1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường của cơn bão xangsane tại các tỉnh ven biển miền trung

98 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình môi trường liên hiệp quốc đã chỉ ra rằng có 5 ứng dụng chính của lượng giá tổn thất kinh tế thiên tai gồm: i hỗ trợ cho các Bộ ngành, các cơ quan quản lý, các địa phương lựa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

3

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Ngọc Thanh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Phạm Ngọc Anh

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn của mình đến

thầy giáo hướng dẫn trực tiếp là PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh (Trường Đại học

Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), thầy đã cho học viên nhiều kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc, hướng dẫn và rèn luyện học viên trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Bên cạnh đó học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Cán

bộ và các Thầy, Cô trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN Các Thầy, Cô không chỉ trang bị cho học viên những kiến thức chuyên ngành quý báu trong lĩnh vực nghiên cứu quản lý kinh tế, mà còn tạo mọi điều kiện và chỉ bảo tận tình giúp đỡ học viên trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Học viên xin trân trọng cảm ơn chủ nhiệm đề tài : “Nghiên cứu đề xuất mô hình thị trường Cacbon ở Việt Nam” đã tạo điều kiện cho học viện tiếp cận và kế thừa các dữ liệu hữu ích của đề tài

Cuối cùng học viên xin được cảm ơn lãnh đạo Văn phòng Chương trình khoa học công nghệ cấp quốc gia về Tài nguyên môi trường và Biến đổi khí hậu đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học, các bạn đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã luôn chia sẻ, giúp đỡ hỗ trợ học viên trong thời gian hoàn thành khóa học

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Phạm Ngọc Anh

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HÌNH VẼ vii

DANH MỤC B ẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính c ấp thiết 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Kết cấu của báo cáo 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG DO B ÃO GÂY RA 6

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài 6

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài 9

1.1.3 Thiệt hại kinh tế môi trường và lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do bão gây ra 13

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Phương pháp nghiên cứu tại bàn 29

2.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 29

2.3 Phương pháp thống kê, so sánh 30

2.4 Phương pháp lượng giá 30

2.4.1 Lượng giá thiệt hại kinh tế do thiệt hại sức khỏe cộng đồng 31

2.4.2 Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường nước mặt 32

2.4.3 Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm chất thải rắn phát sinh 32

2.4.4 Lượng giá thiệt hại kinh tế do nhiễm mặn đất canh tác 33

Trang 6

iv

2.4.5 Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước giếng 34

2.4.6 Lượng giá thiệt hại kinh tế do sạt lở đất sau thiên tai 34

2.4.7 Lượng giá thiệt hại kinh tế do thiệt hại hệ sinh thái 34

CHƯƠNG 3 LƯỢNG GIÁ KINH TẾ THIỆT HẠI MÔI TRƯỜNG DO CƠN BÃO XANGSANE TẠI CÁC TỈNH VEN BIỂN MIỀN TRUNG 38

3.1 Diễn biến của cơn bão Xangsane 38

3.2 Nhận diện các tác động môi trường do bão gây ra 44

3.3 Lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do cơn bão gây ra ở các tỉnh ven biển miền Trung 45

3.3.1 Thiệt kinh tế do thiệt hại sức khỏe 45

3.3.2 Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường nước mặt (M) 46

3.3.3 Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm chất thải rắn phát sinh (F) 47

3.3.4 Thiệt hại kinh tế do nhiễm mặn đất canh tác (N) 48

3.3.5 Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước giếng (H) 49

3.3.6 Thiệt hại kinh tế do sạt lở đất (S) 50

3.3.7 Thiệt hại kinh tế do thiệt hại sinh thái 51

3.4 Khắc phục hậu quả sau bão 52

3.5 Các vấn đề đặt ra sau khi lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường do bão Xangsane gây ra cho các tỉnh ven biển miền Trung 53

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁPNHẰM CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA VÀ KHẮC PHỤC THIỆT DO B ÃO Ở VIỆT NAM 56

4.1 Chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước về quản lý rủi ro thiên tai 56

4.2 Nhận diện xu hướng thiên tai và thi ệt hại ở Việt Nam 57

4.3 Một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng l ực phòng ngừa và khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra 62

4.3.1 Nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai 62

4.3.2 Lồng ghép quản lý rủi ro thiên tai trong qui hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương 63

Trang 7

v

4.3.3 Tăng cường nguồn lực cho phòng ngừa và khắc phục hậu quả sau thiên tai 664.3.4 Hoàn thiện hệ thống chính sách về tài chính, bảo hiểm rủi ro thiên tai 69

KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

2 BĐKH Biến đổi khí hậu

4 CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

5 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

6 EU Liên minh châu Âu

7 ECLAC Ủy ban Kinh tế châu Mỹ Latinh

8 GDP Gross Domestic Product

9 HEA Phân tích cư trú tương đương

10 IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

11 KTTV Khí tượng thủy văn

12 KTMT Kinh tế môi trường

13 NOAA Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ

14 NSNN Ngân sách nhà nước

15 OECD Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế

16 QLRRTT Quản lý rủi ro thiên tai

23 UBND Ủy ban nhân dân

24 UNEP Chương trình Môi trường Liên hợp quốc

25 VRSAP Mô hình mô phỏng dự báo ngập lụt

26 WB Ngân hàng thế giới

27 WTP Phương pháp dựa trên hành vi thực tế

28 ZTCM Phương pháp chi phí du lịch theo vùng

Trang 9

vii

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Thiệt hại môi trường của bão 15

Hình 2.1 Ước lượng các dịch vụ bị mất đi (A) và các dịch vụ được khôi phục (B) 35 Hình 3.1 Đường đi của bão Xangsane 38

Hình 3.2 Khí áp thấp nhất của bão Xangsane từ ngày 25/9 đến 02/10/2006 41

Hình 3.3 Ảnh mây vệ tinh của bão Xangsane từ ngày 26/9 đêbns 2/10/2006 41

Hình 3.4 Bản đồ mực mặt đất đến 850mb ngày 01/10/2006 42

Hình 3.5 Thông tin về cơn bão Xangsane 42 Hình 4.1 Thiệt hại kinh tế (triệu USD) (1990-2012) do các thiên tai t ại Việt Nam 59

Trang 10

viii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại các tác động môi trường của thiên tai 26

Bảng 2.1 Các phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường sau bão 30

Bảng 3.1 Chi tiết về hoạt động của bão Xangsane 39

Bảng 3.2 Tốc độ gió mạnh nhất quan trắc tại các địa phương 43

Bảng 3.3 Các dạng thiệt hại môi trường sau bão 45

Bảng 3.4 Các bệnh phát sinh sau thiên tai 46

Trang 11

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai

và biến đổi khí hậu Số liệu công bố hàng năm của tổ chức Germanwatch về chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu (Global climate risk index) đã chỉ ra Việt Nam là một trong

10 quốc gia chịu rủi ro khí hậu cao nhất trong giai đoạn 1998 – 2017 Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về Quản lý rủi ro thiên tai và hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu (SREX Việt Nam 2015) đã phân tích, đánh giá thiên tai, các hiện tượng khí hậu cực đoan có tác động lớn tới môi trường tự nhiên, kinh tế

xã hội và phát triển bền vững của Việt Nam

Trong 20 năm qua, theo tổ chức Khí tượng và thiên tai thế giới (WMO), Việt Nam đã phải hứng chịu hơn 800 đợt thiên tai (trung bình 40 đợt/năm) với cường độ

và tần suất ngày càng tăng gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Đặc biệt các thiên tai lớn, có hậu quả nghiêm trọng xảy ra trong giai đoạn 2005-2015

Theo kết quả nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đến kinh tế Việt Nam” của nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế quốc dân (Trần Thọ Đạt, Đinh Đức Trường, Vũ Thị Hoài Thu), tính bình quân trong 15 năm qua, thiên tai đã gây tổn hại khoảng 1,5% GDP hàng năm Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc đã hỗ trợ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nghiên cứu “Định giá tổn thất thiệt hại do tác động của Biến đổi khí hậu tại Việt Nam” Kết quả nghiên cứu công

bố vào tháng 6 năm 2017 cho rằng, trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm, thiên tai làm chết và mất tích trên 300 người, thiệt hại về kinh tế từ 1 – 1,5% GDP Trong một nghiên cứu khác của tổ chức DARA International (năm 2012) về tính dễ bị tổn thương do BĐKH chỉ ra rằng, BĐKH có thể làm Việt Nam thiệt hại khoảng 15 tỉ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP Nếu Việt Nam không có giải pháp ứng phó kịp thời, thiệt hại do BĐKH ước tính có thể lên đến 11% GDP vào năm

