đề tài “ Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn lớp 12chương trình Chuẩn của học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Kon Tum” Trên cơ sở nghiên cứu lí luận để nhận thức chính xác một số phương diện quan trọng và cần yếu của khoa học đánh giá. Từ đó, đối chiếu với thực tiễn hoạt động QL KTĐG KQHT ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Kon Tum để tìm hiểu nguyên nhân, rút ra bài học cũng như đề xuất các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả và khả thi, nhằm tăng cường hoạt động KTĐG KQHT, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Kon Tum.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 3
Danh mục các sơ đồ, bảng, biểu đồ trong luận văn 4
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 10
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 10
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.2 Các khái niệm cơ bản 12
1.3 Những vấn đề lí luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 21
1.4 Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông với việc quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 27
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KON TUM 33
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Kon Tum 33
2.1.2 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Kon Tum 34
2.1.3 Tình hình phát triển Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum 35
2.2 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá và quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 39
2.2.1 Tổ chức và phương pháp điều tra .39
2.2.2 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên và học sinh các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 41
2.2.3 Thực trạng công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 52 2.3 Nhận định đánh giá chung về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá
Trang 2và quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 57
2.3.1 Ưu điểm 57
2.3.2 Hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân 59
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KON TUM 62
3.1 Các cơ sở xây dựng biện pháp 62
3.1.1 Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 62
3.1.2 Cơ sở lí luận và thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá và quản lý công tác kiểm tra, đánh giá ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 63
3.2 Các biện pháp quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Kon Tum 64
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về công tác kiểm tra, đánh giá 64
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực kiểm tra, đánh giá cho đội ngũ giáo viên 66
3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao năng lực tự kiểm tra, đánh giá cho học sinh 68
3.2.4 Biện pháp 4: Cải tiến qui trình kiểm tra, đánh giá 70
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho việc kiểm tra, đánh giá 76
3.2.6 Biện pháp 6: Cải tiến việc thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý kiểm tra, đánh giá 79
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.4 Khảo nhiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 2.1 Quy mô trường lớp, học sinh các trường THPT tỉnh Kon Tum 36
Bảng 2.2 Cơ cấu, chất lượng cán bộ quản lý các trường THPT 37
Bảng 2.3 Số lượng, cơ cấu giáo viên THPT 38
Bảng 2.4 Chất lượng học tập của học sinh THPT 38
Bảng 2.5 Nhận thức về các chức năng KTĐG 41
Bảng 2.6 Yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kiểm tra, đánh giá 42
Bảng 2.7 Việc xây dựng câu hỏi kiểm tra, đánh giá 43
Bảng 2.8 Những yêu cầu của giáo viên khi KTĐG HS 43
Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các hình thức KTĐG của GV trong các tiết dạy hàng ngày 44
Bảng 2.10 Mức độ sử dụng các hình thức KTĐG của giáo viên trong các bài kiểm tra định kỳ (45 phút, cuối học kỳ) 45
Bảng 2.11 Hiệu quả sử dụng các hình thức KTĐG của giáo viên 45
Bảng 2.12 Kỹ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị của giáo viên 46
Bảng 2.13 Ý kiến của học sinh về việc xác định căn cứ KTĐG 48
Bảng 2.14 Ý kiến của học sinh về yêu cầu để đạt kết quả cao trong KTĐG 49
Bảng 2.15 Ý kiến của học sinh về các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả KTĐG của bản thân 49
Bảng 2.16 Mức độ cung cấp văn bản hướng dẫn KTĐG 51
Bảng 2.17 Mức độ trang bị các trang thiết bị sử dụng trong KTĐG 52
Bảng 2.18 Công tác xây dựng kế hoạch KTĐG học kỳ, năm học của giáo viên 52
Bảng 2.19 Công tác xây dựng kế hoạch KTĐG trong mỗi chương, phần, bài học của GV 53
Bảng 2.20 Công tác xây dựng đề kiểm tra 53
Bảng 2.21 Hình thức tổ chức kiểm tra 1 tiết, kiểm tra cuối học kỳ 54
Bảng 2.22 Hình thức chấm bài kiểm tra 54
Bảng 2.23 Công tác quản lý kiểm tra đánh giá 55
Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 84
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ điểm bình quân hệ số 1, hệ số 2, hệ số 3, môn Toán lớp 11 của trường THPT Kon Tum 74
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ chức năng quản lý 16
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân loại đang từng bước quá độ sang nền kinh tế tri thức Giáo dục thế giớiphát triển nhanh chóng với những xu hướng biểu hiện rõ rệt: đại chúng hóa, thịtrường hóa, đa dạng hóa và quốc tế hóa Hòa trong xu thế chung của thời đại, khoahọc giáo dục Việt Nam cũng không ngừng thay đổi
Tuy nhiên sau hơn 10 năm triển khai cho đến nay, thực trạng giáo dục vẫn
đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần khắc phục, cần “đổi mới căn bản, toàn diện” Dường như nhiều tuyên ngôn rất đúng và hay về mục tiêu, định hướng đổi
mới về chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau nghị quyết 40, Quốc Hội khóa
X (2000) vẫn chưa thực hiện được; nhiều tư tưởng rất tiến bộ nhằm đổi mới phươngpháp dạy học chưa được vận dụng trong dạy học hàng ngày PGS TS Đỗ NgọcThống đã nhận định như vậy; đồng thời ông lý giải: Một trong những nguyên nhânchính của tình trạng vừa nêu là do chúng ta chưa thực sự mạnh dạn đổi mới đánhgiá, kiểm tra, thi cử
Đã có nhiều tài liệu tổng kết và nêu lên những tồn tại về đánh giá kết quả ởnhà trường phổ thông trong thời gian qua Đây là một nhận định khá tiêu biểu:
“Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo yêu cầu khách quan, chính xác, công bằng; việc kiểm tra đánh giá chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức đã dẫn đến tình trạng giáo viên và học sinh duy trì dạy học theo lối đọc-chép thuần túy, học sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng quy trình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn mang tính chủ quan của người dạy Hoạt động kiểm tra đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học
và hiệu quả Các hoạt động đánh giá định kỳ, đánh giá diện rộng quốc gia, đánh giá quốc tế chưa được tổ chức theo hướng đồng bộ, hiệu quả Tình trạng học sinh quay cóp tài liệu, đặc biệt là chép bài của nhau trong khi thi cử, kiểm tra còn diễn
ra phổ biến Cá biệt vẫn còn tình trạng giáo viên làm bài hộ học sinh trong thi cử, kiểm tra, kể cả trong các kỳ đánh giá diện rộng (đánh giá quốc gia, đánh giá quốc
tế).”
Trang 6(Trích: Bộ GD&ĐT-2012; Đề án “Xây dựng trường phổ thông đổi mới đồng bộphương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục giai đoạn 2012-2015”).
Thực tế hiện nay, trong các nhà trường THPT tỉnh Kon Tum, nhận thức vềhoạt động kiểm tra-đánh giá (KT-ĐG) ở một số bộ phận cán bộ quản lý (CBQL),giáo viên (GV) và nhân dân chưa được đúng đắn, chưa được đầy đủ; năng lực độingũ CBQL, GV về hoạt động KT-ĐG còn nhiều hạn chế; điều kiện về tài chính, cơ
sở vật chất của các nhà trường Trung học phổ thông (THPT) phần lớn chưa đáp ứngđược nhu cầu đổi mới KT-ĐG, điều đó gây trở ngại lớn cho đổi mới hoạt động KT-
ĐG và phát triển giáo dục
Đổi mới hoạt động KT-ĐG kết quả học tập (KQHT) của học sinh (HS) cáctrường THPT tỉnh Kon Tum hiện nay chưa đồng bộ, chưa thống nhất, chưa có sựthay đổi lớn, nhìn chung còn mang tính tự phát
Từ lí luận đến thực tiễn cho thấy đánh giá KQHT của HS ở tỉnh Kon Tum,nhất là ở các môn khoa học xã hội và nhân văn - khu biệt có môn Ngữ văn, chưađược xây dựng thành một khoa học và tính chuyên nghiệp còn rất thấp Dưới đây làmột số biểu hiện:
+ Đánh giá còn bị chi phối nhiều yếu tố chủ quan, cảm tính kể cả định tínhlẫn định lượng
+ Các hình thức và phương pháp đánh giá còn đơn điệu, chủ yếu là đánh giátổng kết; trong đánh giá tổng kết chủ yếu là hình thức viết; coi nhẹ nói, ít chú ýđánh giá thực hành Và ngay cả đánh giá viết thì đề bài (hệ thống câu hỏi kiểm tra)vẫn chủ yếu yêu cầu tái tạo, sử dụng trí nhớ nhiều hơn là vận dụng và đòi hỏi sángtạo
+ Công cụ đánh giá, phương pháp và kỹ thuật xử lý kết quả còn lạc hậu.Nguồn lực phục vụ cho kiểm tra đánh giá vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ, làm hạn chếviệc áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá hiện đại
* Yêu cầu tìm ra những giải pháp cụ thể, phù hợp trong quản lý (QL)
KT-ĐG KQHT của HS để tạo mặt bằng chung trong hoạt động đo lường tri thức ở cácđối tượng HS ngày càng cấp bách
Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài “ Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra-đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh các
Trang 7trường THPT tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học
chuyên ngành Quản lý giáo dục, với mong muốn tìm ra những biện pháp phùhợp, nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới hoạt động KT-ĐG KQHT của HS ở cáctrường THPT tỉnh Kon Tum, nâng cao hiệu quả hoạt động KT-ĐG KQHT mônNgữ văn của HS, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại địaphương
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận để nhận thức chính xác một số phương diệnquan trọng và cần yếu của khoa học đánh giá Từ đó, đối chiếu với thực tiễn hoạtđộng QL KT-ĐG KQHT ở các trường THPT tỉnh Kon Tum để tìm hiểu nguyênnhân, rút ra bài học cũng như đề xuất các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả vàkhả thi, nhằm tăng cường hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn, góp phần nângcao chất lượng đào tạo ở các trường THPT tỉnh Kon Tum
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lí hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của HS ở cáctrường THPT trên địa bàn tỉnh Kon Tum
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp QL của Hiệu trưởng đối với hoạt động KT-ĐG KQHT môn
Ngữ văn của HS ở các trường THPT tỉnh Kon Tum
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Hoạt động quản lý KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của HS ở các trường THPTtỉnh Kon Tum hiện nay tuy đã có nhiều cải tiến những vẫn còn nhiều bất cập trênnhiều phương diện Nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp QL của Hiệu trưởng vềhoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của HS một cách phù hợp thì có thể tácđộng tích cực đến việc giảng dạy của GV và học tập của HS, góp phần nâng caochất lượng dạy học của môn Ngữ văn nói riêng, nâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo của các trường THPT tỉnh Kon Tum nói chung
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường, quản lý hoạt động KT-ĐG KQHT (nói chung), KT-ĐG KQHT môn Ngữ
Trang 8văn của HS (nói riêng) của Hiệu trưởng ở các trường THPT.
