Tài liệu hướng dẫn các em học sinh phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong Kiều ở lầu Ngưng Bích bao gồm dàn ý của bài văn, cảm nhận tâm trạng nhân vật Thúy Kiều; bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu thơ cuối.
Trang 1Dàn ý phân tích tâm trạng Thúy Kiều
I Mo bai
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, đoạn trích Kiểu ở lầu Ngưng Bích
- Nêu van dé can cảm nhận tâm trạng: tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích
II Thân bài
1 Cảm nhận tâm trạng nhân vật Thúy Kiều
- Tâm trạng Kiểu trong 6 câu thơ đầu
+ Hoàn cảnh Thúy Kiều: bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, trơ trọi giữa không gian vắng lặng, hoang vu, lạnh lẽo ( khóa xuân, xa sân, cồn nọ, dặm kia )
+ Thời gian tuần hoàn, khép kín sớm khuya vây hãm lấy con người
- Hình ảnh Kiêu đơn độc trơ trọi giữa nơi mênh mông non nước, không một người bâu bạn
+ Cát vàng, bụi hồng vừa là cảnh thật, vừa là cảnh ước lệ gợi sự mênh mông choáng ngợp của không gian, tâm trạng cô đơn, bẽ bàng của Kiều
- Tâm trạng nhớ thương người yêu và gia đình ( 8 câu thơ tiếp)
+ Kiểu nhớ Kim Trọng — mỗi tình đầu trong đêm trăng thê nguyên, giờ phải chia xa, li biệt
Tổng hợp: Download.vn
Trang 2+ Trình tự nỗi nhớ có vẻ như không hợp lý nhưng thực chat rat hop ly, Kiéu da ban
mình cứu cha mẹ và em nhưng không thể đền đáp mồi chân tình của Kim vì vậy nàng khôn nguôi day dứt
+ Kiêu nhớ lại đêm trăng thê nguyên rôi lại tự xót xa vì “tâm son gột rửa bao giờ cho phai” Tâm son ây là tâm lòng Kiêu son sắc đã bị hoen ô, vùi dập khiên nàng đau đớn tới tâm can
- Nỗi nhớ cha mẹ: thương cha mẹ già yêu không aI chăm sóc ( dân điện tích “ san Lai, sốc tử, quạt nông ấp lạnh)
- Nỗi nhớ của Kiểu thê hiện nhân cách đáng trọng của nàng, Hoàn cảnh của nàng thật đau đớn Nàng quên đi nỗi khổ của mình để thương nhớ, lo lắng cho người thân Nàng
là người chung thủy, hiểu thảo, có tấm lòng đáng trọng
2 Bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du trong 8 câu thơ cudi
- Hình ảnh cánh buôồm thấp thoáng nơi cửa biến là hình ảnh rất đắt thể hiện tâm trạng
Kiều, hình ảnh đó giỗng như cuộc đời Kiều lênh đênh, lận đận giữa dòng đời không
biết ngày đoàn tụ cùng gia đình
- Những cánh hoa lụi tàn trôi trên mặt nước cũng giống thân phận hoa tàn của nàng khi vô định, ba chìm bảy nôi, sô mệnh đây bạc bẽo của nàng
- Màu nội cỏ râu râu gợi lên cho Kiêu nỗi chán nản, vô vọng, bê tắc vì cuộc sông xung quanh
- Nỗi buôn dồn dập tăng lên và đỉnh điểm là nàng tưởng tượng sóng gió cuộc đời đang môi lúc một dâng đê nhân chìm nàng
Trang 3- Điệp từ “buồn trông” kết hợp với những hình ảnh phía sau diễn tả nỗi buôn với nhiều sắc độ khác nhau, cộng với các từ láy tượng hình, tượng thanh tạo nhịp điệu dồn dập tăng lên của sự vô vọng trong tâm trạng Kiều
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình tài hoa kết hợp với nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật
thông qua ngôn ngữ độc thoại, phép kết hợp với câu hỏi tu từ
IIL Két bài
- Voi but phap miéu ta nhan vat dac sắc, đoạn trích thể hiện thành công tâm trạng của Thúy Kiều trong cô đơn, buôn tủi, bé tắc nhưng tắm lòng nhân hậu thương nhớ về người yêu, hiệu thảo với cha mẹ của Kiêu vân ngời sáng
- Đoạn trích thê hiện tài năng miêu tả nội tâm nhân vật đặc sắc và cảm hứng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ
Phân tích tâm trạng Thúy Kiều - Mẫu 1 Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sắc nhất trong đời thơ Nguyễn Du Ông đã góp vào văn học Việt Nam và thế giới một thi phẩm bất hủ Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đã thể hiện bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật điêu luyện tài tình của ông Qua những dòng thơ, người đọc cảm thấu được sâu sắc nỗi cô đơn, khắc khoải, tuyệt vọng của Thúy Kiều
Thúy Kiểu sau khi bán mình chuộc cha, bị Mã Giám Sinh hạ nhục, rồi bán vào lầu
xanh Kiểu định tự kết liễu đời mình, nhưng không thành công Tú Bà giam lỏng nàng
ở lầu Ngưng Bích và hứa sau khi nàng khỏi bệnh sẽ gả nàng vào một gia đình tốt Kiểu ở lầu Ngưng Bích sống trong nỗi cô đơn, buôn bã, nhớ thương quá khứ và lo lắng, sợ hãi cho tương lai chính mình Bức tranh tâm trạng nàng được miêu tả vô cùng
ro net
Tong hop: Download.vn
Trang 4Trước hết, ở lâu Ngưng Bích, Thúy Kiểu mang trong mình nỗi cô đơn, chán nản, đau xót cho số phận chính mình: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tắm trăng gần ở chung/ Bốn bề bát ngát xa trông/ Cát vàng côn nọ, bụi hồng dặm kia” Hai chữ