Trang 12

đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá lịch sử khác Nói các khác, môi trường cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các loại giá trị và khi sử dụng chúng, bằng cách này hay cách khác thì con người sẽ thu về những lợi ích nhất định

Thiên tai xảy ra có thể tác động tới nền kinh tế và môi trường trong ngắn hạn (1-3 năm), trung hạn (dưới 5 năm) và dài hạn (trên 5 năm) Việc lượng giá thiệt hại

do tác động của thiên tai có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp các thông tin đầu vào trong quá trình quản lý ứng phó thiên tai và BĐKH Chương trình môi trường liên hiệp quốc đã chỉ ra rằng có 5 ứng dụng chính của lượng giá tổn thất kinh tế thiên tai gồm: (i) hỗ trợ cho các Bộ ngành, các cơ quan quản lý, các địa phương lựa chọn và thực thi các giải pháp phục hồi đời sống sản xuất sau thiên tai, (ii) xây dựng các biện pháp chủ động phòng ngừa thiên tai, (iii) là căn cứ cho các giải pháp đầu tư tài chính cho các hệ thống ứng phó giảm thiểu tác động thiên tai và BĐKH và (iv) lập

kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, vùng hoặc của các ngành, có tính đến tác động tiềm năng của thiên tai,(v) lượng giá thiệt hại là căn cứ

để kêu gọi sự cứu trợ sau thiên tai từ Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng quốc tế

và tại khu vực có thiên tai

Trong bối cảnh tác động của BĐKH và thiên tai ngày càng có xu hướng gia tăng tại Việt Nam, trong những năm qua, rất cần thiết phải có sự tính toán, lượng giá ảnh hưởng và tác động đến nền kinh tế và các ngành nghề sản xuất trong ngắn, trung và dài hạn để có thể cung cấp thông tin đầu vào cho các Bộ ngành, nhà quản

lý, các địa phương để chủ động phòng chống, lập kế hoạch ứng phó thiên tai và

Trang 13

3

BĐKH, giải quyết các hậu quả của thiên tai cũng như ổn định đời sống sản xuất của các ngành nghề địa phương trong và sau thiên tai, hạn chế tối đa tác động của thiên tai tới nền kinh tế Bởi lẽ đó, việc xác định các thiệt hại do thiên tai và BĐKH gây

ra đã được coi một trong các nhiệm vụ ưu tiên trong các Chiến lược, Chương trình phát triển và kế hoạch hành động như: Chiến lược quốc gia về phòng, chống giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (2007), Chương trình mục tiêu quốc gia về BĐKH (2008), Chiến lược quốc gia về BĐKH (2011) và Kế hoạch hành động quôc gia về BĐKH (2012), Luật phòng, chống thiên tai 2013,

Luận văn này nghiên cứu lượng giá thiệt hại kinh tế của môi trường do một cơn bão điển hình gây ra tại các tỉnh ven biển Miền Trung, cơn bão được lựa chọn

là Xansane năm 2006 Đây là cơn bão mạnh nhất trong khoảng 20 năm qua tại Việt Nam và sau khi xảy ra thì để lại hậu quả to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường trong ngắn và dài hạn cho vùng và đất nước Việc lượng giá thiệt hại môi trường vì vậy có những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc truy xuất các thiệt hại của thiên tai, góp phần đề xuất với các nhà quản lý các cấp các kế hoạch, các giải pháp đầu tư tài chính nhằm phòng ngừa và ứng phó hiệu quả với thiên tai trong bối cảnh BĐKH

2 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài luận văn hướng tới câu hỏi nghiên cứu chính là:

- Thiệt hại kinh tế môi trường do cơn bão Xangsane gây ra tại các tỉnh ven biển miền Trung đã đặt ra các vấn đề gì cần lưu ý cho các nhà quản lý trong việc chủ động lập kế hoạch và đầu tư tài chính nhằm phòng ngừa và khắc phục thiệt hại

do các cơn bão gây ra?

- Các giải pháp mà chính phủ Việt Nam cần thực hiện để chủ động phòng ngừa và kịp thời khắc phục hậu quả, giảm thiểu thiệt hại do các cơn bão gây ra trong thời gian sắp tới?

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 14

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa, làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về lượng giá kinh tế thiết hại môi trường do các cơn bão gây ra, lấy đó làm cơ sở cho việc hoạch định và đầu

tư tài chính nhằm phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại do bão;

- Lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường của cơn bão Xangsane tại các tỉnh miền Trung, Việt Nam, làm rõ các vấn đề bất cập trong công tác chủ động phòng ngừa và kịp thời khắc phục, giảm thiểu tổn thất kinh tế do bão gây ra;

- Đề xuất một số định hướng giải pháp nhằm chủ động lập kế hoạch phòng ngừa và khắc phục kịp thời các tổn thất do bão có thể gây ra cho Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn: là lượng giá thiệt hại kinh tế

môi trường do các cơn bão gây ra để xác định cơ sở đưa ra các kế hoạch chủ động phòng ngừa và kịp thời khắc phục tổn thất sau bão

Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Luận văn có phạm vi nghiên cứu thực nghiệm không gian là một số tỉnh ven biển miền Trung chịu ảnh hưởng của bão Xangsane gồm từ Hà Tĩnh tới Quảng Ngãi

- Thời gian: Đề tài nghiên cứu dựa trên số liệu ngay trước và sau thời điểm cơn bão Xangsane xảy ra năm 2006 Bên cạnh đó, Luận văn có sử dụng nguồn số liệu thu thập từ các địa phương và Viện Tài nguyên Môi trường biển trong giai đoạn 2006-2010

- Về nội dung: Đề tài được tiếp cận liên ngành trong đó chủ yếu là quản lý

Trang 15

5

kinh tế, theo đó, lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường do bão là khâu then chốt làm

cơ sở thực tiễn cho các nhà quản lý chủ động lập kế hoạch phòng ngừa và khắc phục thiệt hại sau bão Chủ thể quản lý được xác định ở đây là chính phủ Việt Nam

5 Kết cấu của báo cáo

Ngoài phần mở đầu và kết luận, các nội dung của luận văn được trình bày trong

04 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về lượng giá thiệt hại kinh tế do bão gây ra

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường do bão Xangsane gây ra tại các tỉnh ven biển Miền Trung

- Chương 4: Một số giải pháp giảm thiểu thiệt hại môi trường do thiên tai gây ra

Trang 16

6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LƯỢNG GIÁ THIỆT HẠI KINH TẾ MÔI TRƯỜNG DO BÃO

GÂY RA 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước thuộc lĩnh vực đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, Biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến nhanh hơn dự báo và có tác động mạnh mẽ tới nhiều ngành, lĩnh vực Cùng với đó, thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan xảy ra ngày càng nhiều và nghiêm trọng trên qui mô toàn thế giới, gây hậu quả nghiêm trọng tới cuộc sống của con người Thiên tai là hiện tượng tự nhiên, tuy nhiên dưới tác động của con người như phát triển công nghiệp, đô thị hoá quá nhanh cùng với sự gia tăng dân số và khai thác tài nguyên vượt giới hạn đã làm gia tăng mức độ và hậu quả của thiên tai Thiên tai không những đe dọa tính mạng con người mà nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt

động kinh tế- xã hội và phá hủy môi trường

Từ những năm cuối thế kỷ 20, việc đánh giá thiệt hại kinh tế do thiên tai đã xuất hiện trên thế giới Theo thời gian, các kỹ thuật đánh giá và qui trình đánh giá ngày càng được hoàn thiện Kết quả đánh giá ngày càng hợp lý, tin cậy, là nguồn thông tin đầu vào có giá trị cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chương trình, chính sách phục hồi, quản lý rủi ro thiên tai và môi trường hiệu quả

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Các nghiên cứu liên quan đến tác động thiên tai tới hoạt động kinh tế được chia thành ba nhóm chính:

(1) Nhóm thứ nhất bao gồm những nghiên cứu phát triển vi mô ở các vùng địa lý khác nhau trong việc đối phó với những thay đổi bất ngờ về thu nhập và khả năng của các hộ gia đình trong việc phòng chống những biến động đó Nhóm này tập trung nghiên cứu phản ứng của các hộ trước mưa lũ, hạn hán ở các nước đang

Trang 17

7

phát triển Paxon (1972) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian về mưa lũ kết hợp với dữ liệu chéo về thu nhập hộ để nghiên cứu tác động của thiên tai tới thu nhập hộ gia đình Tác giải phát hiện mưa lũ gây tác động mạnh và nghịch biến tới thu nhập nhưng không tác động đến chi tiêu của hộ Hơn nữa, mưa lũ chỉ có tác động ngắn hạn nhưng không có tác động đáng kể đến thu nhập dài hạn

