên quan quanh chủ đề

Bước 3: Khi các ý tưởng nảy sinh, hãy viết ra một hoặc hai từ mô tả ý tưởng

đó trên các nhánh lớn, nhánh nhỏ…

Bước 4: Diễn dịch các ý tưởng dưới dạng các từ ngữ, hình ảnh, số hoặc biểutượng

Bước 5: Sử dụng bút màu để phân biệt các ý tưởng

Bước 6: Thêm các liên kết, các mối liên hệ và có thể kết nối ý phụ với ýchính

a Một số chú ý khi vẽ bản đồ tư duy:

- Màu chữ cùng màu nhánh để dễ phân biệt

- Nên dùng các đường cong

- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm

Trang 6

- Chỉnh sửa, thêm bớt thông tin, thêm bớt nhánh, điều chỉnh sao cho hìnhthức đẹp, chữ viết rõ (trên phần mềm) Nếu vẽ trên giấy, bìa thì nên vẽ phácbằng bút chì trước để có thể tẩy, xóa, điều chỉnh được.

b Những điều cần tránh khi ghi chép:

- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài

- Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết

- Chỉ nên vẽ hình ảnh có liên quan đến chủ đề

- Chọn lọc những ý cơ bản, kiến thức cần thiết

c Lợi ích của phương pháp sử dụng bản đồ tư duy:

Học tập : Người học giảm được khối lượng công việc, cảm thấy thoải máikhi học, ôn bài và làm kiểm tra Ngoài ra, tạo sự tự tin vào khả năng học củangười học

Tổng kết : Có được cái nhìn toàn bộ, bao quát, hiểu được các mối liên hệ Tập trung : Tập trung vào công việc để có kết quả tốt hơn

Dễ nhớ : ‘Thấy’ được thông tin trong đầu

3 Vận dung BĐTD vào thực tế giảng dạy môn sinh học cấp thcs:

a Lập bản đồ tư duy trong việc kiểm tra kiến thức cũ:

- Sử dụng bản đồ tư duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫnphần hiểu của học sinh đối với bài học cũ Các bản đồ tư duy thường được giáoviên sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin cònthiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóatrung tâm

Ví dụ 1: Trước khi học bài “Sự lớn lên và phân chia của tế bào” – Sinh học 6.

Trang 7

Ví dụ 2: Trước khi học bài “Bạch cầu – Miễn dịch” – Sinh học 8

b Lập bản đồ tư duy trong việc dạy kiến thức mới:

cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện

GV có thể giới thiệu BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả cácnhóm HS có chung 1 kiểu BĐTD, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiếnthức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu cần)

* Dạy một nội dung kiến thức của bài

Trang 8

Ví dụ: Khi dạy bài “Hoạt động hô hấp” – Sinh học 8, dựa vào hình 21.2 có

thể cho học sinh hoạt động nhóm lập BĐTD (sơ đồ minh họa)

Ví dụ: Khi dạy bài “Máu và môi trường trong cơ thể” – Sinh học 8, dựa vào

thông tin ở sách giáo khoa có thể cho học sinh hoạt động nhóm lập BĐTD hoặcgiáo viên đặt câu hỏi gợi mở rồi từ từ hình thành một BĐTD (sơ đồ minh họa)

Dạy một nội dung kiến thức của bài.

Ví dụ: Khi dạy bài “Môi trường và các nhân tố sinh thái” – Sinh học

9, dựa vào thông tin SGK, GV có thể cho học sinh hoạt động nhóm lập BĐTD

về các nhân tố sinh thái (sơ đồ minh họa)

Trang 9

* Dạy nội dung kiến thức mới cả bài

Ví dụ: Khi dạy bài:

Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật – Sinh học 9Đột biến gen - Sinh học 9

Bệnh và tật di truyền - Sinh học 9

Tế bào thực vật - Sinh học 6

Châu chấu- Sinh học 7

Rêu- cây Rêu- Sinh học 6

Sự phát tán quả và hạt- Sinh học 6

Trang 13

Giữ hình dạng TB

Bao bọc Chứa bào quan Điều khiển hđ sống của TB

Trang 15

Ví dụ: Khi dạy bài “Tôm sông” – Sinh học 7 (chuyển thành thực hành

quan sát cấu tạo ngoài và hoạt động sống)

d Lập bản đồ tư duy trong việc dạy củng cố kiến thức:

Có thể sử dụng BĐTD củng cố một nội dung của bài học hoặc củng cố cả bài

VD: Khi dạy xong phần I bài “Lớp hai lá mầm và lớp một lá mầm” – Sinh học 6

Trang 16

e Lập bản đồ tư duy trong việc dạy tiết tổng kết ôn tập kiến thức:

Ví dụ: Chương ADN và gen - Sinh học 9

Trang 17

Lớp 9A Tiết TKB: ……Ngày giảng: … tháng 09 năm 2014 Sĩ số: 21 Vắng:

Chương III – ADN VÀ GEN

- Mô hình phân tử ADN

III HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC:

1 Kiểm tra bài cũ:

- Giáo viên thu bài thực hành

2 Bài mới:

* Mở bài

- ADN không chỉ là thành phần quan trọng của NST mà còn liên quan mật thiếtvới bản chất hóa học của gen Vì vậy nó là cơ sở vật chất của hiện tượng di truyền ởcấp độ phân tử

Hoạt động giáo viên Hoạt động học sinh Nội dung

HOẠT ĐỘNG 1:

I - Cấu tạo hóa học của phân tử ADN

- GV: Diễn giải thành phần

hóa học của ADN, đặc biệt

là cấu trúc theo nguyên tắc

đa phân với 4 loại đơn phân

khác nhau, chính đây là yếu

- ADN là một loại axitnuclêic được cấu tạo từ cácnguyên tố C, H, O, N, P

- ADN là đại phân tử cấutạo theo nguyên tắc đaphân mà đơn phân là cácnuclêôtit (gồm 4 loại:adênin (A), timin (T),xitôzin (X), guanin (G)

Trang 18

- HS chú ý

- Tự rút ra kết luận

- ADN có tính đặc thù do

số lượng, thành phần vàđặc biệt là trình tự sắp xếpcác nuclêôtit

- Tính đa dạng và đặc thùcủa ADN là cơ sở phân tửcho tính đa dạng và đặcthù của sinh vật

Trang 19

HOẠT ĐỘNG 2:

II - Cấu trúc không gian và phân tử ADN

- GV: Dựa vào mô hình

phân tử ADN, GV thông

báo về mô hình phân tử

ADN và yêu cầu hs thực

hiện lệnh trong SGK 

+ Các loại nuclêtit nào giữa

hai mạch liên kết với nhau

- HS: Vận dụng nguyên tắc

bổ sung sau đó ghép trình

tự các nuclêôtit trên mạchcòn lại

- Mỗi vòng xoắn có đườngkính 20 o

A, chiều cao 34 o

A

gồm 10 cặp nuclêôtit

- Do tính chất bổ sung của

2 mạch, nên khi biết trình

tự đơn phân của một mạchthì suy ra được trình tự đơnphân của mạch còn lại

- Các nuclêôtit giữa 2 mạchliên kết với nhau thànhthành từng cặp theo nguyêntắc bổ sung A – T, G – X.Tạo nên tính chất bổ sungcủa mạch đơn

Trang 21

IV HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN

- Học tập : Người học giảm được khối lượng công việc, cảm thấy thoải mái

khi học, ôn bài và làm kiểm tra Ngoài ra, tạo sự tự tin vào khả năng học củangười học

- Tổng kết : Có được cái nhìn toàn bộ, bao quát, hiểu được các mối liên hệ

- Tập trung : Tập trung vào công việc để có kết quả tốt hơn

- Dễ nhớ : ‘Thấy’ được thông tin trong đầu

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

I KẾT LUẬN

+ Bản đồ tư duy mang lại hiệu quả tốt cho quá trình Dạy – Học:

- GV: Tiết kiệm thời gian, tăng tính linh hoạt

- HS: Có phương pháp học, tăng tính chủ động sáng tạo, phát triển tư duy + Phần mềm mind mapping hỗ trợ công việc dễ dàng nhanh chóng, dễchỉnh sửa Giúp GV ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả và thiết thực trongquá trình Dạy - Học Để tăng hiệu quả hơn, giáo viên cần vận dụng linh hoạt cácphương pháp dạy và học

