Trong chăn nuôi hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm có vai trò đặc biệt quan trọng. Tỷ trọng thịt gia cầm có xu hướng tăng lên và luôn đứng thứ hai sau thịt lợn. Trong thập kỷ gần đây, các hệ thống chăn nuôi gà thịt và gà đẻ trứng quy mô lớn và trung bình ở các nước Đông Nam Á chỉ tăng lên 10% mỗi năm. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của C.V.Reddy and S.Qudratullah thì sự đóng góp về thịt và trứng từ các mô hình chăn nuôi gà thả vườn nhỏ lẻ truyền thống được ước tính khoảng 50%. Không nằm ngoài quy luật phát triển trên của nghành chăn nuôi gia cầm thế giới và khu vực, trong những năm qua chăn nuôi gia cầm ở nước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Theo số liệu thống kê 3 năm (20162018) thì tổng đàn gia cầm có tốc độ tăng trưởng 6,33%; đàn gà tăng 6,93%; trong đó gà thịt tăng 7,24%, gà đẻ tăng 5,88%. Năm 2018, tổng số đàn gia cầm nước ta đạt 409 triệu con, trong đó có 317 triệu con gà chiếm 77,5%; tổng đàn gà thịt chiếm 77,6%, còn lại là gà đẻ chiếm 22,4%. Trong những năm tới, chăn nuôi gà vẫn tiếp tục được ưu tiên phát triển trong chính sách phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng. Thức ăn chăn nuôi là vấn đề quan trọng, quyết định phần lớn đến năng suất và hiệu quả chăn nuôi. Chi phí cho thức ăn trong chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gà nói riêng thường chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70% tổng chi phí, trong đó giá thành của nhóm thức ăn giàu protein thường cao hơn nhiều so với nhóm thức ăn giàu năng lượng. Những năm gần đây, tình hình thị trường thức ăn chăn nuôi có nhiều biến động, đặc biệt giá thức ăn công nghiệp tăng cao nên đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của ngành chăn nuôi. Một phần nguyên nhân đó là do nước ta phải nhập khẩu nhiều nguồn nguyên liệu thức ăn từ nước ngoài, đặc biệt là nhóm nguyên liệu thức ăn giàu protein. Chính vì vậy, việc lựa chọn nguồn nguyên liệu thức ăn, đặc biệt là nguồn thức ăn giàu protein rẻ tiền, dễ kiếm nhằm bổ sung, thay thế trong khẩu phần ăn của gà là điều rất quan trọng, giúp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, giảm giá thành của thức ăn và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một trong những nguồn thức ăn giàu protein rất đáng được quan tâm có nhiều đặc tính tốt đó là giun Quế. Giun Quế được coi là nguồn bổ sung protein khá lý tưởng cho gia cầm bởi chúng cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Giun Quế có đến 17 axit amin trong đó có 9 axit amin không thay thế rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát dục của gia cầm (Nguyễn Thanh Duy và Võ Thanh Liêm, 2005). Bên cạnh đó, khả năng tăng sinh khối của giun Quế rất tốt (tăng gấp 3,6 lần sau 60 ngày nuôi). Do đó, giun Quế đã và đang được nghiên cứu sử dụng để làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm, thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao với hàm lượng protein thô chiếm đến 70% trọng lượng thô. Đã có một số nghiên cứu về sử dụng giun Quế bổ sung trong khẩu phần ăn cho gà thịt. Theo nghiên cứu Vũ Đình Tôn và cs., (2009), khi bổ sung giun Quế cho gà thịt (Hồ x Lương Phượng) ở các mức 1%, 1,5% và 2% tính theo vật chất khô khẩu phần cho thấy: Mức bổ sung 2% giun cho tăng trọng của gà cao nhất; tỷ lệ thân thịt, thịt đùi và thịt lườn của gà ở lô bổ sung 2% giun cao hơn so với lô đối chứng. Gà Lạc Thủy là giống gà địa phương thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Hiên nay, gà Lạc Thủy đã được sưu tầm và nhân giống đưa vào chăn nuôi ở một số nông hộ ở các tỉnh phía Bắc (Vĩnh Phúc, Hà Nội..). Theo Trần Thanh Vân và cs., (2015) đã nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và sinh sản của gà Lạc Thủy tại Thái Nguyên cho thấy gà có ngoại hình đẹp, dễ nuôi, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên khá sớm, khả năng cho trứng không cao, nhưng phù hợp với nuôi chăn thả, tận dụng thức ăn địa phương tốt, đặc biệt là thịt và trứng thơm ngon. Hiện nay tại Phú Thọ, gà Lạc Thủy đang được người dân chăn nuôi nuôi ở một số nơi với quy mô nhỏ lẻ và thức ăn chủ yếu là cám công nghiệp hay tận dụng các nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên hoặc lúa gạo. Tuy nhiên, cho đến nay, việc sử dụng giun Quế làm thức ăn cho gà, đặc biệt là gà Lạc Thủy vẫn chưa được phát triển rộng rãi. Một trong những nguyên nhân là do chưa có những nghiên cứu đầy đủ về hiệu quả của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn của gà Lạc Thủy. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nói trên, tôi thực hiện đề tài: Ảnh hưởng của việc thay thế protein giun Quế (Perionyx excavatus) trong khẩu phần đến sinh trưởng và chất lượng thịt của gà Lạc Thủy nuôi tại Phú Thọ.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi