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng về quản lý của Hiệu trưởng
đối với hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của HS ở các trường THPT tỉnhKon Tum
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về KT-ĐG KQHT mônNgữ văn của HS ở các trường THPT tỉnh Kon Tum nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục hiện nay
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa các tư liệu nhằm xác lập những cơ sở
lí luận của vấn đề nghiên cứu
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia: xây dựng và hoàn chỉnh bộ công cụ điều tra, lấy
ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia, các CBQL có kinh nghiệm, GV giảng dạylâu năm có uy tín xung quanh vấn đề về hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văncủa HS
- Phương pháp điều tra: đối tượng là CBQL, GV dạy Ngữ văn các trường
THPT; kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh đối chiếu để tìm ra nhữngthông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động chuyên môn liên quan đến
hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của HS tại các trường THPT và công tác
QL hoạt động này của các trường được nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tiến hành sưu tầm, nghiên cứu và phân
tích kinh nghiệm hoạt động của CBQL, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quảhoạt động QL
6.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
- Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học: thu thập các số liệu thống kê
và phân tích các số liệu thống kê Xử lí phân tích các kết quả điều tra bằng bảng hỏicủa phương pháp điều tra
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận vànhóm phương pháp nghiên cứu bổ trợ là cơ sở cần thiết hỗ trợ cho nhóm phương
Trang 9pháp nghiên cứu thực tiễn Trong nhóm nghiên cứu thực tiễn, khi thực hiện đề tàitác giả đã chú trọng đến các nhóm phương pháp điều tra khảo sát, phương phápchuyên gia và phương pháp quan sát để tìm hiểu thực trạng một cách cụ thể, chínhxác, từ đó đề ra những giải pháp cần thiết, phù hợp hơn
7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tỉnh Kon Tum có 24 trường THPT thuộc các địa bàn khác nhau bao gồm khuvực thành phố, khu vực nông thôn; vùng sâu - vùng xa, trường có chất lượng giáo dụccao và trường có chất giáo dục còn thấp, trường được thành lập lâu năm và trường mớithành lập, trường THPT và phổ thông DTNT Chúng tôi tiến hành khảo sát mẫu là 10trường đại diện cho các địa bàn và các loại trường nói trên Đó là các trường:
+ Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, tỉnh Kon Tum+ Trường phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Kon Tum
+ Trường THPT Kon Tum, thành phố Kon Tum+ Trường THPT Lê Lợi, thành phố Kon Tum + Trường THPT Ngô Mây, thành phố Kon Tum+ Trường THPT Duy Tân, thành phố Kon Tum+ Trường THPT Trần Quốc Tuấn, huyện Đăk Hà+ Trường THPT Nguyễn Văn Cừ, huyện Đăk Tô+ Trường phổ thông Dân tộc Nội trú Đăk Tô, huyện Đăk Tô+ Trường THPT Quang Trung, huyện Sa Thầy
Thời gian khảo sát: học kì II năm học 2013 - 2014
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
- Phần mở đầu
- Phần nội dung, gồm 3 chương:
+ Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động KT-ĐG KQHT (nói chung),
KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn (nói riêng) của học sinh trường THPT
+ Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn
của học sinh ở các trường THPT tỉnh Kon Tum
+ Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động KT-ĐG KQHT môn Ngữ văn của
học sinh ở các trường THPT tỉnh Kon Tum
- Phần kết luận và khuyến nghị
Trang 10- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA-ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP (NÓI CHUNG), KT-ĐG KQHT
MÔN NGỮ VĂN (NÓI RIÊNG) CỦA HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về QL KT-ĐG trên thế giới và các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Trên thế giới, QL KT-ĐG rất được quan tâm Đã có nhiều công trình nghiêncứu: Mô hình đánh giá theo mục tiêu (Goal-based Model) hay mô hình E B Taylor;
mô hình CIPP do L D Sutufflebeam đề xuất năm 1966; mô hình đánh giá sự khácbiệt (Discrepansy Evaluation Model) do Malcolm Provus (1971) Nhưng cácnghiên cứu này ngoài những điểm mạnh: chỉ ra được những qui trình đánh giá theomục tiêu, tạo điều kiện để xác lập mục tiêu phù hợp hơn với nhu cầu phát triển, tăngcường lực lượng đánh giá; qua việc đánh giá các điều kiện thực thi, quá trình thựcthi, các nhà QL kịp thời điều chỉnh những điểm yếu và giúp hoạt động giáo dục đạtchất lượng và hiệu quả hơn thì vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm là: hạn chế sựphát triển tự do năng lực sáng tạo của người học; không bám sát mục tiêu chươngtrình; chỉ quan tâm đến hiệu ứng thật của chương trình và kết quả đầu ra
1965, trắc nghiệm khách quan để KT-ĐG được áp dụng đối với một số môn: Văn,Toán, Khoa học thường thức Ngoài ra, trong suốt quá trình học tập, HS được pháthiện năng khiếu và sở thích qua các trắc nghiệm tâm lí Hình thức KT-ĐG này chútrọng việc khảo sát trí thông minh hơn là khả năng học tập của HS Vấn đề QL
KTĐG cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu: Trần Bá Hoành, Đánh giá trong giáo
dục, 1997; Nguyễn Phụng Hoàng - Võ Ngọc Lan, Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập, 1997; Lâm Quang Thiệp, Đo lường và
đánh giá trong giáo dục, 2003; Đặng Bá Lãm, Kiểm tra đánh giá trong dạy học đại
học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003; Nguyễn Đức Chính, Đo lường và đánh giá trong
giáo dục, tập bài giảng (lưu hành nội bộ - Khoa sư phạm, Hà Nội, 2004; Nguyễn
Trang 12Đức Chính – Đinh Thị Kim Thoa, Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu, tập bài giảng,
quả học tập, Nxb Khoa học xã hội, 2005; Trần Khánh Đức, Đo lường và đánh giá trong giáo dục, tập bài giảng, Khoa sư phạm, Hà Nội, 2006
Các công trình được nêu là những nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau;mỗi nghiên cứu có những điểm mạnh, điểm yếu, có nhiệm vụ nhằm vào nhữngmục đích khác nhau, tuy nhiên đều có mục đích chung là: đánh giá sự tiến bộ củangười học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối
khoa học “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học” năm 2005 tạiHuế và “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của HS ở bậc trung học” năm
2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh , các nhà nghiên cứu đã đánh giá thực trạnghoạt động KT-ĐG hiện nay, những giải pháp cần thiết nhằm phát huy tính tíchcực, chủ động của HS phổ thông qua hoạt động KT-ĐG
Tất cả là những nỗ lực giúp cho hoạt động KT-ĐG ngày càng có nhữnghướng đi đúng đắn, những cái nhìn thống nhất, làm tiền đề để đổi mới công tác nàytại các nhà trường
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về QL KT-ĐG môn Ngữ văn cấp THPTNhiều năm qua, QL và KT-ĐG môn Ngữ văn cấp THPT bộc lộ nhiều hạnchế, nếu không nhanh chóng khắc phục sẽ có tác động xấu đến chất lượng dạy vàhọc môn Ngữ văn Đứng trước thực tế này, có nhiều nghiên cứu về KT-ĐG môn
Ngữ văn: Nguyễn Thúy Hồng, Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn
của học sinh THPT, Nxb Giáo dục, 2007; Đinh Xuân Lộc, Nguyên nhân cội nguồn làm giảm chất lượng môn Ngữ văn, Diễn đàn Dân trí, 2009; Trần Quang Đại, Chấm Ngữ văn nên “mở” ra sao (?), Diễn đàn Dân trí, 2009; Hồng Hạnh, Đề Ngữ văn tiếp tục ra theo hướng mở, Diễn đàn Dân trí, 2010; Bùi Minh Tuấn, Nên khuyến khích dạng đề mở đối với môn Văn, Diễn đàn Dân trí, 2011; Phan Thanh
Vân, Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, Diễn đàn Dân trí,
giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học đối với các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí” tại Thành phố Cần Thơ năm 2009 của Bộ Giáo dục - Đào tạo Các nhà khoa
Trang 13học đánh giá thực trạng về thi, KT-ĐG của các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí cònmang nặng về yêu cầu HS học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc , từ đó chủ trì Hộithảo, thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển định hướng và yêu cầu đổi mới KT-ĐG cácmôn khoa học xã hội trong thời gian tới: coi trọng KT-ĐG kĩ năng diễn đạt, trìnhbày vấn đề, sự kiện, hiện tượng bằng lời nói; đề kiểm tra/thi theo hướng đề mở,khuyến khích vận dụng các hình thức KT-ĐG thông qua các hoạt động học tậpngoài lớp “Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học Ngữ văn ở trường phổ thôngViệt Nam” tại trường Đại học Sư phạm Huế, thành phố Huế tháng 1/2013 của BộGiáo dục – Đào tạo nhằm tìm hướng đổi mới ngành Ngữ văn ở Việt Nam Mặtmạnh các nghiên cứu của các tác giả và các hội thảo trên chủ yếu tập trung phântích thực trạng, tìm nguyên nhân của chất lượng học tập môn Ngữ văn có nhiềugiảm sút trong thời gian gần đây và đưa ra giải pháp khắc phục Một trong nhữngnguyên nhân quan trọng kìm hãm chất lượng chính là công tác KT-ĐG chưa đượcthực hiện nghiêm túc Các giải pháp đưa ra cơ bản có tính khả thi.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu hoặc ở tầm vĩ mô hoặc cục bộ ở từng địaphương cụ thể, tính phù hợp về đối tượng và điều kiện cơ sở vật chất của từngvùng miền, từng địa phương vẫn còn hạn chế Hơn nữa các nghiên cứu mới chỉđưa ra các giải pháp phục vụ trực tiếp cho công tác KT-ĐG của GV, nhiệm vụ củacác nhà QL trong KT-ĐG môn Ngữ văn cấp THPT - một nhiệm vụ đóng vai tròcực kỳ quan trọng chưa được quan tâm đúng mức
Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra-đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh các trường THPT tỉnh Kon Tum” được
nghiên cứu với các số liệu được điều tra, thu thập tại các trường THPT tỉnh KonTum có tính khả thi cao và mang tính cấp thiết trong nhiệm vụ nâng cao chất
* (Đưa xuống bên dưới)
Trong thời gian vừa qua, nhiều luận văn thạc sĩ QLGD đã nghiên cứu vềvấn đề KT-ĐG Tuy mỗi luận văn có đề cập đến những khía cạnh khác nhau,nhưng nhìn chung đều đưa ra các lí luận và các biện pháp cần thiết cho công tácKT-ĐG: tác giả Mai Lan (2001); tác giả Nguyễn Bân (2006), ĐHSP Huế, nghiên
Trang 14cứu việc KT-ĐG thông qua các phương pháp trắc nghiệm khách quan, từ đó xâydựng các biện pháp QL việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vàoKT-ĐG Các tác giả Nguyễn Thị Kim Bông (2006); Nguyễn Đình Tùng (2007);Nguyễn An Dân (2008); Nguyễn Khắc Mãnh (2009), ĐHSP Huế, với mong muốntìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy tối đa hiệu quả của việc đổi mới KT-
ĐG KQHT của HS, sinh viên
1.2 Các khái niệm cơ bản
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra định nghĩa: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [19, tr.7].