(2) Nhóm thứ hai tập trung nghiên cứu các tác động vĩ mô của thiên tai Công trình nghiên cứu tác động của thiên tai với nền kinh tế lần đầu được thực hiện bởi Albala – Betrarnd (1993) Nghiên cứu này phân tích trên 28 thiên tai xảy ra tại

26 quốc gia từ năm 1960 tới 1979 Kết quả cho thấy thiên tai làm tăng GDP lên 0.4%, tăng sản lượng công nghiệp và xây dựng, tăng thâm hụt ngân sách và thương mại nhưng không có ảnh hưởng tới lạm phát và tỷ giá Noy (2009) nghiên cứu thiên tai tại 109 quốc gia từ năm 1970 đến 2003 và đưa ra kết luận: quốc gia có tỷ lệ biết chữ cao, có thể chế tốt, thu nhập đầu người cao, độ cở mở thương mại lớn, chi tiêu của chính phủ cao hơn thì có thể chịu đựng tốt hơn những cú sốc về thiên thai và ngăn chặn được sự lan tỏa rộng rãi vào nên kinh tế vĩ mô Loayza và các cộng sự (2012) so sánh tác động của thiên tai với những nước đang phát triển và những nước phát triển Nhóm nghiên cứu khảng định bão có ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển nông ngiệp tại các nước đang phát triển nhưng với các nước phát triển thì không ảnh hưởng Động đất có tác động tích cực tới phát triển công nghiệp tại các

nước phát triển và lũ lụt bình thường (Moderate Floods) có ảnh hưởng tích cực tới

phát triển nông nghiệp

Tác động đồng biến lên GDP trong nghiên cứu của Alalba và Betrarnd được cho là dòng đầu tư tăng lên sau thiên tai để bù đắp cho tài sản bị phá hủy Hallegatte (2007) gọi hiện tượng này là “phá hủy tạo tác“tương tự như khái niệm được Shumpeter (2008) giới thiệu, trong trường hợp này hàm ý rằng phá hủy dẫn tới tăng đầu tư Trong đó tác giả sử dụng phương pháp ước lượng đơn gải bằng cách kết hợp

kỹ thuật hiệu ứng cố định bình phương nhỏ nhất cho ba giai đoạn (Fixed Effect Three Stage Least Square) với phương pháp hệ thống hóa ước tính điểm Blundell – Bond để kiểm soát hiệu ứng phản hồi giữa các biến va sự hiện diện của các biến trễ

Trang 18

8

(3) Nhóm thứ ba nghiên cứu thiên tai trong một quốc gia với một tình huống

cụ thể Tác giả Horwich đã phân tích tác hại của trận động đất Kobe năm 1995 ở Nhật Bản Tác giả cung cấp số liệu và thông tin của Kobe trong 19 tháng sau thiên tai và rút ra bài học cho các nước khác Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của đầu tư nhân lực trong phát triển kinh tế Tất cả các tài sản vốn bị hủy hoại đều được khôi phục nhanh chóng khi yếu tố con người được bảo vệ và chuẩn bị kỹ càng

Selcuk và Yeldan (2001) đã quan sát trận động đất xảy ra năm 1999 tại Thổ Nhĩ Kỳ Các tác giả đã sử dụng phương pháp cân bằng tổng thể để đánh giá các thiệt hại Họ cho rằng tác động ban đầu của trận động đất lên GDP ở trong khoảng -4.5 tới +0.8 GDP, phụ thuộc vào chính sách được chính quyền hoặc các nhà tài trợ quốc tế thực thi Giải pháp khắc phục hồi tài sản bị phá hủy và giảm tác động tiêu cực của trận động đất được đề xuất là thực hiện chính sách giảm thuế gián tiếp thông qua các trợ cấp của chính phủ cho những thành phần kinh tế tư nhân

Một nghiên cứu về tác động của động đất lên nạn di cư đã được Jaramillo nghiên cứu năm 2006 Tác giả đã sử dụng dữ liệu bảng về người lao động và hộ gia đình di dân từ Elsavado sang Mỹ để kiểm nghiệm tác động của trận động đất năm

2001 lên nạn di cư sang Mỹ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trận động đất làm giảm lượng người di cư sang Mỹ, xác xuất trung bình của mức di cư lên phương Bắc giảm 337.11% cho mỗi độ lệch chuyển đo lường mức thiệt hại của trận động đất Tác giả kết luận việc giảm di cư là một chiến lược đối phó của người dân khi họ giữ lao động ở lại trong nước để khắc phục hậu quả thiên tai chứ không phải thiên tai làm giảm nguồn tài chính đáp ứng cho việc di cư

Tác giả Okuyama đã nghiên cứu mối quan hệ giữa nạn phá rừng và thiên tai Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hậu quả nghiêm trọng của trận lốc xảy ra tháng 10/1999 ở vùng bờ biển Orissa, Ấn Độ là do nạn phá rừng làm tăng tác động tiêu cực của thiên tai Thiên tai đã giết hại hàng nghìn người trong vòng vài phút

Trong một nghiên cứu khác, Brown & cộng sự (2006) cũng cho thấy cơn sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 giết hại hơn 300.000 người là hậu quả gián

Trang 19

9

tiếp của nạn phá rừng xung quanh khu vực này Ở Việt Nam, tác giả Ngọc Cẩm (2011) cũng chỉ ra nguyên nhân của trận lụt năm 2010 gây tổn thất nghiêm trọng về người và của là hậu quả trực tiếp của nạn phá rừng trên thượng nguồn

Noy và Nualsri (2007) khẳng định thiên tai gây ra những thiệt hại tài sản lớn nhưng không có tác động dài hạn lên tăng trưởng, trong khi những thiệt hại về người lại làm giảm tăng trưởng dài hạn Paxon (1992) nghiên cứu tác động của mưa

lũ lên thu nhập hộ gia đình tại Thái Lan, trong đó làm giảm thu nhập ngắn hạn nhưng không có tác động dài hạn Ngược lại Hallstrom, (2008) nghiên cứu ảnh hưởng dài hạn của bão Iniki lên quần đảo Haiwai và khảng định bão Iniki làm giảm 12% dân số và nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn sau 18 năm bão xảy ra, đồng thời cũng làm giảm thu nhập đầu người tại các quần đảo này

Gần đây, mô hình kiểm soát tích hợp (synthetic control) cũng được phát triển

và sử dụng trên thế giới để đánh giá những tác động trong trung và dài hạn của thiên tai tới nền kinh tế Phương pháp này được giới thiệu lần đầu tiên bởi Abadie (2003)

và sau đó được lặp lại trong nghiên cứu của Abadie và cộng sự (2010) Trong phương pháp này, dữ liệu được chia thành hai nhóm: Nhóm kiểm soát và nhóm xử

lí Thông qua việc tạo lập mô hình tăng trưởng kinh tế của các vùng kiểm soát và vùng xử lý, có thể bóc tách được tác động nhóm nhân tố ảnh hưởng (thiên tai) để từ

đó tạo dựng kịch bản phát triển kinh tế của khu vực bị ảnh hưởng trong trường hợp không có thiên tai Thông qua so sánh các kịch bản phát triển có và không có thiên tai, có thể tính được phần tác động của thiên tai tới sự phát triển kinh tế trong cả ngắn, trung và dài hạn, thậm chí là các ngành tại khu vực bị ảnh hưởng

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực đề tài

Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra, đặc biệt là các nghiên cứu mang tính hệ thống gồm cả thiệt hại trực tiếp, gián tiếp, trước mắt và lâu dài của các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan và thiên tai Mặc dù, đã có một số nghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh của thiệt hại sau thiên tai nhưng mới chỉ dừng ở mức đánh giá ngắn hạn và trên một phạm vi nghiên cứu cụ thể là một vùng/tỉnh nào đó nên tính khái quát không cao

Trang 20

10

Năm 2001, Cục Bảo vệ môi trường đã thưc hiện nghiên cứu “Đánh giá lũ lụt miền Trung năm 1999 và Tổng kết thiệt hại về môi trường sau lũ” Nghiên cứu đã xác định được các vấn đề môi trường do lũ lụt gây ra đối với khu vực miền Trung

và đề xuất một số biện pháp phòng ngừa Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra khảo sát tình hình lũ lụt và tình trạng môi trường thực tế, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê số liệu về thiệt hại nhằm xác định các vấn đề môi trường do

lũ lụt gây ra Kết quản nghiên cứu đã đưa ra nhận định về mức độ ô nhiễm với một

số yếu tố môi trường có tiêu chuẩn so sánh

Năm 2007, Tác giả Nguyễn Việt đã nghiên cứu, đánh giá tác động của thiên tai đến khu vực Chân Mây- Lăng Cô (Huế) Nghiên cứu chủ yếu phân tích tác động của các loại hình thiên tai đến các ngành, lĩnh vực hoạt động kinh tế tại khu vực Chân Mây- Lăng Cô Nội dung nghiên cứu đã đánh giá mức độ tác động của từng loại hình thiên tai đến từng ngành, từng lĩnh vực trong đó có cả môi trường Kết quả đánh giá tác động chỉ dừng lại ở mức định tính với các mức tác động cụ thể: không, yếu, vừa, mạnh Kết quả nghiên cứu đã xác định được một số loại hình thiên tai gây ảnh hưởng lớn đến môi trường của khu vực Chân Mây- Lăng Cô là bão, lụt, sự cố công nghiệp và sạt lở đất