Phần 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Đặc điểm chung của gia cầm 4
2.1.2 Đặc điểm ngoại hình của gà Lạc Thủy 7
2.1.3 Dinh dưỡng và thức ăn của gia cầm 8
2.1.4 Kỹ thuật chăn nuôi gà thịt thương phẩm lông màu 16
2.1.5 Sức sản xuất thịt của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 17
2.1.6 Chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng 18
2.1.7 Một số đặc điểm của giun Quế (Perionyx excavatus) 19
2.2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước 21
2.2.2.Các nghiên cứu trên thế giới 23
Phần 3 25
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 23.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 25
3.4.2: Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun quế vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng của gà 28
3.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun quế vào khẩu phần ăn đến khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà 29
3.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun quế vào khẩu phần ăn đến năng suất, chất lượng thịt 30
3.4.5 Sơ bộ tính giá chi phí trực tiếp và hiệu quả kinh tế 32
3.5 Xử lý số liệu 32
Phần 4 33
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thịt thí nghiệm qua các tuần tuổi 33
4.2 Sinh trưởng của gà thí nghiệm 35
4.2.1 Sinh trưởng tích lũy 35
4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối 38
4.2.3 Sinh trưởng tương đối 41
4.3 Khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà 43
4.3.1 Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 43
4.3.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn 46
4.3 Kết quả mổ khảo sát để đánh giá một số chỉ tiêu về năng suất thịt 47
4.4 Kết quả mổ khảo sát để đánh giá một số chỉ tiêu về chất lượng thịt gà 51
4.4.1 Giá trị pH và tỷ lệ mất nước sau bảo quản, chế biến 51
4.4.2 Kết quả về màu sắc thịt và độ dai của thịt sau chế biến 53
4.5 Sơ bộ chi phí trực tiếp và hạch toán kinh tế 54
Phần 5 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 3DANH MỤC BẢNG, HÌNH BẢNG
Bảng 2.1 Chế độ dinh dưỡng cho gà Lạc Thủy 17
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26
Bảng 3.2 Tỷ lệ phối trộn và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm 27
Bảng 4.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 33
Bảng 4.2 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 36
Bảng 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 39
Bảng 4.4 Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 41
Bảng 4.5 Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 44
Bảng 4.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn 46
Bảng 4.7 Một số chỉ tiêu mổ khảo sát gà trống tại thời điểm gà 17 tuần tuổi 48
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu mổ khảo sát gà mái tại thời điểm gà 17 tuần tuổi 49
Bảng 4.9 Kết quả giá trị pH và tỷ lệ mất nước sau bảo quản, chế biến 51
Bảng 4.10 Kết quả về màu sắc thịt và độ dai của thịt sau chế biến 53
Bảng 4.11 Chi phí trực tiếp và hạch toán kinh tế (đ/kg tăng khối lượng) 55
HÌNH Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 37
Hình 4.2 Biều đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 40
Hình 4.3 Biều đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 42