Khái niệm về QL theo các quan điểm tuy có khác nhau, nhưng cơ bản có nhữngđiểm chung như sau:
- Hoạt động QL được tiến hành trong một hệ thống, một tổ chức cụ thể
Như vậy, có thể hiểu: QL là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các
cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Trang 15QLGD thuộc lĩnh vực QL xã hội GD là một hệ thống của xã hội với sứmệnh là truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ trước cho thế
hệ sau để thế hệ sau kế thừa, phát triển một cách sáng tạo; làm cho xã hội, hệ thống
GD và bản thân con người phát triển không ngừng Để GD làm được sứ mệnh đó,QLGD được coi là nhân tố tổ chức, hoạch định kế hoạch - mục tiêu, tổ chức, điềukhiển, điều phối, kiểm tra… hoạt động của hệ thống nhằm đạt được kết quả tối ưu.QLGD được hiểu ở hai cấp độ: QLGD ở cấp vĩ mô, QLGD ở cấp vi mô
1.2.2.1 Quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô
QLGD ở cấp vĩ mô được hiều là QLGD ở quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệthống GD Đối với cấp vĩ mô, QLGD có thể được hiểu:
QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD.
Khái niệm QLGD được hiểu như trên tương ứng với hệ thống GD trên quy mô
cả nước, hệ thống GD của một tỉnh, thành phố, của một ngành học hay cấp học
1.2.2.2 Quản lý giáo dục ở cấp vi mô
Hệ thống GD ở cấp vĩ mô bao gồm nhiều hệ thống con Mỗi hệ thống con cóthể hiểu là một cơ sở GD hay một cấp vi mô Đối với cấp vi mô, QLGD được hiểu:
QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể
HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường.
Khái niệm QLGD ở cấp vi mô như trên tương ứng với một cơ sở GD haynhà trường, và khái niệm QL nhà trường chính là QLGD ở cấp vi mô
Thực ra, sự phân chia trên chỉ mang tính tương đối, giúp ta tiếp cận với kháiniệm QLGD một cách cụ thể và dễ dàng hơn chứ không mang tính máy móc Dù ởcấp vĩ mô hay vi mô ta thấy QLGD bao hàm bốn yếu tố là: chủ thể QL, đối tương
QL, khách thể QL và mục tiêu QL Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tương tác,gắn bó với nhau Chủ thể QL tác động lên đối tượng QL, nhưng đối tượng QL khôngtiếp động tác động một cách thụ động mà cùng với chủ thể QL hoạt động theo một
Trang 16qũy đạo, cùng hướng tới mục tiêu chung của tổ chức Khách thể QL nằm ngoài hệthống QLGD Nó có thể là một hệ thống khác hay những ràng buộc của môitrường… Khách thể QL có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đối với hệ thống
GD và hệ QLGD Nhà QL phải làm sao tạo ra những tác động cùng chiều và hạn chếnhững tác động trái chiều nhằm cùng thực hiện mục tiêu chung
QLGD thuộc lĩnh vực QL xã hội và là một bộ phận của QL nhà nước QLnhà nước về GD bao gồm QL theo ngành và theo lãnh thổ Nội dung QL nhà nước
về GD gồm 12 nội dung được quy định tại điều 99 của Luật GD năm 2005
Từ các khái niệm QLGD trên, chúng ta có thể hiểu: QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng trong xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
1.2.2.3 Các chức năng quản lý
Chức năng quản lý là hình thức tồn tại của các tác động quản lý, là hình tháibiểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Chứcnăng quản lý nảy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạothành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng có tính chất chuyên môn hóa
Các nhà giáo dục đã phân chia chức năng quản lý thành nhiều nhóm khác nhau
Ở đây chúng tôi chọn cách chia chức năng quản lý thành bốn nhóm cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là việc làm đầu tiên của người quản lý, làmcho tổ chức phát triển theo kế hoạch, trong đó xác định những mục tiêu đề ra Cóthể hiểu kế hoạch hóa là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạtđộng và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Kế hoạch là nềntảng của quản lý
- Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và cácnguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được cácmục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả
Đối với mỗi mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khácnhau Người quản lý cần có quyền lực lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với mụctiêu và nguồn lực hiện có Quá trình đó được gọi là quá trình thiết kế tổ chức
- Chỉ đạo: Là quá trình tác động đến con người làm cho họ nhiệt tình, tựgiác nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức Theo quan điểm hệ thống,
Trang 17chỉ đạo là quá trình vận hành, điều khiển hệ thống.
- Kiểm tra: Là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lí nhữngkết quả của quá trình vận hành tổ chức Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnhhoạt động trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu
Các chức năng cơ bản của quá trình quản lý có quan hệ mật thiết với nhau Hệthống thông tin và ra quyết định trong quản lý là các yếu tố liên quan mật thiết với 4chức năng quản lý trên Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, là sứcmạnh của công tác quản lý Thông tin quản lý là mạch máu lưu thông, đảm bảo sựthống nhất trong quản lý Quá trình quản lý phụ thuộc chặt chẽ vào các thông tin
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểudiễn thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ chức năng quản lý
1.2.3 Quản lý trường trung học phổ thông
1.2.3.1 Quản lý trường học
Theo Phạm Viết Vượng “Quản lý trường học là hoạt động của cơ quan quản
lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục” [28, tr.205].
Nguyễn Ngọc Quang quan niệm, quản lý nhà trường là hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam [19].
Vậy, Quản lý trường học là sự tác động một cách đồng bộ của chủ thể QL nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng GD khác, huy động tối đa các nguồn lực GD để nâng cao chất lượng GD và đào tạo trong nhà trường
Kế hoạch Thông tin Chỉ đạo
Tổ chức Kiểm tra
Trang 18và đạt đến mục tiêu mong muốn.
1.2.3.2 Quản lý trường trung học phổ thông
Nhà trường THPT là một tổ chức sư phạm - xã hội, có mối quan hệ mật thiếtvới cộng đồng và xã hội, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa cộng đồng, thực hiện mục tiêu cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Mục tiêu của GD THPT là: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của Giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân, để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [11, tr.14].
Vậy, Quản lý nhà trường THPT là QL quá trình hình thành nhân cách, các mối quan hệ QL trong trường học, đặc biệt trong quá trình dạy học - giáo dục, mang bản chất tính dân chủ và tự quản hết sức sâu sắc
1.2.4 Quản lý quá trình dạy học
1.2.4.1 Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là qua trình hoạt động chung thống nhất giữa hai chủ thể
là GV và HS; trong đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn, và điều khiển của GV, HS nhậnthức lại nên văn minh nhân loại, rèn luyện để hình thành kĩ năng hoạt động và tạolập thái độ sống tốt đẹp
Qua định nghĩa trên cho thấy quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm haichủ thể là thầy và trò với hai hoạt động là dạy và học luôn tương tác với nhau, thâmnhập vào nhau và cùng hướng đến một mục đích chung là hình thành và phát triểnnhân cách ở HS
Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể của hoạt động dạy, giữ vai trò chủđạo và điều khiển toàn bộ tiến trình dạy học HS là chủ thể của hoạt động học, giữvai trò chủ động tích cực và tự điều khiển trong hoạt động nhận thức, rèn luyện và
tu dưỡng bản thân HS là đối tượng giảng dạy của GV chịu sự hướng dẫn, điềukhiển của GV đồng thời cũng tự điều khiển bản thân mình
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống thì quá trình dạy học là một chỉnh thểthống nhất, bao gồm các thành tố: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học,phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, kết quả dạy học, với hai nhân tố
Trang 19trung tâm là GV và HS Mỗi thành tố có vị trí, chức năng riêng nhưng chúng có mốiquan hệ biện chứng với nhau Mỗi thành tố vận động theo quy luật riêng và đồngthời theo quy luật chung của hệ thống Hệ thống vận động trong môi trường baogồm môi trường khoa học - công nghệ và môi trường kinh tế - xã hội, trong quátrình vận động hệ thống luôn có quan hệ và tác động qua lại với môi trường.