“khóa xuân” nghe sao thật chua xót, tàn nhẫn Nàng — một người con gái đang ở độ tudi dep nhất, lại bị giam hãm, cầm tù, cảnh ngộ của nàng thật cô đơn tội nghiệp Sự
cô đơn đó còn được tuyệt đối hóa qua các hình ảnh chỉ không gian, thời gian, các sự vật tồn tại xung quanh: “cát vàng côn nọ, bụi hồng dặm kia” “bát ngát” “non xa”
99 66
“trăng gân” “mây sớm đèn khuya” Hàng loạt các hình ảnh, từ ngữ chỉ không gian cô quạnh đã một lần nữa tô đậm, làm nổi bật sự cô đơn tuyệt đối của Thúy Kiểu Không chỉ vậy cụm từ “mây sớm đèn khuya” còn gợi nên thời gian tuần hoàn, khép kín giam hãm cuộc đời nàng, đây Kiêu vào nôi cô đơn, tuyệt vọng, không có lỗi ra
Tâm trạng ngồn ngang “nửa tình nửa cảnh như chia tắm lòng”, Kiểu nhớ về Kim Trọng — người nàng yêu thương nhưng lại phải phụ bạc, nhớ về song thân ở nhà mong ngóng tin con Nguyễn Du đã thật tinh tế khi để nàng nhớ về Kim Trọng trước rồi mới nhớ đến cha mẹ Trật tự nỗi nhớ vừa thể hiện đúng quy luật tâm lí, vừa hợp tình vừa hợp lí Kiều nhớ về đêm thể nguyên với Kim Trọng: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng/ Tin sương luống những rày trông mai chờ” Câu thơ vang lên như tiếng lòng thốn thức, như tiếng khóc nắc lên theo nhịp của Thúy Kiểu khi mường tượng lại những kỉ niệm đẹp đẽ Nhớ vẻ người thương, nàng lại càng đau đớn, xót xa hơn khi nghĩ đến cảnh Kim Trọng ngày ngày mong tin mình trong vô vọng giờ đây mỗi người đôi ngả, biết ngày nào mới có thê gặp lại Nhưng đau xót nhất có lẽ là hai câu thơ sau: “Chân trời góc bê bơ vơ/ Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” Nói lên thân phận hoàn cảnh “bơ vơ”, trơ trọi nơi đất khách quê người Hình ảnh ân dụ “tắm son” cho thấy tâm lòng thủy chung son sắt, tình yêu sâu đậm Thúy Kiều dành cho Kim Trọng
Trang 5Về phía cha mẹ, nỗi nhớ của nàng với song thân cho thấy nàng là một người con hết sức hiểu thảo, luôn yêu thương và nghĩ về cha mẹ Nàng thương cha mẹ đã lớn tuổi lại không có ai ở bên chăm sóc, nàng day dứt trong những ngày hè nóng bức, ngày đông giá lạnh ai sẽ là người lo lắng cho cha mẹ Nguyễn Du đã sử dụng linh hoạt thành ngữ
và điển có để nói về tắm lòng hiếu thảo của nàng: “Sân Lai cách may nắng mưa/ Có khi gôc tử đã vừa người ôm”
Trong hoàn cảnh phải bán mình chuộc cha, lại bị lừa gạt, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã vượt lên những đau thương của mình nhớ về cha mẹ, người yêu Điều đó cho thấy nàng là một người thủy chung, sống có tình nghĩa, mang trong mình tắm long vi tha, nhan hau, bao dung
Tám câu thơ cuối cùng không chỉ cho thấy tâm trạng cô đơn, buôn rầu của Thúy Kiều
mà còn cho thấy những dự cảm về tương lai day tai ương, sóng gió, câu thơ bật lên nỗi kinh hoàng lo sợ Kiều nhớ về cha mẹ, gia đình, quê hương nên nàng thấm thía sâu sắc tình cảm cô đơn, trống văng của mình: “Buôn trông cửa bề chiều hôm/
Thuyên ai thấp thoáng cánh buồm xa xa” Cánh buôm thấp thoáng trong không gian chiều ảm đạm thể hiện khao khát được đoàn tụ, được trở về với gia đình của nàng Không gian dịch chuyển gân hơn về phía nàng, hình ảnh những cánh hoa trôi man mác, vô định khiến Kiểu nghĩ về số phận chìm nổi, mỏng manh của chính mình Bản
thân Kiều từ lúc bị bán đi, đã là bắt đầu những chuỗi ngày nổi vô định, tương lai mù
mịt đang đồ ập xuống trước mắt Kiều Câu hỏi tu từ như một lời tự hỏi về tương lai
mù mịt của chính bản thân mình Cặp lục bát tiếp theo, không gian lại được mở rộng:
“Buồn trông nội cỏ rau rau,/Chan may mat đất một màu xanh xanh” Sắc xanh trong câu thơ này không còn là màu cỏ non như trong cảnh ngày xuân mà là sắc xanh tàn tạ, héo ta, lụi tàn Màu xanh ay còn gợi lên sự nhạt nhòa, đơn điệu như chính cuộc sống
tẻ nhạt, hiu quạnh, đầy ngao ngán của Thúy Kiều Câu thơ cuối cùng là lo âu, dự cảm
về những tai ương, hiểm nguy đang đón đợi nàng, cảnh hiện ra vô cùng hãi hùng: Tổng hợp: Download.vn
Trang 6Buôn trông gid cudn mat duénh/ Am âm tiêng sóng kêu quanh ghê ngôi Ngon gió cuôn mặt duênh cùng với tiêng sóng âm âm hung dữ như báo trước, chỉ ngày sau đây thôi, bao nhiêu giông bão trong cuộc đời sẽ nôi lên xô đây, vùi dập đời nàng
Với bút pháp tả cảnh ngụ tình tài ba, cảnh trong tác phẩm của Nguyễn Du vừa thê hiện ngoại cảnh vừa thê hiện tâm cảnh Đoạn trích đã khắc họa thành công bức tranh tâm trạng Thúy Kiều trong những ngày nàng bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích Qua đó còn thê hiện sự cảm thương của Nguyễn Du cho số phận, cho cuộc đời đầy bất hạnh của nàng