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 61.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong chăn nuôi hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm có vai trò đặc biệtquan trọng Tỷ trọng thịt gia cầm có xu hướng tăng lên và luôn đứng thứ haisau thịt lợn Trong thập kỷ gần đây, các hệ thống chăn nuôi gà thịt và gà đẻtrứng quy mô lớn và trung bình ở các nước Đông Nam Á chỉ tăng lên 10%mỗi năm Tuy nhiên, theo nghiên cứu của C.V.Reddy and S.Qudratullah thì sựđóng góp về thịt và trứng từ các mô hình chăn nuôi gà thả vườn nhỏ lẻ truyềnthống được ước tính khoảng 50% Không nằm ngoài quy luật phát triển trêncủa nghành chăn nuôi gia cầm thế giới và khu vực, trong những năm qua chănnuôi gia cầm ở nước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc Theo số liệuthống kê 3 năm (2016-2018) thì tổng đàn gia cầm có tốc độ tăng trưởng6,33%; đàn gà tăng 6,93%; trong đó gà thịt tăng 7,24%, gà đẻ tăng 5,88%.Năm 2018, tổng số đàn gia cầm nước ta đạt 409 triệu con, trong đó có 317triệu con gà chiếm 77,5%; tổng đàn gà thịt chiếm 77,6%, còn lại là gà đẻchiếm 22,4% Trong những năm tới, chăn nuôi gà vẫn tiếp tục được ưu tiênphát triển trong chính sách phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi giacầm nói riêng
Thức ăn chăn nuôi là vấn đề quan trọng, quyết định phần lớn đến năngsuất và hiệu quả chăn nuôi Chi phí cho thức ăn trong chăn nuôi nói chung,chăn nuôi gà nói riêng thường chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 70% tổng chi phí,trong đó giá thành của nhóm thức ăn giàu protein thường cao hơn nhiều sovới nhóm thức ăn giàu năng lượng Những năm gần đây, tình hình thị trườngthức ăn chăn nuôi có nhiều biến động, đặc biệt giá thức ăn công nghiệp tăngcao nên đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của ngành chăn nuôi Một phầnnguyên nhân đó là do nước ta phải nhập khẩu nhiều nguồn nguyên liệu thức
Trang 7ăn từ nước ngoài, đặc biệt là nhóm nguyên liệu thức ăn giàu protein Chính vìvậy, việc lựa chọn nguồn nguyên liệu thức ăn, đặc biệt là nguồn thức ăn giàuprotein rẻ tiền, dễ kiếm nhằm bổ sung, thay thế trong khẩu phần ăn của gà làđiều rất quan trọng, giúp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, giảm giá thànhcủa thức ăn và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Một trong những nguồn thức ăn giàu protein rất đáng được quan tâm cónhiều đặc tính tốt đó là giun Quế Giun Quế được coi là nguồn bổ sungprotein khá lý tưởng cho gia cầm bởi chúng cung cấp đầy đủ các chất dinhdưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của vật nuôi Giun Quế cóđến 17 axit amin trong đó có 9 axit amin không thay thế rất cần thiết cho sựsinh trưởng và phát dục của gia cầm (Nguyễn Thanh Duy và Võ Thanh Liêm,2005) Bên cạnh đó, khả năng tăng sinh khối của giun Quế rất tốt (tăng gấp3,6 lần sau 60 ngày nuôi) Do đó, giun Quế đã và đang được nghiên cứu sửdụng để làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm, thủy sản đạt hiệu quả kinh
tế cao với hàm lượng protein thô chiếm đến 70% trọng lượng thô Đã có một
số nghiên cứu về sử dụng giun Quế bổ sung trong khẩu phần ăn cho gà thịt.Theo nghiên cứu Vũ Đình Tôn và cs., (2009), khi bổ sung giun Quế cho gàthịt (Hồ x Lương Phượng) ở các mức 1%, 1,5% và 2% tính theo vật chất khôkhẩu phần cho thấy: Mức bổ sung 2% giun cho tăng trọng của gà cao nhất; tỷ
lệ thân thịt, thịt đùi và thịt lườn của gà ở lô bổ sung 2% giun cao hơn so với lôđối chứng
Gà Lạc Thủy là giống gà địa phương thuộc huyện Lạc Thủy, tỉnh HòaBình Hiên nay, gà Lạc Thủy đã được sưu tầm và nhân giống đưa vào chănnuôi ở một số nông hộ ở các tỉnh phía Bắc (Vĩnh Phúc, Hà Nội ) Theo TrầnThanh Vân và cs., (2015) đã nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và sinh sảncủa gà Lạc Thủy tại Thái Nguyên cho thấy gà có ngoại hình đẹp, dễ nuôi, tuổi
đẻ quả trứng đầu tiên khá sớm, khả năng cho trứng không cao, nhưng phù hợpvới nuôi chăn thả, tận dụng thức ăn địa phương tốt, đặc biệt là thịt và trứng
Trang 8thơm ngon Hiện nay tại Phú Thọ, gà Lạc Thủy đang được người dân chănnuôi nuôi ở một số nơi với quy mô nhỏ lẻ và thức ăn chủ yếu là cám côngnghiệp hay tận dụng các nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên hoặc lúa gạo.Tuy nhiên, cho đến nay, việc sử dụng giun Quế làm thức ăn cho gà, đặc biệt là
gà Lạc Thủy vẫn chưa được phát triển rộng rãi Một trong những nguyên nhân
là do chưa có những nghiên cứu đầy đủ về hiệu quả của việc bổ sung giunQuế vào khẩu phần ăn của gà Lạc Thủy
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn nói trên, tôi thực hiện đề tài: Ảnh
hưởng của việc thay thế protein giun Quế (Perionyx excavatus) trong khẩu phần đến sinh trưởng và chất lượng thịt của gà Lạc Thủy nuôi tại Phú Thọ.