1.2.4.2 Quản lý quá trình dạy học
Theo lí luận QL đã phân tích trên thì QL quá trình dạy học là những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
QL đến quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã đặt ra
Hoạt động dạy học gồm hai hoạt động là dạy và học của hai chủ thể là thầy
và trò nhưng trong một chỉnh thể thống nhất, cùng hướng đến một mục tiêu chung
là đem lại kết quả cao nhất cho người học KQHT của HS vừa là kết quả quá trìnhhọc của trò vừa là kết quả quá trình dạy của thầy; do đó có thể căn cứ vào KQHTthông qua việc KTĐG để đánh giá quá trình dạy học
Như vậy, có thể nói QL quá trình dạy học là những tác động tự giác của chủthể QL đến tập thể GV và HS nhằm tổ chức, điều khiển, phối hợp hoạt động của họ,kích thích, động viên họ,… sao cho mọi công việc, hoạt động của họ đều nhằm đemlại kết quả cao nhất trong hoạt động dạy học Đồng thời, QL quá trình dạy học cònbao gồm những tác động tự giác của chủ thể QL lên những thành tố khác của quátrình dạy học để đạt được mục tiêu của quá trình dạy học, là điều kiện và cơ sở đểđạt mục tiêu GD (theo nghĩa hẹp), có ý nghĩa rất to lớn trong việc đạt được mục tiêu
của quá trình sư phạm tổng thể
1.2.5 Quản lý hoạt động kiểm tra-đánh giá kết quả học tập
1.2.5.1 Kiểm tra
Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được định nghĩa như sau: “Kiểm tra là
xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [15, tr.308].
Trong quá trình dạy học, kiểm tra là đo lường kết quả học tập của HS giúp
nắm được thông tin về trạng thái và KQHT của HS, về những nguyên nhân cơ bảncủa thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục, củng cố và tiếp tục nâng caohiệu quả của hoạt động dạy - học
Thi là một kì kiểm tra quan trọng được tiến hành sau một quá trình học tập,
Trang 20mỗi kì thi được qui định bằng một qui chế riêng.
Theo Nguyễn Phúc Châu “Kiểm tra trong thanh tra - kiểm tra là một hoạt
động nhằm thẩm định, xác định những hành vi của một tổ chức hay một cá nhân để mang lại những kết luận đối với những hành vi đó hoặc có những biện pháp xử lí hành vi khi nó vượt quá giới hạn đã được qui định” [7, tr.27]
Trong QLGD, theo quan điểm cấu trúc, tác giả Trần Kiểm cho rằng “Kiểm
tra là một quá trình Quá trình này gồm 3 bước: xây dựng các tiêu chuẩn - đo dạc việc thực hiện - điều chỉnh các sai lệch” [16, tr.129-130], mặt khác tác giả cũng cho
rằng “kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của cá
nhân hay một tổ chức trong quá trình ra quyết định” [16, tr.128]
Như vậy trong lĩnh vực GD, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi HS sau khi học đã nắm được gì, làm được gì và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, đồng thời có được những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy - học
1.2.5.2 Đánh giá
Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá:
Theo Lê Khánh Bằng: “Đánh giá nhằm giúp GV nắm vững hơn sinh viên
của mình, kịp thời giúp họ củng cố, mở rộng, đào sâu, hoàn thiện những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã học” [1, tr.158].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng “Đánh giá trong QLGD là nhằm xem xét hoạt
động của cá nhân và tổ có phù hợp với nhiệm vụ đề ra hay không, xem xét ưu điểm, thiếu sót và những nguyên nhân tương ứng để kịp thời điều chỉnh quyết định quản lý” [16, tr.131].
Theo Nguyễn Phúc Châu: “Đánh giá trong quản lý giáo dục là một quá
trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý theo chuẩn mực có trong mục tiêu quản lý đã định; nó bao gồm
sự mô tả định tính và định lượng kết quả quản lý đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với mục tiêu” [7, tr.39].
Ngoài ra Nguyễn Phúc Châu còn cho rằng đánh giá trong hoạt động thanh
tra, kiểm tra “là một hoạt động nhằm nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về mức
độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại so với mục tiêu hay những chẩn
Trang 21mực đã được xác lập; trên cơ sở đó nêu ra những biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng hoàn thành nhiệm vụ” [7, tr.37].
Dù định nghĩa theo những cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung các
định nghĩa đều có chung quan điểm là: Đánh giá là hoạt động của chủ thể quản lý
nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý so với mục tiêu đề ra để kịp thời điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu mong muốn.
1.2.5.3 Kiểm tra, đánh giá KQHT
Từ hai khái niệm về kiểm tra và đánh giá trên ta có thể hiểu KTĐG KQHT là
sự so sánh, đối chiếu kiến thức, kỹ năng, thái độ thực tế đạt được của HS để tìmhiểu và chẩn đoán trước và trong quá trình dạy học hoặc sau một quá trình học tậpvới kết quả mong đợi đã xác định trong mục tiêu dạy học
Mối quan hệ giữa hai khâu này: kiểm tra là thu thập thông tin dùng làm căn
cứ để đánh giá Việc thu thập thông tin càng chính xác thì việc đánh giá càng côngbằng, khách quan thì mới có sức thuyết phục và mới phát huy hiệu quả cuối cùng làgiúp người dạy, người học và người quản lý có căn cứ để đề ra giải pháp điều chỉnhphương pháp giảng dạy, phương pháp học tập và phương pháp quản lý đề nâng caohơn nữa chất lượng dạy học
1.2.5.4 Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Xét về mặt QL có thể hiểu QL KTĐG KQHT là những tác động tự giác củachủ thể QL vào quá trình KTĐG KQHT nhằm làm cho hoạt động KTĐG đượcchính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học từ
đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượngdạy học cũng như chất lượng giáo dục tổng thể
Người Hiệu trưởng làm tốt công tác QL KTĐG KQHT của HS sẽ có đượcthông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lí, về chất lượng quátrình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra cũngnhư hiệu quả quản lý
Kết quả của KTĐG KQHT là cơ sở để chứng thực KQHT xếp loại học lựccủa HS, đánh giá năng lực và hiệu quả giảng dạy cũng như việc đổi mới phươngpháp dạy học, đánh giá việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nhà trường, vàsau đó là đánh giá hiệu quả QL của hiệu trưởng
Trang 22QL KTĐG KQHT của HS phải đạt được những yêu cầu sau:
- Làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được so với mục tiêu dạy học vềmức độ nắm kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS so với yêu cầu của chương trình;cung cấp cho HS thông tin ngược trong để HS tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt độnghọc, củng cố lòng tin và ý chí vươn lên, khắc phục tính chủ quan tự mãn
- Kết quả thu được qua KTĐG phải tin cậy để công khai hóa các nhận định
về năng lực và KQHT của từng HS và của tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triểnnăng lực tự đánh giá
- Giúp GV có thông tin ngược ngoài đầy đủ, chính xác về HS mà mình đangdạy để GV có thể phát huy hoặc hỗ trợ kịp thời cho HS; đồng thời qua đó GV cũnghiểu được mặt mạnh, mặt yếu của mình để tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt độngdạy, tích cực tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm không ngừng nâng caochất lượng và hiệu quả dạy học
- Giúp Hiệu trưởng hiểu đúng thực trạng nhà trường, mức độ đạt được mụctiêu QL; thu được thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, có hệ thống, có tính pháp lí
để cải thiện thực trạng và tìm ra biện pháp để ngày càng nâng cao hiệu quả QL
1.3 Những vấn đề lí luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.3.1 Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học
Trên quan điểm của lí thuyết hệ thống thì KTĐG là một thành tố trong cấutrúc của quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục (theo nghĩa rộng) nóichung Các thành tố của quá trình dạy học bao gồm: mục tiêu, nội dung, phươngpháp, phương tiện, các lực lượng tham gia, KTĐG kết quả và các hình thức tố chứcdạy học Quá trình dạy học được tiến hành trong môi trường khoa học - công nghệ
và kinh tế - xã hội cụ thể Các thành tố này luôn có quan hệ chặt chẽ, tác động qualại lẫn nhau do đó khi một thành tố thay đổi thì các thành tố khác cũng chịu sự ảnhhưởng và thay đổi theo
KT và ĐG là hai hoạt động trong một quá trình Đánh giá là khâu cuối cùngcủa kiểm tra và kiểm tra là hoạt động đo lường, thu thập thông tin để đánh giá Theo
lí thuyết thông tin và điều khiển học, KTĐG xuất phát từ lí luận tạo lập mối liên hệngược trong QL, cung cấp cho người QL những thông tin đã được xử lí chính xác
Trang 23để điều chỉnh hoạt động QL và làm cho hoạt động QL có hiệu quả hơn; đồng thờigiúp đối tượng được KTĐG tự điều chỉnh ý thức, hành vi và hoạt động của mình.KTĐG là khâu cuối cùng của một chu trình dạy học, là cơ sở để tổ chức và triểnkhai một chu trình dạy học mới.