Ở đây trên cơ sở bước đầu vận dụng thực tế trong quá trình giảng dạymôn Sinh học, tôi nêu ra những ý kiến có tính chất đề xuất để quý thầy, cô giáotham khảo, thảo luận để phần nào đi đến thống nhất việc sử dụng phương phápdạy học bằng bản đồ tư duy trong môn Sinh học

II BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1/ Kết quả đạt được:

Thông qua kết quả thực tế đã đạt được cho thấy chất lượng trung bình bộmôn được nâng cao khá rõ (từ 92.4% lên 96.2%, tăng 3.8%), trong đó tỉ lệ họcsinh giỏi, khá tăng cao, tỉ lệ học sinh yếu giảm nhiều

Đa số học sinh hứng thú trong việc sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trìnhhọc tập, học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc xác định được nội dungtrọng tâm trong bài học và trình bày kiến thức theo hệ thống Qua sơ đồ tư duyhọc sinh đã xác định được trọng tâm vấn đề dễ dàng hơn, ghi nhớ kiến thứcđược lâu hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian ôn tập Việc sử dụng phươngpháp thuyết trình dựa trên sơ đồ tư duy đã phát huy được tính tích cực, chủ độngsáng tạo của học sinh, rèn kỹ năng mạnh dạn và tự tin khi trình bày trước đámđông

Rèn kỹ năng tự nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu và chuẩn bị bài học trước ởnhà, củng cố tóm tắt kiến thức một cách ngắn gọn, nhanh chóng Đây là mộtphần hết sức quan trọng để hình thành những tư duy mới trong học sinh Nhữngvấn đề nảy sinh trong quá trình tự nghiên cứu này sẽ được đưa ra và thảo luận đểgiải quyết khi đến lớp Nhờ đó, hiệu quả sẽ được nâng cao Xét về mặt nhậnthức, kỹ năng, hình thành ở học sinh khả năng tự giác, tự khám phá tri thức Cónhư thế mới hình thành được những kỹ năng khác thông qua khả năng tự học

Trang 22

2/ Tồn tại cần khắc phục:

Một số học sinh còn lười biếng, chưa thật sự tập trung và đầu tư cho sơ đồ

tư duy của mình, chỉ vẽ lại theo một sơ đồ phân nhánh, chưa xác định được vấn

đề trọng tâm và những vấn đề liên quan còn trình bày dài dòng, chưa thực sự có

ý tưởng để xây dựng một sơ đồ tư duy để củng cố và hệ thống lại kiến thức màvẫn muốn dùng phương pháp học thuộc lòng

Đề tài chỉ nghiên cứu áp dụng trên một số bài ở một số lớp, chưa thực sựđánh giá hết được tính khả thi của nó một cách triệt để Một số học sinh lại lạmdụng nhiều hình vẽ trong sơ đồ theo ý tưởng của mình, như vậy có thể làm mấtthời gian và bị chi phối cho việc tập trung triển khai các ý trong nội dung bài cầnthể hiện trên sơ đồ

III Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu,nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình Vì vậy việc sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) trong dạy - học sẽ dầnhình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cáchnhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài mộtcách hào hứng, giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối

đa tiềm năng của bộ não, …

- Mặt khác đổi mới phương pháp dạy và học xưa nay thường gắn nhiều vớikhoa học công nghệ, đòi hỏi hạ tầng cơ sở vật chất tốt Những điều kiện này lạithường khó thực hiện ở vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn VớiBĐTD, nhiều trường học ở các vùng sâu, vùng cao của tỉnh vẫn có thể áp dụng

IV KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI

Với tính khả thi đã đạt được của đề tài qua quá trình áp dụng, trong nhữngnăm sắp tới, tôi sẽ tiếp tục thực hiện phổ biến trong toàn bộ chương trình sinhhọc lớp 6, 7, 8, 9 và có thể áp dụng ở các môn học khác

V KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT

1 Đối với các cơ quan quản lý giáo dục

Vì lí do dạy bản đồ tư duy đã kích thích tính ghi nhớ, sáng tạo và vậndụng ở HS rất cao Nên tôi kiến nghị với các tổ chuyên môn, yêu cầu giáo viênứng dụng tối đa trong mỗi bài dạy và cả chường trình học để đem lại hiệu quả

Ngày đăng: 11/11/2020, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w