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn của
gà thịt
- Xác định mức bổ sung giun Quế thích hợp trong khẩu phần ăn của gà thịt
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Đặc điểm chung của gia cầm
* Đặc điểm sinh trưởng và phát dục
Quá trình sinh trưởng, phát dục của gia cầm chia làm hai giai đoạn: giaiđoạn phôi và giai đoạn sau khi nở
Trong giai đoạn phôi: Sau khi trứng được thụ tinh 3 - 4 giờ, hợp tử bắtđầu phân chia thành phôi bì Giai đoạn này phôi phát triển theo từng nhóm tếbào nhưng chưa phân hoá và chưa mang đặc điểm đặc trưng của tổ chức Phôiphát triển với cường độ mạnh và liên tục trong ống dẫn trứng, khi đạt đến thời
kì tiền phôi, trứng được đẻ ra ngoài cơ thể mẹ và tiếp tục phân hoá tế bào đểtạo thành các cơ quan bộ phận của cơ thể
Trong giai đoạn sau nở gồm có hai thời kì: Thời kì gà con và thời kìtrưởng thành Ở thời kì gà con: Lượng tế bào tăng lên rất nhanh, vì vậy quátrình sinh trưởng diễn ra rất mạnh Tuy nhiên ở các cơ quan khác, nhất là bộmáy tiêu hoá chưa hoàn thiện về các chức năng như: dạ dày chưa tiêu hoáđược thức ăn cứng, các men tiêu hoá chưa đầy đủ, do đó điều kiện chăm sócnuôi dưỡng và chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởngcủa gà con Vì vậy, cần phải chú ý đến các vấn đề như chăm sóc nuôi dưỡng,đặc biệt lưu ý đến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của gà,nhất là các acid amin không thay thế như lysine, methyonine, tryptophan,isoleusine, valine, leucine…
Ở thời kì trưởng thành: Các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần như đãphát triển hoàn thiện Ở thời kì này là quá trình gia cầm tích luỹ chất dinhdưỡng, một phần để duy trì sự sống, và một phần để tích luỹ mỡ Ngược lại,
số lượng tế bào tăng chậm, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kì gà con Do đó
Trang 10cần xác định thời gian giết mổ thích hợp (khi tốc độ sinh trưởng giảm) đểmang lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi gia cầm.