Phân tích tâm trạng Thúy Kiéu - Mau 2 Trong nên văn học trung đại Việt Nam, "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một kiệt tác tiêu biểu và nồi bật Giá trị vững bên của tác phẩm được tạo nên không chỉ ở mặt nội dung cốt truyện hấp dan mà còn thể hiện qua những bút pháp
nghệ thuật đặc sắc và nỗi bật là nghệ thuật miêu tả tâm lí, nội tâm nhân vật "Kiểu ở
lầu Ngưng Bích" là một trong những trích đoạn thê hiện rõ biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả Nguyễn Du Trong đoạn trích này, chúng ta có thể thấy được tâm trạng buôn tủi, nỗi nhớ thương cùng dự cảm của Thúy Kiều trong hoàn cảnh bơ vơ, lạc lõng tại lầu Ngưng Bích
Trong sáu câu thơ đầu tiên, tâm trạng của Thúy Kiểu được làm nỗi bật với sự chán ngán, bơ vơ, lạc lõng và buôn tủi qua khung cảnh lầu Ngưng Bích Đó là không gian chơi vơi giữa trời nước, núi non: "Vẻ non xa, tâm trăng gần ở chung" và Kiều chỉ nhìn thấy được "Cát vàng cồn nọ bụi hong dặm kia” với những "cồn cát vàng "như đang chuyển động lượn sóng và bụi hồng vướng trải trên hàng dặm xa xăm Tất cả đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên được phóng chiếu ở cả chiều cao và chiều rộng, gợi ra
sự mênh mang hoang vắng và đầy rợn ngợp nhưng lại bị bó gọn trong khoảng thời gian "mây sớm, đèn khuya" tuần hoàn, khép kín; làm nổi bật hơn nữa tâm trạng "bẽ
Trang 7bàng" của nhân vật trér tinh khi bi giam long trong vong luan quan day ti ting Khung cảnh đó như chia cat và xoáy sâu hơn nữa vào bi kịch của Thúy Kiểu: "Nửa tình nửa cảnh như chia tắm lòng" và khơi gợi nỗi nhớ về những ngày đã qua
Ngòi bút tỉnh tế của tác giả Nguyễn Du tiếp tục lách sâu vào dòng tâm trạng của nhân vật khi miêu tả nỗi nhớ của Thúy Kiều Trước hết, nàng nhớ về hình bóng chàng Kim
và đêm thê nguyên nguyện ước giữa hai người:
"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tìn sương luông những rày trông mái chờ”
Tình yêu đối với chàng Kim trở thành nỗi day dứt mạnh mẽ nhất trong tâm trạng của
Thúy Kiều, bởi "Hiếu tình khôn lẽ hai bê vẹn hai", và nàng đã chọn cách đoạn tình để
làm trọn đạo hiệu Sau đó nàng nhớ về cha mẹ mình:
“Xót người tựa cửa hôm mái, Quạt nông áp lạnh những ai đó giờ?
Sứn Lai cách máy năng mưa,
Có khi góc tử đã vừa người ôm ”
Là một người con có hiếu, dù đã bán mình chuộc cha nhưng trong lòng Kiểu vẫn trĩu nặng nỗi nhớ thương về cha mẹ Tác giả đã sử dụng điển cô điển tích- một biện pháp nghệ thuật điển hình trong thi pháp của nên văn học trung đại để nói lên tâm lòng hiểu thảo của nàng Kiểu Nhưng điểm đặc sắc là tác giả đã đặt nỗi nhớ của chàng Kim lên trước nỗi nhớ về cha mẹ thể hiện rõ nét sự tỉnh tế trong việc miều tả tâm lí nhân vật của tác giả Nguyễn Du Bởi lẽ với cha mẹ, nàng đã bán mình, hi sinh bản thân; còn đối với chàng Kim, nàng vẫn còn mang nợ một lời thề cùng một tình yêu son sắt thủy chung và nàng tự cho mình là người phụ bạc
Tổng hợp: Download.vn
Trang 8Sau khi nhớ về quá khứ, về tình yêu, về gia đình thì tâm trạng của nàng Kiểu chìm trong nỗi buôn đau, cô đơn và lo sợ về thực tại và tương lai Bút pháp tả cảnh ngụ tình
đã được tác giá vận dụng một cách điêu luyện dé miéu ta những con sóng trong tâm li nhân vật:
"Buôn trông cửa bê chiêu hôm Thuyên ai thấp thoáng cánh buôm xa xa Buôn trông ngọn nước mới ra Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buôn trông ngọn cỏ rầu rầu,
C hán máy mặt đất một màu xanh xanh
Buôn trông gió cuốn mặt duênh
Am ám tiêng sóng kêu quanh ghê ngồi"
Đây là tám câu thơ hay nhất trong trích đoạn này khi miêu tả tâm trạng của nàng Kiêu Cảm xúc sâu buôn đã được miêu tả thông qua bức tranh thiên nhiên từ xa đến gần với gam mau am đạm trong không gian u tối, và mỗi cặp câu bắt đầu bằng cụm từ "Buôn trông" lại mang những ý nghĩa ấn dụ vô cùng ý nghĩa Trước hết, tác giả đã khắc họa nỗi buồn tha hương cũng như khao khát đoàn tụ qua hình ảnh cửa bế- con thuyền Hơn ai hết, nàng hiểu rõ răng chút hi vọng nhỏ nhoi thoát khỏi sự giam cầm vẫn là vô vọng Bởi vậy nàng đã buôn cho số phận trôi dạt mong manh đây bỉ kịch của mình
`
Aw
thông qua hình ảnh "hoa trôi man mác" Câu thơ kết thúc băng từ nghi vấn "biết là về đâu” đã tạo nên một câu hỏi tu từ gợi nên sự mơ hồ, hoài nghi vé hién tai va tuong lai
Du cam đó tiệp tục được lặp lại và nhân mạnh hơn nữa trong hai câu thơ cuôi cùng:
“Buôn trông gió cuôn mặt duênh
Am ám tiêng sóng kêu quanh ghê ngồi"
Trang 9Âm thanh của tiếng sóng đã được tác giả nhắn mạnh thông qua việc sử dụng từ láy tượng thanh "ầm ầm" kết hợp với biện pháp đảo ngữ, gợi tả thành công sự dữ dội như đang gào thét nơi biển xa Trước không gian rộng lớn ầm âm sóng vỗ, Thúy Kiều đã