Năm 2008, Viện Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường đã thực hiện Nghiên cứu “Điều tra, xác định nguyên nhân và đánh giá ảnh hưởng của thiên tai (bão, lũ lụt) đến môi trường và đề xuất giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục ô nhiễm tại các vùng đông dân cư, phân lũ, thoát lũ và khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi lũ lụt” Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê xác định được các ảnh hưởng của cơn bão số 5 năm 2007 đến môi trường các tỉnh: Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Nghiên cứu sử dụng phương pháp ma trận để đánh giá mức độ ảnh hưởng của bão, lũ lụt đến môi trường một cách bán định lượng, với 05 mức độ ảnh hưởng là: rất nhẹ, nhẹ, trung bình, tương đối nặng, nặng tương ứng với các mức phần trăm thiệt hại từ thấp đến cao

Trang 21

11

Năm 2010, tác giả Đinh Đức Trường và Ngô Thị Vân Anh đã tiến hành lượng giá thiệt hại môi trường do tác động của cơn bão tháng 7/2009 tại Thừa Thiên Huế Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng các mô hình lan tỏa để đánh giá phạm vi không gian ảnh hưởng của lũ, sau đó nhận diện 6 nhóm giá trị trực tiếp và gián tiếp của tài nguyên và môi trường bị mất đi trong ngắn hạn và trung hạn tại Huế để lượng giá Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật lượng giá thị trường thực, thị trường so sánh và thị trường giả định để đánh giá giá trị của tài nguyên môi trường

bị mất do lũ, sụt lở sau bão

Năm 2009, tác giả Đinh Đức Trường cùng với các đồng nghiệp đã tiến hành một nghiên cứu lượng giá về thiệt hại môi trường và sinh thái biển do tác động của tác nhân gây thiệt hại tại Quảng Nam gây ra tại vùng biển Hội An, cửa Đại và Cù Lao Chàm năm 2007 Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng nhiều nhóm kỹ thuật lượng giá hiện đại để tính toán ra các giá trị tài nguyên, môi trường và sinh thái bị mất đi do tác động của tác nhân gây thiệt hại, là cơ sở để đưa ra các giải pháp ứng phó, đề bù thiệt hại và phòng ngừa sự cố Trong đó phương pháp lượng giá Đánh giá cư trú tương đương là một kỹ thuật hiện đại được Cục quản lý đại dương

và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) sử đụng dể lượng giá các dịch vụ mất đi của hệ sinh thái đã được tác giả lần đầu áp dụng tại Việt Nam để lượng giá giá trị thiệt hại của san hô và cỏ biển tại Cù Lao Chàm do tác nhân gây thiệt hại Kỹ thuật đánh giá ngẫu nhiên theo mô hình đấu giá cũng được sử dụng để lượng giá thiệt hại cảnh quan tại Cù Lao Chàm và Cửa Đại

Nghiên cứu tác động Đầu tư trực tiếp nước ngoài tới môi trường sinh thái tại Việt Nam của tác giả Đinh Đức Trường (2013-2015) đã sử dụng mô hình hồi qui mảng để nhận diện tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nước thải, chất thải rắn và khí thải tại Việt Nam Mô hình cấp quốc gia và mô hình cấp doanh nghiệp được ước lượng sử dụng các chuỗi số liệu của Ngân hàng thế giới và Điều tra tổng thể doanh nghiệp Việt Nam (2010 và 2014)

Trang 22

12

Tác giả Phạm Ngọc (2015) cũng nghiên cứu đánh giá thiệt hại lũ tại ĐBSCL, trong đó sử dụng mô hình VRSAP để mô phỏng và dự báo các tình trạng ngập lụt tiềm ẩn do các trận lũ với nhiều tần suất khác nhau gây ra cho ĐBSCL như độ sâu ngập, thời gian ngập, diện tích ngập phân bổ theo không gian Sau đó phối hợp với các hàm số thiệt hại để lượng giá những thiệt hại trực tiếp lũ gây ra cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng tại khu vực nghiên cứu

Ở cấp độ vĩ mô hơn, Vũ Băng Tâm và Eric Iksoom Im (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa thiên tai và hoạt động nội thương, đầu tư vào nhà ở và thu nhập

hộ gia đình Kết quả khảng định thiên tai không có tác động đáng kể đến thu nhập đầu người nhưng lại có tác động đồng biến lên đầu tư nhà ở và hoạt động nội thương Lê Đăng Trung (2013) sử dụng phương pháp khác biệt kép (difference in difference) nhằm nghiên cứu tác động của bão Damrey đối với mức sống hộ gia đình của Việt Nam Kết quả cho thấy sản lượng lúa gạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng thu nhập từ nông nghiệp thì không bị ảnh hưởng Nghiên cứu này cũng chỉ ra tiêu dùng của người dân bị ảnh hưởng bởi bão bị thay đổi Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, đứng đầu là Thomas (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến phúc lợi xã hội tại Việt Nam Kế quả cho thấy 23% phúc lợi bị giảm do bão và lũ lụt, đối với những thành phố có dân số đông hơn 500.000 người, mức giảm này là 52% Vũ Băng Tâm và Ilan Noy (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng gián tiếp của thiên tai đến GDP và tốc độ phát triển GDP của Việt Nam Kết quả cho thấy thiên tai gây ra nhiều người chết sẽ làm giảm sản lượng đầu ra của nền kinh tế

Trong một nghiên cứu khác cũng ở cấp độ vĩ mô, nhóm tác giả Bùi Trinh, Lê

Hà Thanh và Đinh Đức Trường (2011) đã sử dụng mô hình Đầu vào – Đầu ra (Input – Ouput) để tính toán tác động môi trường liên ngành liên vùng tại Việt Nam, trong

đó có dự báo tác động và lượng chất thải trong các ngành kinh tế theo các kịch bản phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2010 -2020

Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh và nhóm thực hiện thuộc Đại học quốc gia Hà Nội đã thực hiện nghiên cứu lượng giá thiệt hại của BĐKH với ngành thủy sản khu

Trang 23

13

vực Miền Bắc Việt Nam, trong đó dựa trên kịch bản BĐKH của Bộ TNMT để ước tính những tác động từ nước biển dâng, thay đổi nhiệt độ, lượng mưa đến năng suất, sản lượng của nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh phía Bắc từ Hà Nội đến Quảng Bình và hai tỉnh Bắc Trung Bộ là Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Kỹ thuật lượng giá chủ yếu là thay đổi năng suất dựa trên giá thi trường có điều chỉnh theo thời gian Nhóm đề tài đã nghiên cứu sự thay đổi trong chi phí, doanh thu và lợi nhuận của ngành thủy sản tại khu vực nghiên cứu, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp ứng phó để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong bối cảnh BĐKH

1.1.3 Thiệt hại kinh tế môi trường và lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do bão gây ra

1.1.3.1 Các khái niệm liên quan

Khái niệm môi trường

Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (Điều 1, 2014)

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,

sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên."