* Đặc điểm tiêu hoá của gia cầm
Gia cầm nói chung có mức độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn 2 - 4lần so với động vật có vú, khả năng tiêu hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡngcũng nhanh hơn (Nguyễn Đức Hùng, 2006) Cường độ tiêu hoá ở gà con là 30
- 39 cm/giờ, ở gà con lớn hơn là 32 - 40 cm/giờ
Tiêu hóa ở miệng:
Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ Kích thước, màu sắc và hình dáng của
mỏ phụ thuộc vào từng loài gia cầm khác nhau Gia cầm có tuyến nước bọtkém phát triển tuy nhiên, thức ăn đi qua khoang miệng vẫn được thấm ướt vàbôi trơn bằng dịch nhầy do tuyến nước bọt tiết ra Sau khi thức ăn được tẩmướt, chúng nhanh chóng được chuyển xuống diều qua đường thực quản
Tiêu hóa ở diều:
Phần thực quản phình to ra hình túi ở gà được gọi là diều, nó chứa được
100 - 120g thức ăn Diều có chức năng dự trữ và tẩm ướt thức ăn trong mộtthời gian nhất định, tùy thuộc vào dạng thức ăn Ví dụ: thức ăn tươi xanh hoặc
đã tẩm ướt được chuyển xuống dạ dày nhanh hơn thức ăn dạng hạt và thức ănkhô, nhờ sự co bóp của diều Thức ăn được khuấy trộn và tiêu hóa từng phần
do các men thức ăn và vi khuẩn trong thức ăn thực vật
Tiêu hóa ở dạ dày tuyến:
Dạ dày tuyến có dạng ống ngắn, vách dày, mặt trong nổi gai, đầu của dạdày tuyến nối với thực quản, đầu dưới nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Dạdày tuyến có tuyến tiết dịch nhầy và enzim tiêu hóa protein (enzim pepsin vàaxit chlohidric) Quá trình tiêu hóa ở dạ dày tuyến chỉ là sơ bộ, thức ăn đượctẩm dịch và men, rồi được chuyển xuống dạ dày cơ
Tiêu hóa ở dạ dày cơ (mề):
Trang 11Dạ dày cơ có hình ovan hoặc hình đĩa, hơi bị bóp ở phía cạnh, có thànhrất dày màu đỏ sẫm, mặt trong là lớp màng cứng nhưng đàn hồi Dạ dày cơkhông tiết dịch tiêu hóa, tại đây chỉ xảy ra quá trình tẩm dịch nhầy, nước vàmen tiêu hóa giúp làm tăng độ mềm của thức ăn Sự tiêu hóa protein và tinhbột ở dạ dày cơ vẫn được tiến hành nhờ enzim amilaza, pepsin, axitchlohidric, vi sinh vật ở khoang miệng, dạ dày tuyến đưa xuống nhưng khôngđáng kể
Sự co bóp của dạ dày cơ phụ thuộc vào độ cứng, độ to nhỏ của thức ăn,thường thì dạ dày cơ co bóp khoảng 2 - 3 lần/phút, sau đó thức ăn đượcchuyển xuống tá tràng
Tiêu hóa ở ruột:
Ruột gia cầm có chiều dài gấp 4 - 6 lần chiều dài thân, ruột chia làm haiphần: ruột non (gồm tá tràng, không tràng, hồi tràng) và ruột già (gồm manhtràng và trực tràng)
Tiêu hóa ở ruột non: Quá trình tiêu hóa ở ruột non diễn ra dưới tác dụngcủa dịch ruột, dịch tụy và dịch mật Mặt ngoài của tá tràng có tuyến tụy tiết racác men giúp phân giải đường, tinh bột, protein, lipit, chất khoáng Tuyến tụy
và túi mật có ống dẫn gắn với đoạn giữa của tá tràng để đổ dịch men và dịchmật vào tá tràng giúp tiêu hóa triệt để thức ăn thành những phân tử nhỏ, đơngiản nhất rồi chuyển xuống đoạn tiếp theo của ruột non Các enzim tiêu hóacủa dịch tụy bao gồm: Tripsin, amilaza, carboxypeptidaza, mantaza, lipaza.Trong dịch ruột chứa các men: proteolyse, enterokinaza, aminolytic vàlypolytic
Tiêu hóa ở ruột già: Ruột già ở gia cầm không phát triển, thực chất làđoạn trực tràng ngắn, đầu trên trực tràng có 2 manh tràng hay gọi là ruột tịt rấtphát triển, tại đó nhờ có hệ vi sinh vật nên chất xơ được tiêu hóa nhưng mức
độ tiêu hóa thấp, khoảng 10 - 30% Chất xơ được tiêu hóa thành đườngglucoza và được hấp thu vào máu, đặc biệt ở ruột già có sự tổng hợp vitamin
Trang 12nhóm B nhờ hệ vi sinh vật Các chất protein, gluxit còn lại từ ruột đưa xuốngruột già vẫn được tiếp tục tiêu hóa nhờ các enzim tiêu hóa từ ruột non và đượchấp thu vào máu Cặn bã thức ăn được chuyển xuống ổ nhớp, ở đó được trộnlẫn với nước tiểu và thải ra ngoài (Bùi Đức Lũng và cs., 2003)