có những dự cảm và nỗi lo sợ đây bất an về những bắt trắc đang ập đến và vùi dập cuộc đời Như vậy, với tắm câu thơ được kiến tạo theo câu trúc lặp lại của cụm từ
"Buôn trông", tác giả Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên mênh mông, rộng lớn, vừa văng vẻ vừa dữ dội để nhân mạnh những cung bậc cảm xúc của nỗi buôn trong tâm trạng của Thúy Kiêu
Thông qua diễn biến dòng tâm lí của nhân vật Thúy Kiểu, chúng ta càng hiểu rõ hơn nữa về cuộc đời của Thúy Kiều- "tâm gương oan kh6" thé hién rõ số phận bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Đó là người con gái tài hoa nhưng bạc mệnh
và trải qua vô vàn bỉ kịch về gia đình, về tình duyên về nhân phẩm Đồng thời, thay được tài năng của đại thi hào Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm nhân vật thông qua bút pháp "tả cảnh ngụ tình” và sử dụng những biện pháp nghệ thuật vô cùng đặc sắc
Phân tích tâm trạng Thúy Kiéu - Mau 3
Trong “Truyện Kiều" của Nguyễn Du, đoạn nói về tâm trạng của Thuý Kiểu ở lầu Ngưng Bích vẫn được người đọc xưa nay coi là một trong những đoạn thơ tuyệt vời
về nghệ thuật tả cảnh và tả tình Thế nhưng cái hay của cả đoạn thơ như ngưng đọng trong những câu thơ cuôi cùng, ở bôn bức tranh:
“Buon trông cưa bê chiêu hôm,
Am ám tiêng sóng kêu quanh ghê ngồi "
Tổng hợp: Download.vn
Trang 10Tám câu thơ trên là cảnh nhưng thực sự là tình, Nguyễn Du tả cành nhưng thực sự là
tả tình
Bốn bức tranh đều được nhà thơ khởi đầu bằng hai tiếng “buôn trông" nghĩa là nỗi
buôn đã sẵn tự trong lòng trước khi nhìn vào cảnh và ngắm cảnh cùng với nỗi buồn ấy Vừa ngắm vừa buôn, càng ngắm càng buôn, càng buồn càng ngắm Nói như thế thật
là hợp lí, thật đúng với tâm trạng Thuý Kiều lúc này Vì sao vậy? Vì nỗi buôn của
Kiểu là nồi buôn lớn, không phải là nỗi buồn thoáng qua vì một duyên cớ chốc lát, mà
là nỗi buồn đeo đăng suốt cả đời người Quá thật, trong suốt phần đầu của "Truyện Kiều”, chưa bao giờ Kiều buồn như lúc này, bởi chưa bao giờ Kiểu kịp có lúc để nhìn vào chuyện buôn của mình, ngẫm cho kĩ, thắm cho sâu vẻ chuyện buôn ấy Xa Kim Trọng, phải bán mình chuộc cha, Kiều chỉ kịp đau đớn, nhưng gia biến nặng nè, nỗi đau của cha, nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của các em, những điều ay đòi hỏi Kiều phải đứng vững tạm quên minh di dé giải quyết việc nhà cho trọn đạo một người con Một người chị phải rời gia đình, cùng Mã Giám Sinh ra đi, trong nỗi buôn vì không vẹn tình với Kim Trọng, Kiều có niềm an ủi đã cứu được gia đình Vừa đến Lâm Tri,
bước vào nhà mụ Tú Bà, chưa kịp hồi sức sau một chặng đường dài “Vó câu khấp
khếnh, bánh xe gập ghênh”, Kiều đã hoảng hốt vì quang cảnh nhà mụ Kiều đã gặp
ngay một trận “ tam bành” của con mụ bán thịt người ác độc Có lẽ Kiều da dau, da nhục, đã căm hờn, nhưng chưa kịp buôn
Bây giờ mới thực sự buôn Ta hình dung Kiều ngồi một mình trên lầu Ngưng Bích (thực chất là lầu rước khách của mụ Tú) bốn bề là mênh mông văng lặng Cảnh ấy
dội vào lòng Kiêu, xui nàng nghĩ về thân phận của mình Nỗi buồn mỗi lúc một thắm
thía Nàng buôn vì nhớ tới Kim Trọng, người mới cùng nàng thê bồi tha thiết mà nay thì vĩnh viễn cách xa Nàng buôn vì nỗi xa cha mẹ, từ nay mỗi ngày một già yêu mà không có nàng để hôm sớm đỡ dan chăm sóc Nỗi buôn thật là vời vợi mênh mông, giờ đã đọng thành khối trong lòng Kiểu Nếu ban đâu nỗi buôn còn từ cảnh một dội
Trang 11vào lòng thì lúc nay noi buon lai chính từ lòng buôn Với hai tiêng' “buôn trông” Nguyễn Du sao mà hiểu lòng người sâu sắc quá vậy!
nối lên hình ảnh “thuyền ai" ““Thuyên ai" tức là chỉ có một chiếc thuyền, chứ không
phải cảnh đoàn thuyền đông đúc tấp nập từ biến trở vẻ để gợi lên một điều vui vẻ Con thuyền gân như mất hút cuối chân trời, vì Kiều chỉ nhìn thấy cánh buồm của nó,
mà cánh buồm thì lại cũng chỉ “thấp thoáng” “Thấp thoáng" hai âm "th" gợi một cảm giác kịp lại Với hai âm "ấp" và “oáng" một âm tắc, một âm vang - diễn tả hình ảnh cánh buồm mờ mờ tỏ tỏ, chợt hiện rồi chợt an, nhấp nhô trên sóng biển, như mơ
hồ, như ảo ảnh ở cuỗi biển xa xa "Thuyền ai ." thuyên ai đó, thuyền ai thế nhỉ?
Thuyén đang đi về nơi quê nhà thân yêu của ta chăng? Hay thuyền đang đi về nơi vô định, cũng cô đơn, cũng lưu lạc giang hồ như chính ta? Tâm sự này đã buôn, trông vào cảnh ấy, sao có thể không thấm thía nỗi buôn hơn
Như để tìm một chút lãng quên, Kiều ngoảnh mặt nhìn sang hướng khác Thì đây:
“Buon trong ngon nuoc moi sa,
Hoa tréi man mac biét la vé dau?"