Theo chức năng, môi trường được phân thành 02 loại: Môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội

- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Môi trường tự nhiên cung cấp đầu vào cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt như: cung cấp không khí, đất, nước, nguyên vật liệu, năng lượng, đồng thời môi trường cũng là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt

Trang 24

14

động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Khái niệm kinh tế môi trường

Kinh tế môi trường nghiên cứu các vấn đề về môi trường theo quan điểm và phương pháp phân tích của kinh tế học Cũng giống như tất cả các môn kinh tế học khác, kinh tế môi trường quan tâm đến vấn đề cơ bản là phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm cho các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh thông qua công cụ lượng giá và phân tích lợi ích - chi phí

Kinh tế môi trường có sự khác biệt với các môn học kinh tế khác ở chỗ kinh

tế môi trường tập trung xem các hoạt động kinh tế của con người gây ảnh hưởng như thế nào đến môi trường tự nhiên và ngược lại Kinh tế môi trường hướng tới việc phân tích các nguyên nhân và hậu quả của cấc vấn đề môi trường và tìm ra các giải pháp công cụ chính sách quản lý sử dụng môi trường tối ưu dưới góc độ kinh

tế, hướng tới sự phát triển bền vững (Nguyễn Thế Chinh 2003)

Khái niệm thiệt hại kinh tế của môi trường

Theo Tunner (2009), trong điều kiện thông thường nếu không có các sự cố hay suy thoái môi trường xảy ra thì các hệ sinh thái và môi trường là một loại tài

sản cung ứng các dòng hàng hóa và dịch vụ cho hệ thống kinh tế (gọi là trạng thái nền baseline services) Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố thì các qui trình, cấu trúc và

chức năng của hệ sinh thái sẽ thay đổi, từ đó dẫn đến sự cắt đứt hoàn toàn hoặc giảm sút số lượng và chất lượng dịch vụ cung cấp cho hệ thống kinh tế so với trạng thái thông thường Sự thay đổi này cũng được thể hiện thông qua những thay đổi trong hàm sản xuất và hàm lợi ích của các cá nhân Đó chính là các thiệt hại kinh tế của sự cố/ô nhiễm/suy thoái môi trường Đánh giá thiệt hại môi trường, về lý thuyết phải xác định được sự chênh lệch giữa phúc lợi tạo ra bởi hai trạng thái môi trường trong hàm sản xuất và tiêu dùng của các cá nhân bị tác động Ví dụ: giá trị du lịch bị giảm do sự cố tràn dầu, giá trị phòng hộ của rừng bị suy giảm sau bão lũ, năng suất nông nghiệp giảm do ô nhiễm đất sau bão vv

Trang 25

15

Thiệt hại kinh tế môi trường do thiên tai gây ra (gồm bão, lũ)

Theo mục 8, Điều 3, Chương 1 của Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), sự cố môi trường được hiểu là “các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng” Thiên tai bão lũ được coi là một dạng cụ thể của sự cố môi trường Như vậy, thiên tai bão lũ được coi là một tác nhân làm suy giảm trạng thái dịch vụ nền của hệ sinh thái do những thay đổi trong quá trình, cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái tương ứng

[Nguồn: Dixon J (1999)] Hình 1.1 Thiệt hại môi trường của bão

Phân loại thiệt hại do thiên tai gây ra

Năm 1999, Ủy ban Kinh tế châu Mỹ Latinh và vùng Caribean (ENCLAC) đã xuất bản cuốn ‘Sổ tay đánh giá tác động kinh tế- xã hội của thiên tai’ Theo ENCLAC, thiên tai có thể gây ra các thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp

Trang 26

16

Các thiệt hại trực tiếp

Các thiệt hại trực tiếp bao gồm sự suy giảm một phần hoặc toàn phần các tài sản, tài nguyên vật chất hữu hình hoặc giá trị của các dịch vụ ngay khi thảm họa xảy

ra Thiệt hại này cũng bao gồm các chi phí cho sự ứng cứu các vấn đề phát sinh ngay khi thảm họa xảy ra cũng như các chi phí khắc phục những sự tổn thất tài sản trực tiếp sau thảm họa

Các thiệt hại gián tiếp

Thiệt hại gián tiếp là các thiệt hại liên quan đến lưu lượng hàng hóa và dịch

vụ Tổn thất này thường chưa được thể hiện ngay khi xảy ra thảm họa mà chỉ thể hiện từ sau thảm họa một thời gian và có thể trải dài đến hết cả quá trình tái thiết và khôi phục Thông thường người ta đưa một mức khung tối đa cho khoảng thời gian này là 5 năm dù cho hầu hết các tổn thất chỉ xuất hiện trong 2 năm đầu Trong bất

cứ tình huống nào, sự đánh giá các thiệt hại này phải được mở rộng trong khoảng thời gian cần để phục hồi một phần hay toàn bộ khả năng sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ đã bị ảnh hưởng bởi thảm họa Những tổn hại gián tiếp cũng bao gồm những khoản chi phí gia tăng cho việc cung cấp các dịch vụ thiết yếu bổ sung cũng như phần thu nhập kỳ vọng của các dòng hàng hóa, dịch vụ đáng ra có được nếu thiên tai không xảy ra Sau đây là một số trường hợp cụ thể của thiệt hại gián tiếp

Theo EU (2006), trước khi đánh giá thiệt hại kinh tế- xã hội do thiên tai cần phải phân loại rõ ràng các loại thiệt hại Thuật ngữ “thiệt hại’ dùng để chỉ toàn bộ các tác động tiêu cực của thiên tai Các tác động này có thể bao gồm: sự suy giảm sức khỏe của người dân, thiệt hại về cơ sở hạ tầng, về các di sản văn hóa, về hệ sinh thái, về các ngành sản xuất và dịch vụ cũng như toàn bộ sức mạnh của nền kinh tế

Cũng theo EU thì các thiệt hại của thiên tai có thể được chia thành hai nhóm chính Nhóm 1 bao gồm các thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Nhóm 2 gồm thiệt hại hữu hình và thiệt hại không rõ ràng

- Thiệt hại trực tiếp: bao gồm toàn bộ những thiệt hại vật chất tức thời do thiên tai tác động lên con người, tài sản và môi trường Các ví dụ cụ thể là thiệt hại

Trang 27

17

về nhà cửa, đường xá, mùa màng, vật nuôi, thiệt hại sức khỏe, các hàng hóa sinh thái Các giá trị này thường được đo bằng giá thị trường

- Thiệt hại gián tiếp: là những tổn thất gây ra bởi sự suy giảm mối liên hệ vật

lý và kinh tế trong nền kinh tế cũng như các chi phí cứu hộ khẩn cấp hoặc chi cho các hành động phòng ngừa tác động của thiên tai Ví dụ, dòng hàng hóa sản xuất của doanh nghiệp bị suy giảm, suy giảm nguồn cung và cầu hàng hóa, thiệt hại do giao thông đình trệ và các dòng dịch vụ khác Các thiệt hại gián tiếp thường được

đo thông qua dòng giá trị

- Thiệt hại hữu hình: có thể dễ dàng lượng hóa bằng tiền như thiệt hại tài sản, suy giảm giá trị sản xuất

- Thiệt hại không rõ ràng: bao gồm suy giảm sức khỏe, suy giảm các dịch vụ của hệ sinh thái Các tổn thất này thường không có giá thị trường và khó lượng hóa dưới dạng tiền tệ

1.1.3.2 Nguyên tắc và lợi ích của việc lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do thiên tai gây ra

(1) Nguyên tắc lượng giá thiệt hại

Theo EU (2006), việc đánh giá thiệt hại do thiên tai có thể được nhìn nhận trên quan điểm cá nhân và quan điểm xã hội Đánh giá trên quan điểm cá nhân (phân tích tài chính) nhìn nhận các thiệt hại từ góc độ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức và thường chỉ quan tâm đến các thiệt hại trực tiếp và hữu hình của thiên tai (tài sản, sức khỏe, dòng vật chất và giá trị sản xuất) Đánh giá trên quan điểm xã hội (phân tích kinh tế) không chỉ quan tâm đến những thiệt hại trực tiếp, hữu hình mà còn bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp và không rõ ràng Kết quả của đánh giá kinh tế thường được sử dụng trong hoạch định và thiết kế các chính sách công cộng

để quản lý thiên tai Để có được một đánh giá kinh tế chi tiết, cần phải tuân thủ một

số nguyên tắc đánh giá nhất định, đó là:

Thứ nhất, xác định một phạm vi không gian và thời gian phù hợp để đánh giá Một đánh giá cho dù chi tiết đến mức nào cũng không thể bao gồm toàn bộ các thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do thiên tai gây ra, vì vậy phải xác định những tác

Trang 28

Thứ ba, cần nhìn nhận giá trị tổng số (stock) và giá trị dòng (flow) là hai mặt của giá trị kinh tế Theo quan điểm kinh tế, giá trị của một hàng hóa có thể được diễn đạt theo hai cách Một mặt giá trị tổng số được đo bằng giá thị trường Mặt khác, hàng hóa có thể được coi là một loại vốn, có thể là yếu tố đầu vào của một quá trình có thể tạo ra thu nhập cho người sở hữu nó Giá trị của các thu nhập kỳ vọng thu về từ việc sử dụng vốn này cũng có thể được coi là giá trị của nó Vì vậy, khi tính toán không được tính tổng hai loại giá trị này đồng thời vì sẽ gây ra tình trạng tính trùng