Trong hoạt động dạy học, kiểm tra có chức năng cơ bản là cung cấp thôngtin cho đánh giá, thu thông tin ngược trong và thông tin ngược ngoài, kích thíchtính tích cực hoạt động dạy học của người dạy và người học và tính chủ động, linhhoạt của nhà quản lý
1.3.2 Chức năng của kiểm tra, đánh giá
- Chức năng kích thích: Khi KTĐG được tiến hành có hệ thống, đảm bảo
các nguyên tắc, sẽ giúp cho HS nâng cao trách nhiệm học tập, tự tin, phấn khởi và
có động lực, động cơ học tập đúng đắn
- Chức năng định hướng: Thông qua việc xác định mức độ nắm tri thức của
HS, GV có thể chọn cách dạy phù hợp đồng thời HS có thể tự đánh giá bản thân,
phát huy khả năng tự học, tự bổ sung những kiến thức cần thiết để chuyển sang giaiđoạn học tập tiếp theo
- Chức năng chẩn đoán: Qua việc xử lí thông tin của HS trong quá trình
KTĐG có thể đưa ra các nhận định về mức độ nhận thức, xu thế phát triển, dự đoánkết quả đạt được để từ đó có những tác động phù hợp vào quá trình dạy và học
- Chức năng xác nhận: Xác định mức độ nắm tri thức của HS qua KTĐG,
làm cơ sở để tiến hành chuyển sang giai đoạn học tập kế tiếp Đánh giá xác nhậnKQHT của HS sau giai đoạn học tập
- Chức năng điều chỉnh: Thông qua thông tin về KQHT, giúp HS khắc phục
thiếu sót, điều chỉnh cách học cho phù hợp Đồng thời, giúp GV điều chỉnh hoạtđộng dạy để phù hợp đối tượng, nhằm hoàn thiện hơn hoạt động dạy
1.3.3 Ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Trong quá trình GD nói chung hay dạy học nói riêng, KTĐG là một trongnhững bộ phận chủ yếu và hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong quy trình đàotạo KTĐG có vai trò to lớn trong việc tạo động cơ, thái độ tích cực của HS; hoànthiện quá trình dạy học; kiểm định chất lượng, hiệu quả của công tác dạy và học
Trang 24Các tác giả Phùng Đình Mẫn, Trần Văn Hiếu, Hồ Văn Liên, Phan Minh Tiến
và Trương Thanh Thúy cho rằng: “Thông qua KTĐG, giáo viên và HS có thể hiểu
được kết quả dạy học có đáp ứng được yêu cầu đề ra hay không để điều chỉnh, hoàn thiện quá trình dạy học tốt hơn” [18, tr.100] Như vậy, KTĐG có ý nghĩa rất
quan trọng đối với HS, GV và các nhà QL
- Đối với học sinh: Qua KTĐG, HS tiến hành các hoạt động trí tuệ: ghi nhớ,
tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, vận dụng tri thức vàothực tiễn, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết Giúp HS kiểm soát bản thân, tựđánh giá mức độ lĩnh hội tri thức kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao năng lực nhận thức,tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí phấn đấu vươn lên
- Đối với giáo viên: Qua KTĐG, GV điều chỉnh hoạt động dạy phù hợp với
vai trò của nhà tổ chức, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của HS, đồng thời tự
đánh giá bản thân về vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân
cách, uy tín của mình đối với HS Từ đó GV nâng cao và hoàn thiện trình độ họcvấn, năng lực sư phạm và nhân cách người thầy Mặt khác KTĐG cũng giúp GVnắm được trình độ của HS một cách chính xác để có các biện pháp giảng dạy vàgiáo dục phù hợp đối với từng đối tượng HS
- Đối với nhà quản lý: KTĐG giúp nhà QL thấy rõ thực trạng quá trình dạy
và học của đơn vị để từ đó có biện pháp chỉ đạo kịp thời, khắc phục những sai lệch,điều chỉnh quá trình dạy và học phù hợp với mục tiêu GD Xây dựng các mục tiêuchiến lược, những đổi mới về GD, đổi mới KTĐG
- Đối với nhân dân: KTĐG giúp phụ huynh HS nắm được một cách chính xác
thành quả học tập của con em để kịp thời nhắc nhở, động viên, đầu tư và hướng nghiệp
Xã hội thấy được thực chất chất lượng GD của địa phương để có những định hướngtrước mắt, lâu dài nhằm thúc đẩy GD phát triển
Như phân tích trên, KTĐG là một khâu vô cùng quan trọng và không thểtách rời hoạt động dạy học QL KTĐG là công tác thiết yếu của nhà QL cùng vớiviệc QL đội ngũ, QL việc dạy và học nâng, cao chất lượng dạy học của đơn vị.KTĐG có ý nghĩa rất lớn đối với chủ thể của quá trình dạy học cũng như chủ thể
QL G.K Killer đã nói: "Thay đổi một chương trình hoặc những kĩ thuật giảng dạy
mà không thay đổi hệ thống đánh giá, chắc chắn là chẳng đi tới đâu! Thay đổi hệ thống đánh giá mà không thay đổi chương trình giảng dạy, có thể có một tiếng
Trang 25vang đến chất lượng học tập hơn là làm một sửa đổi chương trình mà không sờ đến KTĐG, thi cử " [11, tr.56-57]
1.3.4 Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Đảm bảo tính khách quan: KTĐG nhằm phản ánh chính xác kết quả của
hoạt động dạy học KTĐG sát với điều kiện, hoàn cảnh dạy và học, phù hợp với đốitượng, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ KTĐG dựa trên bộchuẩn phù hợp, rõ ràng, toàn diện, thống nhất
- Đảm bảo tính công bằng: Tạo điều kiện để mọi HS tích cực vận dụng kiến
thức, kỹ năng đã học vào KTĐG Hình thức KTĐG phải quen thuộc với HS ViệcKTĐG phù hợp với lứa tuổi, đối tượng
- Đảm bảo tính toàn diện: Nội dung KTĐG phải bao quát toàn bộ nội dung
trọng tâm, nhiều loại kiến thức, kỹ năng Công cụ phải đa dạng có khả năng đo cácmức độ của nhận thức Như vậy, KTĐG phải đủ các mặt, các khía cạnh theo yêucầu, mục đích của dạy học
- Đảm bảo tính thường xuyên và tính hệ thống: KTĐG được tiến hành liên
tục, đều đặn theo kế hoạch nhất định, nhằm giúp cho việc thu thập những thông tinđầy đủ, rõ ràng, tạo cơ sở cho KTĐG toàn diện Trong quá trình dạy học mục tiêu,phương pháp KTĐG, bộ chuẩn phải phù hợp với mục tiêu và chương trình Cần kếthợp KTĐG thường xuyên và tổng kết, nâng dần mức độ đánh giá trong quá trìnhphát triển cấp học, bậc học
- Đảm bảo tính công khai: Mục đích, yêu cầu, bộ chuẩn, hình thức của công
tác KTĐG cần phải cho HS hiểu rõ Kết quả KTĐG được công khai để HS có điềukiện so sánh, đối chiếu trình độ bản thân với yêu cầu đề ra, từ đó có nhận xét đánhgiá đúng năng lực bản thân và nhận xét đánh giá bạn bè
- Đảm bảo tính giáo dục: KTĐG để góp phần nâng cao việc học tập của HS,
qua KTĐG HS thấy được sự tiến bộ, những gì cần cố gắng, những thiếu sót cần bổsung, điều chỉnh cho phù hợp
- Đảm bảo tính phát triển: Công cụ KTĐG phải tạo điều kiện cho HS khai
thác, vận dụng kiến thức kỹ năng góp phần kích thích khả năng tự học, tạo động cơhọc tập đúng đắn, ý chí phấn đấu vươn lên Như vậy, KTĐG có tác dụng thúc đẩy,
tư vấn giúp HS phát huy ưu điểm, sửa chữa các hạn chế, thiếu sót.