Tong hop: Download.vn
Trang 12Trước mắt Kiều là một ngọn nước từ trên thác cao đang đồ xuống Mới từ lòng suối chảy trôi khỏi đầu ngọn thác, ôi thôi, thế là tan tác đời trong trẻo với êm đềm của nước Bây giờ là lúc bắt đầu của dập vùi, cuôn xoáy, sôi trào, xô dập, ngầu đục cát bùn Kinh hãi thay cái phút từ trên mỏm đá cao sa xuống thác! Cảnh ngọn nước đã buôn, mà nhìn đến chân ngọn nước thì: hoa trôi man mác Giá nhà thơ viết "tan tác" thì cũng đành đi một nhẽ cho nó tan vỡ đi, chìm lấp đi, những cánh hoa mỏng manh kia! Nhưng không, hoa rụng xuống dòng nước và bập bênh trôi đi, bị đưa qua đấy lại, rồi lại trôi đi, lặng lẽ, buôn bã, đề đến một nơi nào không làm sao có thể biết được Ngọn nước mới sa ấy, cánh hoa trôi ấy có khác chỉ cuộc đời Kiều! Chính Kiều cũng
là một ngọn nước vừa mới đi qua lòng suối êm đềm và vừa mới sa xuống giữa ngọn xoáy dập vùi Chính Kiều cũng là đóa hoa đang man mác trôi đi Đơn độc và mỏng manh trên một dòng nước vừa dài vừa rộng với bao nhiêu đe doạ chưa thế nào hình dung ra hết
Lòng đã buôn, cảnh lại buôn quá Thôi, hãy đưa mắt trông đi nơi khác
“Buon trong noi co dau dau,
C hân máy mặt đât một màu xanh xanh "
Lại một cảnh mênh mông hoang vắng: một đồng cỏ phăng lặng kéo mãi đến cuối tầm nhìn, không một bóng cây, không một dòng sông, không một gò núi, không nhà để
phá vỡ bớt cái đơn điệu chán nản ấy đi Chỉ có cỏ, cỏ và cỏ Mà cỏ thì tươi tốt gì đâu!
Từ "dâu dâu" không chỉ gợi lên ý buồn bã, mà còn hình dung thấy những ngọn cỏ lưa thưa ủ ê như đang dân héo hat di, dang mat sức sông Đây không phải là đồng cỏ xuân đây sức sông và niêm vul khi Kiêu đi hội thanh minh:
32
“Có non xanh rợn chán trời
Trang 13Đây là đông cỏ cuôi mùa, cũng đang buôn bã như chính lòng người ngăm cảnh, thê
ma cai dong co ay, cai mau co ủ ê ây lại kéo dai ra v6 tan, tiệp cả với nên trời, thành một màu duy nhất: "xanh xanh" Nêu Nguyễn Du viết:
“Chán máy mặt đất một màu xanh tươi”
Thì hăn nàng Kiêu đã tìm được ở đó một niêm an ủi, đôi chút lãng quên Nhưng xanh xanh thì chưa hăn là xanh, chỉ có vẻ xanh thôi, một màu xanh nhợt nhạt, xa xôi, làm gợi lên một niêm ngao ngán Và có lẽ cái màu “xanh xanh” ây là cái màu của tâm trạng được nhìn từ đôi mắt đẫm ướt khô đau
Thế là Thuý Kiều đã ngoảnh nhìn hết ba hướng Nàng chỉ còn một hướng cuối cùng May ra có chút đôi thay chăng?
“Buôn trông gió cuôn mặt duênh,
Am ám tiêng sóng kêu quanh ghê ngồi"
Hóa ra cái buồn của ba cảnh trước tuy buôn mà chưa thực là buôn Ba cành trên buồn đến thế còn là nhẹ quá Cảnh này mới thực là buôn Ba bức tranh trên chỉ là những bước chuẩn bị cho cảnh buôn cuối cùng này Một vùng biến ăn sâu vào đất liền, ngoài
kia là biển lớn Gió biển hun hút chạy vào duênh, gió cuỗn ào ào khiến mặt biến nổi
đây sóng lớn, trắng xóa một màu Sóng vỗ “ầm âm" chứ không phải “âm" như những ngày it gió; sóng gào thét cuỗông nộ, dập vào bờ, xô dập nhau lớp sóng này chưa tan
đã ào lên lớp sóng khác, liên tục, bất tận Tiếng sóng lớn lắm, không chỉ vang âm trên biển mà vang đi rất xa, vang khắp bốn bế Kiều dường như mình không còn ngồi trên lầu Ngưng Bích nữa, mà ngôi đau chính giữa duềnh biển mênh mông ấy, bốn bên nàng là sóng vỗ Mấẫy từ "ầm âm tiếng sóng" nghe đã dữ dội bên tai nàng, dâng lên gào thét trong tâm hôn nàng vây bủa lấy nàng
Tổng hợp: Download.vn
Trang 14Nếu trong ba bức tranh trên, giữa người và ngoại cảnh còn là hai đối tượng phân biệt, đâu là chủ, đâu là khách, thì đến bức tranh này, con người đã nhập vào ngoại cảnh; ngoại cảnh trùm phủ lẫy con người, nỗi buôn thực đã đi đến mức cùng tột của cao trào Lúc này, con người sẵn sàng tan đi cùng với ngoại cảnh, sẵn sàng làm bất cứ việc liều lĩnh nào đề hoặc thoát khỏi nỗi buồn ghê gớm ấy hoặc có thể chết đi cũng không cân
Chính tâm trạng này đã dọn đường cho việc Kiều gặp Sở Khanh liều lĩnh theo y rồi
bị lừa gạt
Bốn bức tranh của Nguyễn Du thật ra thì không lạ lùng Nhưng thật là lạ lùng cách của Nguyễn Du diễn tả những bức tranh ấy trong sự hòa hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của Thúy Kiểu Bởi Nguyễn Du rất tinh tế khi nhìn cảnh, rất sâu sắc về tình người, nhưng còn bởi điều này nữa: Nguyễn Du rất tài tình trong ngôn ngữ