Thứ tư, cần nhìn nhận giá trị thời gian của tiền khi tính toán Tiền có giá trị theo thời gian tức là cùng một lượng tiền tại các thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau Nguyên nhân có thể là do lạm phát làm tiền mất giá, khả năng đầu tư làm cho tiền sinh lợi, rủi ro và kỳ vọng Chính vì vậy, khi các thiệt hại qui đổi ra tiền phát sinh ở các thời điểm khác nhau trong dòng thời gian thì phải qui đổi chúng

về cùng một thời điểm đồng nhất Do đó, mỗi nghiên cứu phải lựa chọn một tỉ lệ chiết khấu phù hợp Tỉ lệ này tùy thuộc vào hoàn cảnh và trường hợp tính toán cụ thể, chiết khấu phụ thuộc vào rủi ro và chi phí cơ hội xã hội của tiền

Trang 29

19

(2) Mục đích lượng giá thiệt hại

Tác động tới nền kinh tế khi thiên tai xảy ra có thể là tác động ngắn hạn, trung hạn và có thể tác động dài hạn (Cavallo và Noy 2011) Việc lượng giá thiệt hại do tác động của thiên tai có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp các thông tin đầu vào trong quá trình quản lý ứng phó thiên tai và BĐKH Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP -2005) đã chỉ ra có 5 ứng dụng chính của lượng giá tổn thất kinh tế thiên tai gồm: (i) hỗ trợ cho các Bộ ngành, các cơ quan quản lý, các địa phương lựa chọn và thực thi các giải pháp phục hồi đời sống sản xuất sau thiên tai, (ii) xây dựng các biện pháp chủ động phòng ngừa thiên tai, (iii) là căn cứ cho các giải pháp đầu tư tài chính cho các hệ thống ứng phó giảm thiểu tác động thiên tai và BĐKH và (iv) lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, vùng hoặc của các ngành, có tính đến tác động tiềm năng của thiên tai, (v) lượng giá thiệt hại là căn cứ để kêu gọi sự cứu trợ sau thiên tai từ Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng quốc tế và tại khu vực có thiên tai

(3) Xác định chủ thể sử dụng kết quả nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận theo hướng quản lý kinh tế Vì vậy, chủ thể ứng dụng kết quả nghiên cứu là cơ quan quản lý nhà nước về BĐKH và rủi

ro thiên tai, để có cơ sở lựa chọn và thực thi các giải pháp nhằm hạn chế các thiệt hại về kinh tế, môi trường do thiên tai gây ra và phục hồi môi trường sau thiên tai cũng như đề xuất nhu cầu cứu trợ phù hợp

1.1.3.3 Xác định các thiệt hại môi trường do thiên tai gây ra

Ban chỉ đạo phòng chống Trung ương đã ban hành hướng dẫn đánh giá thiệt hại

và nhu cầu cứu trợ do thiên tai gây ra tại Việt Nam Theo hướng dẫn, các thiệt hại

do thiên tai gây ra được xác định gồm:

- Thiệt hại về người

- Thiệt hại về nhà ở (bao gồm các tài sản gắn liền)

- Thiệt hại về giáo dục (trường học, phòng học, bàn ghế, sách vở, trang thiết bị giáo dục, số học sinh và giáo viên bị ảnh hưởng)

Trang 30

- Thiệt hại về thủy lợi (đê, kè, công trình thủy lợi khác)

- Thiệt hại về giao thông (quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn, đường sắt, cầu, cống, phương tiện giao thông)

- Thiệt hại về thủy sản

- Thiệt hại về thông tin liên lạc

- Thiệt hại về nươc sạch và vệ sinh môi trường

- Thiêt hại về các công trình khác (công trinh văn hóa, trụ sở cơ quan, chợ, trung tâm thương mại,…)

1.1.3.4 Nội dung lượng giá thiệt hại KTMT do thiên tai gây ra

Để thực hiện đánh giá thiệt hại kinh tế về tác động của thiên tai nói chung và bão nói riêng, các chuyên gia môi trường phải xây dựng kế hoạch tổng thể thực hiện việc lượng giá này Trong kế hoạch thực hiện phải có sự hợp tác chặt chẽ với các chuyên gia đa ngành và các nhà kinh tế

Nội dung lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do thiên tai gây ra bao gồm:

(1) Đánh giá hiện trạng của môi trường trước thiên tai

Để đánh giá đúng các tác động thực sự do thiên tai, tình hình môi trường trước thiên tai phải được đánh giá Giai đoạn này bao gồm thu thập, phân loại và mô

tả các điều kiện môi trường liên quan (tài nguyên, các hệ thống tự nhiên hoặc nhân tạo, đa dạng sinh học) khu vực đang được nghiên cứu và các khu vực khác bao gồm trong phạm vi được chính thức công nhận là bị ảnh hưởng

Ngoài việc xác định tác động của thiên tai, quá trình này góp phần phân tích mối liên hệ giữa mức độ thiệt hại do thiên tai và sự xuống cấp của môi trường trước

sự kiện Ví dụ, trong đánh giá thiệt hại do cơn thiên tai Mitch ở Trung Mỹ (Tháng 10/1998), người ta đã xác định được rằng những ảnh hưởng nghiêm trọng của các

Trang 31

21

cơn mưa ngày càng trầm trọng hơn do những hành động trước đây của con người và các thảm hoạ trước đó (hiện tượng El Nino năm 1997-1998 ), như mất rừng và mất lớp phủ thực vật trên sườn dốc, sử dụng đất không hợp lý và sự có mặt của các khu định cư của con người trong các khu vực có nguy cơ như vùng ngập lũ và sườn núi Việc so sánh các ảnh hưởng của một sự kiện tự nhiên cực đoan giữa các khu vực có mức độ suy thoái môi trường lớn hơn và thấp hơn sẽ làm nổi bật vai trò của tình trạng môi trường trong việc giảm thiểu hoặc tăng cường thiệt hại

Để mô tả trạng thái của môi trường trước thiên tai, cần thu thập rất nhiều thông tin cơ bản Chuyên gia về môi trường sẽ sử dụng một loạt các bước cơ bản, ghi chép lại thông tin, nhật ký hoặc giao thức và ghi rõ ngày và nguồn Các hồ sơ này phục

vụ không chỉ cho thông tin của chính nhóm nghiên cứu mà còn để cho phép theo dõi và áp dụng trong các đánh giá tương tự sau này Quá trình thu thập thông tin gồm các bước sau:

- Thu thập và thu thập các tài liệu cơ bản và các nguồn thông tin liên quan đến vấn đề và khu vực đang được nghiên cứu, sử dụng các cơ sở dữ liệu cá nhân, thư viện và cơ sở dữ liệu, sách báo, báo cáo chính thức của các tổ chức độc lập, các

tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp tư nhân) và các nguồn thứ cấp (các bài báo, tạp chí, trang web Internet, .);

- Truy cập thư viện lưu trữ của các tổ chức chính phủ và các tổ chức phi chính phủ, liệt kê danh sách liên lạc, người đứng đầu dự án, người phát ngôn hoặc đại diện đặc biệt có liên quan đến nghiên cứu thiên tai;

- Lập kế hoạch phỏng vấn cá nhân, phối hợp với các đầu mối quốc gia có liên quan và được chỉ định;

- Gặp gỡ những người có trách nhiệm, các chuyên gia kỹ thuật được chỉ định và các nhân vật khác có kiến thức và trách nhiệm hoặc thông tin liên quan đến sự kiện;

- Luật và các quy định về tiếp cận, khuôn khổ pháp lý của quốc gia, tỉnh hay vùng trong các khía cạnh quản lý môi trường, kiểm soát môi trường, quản lý đầu nguồn, bảo tồn môi trường và đa dạng sinh học cũng như phòng ngừa khẩn cấp,

Trang 32

22

phối hợp và chuẩn bị tổ chức, (công trình, cơ sở hạ tầng, môi trường)

Quá trình thu thập thông tin, số liệu phục vụ đánh giá hiện trạng môi trường được gắn liền với phương pháp nghiên cứu và đánh giá bàn giấy Quá trình này được thực hiện từng ngày, trước và sau các cuộc họp với các chuyên gia tham gia vào việc đánh giá thiệt hại, sử dụng thông tin có sẵn cho đến thời điểm đó Điều kiện đầu tiên để đánh giá chất lượng môi trường của khu vực hoặc không gian bị ảnh hưởng bởi thiên tai là phải có thông tin tốt, đầy đủ và đáng tin cậy Hồ sơ về các điều kiện môi trường tự nhiêu là nguồn thông tin, dữ liệu được ưu tiên sử dụng, cụ thể về:

- Các báo cáo về thiên tai trong quá khứ và các báo cáo sơ bộ về thảm hoạ đang được bàn đến; Bản đồ về các khu vực sống động và động thực vật tiềm năng

và thực tế, về việc sử dụng đất tiềm năng và thực tế;

- Bản đồ, báo cáo địa chất, địa mạo;

- Bản đồ thời tiết và điều kiện địa chất thuỷ văn;