1.3.5 Các hình thức kiểm tra, đánh giá
- Kiểm tra thường xuyên: được người GV tiến hành thường xuyên thông qua
Trang 26quan sát hoạt động của lớp, của mỗi HS có tính hệ thống qua quá trình học bài mới,qua việc ôn tập, củng cố bài cũ, qua việc vận dụng tri thức Mục đích của kiểm trathường xuyên là kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học của GV và HS, thúc đẩy HS
cố gắng tích cực làm việc một cách liên tục, có hệ thống
- Kiểm tra định kỳ: thường được tiến hàng sau khi học xong một số chương,
một phần chương trình, một học kỳ Tác dụng của kiểm tra định kỳ nhằm giúp thầytrò nhìn nhận lại kết quả hoạt động; đánh giá được việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹxảo của HS sau một thời hạn nhất định; giúp cho HS củng cố, mở rộng tri thức đãhọc; tạo cơ sở để HS tiếp tục học sang những phần mới, chương mới
- Kiểm tra tổng kết: được thực hiện vào cuối chương, môn học, cuối năm,
nhằm đánh giá kết quả chung; củng cố, mở rộng toàn bộ tri thức đã học từ đầu năm,đầu môn học; tạo điều kiện để HS chuyển sang học môn học mới, năm học mới
Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:
- Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn GD nhất định
nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến KQHT cho giai đoạn đó như: đánh giáđầu vào, đầu năm học
- Đánh giá định kì: được tiến hành trong quá trình GD nhằm cung cấp thông
tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp của quá trình dạy học đónhư: đánh giá sau khi kết thúc một bài, một phần, một chương, …
- Đánh giá tổng kết: được tiến hành cuối mỗi giai đoạn học tập: một học kỳ,
một năm học, một khóa học, cấp học Việc đánh giá này nhằm tổng kết thành tích
học tập của HS một cách có hệ thống, góp phần quan trọng để cung cấp chứng cứ
cho việc lập kế hoạch GD trong giai đoạn tiếp theo
1.3.6 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Thực tiễn GD đã chỉ ra rằng để đánh giá toàn diện và chính xác hiệu quả củaviệc thực hiện chương trình, nội dung và phương pháp mới, khâu quan trọng quyếtđịnh cuối cùng là KTĐG Làm thế nào để việc KTĐG đơn giản, dễ dàng, nhưngphải đảm bảo chính xác, phản ánh đúng thực tế quá trình dạy và học, thể hiện trungthực kết quả thực hiện mục tiêu GD, đó là điều mong muốn khi thực hiện việc đổimới mục tiêu, chương trình và phương pháp GD
KTĐG KQHT của HS phải đảm bảo đúng nguyên tắc, loại bỏ các yếu tố tiêucực do chủ quan con người tác động và tạo điều kiện để HS có thể tự đánh giá được
Trang 27KQHT của mình Ngoài việc KTĐG bằng điểm số trên các bài kiểm tra còn đánhgiá được giá thái độ của HS và quá trình học tập của các em
Từ những lí do trên chúng ta có thể khẳng định, cần phải được đổi mới KTĐG mới có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay
1.3.6.1 Đổi mới quan niệm về kiểm tra, đánh giá
Trước đây, KTĐG KQHT của HS chỉ chú trọng kiến thức thu nhận được, hiệnnay ngoài kiến thức còn chú ý đến kỹ năng vận dụng kiến thức và việc áp dụng các
kỹ năng học được vào cuộc sống Bởi vậy, nhìn bề ngoài công việc đánh giá tưởngnhư không có gì thay đổi, nhưng thực tế thì KTĐG đã được thay đổi khá nhiều
1.3.6.2 Đổi mới mục đích, mục tiêu kiểm tra, đánh giá
Nếu trước đây, KTĐG chỉ nhằm mục đích xác định quá trình phấn đấu họctập của các em, khen thưởng, đưa lên lớp hoặc biểu dương tinh thần làm việc tậntụy của GV, hoặc phê bình những người chưa đạt hiệu quả mong muốn, mục tiêuchủ yếu là KTĐG kiến thức mà HS học, tiếp thu được trong quá trình dạy học
Ngày nay, mục đích đó và mục tiêu đó KTĐG còn cung cấp thông tin phảnhồi về quá trình dạy học, về những mặt được và chưa được của chương trình, sách
giáo khoa, phương pháp dạy học Kỹ năng là vấn đề quan trọng, kiến thức là cần
thiết nhưng chỉ khi các kỹ năng được phát triển thì kiến thức mới được củng cố vàphát triển bền vững Dựa trên nguồn thông tin đó, các nhà GD sẽ có những điềuchỉnh cần thiết đối với chương trình, sách giáo khoa, phương pháp và những chỉdẫn cụ thể đối với GV KTĐG hoạt động của HS khi vận dụng kiến thức, kỹ năng
là hết sức quan trọng Đây chính là điểm mới trong mục đích và mục tiêu KTĐGcủa GD ngày nay
1.3.6.3 Đổi mới chuẩn đánh giá
Chuẩn đánh giá chính là mức tối thiểu cần đạt được của HS khi thực hiệnchương trình học tập Chuẩn đánh giá được xây dựng dựa trên kiến thức gắn liềnvới kỹ năng, đó chính là điểm mới của chuẩn đánh giá Theo B.S Bloom [2, tr.325]
cụ thể hóa mức độ nắm kiến thức thành 6 bậc từ thấp đến cao: nhận biết, thông hiểu,vận dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá Do đó, khi xây dựng chuẩn ta dựa trêncác mức độ nắm kiến thức để tiến hành KTĐG KQHT của HS
1.3.6.4 Đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá
Trang 28Trước đây, việc KTĐG thường xuyên cho HS qua các câu hỏi vấn đáp kiểmtra bài, xây dựng bài, làm bài kiểm tra KTĐG định kỳ bằng những bài kiểm tra tựluận khi hết chương, hết học kỳ và thi tốt nghiệp hết cấp học Hiện nay hình thức vàphương pháp KTĐG có nhiều thay đổi:
- Hình thức trắc nghiệm và sự kết hợp các hình thức tự luận, vấn đáp, trựctuyến trên máy, cho phép kiểm tra kiến thức bao quát, khách quan, công bằng
- KTĐG các kiến thức kết hợp KTĐG kỹ năng vận dụng kiến thức và khảnăng HS vận dụng những kỹ năng đó trong đời sống thực tế
- Cho phép HS sẽ tham gia vào quá trình đánh giá Đánh giá hoạt động của
cả nhóm, đánh giá năng lực hợp tác, phối hợp thực hiện nhiệm vụ được giao chonhóm, là một hình thức đánh giá mới
1.4 Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông với việc quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
1.4.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
Nhiệm vụ và quyền hạn của HT trường THPT được quy định cụ thể trongLuật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều lệ trường THCS, THPT vàtrường phổ thông có nhiều cấp học (4/2007) [3] Luật Giáo dục quy định về việcban hành điều lệ nhà trường Điều lệ trường THPT quy định nhiệm vụ và quyền hạncủa HT như sau:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường được quy định tại khoản 2điều 20 của Điều lệ trường THPT;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm trađánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với
GV, nhân viên; quản lý hồ sơ tuyển dụng GV, nhân viên;
- Quản lý HS, đánh giá xếp loại HS; quyết định khen thưởng, kỷ luật HS;
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Thực hiện chế độ chính sách đối với GV, nhân viên và HS; tổ chức thựchiện Quy chế dân chủ trong hoạt động nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóagiáo dục của nhà trường;
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và
Trang 29hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy địnhtrong khoản 1 Điều 19
1.4.2 Nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông
Để nâng cao nâng cao chất lượng và đạt được mục tiêu của nhà trường đề ra,
HT cần có những tác động tích cực vào quá trình KTĐG KQHT của HS để KTĐGđược chính xác, khách quan, trung thực, phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạyhọc, từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng
Việc QL của HT đối với KTĐG KQHT của HS nếu được thực hiện tốt sẽ có được hệ thống các thông tin chính xác, kịp thời, đáng tin cậy để đánh giá chất lượng của quá trình dạy học và GD cũng như đánh giá hiệu quả công tác QL
1.4.2.1 Nâng cao nhận thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cho
đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh
KTĐG là hoạt động bắt buộc và quen thuộc đối với tất cả GV đứng lớp,nhưng phần lớn các GV đều quan niệm, việc kiểm tra HS đơn giản là có điểm làmcăn cứ để đánh giá HS Các cán bộ QLGD thì cho rằng, đó là công việc của GVkhông phải của HT Còn HS học chủ yếu là nắm kiến thức để đối phó với thi, cửbằng cách học lệch, học tủ, không phát huy khả năng sáng tạo, kỹ năng làm việc, …
Theo xu hướng đổi mới GD hiện nay, để nâng cao chất lượng giảng dạy vàhọc tập, GV phải xem KTĐG là quá trình và là một phần không thể thiếu trong hoạt
động giảng dạy của mình Mặt khác, KTĐG không còn hoạt động của riêng GV mà
còn là của CBQL Nhà QL sử dụng kết quả kiểm tra để hướng dẫn HS học tập, GVgiảng dạy và giám sát, nâng cao chất lượng trường học HS cần có ý thức hơn vềviệc KTĐG và tự KTĐG để tích cực chủ động hơn trong học tập
Như vậy, để đổi mới KTĐG, HT cần có những biện pháp hữu hiệu làm thayđổi những quan niệm sai lầm, lạc hậu giúp HS, GV nhận thức một cách đầy đủ,chính xác ý nghĩa và vai trò quan trọng của công tác KTĐG KQHT để từ đó cónhững thay đổi trong hoạt động khi thực hiện KTĐG KQHT của HS
1.4.2.2 Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Lập kế hoạch là hoạch định các hoạt động cụ thể để đáp ứng những yêu cầu
đã được đặt ra Muốn chỉ đạo việc lập kế hoạch KTĐG KQHT, trước hết HT cầnquán triệt cho mỗi GV và HS trường mình về: tư tưởng, quan điểm, yêu cầu cụ thể
Trang 30của công tác KTĐG KQHT của HS.
Về nguyên tắc, phải có sự thống nhất tuyệt đối giữa: kế hoạch dạy và học củanhà trường, kế hoạch KTĐG của nhà trường, của tổ chuyên môn và của GV Kếhoạch KTĐG của trường phải dựa trên và phù hợp về những mốc chủ yếu với kếhoạch KTĐG chất lượng GD của Sở GD&ĐT và của Bộ Việc lập kế hoạch KTĐGKQHT của HS trong nhà trường có thể được tiến hành theo 6 bước cơ bản sau:
- Chuẩn bị: nghiên cứu định hướng, quy chế KTĐG của ngành đề ra Đánh
giá điều kiện tổ chức của nhà trường như cơ sở vật chất, trình độ GV, nguồn lực tàichính, khả năng của đội ngũ CBQL về việc QL công tác KTĐG, …
- Lập khung KTĐG KQHT của HS: khung phải thể hiện các hoạt động, nội
dung cơ bản trong công tác KTĐG cùng mối quan hệ biện chứng giữa chúng
- Xác định ưu tiên và hình thành các hoạt động: xếp thứ tự ưu tiên đối với
từng hoạt động cụ thể, cùng với việc xác định nguồn lực (tài chính, thời gian và con
người) đảm bảo hiệu quả cho mỗi hoạt động đó.