Phân tích tâm trạng Thúy Kiều - Mẫu 4 Truyện Kiểu là một kiệt tác văn học Có thể ví tác phẩm như một trái bom nô giữa làng văn và có thể làm vinh dự cho bất cứ một nền văn học nào có nó Bởi truyện đã đạt tới trình độ mẫu mực về mặt nội dung và nghệ thuật độc đáo Một trong các nghệ thuật làm nên sức hấp dẫn và thành công của "Truyện Kiều" đó là nghệ thuật khắc họa hình tượng và diễn biến tâm trạng nhân vật Đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là đoạn trích hay là minh chứng tiêu biêu cho nghệ thuật này Qua đoạn trích chúng ta thấy được tâm trạng phức hợp trong lòng Kiều khi một mình phải bơ vơ nơi đất khách quê người, không biêt phải bâu víu và nương tựa vào đâu
Trích đoạn nằm ở phân thứ hai "Gia biến và lưu lạc" của "Truyén Kiéu" Sau khi ban mình cho Mã Giám Sinh để có tiền chuộc cha va em, Kiều đã "thất thân" với hắn
"dudc hoa dé dé mặc nàng năm trơ", rồi nàng bị hắn bán vào lầu xanh, làm gái làng
chơi Biết mình bị lừa và phải làm nghề dơ bản, Kiêu uất ức, rút dao định tự vẫn Tú
Bà sợ hãi "Thôi thôi vôn liêng đi đời nhà ma”, nhanh trí, mụ liên vờ hứa hẹn đợi Kiêu
Trang 15bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế Nhưng thực chất, Kiều bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích và mụ ta đang đợi cơ hội thực hiện âm mưu mới, ép nàng phải ra làm việc đó Vì thế "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là đoạn đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt cuộc đời của Kiều trong mười lăm năm lưu lạc Đoạn trích dựng lên tâm trạng cô đơn, buôn tủi và tắm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiếu thảo với cha mẹ của Thúy Kiều khi đang phải một mình bơ vơ, lạc lõng nơi xứ lạ người xa Đông thời qua đoạn trích, người đọc thấy được bút pháp "tả cảnh ngụ tình” độc đáo, đạt tới trình độ điêu luyện bậc thầy của thiên tài văn học Nguyễn Du
Trước hết là sáu câu thơ đầu là tâm trạng cô đơn, bất hạnh, đáng thương và tội nghiệp của Kiểu trước thiên nhiên ở lâu Ngưng Bích Ngay câu thơ mở đầu: "Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân", Nguyễn Du đã nêu bật lên cảnh ngộ đáng thương của Kiều
"Khóa xuân" tức khóa kín tuổi xuân và ở đây ý nói về việc Kiều đang bị giam lỏng Vậy là tuổi thanh xuân của nàng Kiểu bị giam hãm, khóa kín trong cắm cung và không được giao tiếp với bên ngoài Vì thế, lầu Ngưng Bích như là nhà tù giam lỏng cuộc đời Kiều, nó cho thấy tình cảnh đáng thương, xót xa mà nàng Kiểu phải chịu dựng
Những câu thơ tiếp theo, tái hiện quang cảnh xung quanh lầu Ngưng Bích rộng lớn, mênh mông được nhìn dưới con mắt đây tâm trạng của Kiêu:
Vẻ non xa tấm trăng gân ở chung Bốn bê bát ngắt xa trông Cát vàng côn nọ bụi hong dam kia
Bẽ bàng máy sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tắm lòng
Tổng hợp: Download.vn
Trang 16Nguyễn Du da dat Kiéu trong một cảnh ngộ rất đặc biệt: một mình, cô đơn, trơ trọi giữa một không gian rộng lớn, mênh mông: "bốn bề bát ngát" Đứng trên lầu mà ngước mắt lên trời cao, Kiểu chỉ thấy "non xa" và "tắm trăng gần" Nhìn xuống mặt đất chỉ thấy khoảng không trống vắng, xa xa là những con sóng lượn, những bãi cát dài phăng lặng nối tiếp nhau dưới ánh nắng của buổi chiều tà, bãi cát như trở nên lắp lánh giống như những bụi hong Cảnh thật đẹp, thơ mộng, lãng mạn nhưng đượm buôn Bởi xung quanh Kiểu, không hề có một chút bóng dáng sự sống của con người
Vì thế, từ “xa trông” như miêu tả cái nhìn xa xăm của Kiều, nàng đang cô gắng kiếm tìm một chút bóng dáng sự sống xung quanh Nhưng tuyệt nhiên chỉ là một không gian vắng lặng, tĩnh tại, không có chút động nhỏ bé nào đó xung quanh mình Sau này trong bai tho "Trang Giang”, Huy Cận cũng từng có câu thơ:
Ménh mong khong mét chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niêm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
Vì thế, ân sau ánh mắt nhìn "xa trông" như đang trông mong ngóng chờ ấy là niềm mong mỏi, khát khao, đợi chờ một tương lai hạnh phúc phía trước nhưng trước không gian trồng trải, hoang vắng ấy thì chắc chắn chỉ làm cho Kiều trở nên thất vọng cô
đơn hơn mà thôi
Bẽ bàng máy sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh như chia tắm lòng
Tính từ “bẽ bàng” gợi lên sự xấu hồ và tủi thẹn của Kiều khi nghĩ đến thân phận và
duyên phận của mình Có lẽ, nàng cảm thấy xấu hồ là vì bị Mã Giám Sinh lừa vào lầu xanh, còn nàng cảm thấy tủi thẹn là vì cảm thấy không còn xứng đáng với tình cảm
mà Kim Trọng mong chờ Cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi nên vòng tuần hoàn thời gian khép kín và ân sau đó là sự cô đơn, đơn điệu, nhàm chán khi mà ở đó Kiêu chỉ có
Trang 17một thân một mình đôi diện với chính mình, sớm thì làm bạn với mây, tôi thì lại chỉ biết trò chuyện với bóng đèn Vì thê tâm trạng của Kiêu mới chia đôi thành hai ngả:
“nửa tình — nửa cảnh như chia tâm lòng” Cảnh có đẹp đên bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể nào khỏa lấp đi tâm trạng “bẽ bàng” của nàng
Tóm lại: Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, kết hợp với những từ ngữ giàu tính tạo hình
và biểu cảm, Nguyễn Du đã phác họa được khung cảnh lầu Ngưng Bích rất rộng lớn, mênh mông và tuyệt nhiên không có sự sông của con người Đồng thời qua đó, tác giả còn cho thấy được tâm trạng cô đơn tủi hồ, bẽ bàng của Kiểu khi bị giam lỏng trong lau Ngung Bich
Trong nỗi cô đơn cô hữu đang bủa vây quanh mình, khi một mình Kiều phải bơ vơ
dưới góc bề chân trời ở lầu Ngưng Bích thì nỗi nhớ gia đình, nỗi nhớ người yêu đến
như một lẽ tất yếu rất phù hợp với qui luật tâm lí của con người xa quê Tám câu thơ tiếp là nỗi niềm thương nhớ Kim Trọng và cha mẹ của Kiều.Đến đây, chúng ta thấy được cách dùng từ rất đắc địa, khéo léo của nhà thơ Đề diễn tả nỗi nhớ của Kiều dành cho chang Kim, tac giả đã dùng động từ “Tưởng” Tưởng là nhớ tới mức hình dung ra Kim Trọng đang ở trước mắt trò chuyện với Kiều Kiều nhớ đến đêm trăng thê
nguyện, hai người cùng uống chén rượu thủy chung, hứa sẽ bên nhau trọn đời Nhưng bây giờ nàng đang phải lạc lõng nơi đất khách, nên nàng tưởng Kim Trọng đang đợi tin tức của mình, còn mình thì bặt vô âm tín:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng Tìn sương luống những rày trông mai chờ
Rồi nàng băn khoăn tự hỏi:
Tam son gột rửa bao giò cho phái
Tổng hợp: Download.vn
Trang 18Câu thơ như một lời khăng định về tam lòng son sắt, thủy chung của Kiều đối với Kim Trọng dù trên bước đường đời có phải trải qua bao sóng gió thì tắm lòng son ấy mãi vẹn nguyên Đồng thời, đây cũng là lời tự vẫn lương tâm của Kiểu, Kiều cho rằng tắm lòng son sắt của mình với Kim Trọng đã bị hoen ố, đã bị dập vùi khi Kiều đã thất thân với Mã Giám Sinh nên không biết bao giờ mới gột rửa cho sạch được vết nhơ nhuốc ấy Như vậy, trong nỗi nhớ chàng Kim, Thúy Kiều không chỉ bộc lộ nỗi niềm mong ngóng khắc khoải mà còn bộc lộ cả nỗi đau đớn, cùng cực, tủi hỗ đến xé tâm can Qua đó cho thấy được tâm lòng thủy chung, son sắt của Kiều dành cho Kim Trọng
Sau nồi nhớ người yêu, Kiêu tiêp tục nhớ tới cha mẹ - người thân yêu ruột thịt của
mình:
Xót người tựa cửa hôm mái Quạt nông áp lạnh những ai đó giờ?
Sứn Lai cách máy năng mưa,
Có khi góc tứ đã vừa người Ôm
Nếu như khi diễn tả nỗi nhớ chàng Kim của Kiều, Nguyễn Du dùng động từ "tưởng" thì khi diễn tả tắm lòng hiếu lễ với cha mẹ của Kiêu, tác giả lại sử dụng tính từ “Xót” Xót nghĩa là thương, thương đến mức xót xa trong lòng Không xót xa sao được khi một đứa con hiếu thảo như Kiêu lại cứ nghĩ đến hình ảnh cha mẹ đang tựa cửa ngóng chờ con trở về, còn con thì vẫn bóng chim tăm cá, không thấy đâu Nàng còn lo lắng cho cha mẹ khi mà đã tuổi cao sức yêu không biết có ai chăm sóc cho không, hai em
có làm tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của phận làm con hay không Cụm từ “cách mấy nắng mưa” có tính chất gợi tả thời gian, cho thấy sự xa cách của biết bao ngày mưa nang nhưng cũng đồng thời gợi đến khoảng cách về không gian địa lí, sự xa xôi cách trở giữa nàng với cha mẹ biết bao giờ được gặp lại để làm tròn bổn phận làm con Qua tâm trạng xót xa, buôn tủi và lo lắng khi nhớ vê cha mẹ, gia đình của Kiêu, chúng ta
Trang 19thấy được tâm lòng thảo thơm, hiểu nghĩa của Kiều dành cho cha me rat là lớn lao, cao cả và thiêng liêng
Đoạn thơ khép lại với tắm câu thơ cuôi thê hiện tâm trạng đau buôn, lo âu của Kiêu qua cách nhìn cảnh vật:
Buôn trông cửa bề chiếu hôm Thuyên ai thấp thoáng cánh buôm xa xa?
Buôn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buôn trông nội có rấu rầu
C hân máy mặt đất một màu xanh xanh Buôn trông gió cuốn mặt duênh
Am âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Điệp ngữ “buôn trông” được lặp đi lặp lại bốn lần Đây là điệp ngữ liên hoàn và đồng thời cũng là điệp khúc của tâm trạng Kiều buồn nên Kiều mới trông cảnh vật, khác với đoạn trước, Kiểu trông mới thấy buôn Ở đây, vì buồn nên trông, mà càng trông
thì Kiều lại càng buôn Nỗi buôn cứ thế điệp đi điệp lại dâng lên thành lớp lớp sóng
trào, cứ cuộn xoáy trong tâm khảm của Kiêu mà trở thành gánh nặng tâm tư
Buôn trông cửa bê chiêu hôm Thuyên ai tháp thoáng cánh buôm xa xa?
Buôn trông ngọn nước moi sa
Hoa tréi man mac biét la vé dau?