- Hệ thống thông tin địa lý (GIS) ở các tỷ lệ 1: 200.000, 1: 50.000, 1:10.000

và 1:5.000 Tùy thuộc vào diện tích và phạm vi của khu vực cần đánh giá để lựa chọn tỷ lệ cho phù hợp Ví dụ với khu vực rộng lớn chỉ cần sử dụng các tỷ lệ 1:200.000 và 1:50.000

- Các tư liệu trên trang web, phim ảnh, ảnh vệ tinh, bản đồ cứu trợ Thông tin

về các chuyến đi thực địa cần được mô tả chi tiết để có sự so sánh giữa vùng bị ảnh hưởng và các khu vực không bị ảnh hưởng

Tất cả các tài liệu này sẽ cho phép định nghĩa chính xác hợp lý về tình trạng của môi trường trước và sau thảm họa xảy ra Thu thập thông tin này sẽ cho phép chuyên gia môi trường thực hiện nghiên cứu định tính và định lượng toàn diện Việc đánh giá hiện trạng môi trường cần xác định các lĩnh vực và khía cạnh nghiên cứu trọng tâm Hay nói cách khác, cần giới hạn phạm vi đánh giá, tập trung

Trang 33

- Nguồn gốc của sự hình thành đất đai (các đặc điểm đặc biệt, bất thường);

- Các khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi các khu bảo tồn), hoặc các

hệ sinh thái;

- Khu vực động vật hoang dã quan trọng;

- Các khu vực quan trọng để duy trì các hệ thống tự nhiên (đẻ trứng, nở, sinh

đẻ, khu vực nuôi, khu vực thu gom nước, các hệ thống hỗ trợ quan trọng);

- Các khu vực quan trọng để duy trì các loài hữu ích cho nông nghiệp, nuôi

cá, chăn nuôi,

- Các quần thể, quần xã thực vật hoặc động vật đặc hữu;

- Các quần thể, quần xã sinh vật có thể được sử dụng để phục hồi lại và phục hồi sinh thái;

- Nơi cư trú đặc biệt (hiếm hoặc độc nhất)

(2) Phân tích tác động của thiên tai đối với môi trường

Các loại thiên tai khác nhau thường liên quan đến các dạng động lực thay đổi

bề mặt trái đất

Loại thứ nhất liên quan đến các hiện tượng động lực học nội bộ bị chi phối bởi các lực và các quy trình địa vật lý nội tại là vỏ trái đất, bao gồm hoạt động địa chấn và hoạt động kiến tạo mảng, hoạt động mảng trong lòng đất, và núi lửa

Loại thứ hai liên quan đến các hiện tượng khí tượng thuỷ văn chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy trình khuyếch tán vĩ mô hoặc khổng lồ trên toàn cầu, như gió

Trang 34

24

mùa, hội tụ nhiệt đới, lưu thông Hadley và Walker, hiện tượng El Nino (ENSO), sóng và thiên tai nhiệt đới Nhóm này cũng bao gồm các quá trình động lực có ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ hơn như địa phương hoặc khu vực ven bờ, với các hiện tượng thiên tai như lốc, nước bẩn, thiên tai địa chấn Một số trong những hiện tượng này phát triển trong tầng bình lưu (ví dụ, tầng ozone)

(3) Đánh giá định tính môi trường do tác động của thiên tai

Trong đánh giá tác động môi trường do thiên tai gây ra, không phải lúc nào cũng có thể cung cấp một giá trị tuyệt đối (định lượng) về tác động môi trường Việc định lượng chỉ được thực hiện dễ dàng khi có con số chính xác cho một biến môi trường và các thông số được thành lập bởi cơ quan kiểm soát môi trường Trong trường hợp nguồn số liệu thu thập chư đảm bảo đầy đủ, các chuyên gia có thể

sử dụng đánh giá định tính về môi trường Cách đánh giá này dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia và dựa vào các tài liệu thích hợp để đưa ra một ước tính đầy đủ, hợp

lý và nhất quán

Trên cơ sở các nghiên cứu hiện trạng môi trường đã được tiến hành và đã có những phân tích, trao đổi thông tin liên ngành, chuyên gia môi trường sẽ có thể đánh giá tầm quan trọng chung của các lớp thay đổi trong toàn bộ hệ thống Một trong những đề xuất nghiên cứu về sự phát triển của con người nên sử dụng sáu đánh giá tiêu cực và bốn đánh giá tích cực về những ảnh hưởng đối với bất kỳ hệ thống tự nhiên hoặc nhân tạo nào Các đánh giá dựa trên các kết quả có thể xảy ra từ quan sát, kinh nghiệm chuyên môn, ma trận môi trường hoặc các mô hình được sử dụng và dữ liệu được tạo ra bằng cách phân tích một dự án hoặc bằng cách áp dụng các hành động nhân tạo vào một môi trường nhất định trong không gian và thời gian Phương pháp định tính này có thể được sử dụng trong trường hợp thiên tai do hiện tượng thiên nhiên cực đoan gây ra

Việc đánh giá này phải là khách quan, nên được thực hiện sau khi hoàn thành việc nghiên cứu các đặc điểm của môi trường, về kiểm kê môi trường và các phân tích như được yêu cầu bởi tình hình hoặc theo các điều khoản tham chiếu của tổ chức

Trang 35

25

đánh giá Có 06 lớp tác động tiêu cực được sử dụng trong đánh giá, cụ thể như sau:

- Lớp Zero Impact: Không đáng kể hoặc rất ít, với môi trường phục hồi nhanh chóng hoặc với chi phí phòng ngừa và phục hồi tối thiểu hoặc rất thấp

- Lớp tác động không đáng kể hoặc tối thiểu: Tác động định lượng không ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống Phục hồi trong ngắn và trung hạn; vấn đề, thay đổi, thay đổi và thiệt hại là không đáng kể khi lợi ích thu được từ hiện trạng được đưa vào tài khoản

- Lớp tác động vừa phải: Thay đổi được ghi nhận, nhưng giới hạn trong một khu vực tương đối hạn chế Tác động khu vực yếu; phục hồi ngắn hạn; các vấn đề vừa phải hoặc chấp nhận được; giảm nhẹ đơn giản và rẻ tiền

- Lớp tác động nghiêm trọng: Sự thay đổi rất rõ nét khu vực hoặc rất rộng Phục hồi trong ngắn và trung hạn nếu các biện pháp giảm nhẹ thích hợp được thực hiện Mức độ khó chịu và bất tiện của tác động là lớn và việc giảm nhẹ là rất tốn kém

- Lớp tác động rất nghiêm trọng: Những hậu quả rất lớn, nặng nề và có hại trong khu vực Khả năng phục hồi từng phần hoặc toàn phần với chi phí rất cao trong trung và dài hạn Có ít lựa chọn hơn để sử dụng tài nguyên trong tương lai Trong trường hợp phát triển, nó biểu thị một mối đe dọa vĩnh viễn đối với tài nguyên, sức khoẻ hoặc sự sống

- Lớp tổng tác động: Mặc dù chỉ bị hư hỏng một phần, hệ thống không thể phục hồi; phá hủy là tổng số Mất các lựa chọn để sử dụng tài nguyên trong tương lai Trường hợp phát triển con người đượcthực hiện, nó sẽ được bắt buộc tiến hành

để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Trong tình huống thiên tai, phục hồi tự nhiên

có thể diễn ra trong thời gian rất dài (hơn 25 năm)

Các lớp tác động môi trường của thiên tai được tóm tắt tại Bảng 1.1 sau đây

Trang 36

26

Bảng 1.1 Phân loại các tác động môi trường của thiên tai

Tác động môi trường

Chất lượng môi trường bị ảnh hưởng

Mức độ thiệt hại

Thời gian phục hồi

Chi phí phục hồi

không bị

Mức độ rất hạn chế

Ngắn và trung hạn Trung bình

Tác động nghiêm trọng

Khá nghiêm trọng

(4) Phân loại và đánh giá tác động đối với môi trường

Bước tiếp theo là phân loại các ảnh hưởng của thiên tai đối với môi trường dưới dạng thiệt hại trực tiếp và gián tiếp nhằm làm cho chúng phù hợp với phương pháp đánh giá kinh tế