- Xây dựng các chương trình hành động: đây là bước lập kế hoạch cụ thể
trong từng giai đoạn khác nhau
- Hình thành kế hoạch KTĐG môn học: xác định loại hình KTĐG KQHT
được sử dụng, thời điểm tiến hành, bộ công cụ và cách thu thập và xử lí kết quả
- Kiểm tra tính khả thi của kế hoạch KTĐG: xem xét kế hoạch hoạt động của
từng bộ phận để tìm ra những bất hợp lí cần điều chỉnh
1.4.2.3 Hoàn thiện cơ cấu quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh
- Tổ chức nhân sự làm công tác kiểm tra, đánh giá
Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhà trường:các phó HT, tổ trưởng chuyên môn, tổ xử lí dữ liệu, bộ phận văn phòng, GV
- Xây dựng, hoàn thiện và ban hành qui định, qui chế, các văn bản hướng
dẫn công tác KTĐG KQHT
Việc quản lý KTĐG KQHT là nhằm mục đích đánh giá chính xác, kháchquan KQHT của học sinh trong nhà trường, để nhà trường có cơ sở thiết lập kếhoạch quản lý tiếp theo Vì vậy để cho công tác KTĐG KQHT của học sinh đạtđược mục đích đó nhà trường cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể từng côngviệc trong nhà trường như: qui trình ra đề kiểm tra/thi; qui trình tổ chức kiểm tra,
Trang 31chấm bài, trả bài, lên điểm, quản lý điểm Từ đó các cá nhân, tổ chức trong nhàtrường thực hiện một cách đồng bộ và đảm bảo các yêu cầu của nhà trường, củangành, của Nhà nước trong công tác KTĐG KQHT.
Việc xây dựng hệ thống văn bản còn giúp nhà trường nâng cao nhận thứccho đội ngũ CB, GV và HS về các mặt như: vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc và yêu cầutrong KTĐG KQHT Ngoài ra còn giúp các nhà quản lý có cơ sở để theo dõi, kiểmtra công tác KTĐG KQHT của các đơn vị và cá nhân nhằm điều chỉnh kịp thời cáchạn chế nếu có
1.4.2.4 Chỉ đạo thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
- Tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá: Trên cơ sở kế hoạch đề ra, HT cần
triển khai đến các cá nhân, bộ phận tổ chức các hoạt động theo đúng nội dung, quytrình, tiến độ
+ Các hoạt động KTĐG khảo sát: tuyển sinh đầu cấp; kiểm tra khảo sát đầuvào; KTĐG thường xuyên: kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, 45 phút; KTĐG địnhkỳ: thi học kỳ, tổng kết năm học; thi chọn HS giỏi các cấp, thi nghề, …
+ Tổ chức các đợt kiểm tra/thi một cách nghiêm túc, khách quan Quản lý và
sử dụng kết quả kiểm tra để đánh giá HS một cách khoa học, hợp lí
- Tổ chức sinh hoạt chuyên đề: Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ
chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về KTĐG KQHT Nội dung các buổi sinh hoạtcần tập trung vào một số vấn đề sau:
+ Thảo luận về các chuẩn kiến thức, kỹ năng cần KTĐG đối với mỗi hìnhthức kiểm tra (miệng, 15 phút, 45 phút, học kì và cuối năm) hay thảo luận hình thức
sử dụng KTĐG trong các bài của môn học
+ Trao đổi kỹ thuật biên soạn câu hỏi, kỹ thuật thiết kế ma trận đề kiểm tra
và cách biên soạn câu hỏi nhằm mục đích đo lường việc đạt chuẩn theo quy định
+ Thảo luận về xây dựng đáp án, cách thức chấm điểm bài kiểm tra và cách
sử dụng kết quả KTĐG KQHT của HS
Từ những thu nhận qua sinh hoạt chuyên đề, HT rút ra những kinh nghiệmcần thiết, những giải pháp phù hợp hơn cho công tác QL hoạt động KTĐG
- Tổ chức báo cáo kinh nghiệm: đây là hoạt động cần thiết, HT thường
xuyên hoặc định kỳ tổ chức các buổi báo cáo kinh nghiệm về KTĐG giữa các tổ
Trang 32chuyên môn, nhằm học hỏi kinh nghiệm và đúc rút những cách thức thực hiện manglại hiệu quả và phù hợp thực tiễn nhất Cần lưu ý đến yêu cầu về tính hiệu lực và độtin cậy của kết quả đánh giá
- Theo dõi và đôn đốc việc thực hiện kế hoạch KTĐG: để hoạt động KTĐG
thật sự là động lực thúc đẩy quá trình dạy học, HT cần có biện pháp cụ thể để thựchiện công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch KTĐG như sau:
+ Theo dõi tiến bộ của mỗi GV trong quá trình đổi mới KTĐG đáp ứng yêucầu của đổi mới GD Theo dõi sự tiến bộ về thành tích học tập của HS thông qua kếtquả khảo sát chất lượng toàn trường
+ Thường xuyên đôn đốc và khuyến khích GV thực hiện đúng tiến độ, cáchthức KTĐG đã dự kiến trong bản kế hoạch KTĐG của cá nhân, cũng như bản kếhoạch KTĐG của tổ chuyên môn và của nhà trường
1.4.2.5 Kiểm tra thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Nhà QL thường xuyên thực hiện việc kiểm tra công tác KTĐG của các cánhân, bộ phận để điều chỉnh tiến độ, chỉ ra những vướng mắc trong triển khai kếhoạch, phát hiện sớm những sai sót và điều chỉnh kịp thời trong quá trình thựcthi kế hoạch
Để thực hiện tốt công tác này, người HT cần kết hợp với các thành viên tronglãnh đạo nhà trường để quyết định những biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ tiến
độ thực hiện từng hoạt động trong kế hoạch KTĐG đã thiết lập Việc kiểm tra, giámsát KTĐG nên được tiến hành ở bất cứ lúc nào trong quá trình thực thi kế hoạch vàtheo từng giai đoạn, trên tất cả các lĩnh vực như tài chính, cơ sở vật chất, nhân sự, …Sau kiểm tra HT cần phân tích tác động và xác định những vấn đề vướng mắc đểxây dựng kế hoạch KTĐG tiếp theo
Căn cứ vào thông tin của quá trình kiểm tra HT đề ra quyết định để thay đổi
và điều chỉnh một phần kế hoạch, cải tiến phương pháp, quy trình KTĐG hoặc điềuchỉnh phương pháp dạy học, phương pháp GD cho phù hợp
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu về lí luận của công tác QL KTĐG KQHT của HS, chúng ta
có thể đi đến kết luận: KTĐG KQHT của HS là khâu quan trọng không thể thiếu
Trang 33được trong quá trình dạy học KTĐG sẽ thu những thông tin ngược từ phía HS đến
GV, giúp nhà trường, GV đánh giá được chất lượng của sản phẩm đào tạo Đồngthời cả GV lẫn HS đều có thể tự đánh giá, tự điều khiển, điều chỉnh được mìnhhướng theo những mục tiêu, nội dung, yêu cầu đã xác định để hoàn thành tốt cácnhiệm vụ dạy học, hoàn thiện nhân cách bản thân Qua KTĐG các cấp QLGD,Đảng, chính quyền cơ sở, các bậc phụ huynh HS nắm được chất lượng đào tạo củanhà trường mà có những quyết sách, thái độ đúng đắn hỗ trợ cho nhà trường
Qua chương 1, luận văn đã nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm những lí luậnliên quan đến lĩnh vực KTĐG và QL KTĐG đây là những lí luận cơ bản cần thiết để
“soi đường”, định hướng cho công tác KTĐG và QL KTĐG KQHT của HS Việcnghiên cứ lí luận chương 1 cũng là cơ sở để đánh giá thực trạng công tác KTĐG và
QL KTĐG KQHT của HS hiện nay tại các trường THPT tỉnh Kon Tum Từ đó tìm
ra những biện pháp cần thiết khắc phục thực trạng, nâng cao dần chất lượng giáodục của từng nhà trường nói riêng và của cả tỉnh nói chung
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH KON TUM
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Kon Tum
Vị trí địa lý: Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắcTây Nguyên Với vị thế địa lí - chính trị, địa lí - kinh tế quan trọng, tài nguyên thiệnnhiên phong phú, đa dạng, kết cấu hạ tầng từng bước được nâng cấp đồng bộ, KonTum có khá nhiều lợi thế để vươn lên thoát nghèo, phát triển kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.690,46 km2, chiếm3,1% diện tích toàn quốc, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam giáp tỉnh GiaLai, phía đông giáp Quảng Ngãi, phía tây giáp hai nước Lào và Campuchia
Địa hình: Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địa hìnhthấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đadạng: đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau Bao gồm những đồi núi liềndải, có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m - nơi bắt nguồn của nhiều con sông chảy vềQuảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn và sông Vu Gia; chảy về Quảng Ngãi nhưsông Trà Khúc Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe,suối Địa hình đồi tập trung chủ yếu ở huyện Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây vàthấp dần về phía tây nam, xen giữa vùng đồi là dãy núi Chưmomray Từ những đặcđiểm địa hình trên cộng với mật độ dân cư nhiều nơi rất thưa, nên việc tổ chức mạnglưới các cơ sở giáo dục và huy động học sinh đi học gặp nhiều khó khăn
Nguồn nước mặt chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắc củatỉnh, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết Nhìn chung, chất lượngnước, thế năng, của nguồn nước mặt thuận lợi cho việc xây dựng các công trìnhthủy điện, thủy lợi Nguồn nước ngầm ở tỉnh Kon Tum có tiềm năng và trữ lượngcông nghiệp cấp C2: 100 nghìn m3/ngày Ngoài ra, còn có 9 điểm có nước khoángnóng, có khả năng khai thác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh
Rừng: Đến năm 2008, diện tích đất lâm nghiệp của Kon Tum là 660.341 ha,chiếm 68,14% diện tích tự nhiên Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng,