Chiều hôm là khoảng thời gian của buôi chiều hoàng hôn, khi mà mặt trời đã dân dân ngả về tây, bóng tối bắt đầu xâm lấn Xa xa là hình ảnh của một chiếc thuyền nhỏ bé,
cô đơn thoặt ân, thoắt hiện thấp thoáng trên cửa biển; một cánh hoa đang trôi bất định Tổng hợp: Download.vn
Trang 20trên dòng nước mà không biết đi về đâu Hình ảnh chiếc thuyền, cánh hoa được đặt trong thế tương phản đối lập với vũ trụ không cùng của trời đất mênh mang càng tô đậm hơn sự nhỏ bé, đơn độc, đáng thương và tội nghiệp Đây là hình ảnh ân dụ cho
thân phận của Kiểu lênh đênh, chìm nổi giữa dòng đời mà không biết trôi dạt về đâu
Và đứng trước một không gian bao la của trời đất, của buổi chiều hoàng hôn sắp tắt, nỗi nhớ nhà, nhớ người thân đến như một lẽ tất yếu trong lòng Kiều Nhưng trong tình cảnh “bốn bề góc bề bơ vơ” thì Kiểu biết bao giờ mới được sum họp, đoàn viên cùng với gia đình, người yêu Vì thế câu hỏi tu từ cứ réo rắt, khắc khoải trong lòng của Kiểu, dây lên niềm khao khát được trở về nhà, trở về quê hương nơi chôn rau cắt rồn
của mình
Buôn trông nội có râu rđu
C hân máy mặt đất một màu xanh xanh
Ngước mắt trông về phía xa của cửa biến Kiều chỉ càng cảm thấy rộng trông cơ đơn, buôn tủi Kiều quay trở về nhìn xuống mặt đất quanh mình đề tìm kiếm sự sống của cảnh vật xung quanh thì lại chỉ thấy những đám cỏ xanh héo úa, lụi tàn Hình ảnh “nội
cỏ râu râu” là một hình ảnh nhân hóa, biểu hiện tâm trạng của con người Lòng người buôn nên nhìn đâu cũng thấy buôn; nỗi buôn của Kiều như thắm vào cảnh vật khiến cho cảnh vật cũng nhuôm mau tâm trạng Trong văn học từ xưa tới nay, màu sắc xanh thường khiến chúng ta nghĩ tới màu của sự sống của sự sinh sôi bất diệt Nhưng cũng
có trường hợp, màu xanh có khi trở thành màu sắc của bi kịch con người Bài thơ
“Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn đã diễn tả nỗi nhớ của người chỉnh phụ đối với người chông của mình nơi biên ải qua màu xanh ngắt của cỏ lá:
“Cùng trông lại mà cùng chăng thấy Thấy xanh xanh những máy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu Lòng chàng ý thiết ai sâu hơn ai?”
Trang 21Như vậy, màu xanh ngắt, xanh xanh của cỏ lá đã trở thành màu của sự xa cách, su li biệt và nhạt nhòa Nay từ “xanh xanh” lại xuât hiện trong câu thơ của Nguyên Du nên màu sắc ây biêu trưng cho sự nhạt nhòa, sự chán nản, vô vọng của Kiêu trước một khung cảnh thiêu văng sự sông, cô đơn, và tẻ nhạt
Buôn trông gió cuôn mặt duênh
Am âm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Nếu như những bức tranh thiên nhiên bên trên đều được tái hiện trong trạng thái tĩnh thì khép lại bài thơ, bức tranh thiên nhiên được miêu tả trong trạng thái động Đó là
âm thanh dữ dội của gió, của sóng: gió làm cho mặt biên tung lên những con sóng Ô ạt đập vào bờ mà phát ra tiếng kêu Nhưng quan trong, tiếng sóng ấy không đơn thuần là những con sóng thực ở ngoài biển khơi mà đó còn là con sóng lòng của tâm trạng Điệp khúc “buôn trông” ở những câu thơ trên kết đọng tích tụ rồi dồn đấy xuống câu thơ cuối khiến cho nỗi buôn ngày càng trở nên chồng chất như lớp lớp sóng trào Đông thoi, tiéng song “Am am” dit doi ay cũng chính hình ảnh ân dụ cho cuộc đời phong ba bão táp đã và đang đồ ập xuống đời Kiểu, đỗ ập xuống đôi vai gầy yêu của một cô gái trẻ đáng thương và tội nghiệp Vì thế lúc này Kiều không chỉ buồn mà còn
lo lắng, sợ hãi như đang rơi vào vực thăm một cách bắt lực
Tóm lại: Tám câu thơ cuối, Nguyễn Du đã sử dụng thật tài tình bút pháp “tả cảnh ngụ tình” của văn học cô điển để diễn tả tâm trạng “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này” của Kiểu khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích Mỗi câu thơ là một bức tranh thực cảnh cũng chính là thực tình của một con người mang trong mình nỗi buôn đau chồng chất Đó là nỗi đau đớn, xót xa, lo lắng và khắc khoải của một kiếp má đào, trôi nồi,
vô định, mong manh và bế tắc không biết đi về nơi đâu Vì thế, dù nàng “Thông minh
von san tinh trời” nhưng đang đứng trước sự tuyệt vọng, yêu đuôi của bản thân, Kiêu
Tổng hợp: Download.vn
Trang 22đã bị Sở Khanh lừa gạt đề rồi dân thân vào một cuộc đời đây sóng gió, truân chuyên
“Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”
Qua việc phân tích ở trên, chúng ta thấy đoạn trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" là một trong những đoạn thơ hay, đặc sắc và thành công nhất trong Truyện Kiểu về nghệ
thuật miêu tả, khắc họa thế giới nội tâm nhân vật và nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình"
Qua đoạn thơ chúng ta thấy được tâm trạng, cảnh ngộ cô đơn, đáng thương, tội nghiệp
và tắm lòng thủy chung son sắt với người yêu, hiểu thảo với cha mẹ của nàng Kiều, một con người tài hoa mà bạc mệnh!
Phân tích tâm trạng Thúy Kiều - Mẫu 5 Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du Ông đã đóng góp cho nền thi ca Việt Nam cô đại một tác phẩm tuyệt vời có sức sáng tạo, vang xa tới nhiều thế hệ sau Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay nó đã lột
tả được tâm trạng của Thúy Kiểu khi phải xa Kim Trọng mối tình đầu thơ mộng tâm
trạng đau đớn khi gia đình lâm biến và bản thân nàng từ chỗ một tiểu thư xinh đẹp
khuê các phải sa chân vào chôn thanh lâu nhơ nhuôc
Trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” tác giả Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng rất
nhiều bút pháp điêu luyện nhưng nối bật lên là tả cảnh, ân tình, lấy cảnh vật đề nói lên
noi lòng của con người, người và cảnh vì thê mà tâm đâu ý hợp hòa quyện vào nhau
Sau khi gia đình lâm biến và bị Mã Giám Sinh dùng mưu hèn kế bản, gạ gẫm lừa tình rồi bị bán vào thanh lâu, Thúy Kiều đã định tự kết liễu đời mình, nhưng kế hoạch của
nàng không thành công Tú Bà thấy Thúy Kiều cương quyết sợ nàng lại tự tử lần nữa chết thật thì bà ta mat tiền oan, nên ra sức lấy lòng Thúy Kiều, ngọt nhạt để Thúy Kiều nghe lời mình mà chấp nhận tiếp khách