Thiệt hại trực tiếp do thay đổi về số lượng hoặc chất lượng tài sản môi trường (thay đổi môi trường) như: mất đất và thảm thực vật, mất chất lượng và / hoặc lượng nước, thay đổi động lực của hệ sinh thái vv Sự gián đoạn nguồn vốn do con người ngăn cản (hoặc làm cho nó tốn kém hơn), việc sử dụng các tài sản môi trường cũng được coi là thiệt hại trực tiếp: sự phá vỡ các mạng lưới phân phối nước hoặc các cơ sở xử lý nước; gián đoạn mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông khiến không thể tiến hành các hoạt động liên quan đến việc sử dụng hàng hoá

và dịch vụ môi trường; và như vậy

Trang 37

27

Thiệt hại gián tiếp bao gồm sửa đổi dòng chảy của hàng hoá và dịch vụ môi trường phát sinh từ việc tạm thời không có khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên môi trường do thiệt hại do thiên tai gây ra đối với việc phục hồi vốn tự nhiên và / hoặc do con người tạo ra

Sau khi các tác động môi trường đã được xác định và phân loại là thiệt hại trực tiếp và gián tiếp, bước tiếp theo là định lượng và đánh giá chúng Đây là giai đoạn khó khăn nhất của nhiệm vụ đánh giá, chủ yếu là do những hạn chế thời gian,

và chất lượng của thông tin là rất quan trọng

Quá trình định lượng xác định mức độ của các tác động môi trường đã được xác định: diện tích rừng bị cháy hoặc đất bị xói mòn, độ dài bãi biển bị hư hỏng, giảm khối lượng đánh bắt cá, dòng chảy giảm của nước, sự có mặt của các chất ô nhiễm trong nước, số lượng các thành viên cá nhân của một loài bị giết và như vậy Quá trình đánh giá đặt giá trị kinh tế lên các tác động môi trường đã được xác định Trong hầu hết các trường hợp, định lượng được đưa ra trước khi đánh giá, mặc dù định lượng không phải lúc nào cũng cần thiết để gán một giá trị cho hiệu ứng môi trường

(5) Lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường

Mục đích lượng giá thiệt hại là để xác định mức độ ảnh hưởng đến các nguồn lực và dịch vụ môi trường và về nền kinh tế của quốc gia hoặc khu vực bị ảnh hưởng Cuối cùng cũng cho phép đề xuất các chiến lược và kế hoạch khôi phục môi trường sau khi thiên tai đã xảy ra

Như đã đề cập ở trên, có một số loại giá trị môi trường riêng biệt Các giá trị

sử dụng được áp dụng khi hàng hoá và dịch vụ góp phần vào sự thịnh vượng của người dân bắt nguồn từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các giá trị phi sử dụng không liên quan đến bất kỳ việc sử dụng trực tiếp hay gián tiếp nào và phát sinh từ những lợi ích tâm lý có được từ sự hiểu biết về nguồn tài nguyên (giá trị hiện tại) hoặc mong muốn bảo toàn nguồn vốn tự nhiên cho các thế hệ tương lai giá trị thừa kế) Các giá trị tùy chọn được định nghĩa là những lợi ích thu được từ việc bảo tồn

Trang 38

28

các lựa chọn cho việc sử dụng một nguồn lực cụ thể khi không chắc chắn về khả năng sử dụng trong tương lai hoặc khả năng cung cấp trong tương lai của nó

Chỉ có một vài hàng hóa hoặc tài sản về môi trường có thể được đo trực tiếp

về giá trị thị trường Do đó, các phương pháp gián tiếp thường được sử dụng để ước tính chúng Các phương pháp gián tiếp cung cấp các phép đo khách quan về thiệt hại do các nguyên nhân khác nhau và chúng cho phép xác định và đo lường các mối quan hệ thể chất mô tả mối quan hệ nhân quả

1.1.3.5 Các ứng dụng chính của lượng giá tổn thất kinh tế thiên tai đối với các nhà quản lý

(i) Hỗ trợ cho các cơ quan quản lý, các địa phương lựa chọn và thực thi các giải pháp khắc phục sau thiên tai

(ii) Xây dựng các biện pháp chủ động phòng ngừa thiên tai

(iii) Là căn cứ cho các giải pháp đầu tư tài chính cho các hệ thống ứng phó giảm thiểu tác động thiên tai và BĐKH

(iv) Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, địa phương, vùng hoặc của các ngành, có tính đến tác động tiềm năng của thiên tai

(v) Lượng giá thiệt hại là căn cứ để kêu gọi sự cứu trợ sau thiên tai từ Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng quốc tế và tại khu vực có thiên tai

Trang 39

29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu tại bàn

Phương pháp nghiên cứu tại bàn đã được sử dụng trong việc hệ thống hóa toàn

bộ các tài liệu, các nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài, bao gồm: Tổng quan các nghiên cứu về lượng giá thiệt hại kinh tế môi trường do thiên tai gây ra tại Việt Nam và trên thế giới, các nội hàm liên quan đến lượng giá thiệt hại kinh tế (khái niệm, quan điểm, lý thuyết và các mô hình nền tảng lượng giá), các quan điểm, định hướng về quản lý phòng, tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai,

Ngoài việc tổng quan những cơ sở và mô hình lý thuyết của lượng giá, đề tài cũng tìm hiểu những kinh nghiệm, qui trình và phương pháp đã được sử dụng để lượng giá thiệt hại trên thế giới và tại Việt Nam, tìm hiểu sự thích hợp của các qui trình đó với Việt Nam, đặc biệt là những khía cạnh mới trong các qui trình được cập nhật cũng được ứng dụng trong nghiên cứu này

Phân tích hệ thống thể chế và pháp lý về quản lý rủi ro thiên tai cũng được tiến hành với một số quốc gia thế giới và Việt Nam Việc phân tích bối cảnh và thực trạng pháp lý thế giới giúp Việt Nam hiểu rõ hơn về những đặc thù và sự phát triển trong thể chế quản lý sự cố trên thế giới, đồng thời rút ra bài học cho Việt Nam để hoàn thiện thể chế của mình theo hướng đáp ứng tốt tốt hơn nhu cầu quản lý trong bối gia tăng thiên tai và biến đổi khí hậu

2.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Tác giả đã sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn tại hiện trường nhằm thu thập các số liệu hiện trạng môi trường và các hoạt động khắc phục hậu quả sau thiên tai tại địa phương do bão gây ra

Thông tin điều tra: hiện trạng môi trường đất, nước, không khí, các thiệt hại do bão gây ra tại địa phương Tình hình dịch bệnh, các bệnh truyền nhiễm xảy ra tại địa phương ngay sau bão Các chi phí đầu tư khắc phục hậu quả sau bão tại địa phương,

Đối tượng điều tra: Các hộ dân sinh sống ở các vùng chịu tác động trực tiếp của bão, cán bộ quản lý môi trường địa phương, ban chỉ huy phòng chống lụt bão và rủi

ro thiên tai cấp xã, huyện, tỉnh các địa phương chịu ảnh hưởng của bão

Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý nhà nước

và TNMT tại các tỉnh Miền Trung về thiên tai, hệ thống pháp lý và thể chế ứng phó

Trang 40

30

với thiên tai, những khó khăn khi ứng phó từ góc độ quản lý Các khía cạnh pháp lý

và tổ chức thực hiện quản lý rủi ro thiên tai, các gợi ý và đề xuất của các nhà quản

lý để hoàn thiện thể chế quản lý và giảm nhẹ thiên tai

Các chuyên gia pháp lý, các nhà nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu cũng được phỏng vấn trong quá trình xây dựng phương pháp, qui trình lượng giá thiệt hại và kết nối giữa kết quả lượng giá với hoàn thiện thể chế quản lý rủi ro thiên tai tại Việt Nam

2.3 Phương pháp thống kê, so sánh

Tác giả cũng sử dụng kết hợp số liệu thống kê của các cơ quan thống kê địa phương, số liệu thực địa của Viện Tài nguyên và môi trường biển để có cơ sở đối chiếu, so sánh

2.4 Phương pháp lượng giá

Luận văn đã nghiên cứu tổng quan các phương pháp lượng giá, đặc biệt các phương pháp lượng giá kinh tế thiệt hại môi trường do thiên tai gây ra Trong phạm

vi nghiên cứu thực nghiệm của đề tài về lượng giá thiệt hại kinh tế do bão Xangsane gây ra, đề tài đã sử dụng một số phương pháp lượng giá cụ thể như: phương pháp giá thị trường, phương pháp chi phí thay thế, chi phí sức khỏe và phân tích cư trú tương đương (HEA);

Để lượng giá các thiệt hại về môi trường do bão Xangsane gây ra, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp và mô hình lượng giá khác nhau (chi tiết như Bảng 2.1 sau đây)

Bảng 2.1 Các phương pháp lượng giá thiệt hại môi trường sau bão

 Giảm năng suất của quá trình sản xuất

 Dịch bệnh phát sinh

 Dịch bệnh phát sinh

 Giảm năng suất của quá trình sản xuất

 Giá thị trường

 Chi phí phục hồi (xử lý)

Ngày đăng: 11/11/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w