Trang 36thể hiện nhiều loại rừng khác nhau trong nền cảnh chung của rừng nhiệt đới giómùa, có nhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao Động vật rất phong phú, đadạng, trong có nhiều loài quý hiếm
Khoáng sản: Kon Tum rất đa dạng về cấu trúc địa chất và nhóm khoáng sảnnhư: Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, nhóm khoáng sản vậtliệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa,nhóm khoáng sản cháy, nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loạihiếm và nhóm khoáng sản đá quý Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chiathành 5 nhóm chính: Nhóm đất phù sa, nhóm đất xám, nhóm đất vàng, nhóm đấtmùn vàng trên núi và nhóm đất thung lũng
2.1.2 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Kon Tum
Kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân 14,5%/năm (giai đoạn2006-2010) Thu nhập bình quân đầu người 4,9 triệu đồng (năm 2005) và đạtkhoảng 14,5 triệu đồng vào năm 2010 Tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng18,5% (năm 2005) và đạt mức 23,03% vào năm 2010
Tổ chức hành chính: tỉnh Kon Tum có 01 thành phố và 8 huyện, 97 xãphường, thị trấn; bao gồm thành phố Kon Tum và huyện Đăk Hà, Đăk Tô, ĐăkGlei, Sa Thầy, Ngọc Hồi, Konplong, Kon Rẫy, Tumơrông, trong đó có 55 xã thuộcdiện chương trình 135
Kết cấu hạ tầng: Kon Tum có đường Hồ Chí Minh nối với các tỉnh TâyNguyên, Quảng Nam; quốc lộ 24 đi Quảng Ngãi; quốc lộ 40 đi Atôpư (Lào) Cócửa khẩu quốc tế Bờ Y, mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã và các tuyến nộithị, thị trấn, giao thông nông thôn cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyểnhàng hoá của nhân dân
Dân số và nguồn nhân lực: Kon Tum là tỉnh có dân số trẻ Đến năm 2009,
dân số toàn tỉnh là 432.865 người Có 22 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc
thiểu số chiếm trên 53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm: Xơ Đăng,Bana, Giẻ-Triêng, Gia Rai, Brâu và Rơ Măm, Sau ngày thống nhất đất nước một
số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinh sống, làm cho thành phần dân tộc trongtỉnh ngày càng đa dạng Sự chênh lệch về trình độ học vấn giữa đồng bào dân tộcthiểu số với đồng bào người kinh, giữa các vùng miền trong tỉnh còn cao Tỷ lệ tăng
Trang 37dân số tự nhiên còn 1,9%/năm Số người trong độ tuổi lao động có khoảng 234.114người làm việc trong các ngành kinh tế, trong đó lao động nông - lâm - thuỷ sản cókhoảng 162.470 người chiếm khoảng 70%
Văn hóa - Xã hội: Kon Tum là một vùng đất đậm đặc về văn hóa dân giantruyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số Mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ vàphong tục tập quán riêng, vì vậy để học sinh các dân tộc thiểu số có thể nhanhchóng tiếp thu được học vấn phổ thông, họ cần phải thông thạo tiếng phổ thôngtrước khi vào lớp 1 Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú,độc đáo mang bản sắc đặc thù của vùng đất tây nguyên Hệ thống y tế của tỉnhtương đối phát triển, bệnh viện đa khoa Tỉnh với 350 giường, 93,8% số trạm y tếđược xây dựng kiên cố và bán kiên cố, 40/97 xã có bác sĩ đạt tỷ lệ 41,7% Tỷ lệ hộnghèo giảm xuống còn 23,73% Hệ thống bưu chính - viễn thông phát triển mạnh,năm 2008 100% xã, phường có điện thoại, bình quân có 10,1 máy điện thoại cốđịnh/100 dân Số hộ dân ở đô thị được sử dụng nước sạch chiếm 60%; tỷ lệ hộ dân
ở nông thôn được sử dụng nước sạch là 51% Số hộ sử dụng điện chiếm 94%
Tóm lại, Kon Tum là một tỉnh miền núi cao có vị trí địa lí chiến lược, tiềm
năng về lao động, đất đai, tài nguyên khóang sản, du lịch phong phú nhưng chưađược đầu tư khai thác và sử dụng có hiệu quả Hiện Kon Tum là một Tỉnh cònnghèo, điều kiện kinh tế rất khó khăn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, nhiều phongtục tập quán lạc hậu, người dân chủ yếu sống ở nông thôn Xuất phát điểm kinh tếthấp, công nghiệp chưa phát triển, chủ yếu là kinh tế nông lâm, sản xuất còn mangtính tự cấp, chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa Trình độ dân trí khôngđồng đều và tỷ lệ nhân lực qua đào tạo thấp so với trung bình cả nước, điều kiệnsinh sống còn nhiều khó khăn, giao thông một số huyện còn chưa phát triển Nhữngyếu tố trên đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển GD của tỉnh trong những năm tới
2.1.3 Tình hình phát triển Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum
Sau gần 20 năm tái lập tỉnh (1991 - 2010), GD&ĐT Kon Tum tiếp tục đạtđược những kết quả quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ trọngtâm của ngành: mạng lưới trường, lớp và quy mô giáo dục từng bước được kiệntoàn và tăng lên ở các cấp học, bậc học; đội ngũ GV, CBQL được bổ sung, bồidưỡng và chuẩn hóa; chất lượng giáo dục đại trà đã có những chuyển biến tích cực,
Trang 38chất lượng giáo dục mũi nhọn được quan tâm; thành quả chống mù chữ và phổ cậpgiáo dục (PCGD) tiểu học được duy trì, nâng cao; công tác PCGD tiểu học đúng độtuổi, PCGD THCS được đẩy mạnh, đạt mục tiêu đề ra và được công nhận hoàn thànhnăm 2010; nhận thức của nhân dân về nâng cao dân trí và công tác xã hội hóa giáodục đã có bước chuyển biến tích cực Những thành tựu quan trọng trong lĩnh vựcGD&ĐT đã góp phần rất lớn vào sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - văn hóa - xãhội và tạo nguồn nhân lực cho tỉnh nhà trong hiện tại và các năm tiếp theo
2.1.3.1 Quy mô phát triển giáo dục trung học phổ thông
Trong những năm gần đây, mặc dù còn nhiều khó khăn trong đầu tư phát triểnkinh tế, ngân sách hạn hẹp nhưng Tỉnh đã dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách hằngnăm cho sự nghiệp phát triển GD - ĐT nói chung và phát triển giáo dục THPT nóiriêng Hiện nay mạng lưới các trường THPT có đều khắp ở các huyện, thành phố.Trường học được xây xây dựng kiên cố, khang trang, có tường rào bảo vệ, bảo đảmmôi trường “xanh - sạch - đẹp”, cơ sở vật chất được đầu tư tương đối đầy đủ phục vụcho việc dạy - học; đáp ứng nhu cầu học tập lâu dài Học sinh vùng sâu, vùng xa,người DTTS, gia đình chính sách đều được tạo điều kiện thuận lợi trong học tập
Bảng 2.1 Quy mô trường lớp, học sinh các trường THPT tỉnh Kon Tum Năm học Số trường học Số lớp học Số học sinh
(Nguồn: Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo Kon Tum)
Qua bảng 2.1 chúng tôi có nhận xét như sau:
Quy mô, mạng lưới trường học tiếp tục được mở rộng đến các địa bàn khu dân
cư góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đi học và thực hiện nhiệm vụ phổcập giáo dục THPT Nhưng để đáp ứng nhu cầu học tập lâu dài, các nhà QLGD cầnquan tâm hơn nữa việc quy hoạch, xây dựng thêm một số trường học mới để có thểđáp ứng nhu cầu học tập của người dân trong tương lai vì số lượng học sinh tăng dần
Trang 39qua từng năm học
2.1.3.2 Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các trường THPT
Bảng 2.2 Cơ cấu, chất lượng cán bộ quản lý các trường THPT
Năm học
Tổng số CBQL
Trình độ chính trị Trình độ
chuyên môn
Đã qua bồi dưỡng CBQL
Sau ĐH
Đã học
Chưa học
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Cán bộ Sở GD&ĐT Kon Tum; thời điểm tháng 12 - 2010)
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Cán bộ Sở GD&ĐT Kon Tum; thời điểm tháng 12 - 2013)
Qua bảng 2.2 chúng tôi có nhận xét như sau:
Yếu tố đầu tiên quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo thuộc về độingũ cán bộ, giáo viên trong ngành
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên THPT của tỉnh Kon Tum ngày càng đượcđảm bảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và từng bước được chuẩn hóa Đến tháng
12 - 2010, biên chế cán bộ, viên chức THPT là 1.146 người, trong đó có 61
Trang 40CBQL, 972 giáo viên và 113 nhân viên Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩnngày càng tăng.
Từ bảng thống kê trên, chúng tôi có nhận xét và giải thích thêm như sau: Sốlượng CBQL tương đối đồng bộ ở các trường THPT (bình quân 2,54CBQL/trường THPT) Về chính trị, đa số CBQL đều là đảng viên Đảng Cộng sảnViệt Nam, tuy nhiên số lượng có trình độ chính trị từ trung cấp trở lên chưa nhiều
Về trình độ chuyên môn, tất cả CBQL đều có trình độ đại học trở lên, phần lớn đãqua đào tạo nghiệp vụ quản lý giáo dục
Bảng 2.3 Số lượng, cơ c u GV THPTấu GV THPT
Đạt chuẩn
Trên chuẩn
Dưới chuẩn
2008-2009 810 133 109 87 65 113 60 48 14 23 23 94 41 785 25 02009-
2010 863 141 113 87 71 118 64 50 16 32 24 100 47 836 27 02010-
có giáo viên chưa đạt chuẩn
2.1.3.3 Chất lượng giáo dục trung học phổ thông
Bảng 2.4 Chất lượng học tập của học sinh THPT ng h c t p c a h c sinh THPT ọc tập của học sinh THPT ập của học sinh THPT ủa học sinh THPT ọc tập của học sinh THPT