* Đặc điểm về sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm
Khả năng kháng bệnh là tính không cảm thụ của cơ thể vật nuôi đối vớibệnh, cũng như khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể Khả năng kháng bệnh
có thể là do bẩm sinh hoặc do tập nhiễm
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm phụ thuộc và ảnh hưởngnhiều yếu tố như yếu tố di truyền và yếu tố ngoại cảnh Vì vậy, nên các giốngkhác nhau, các cá thể khác nhau, thì sức sống và khả năng kháng bệnh cũngkhác nhau Tỷ lệ nuôi sống của gà Kabir, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượngnuôi 10 tuần tuổi lần lượt là: 96%; 96,2%; 96% (Vũ Đình Tôn và cs., 2003).Mặt khác, sức sống và khả năng kháng bệnh còn chịu ảnh hưởng lớn của điềukiện môi trường như chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc, tiểu khí hậu chuồngnuôi…
Ở các tuần tuổi khác nhau thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm cũng khácnhau Theo Phùng Đức Tiến và cs (2006) thì tỷ lệ nuôi sống của gà Tàu Vàng
x Tam Hoàng, gà Mía x Tam Hoàng và gà Hồ x Tam Hoàng ở 1 - 8 tuần tuổilần lượt là 98%;94%; 92%, ở 9 - 15 tuần tuổi lần lượt là100%; 97,8%; 95,8%
Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999), cho biết khả năng di truyền về sứcsống của gia cầm rất thấp, tính trạng di truyền về sức sống của gia cầm rấtthấp (h2 là 0,06)
2.1.2 Đặc điểm ngoại hình của gà Lạc Thủy
Đây là giống gà địa phương được nông dân huyện Lạc Thủy nuôi từlâu Khi trưởng thành gà có ngoại hình gần giống với gà Mía (Sơn Tây),nhưng qua khảo sát đánh giá của các chuyên gia Viện Chăn nuôi, giống gàLạc Thủy có một số điểm khác biệt và ưu điểm vượt trội hơn hẳn
Trang 13Giống gà này là một trong những giống gà nội thuần nhất, đồng nhất vềngoại hình và có nguồn gen đặc hữu còn tiềm ẩn Bộ lông mã đẹp, phù hợpvới thị hiếu người tiêu dùng, đặc biệt là trong các dịp lễ tết Gà Lạc Thủy cótốc độ mọc lông “siêu nhanh”, chỉ sau 1 tuần tuổi đã mọc hết lông cánh, sau 4tuần tuổi có thể phân biệt trống, mái qua đặc điểm ngoại hình Đây là đặcđiểm nổi bật nhất của giống gà Lạc Thủy, mà không giống gà nào khác cóđược
Gà Lạc Thủy lúc 01 ngày tuổi có lông mao đồng nhất màu vàng baophủ toàn bộ cơ thể, mỏ và chân màu hồng Từ 2 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi gàthay dần lông mao bằng lớp lông vũ Tuần thứ 3 mỏ và da chân chuyển dầnsang màu vàng, đồng thời lông vũ ở bụng cũng được hoàn thiện Từ tuần thứ
4 trở đi mào ở con trống phát triển to, màu đỏ Từ tuần thứ 5 trở đi toàn bộlớp lông mao được thay bằng lớp lông vũ ổn định có màu đông nhất nâu lámía khô ở gà mái và màu đỏ tía sắc ánh vàng ở gà trống Dựa vào đặc điểmngoại hình phân biệt trống mái chính xác nhất là tuần thứ 6, lúc đó gà trống cómào rất phát triển còn gà mái mào chưa phát triển bằng, màu lông của gàtrống và gà mái cũng rất khác nhau Gà Lạc Thủy chủ yếu có kiểu mào là mào
cờ, màu mắt nâu vàng, màu chân vàng nhạt (Đỗ Thị Kim Dung, 2014)
2.1.3 Dinh dưỡng và thức ăn của gia cầm
2.1.3.1 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầmnuôi thịt nhưng yếu tố dinh dưỡng là quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng trựctiếp tới sức khỏe cũng như khả năng tăng trọng của gia cầm Tùy vào cácphương thức chăn nuôi gà thịt cũng như loại hình sản xuất khác nhau mà cácmức nhu cầu dinh dưỡng cho gia cầm cũng khác nhau nhưng nhìn chung đềubao gồm các thành phần cơ bản sau đây:
* Nhu cầu về năng lượng của gà thịt
Trang 14Mỗi hoạt động sống của cơ thể động vật đều gắn liền với quá trình sửdụng và trao đổi năng lượng Năng lượng không phải là một chất dinh dưỡngnhưng nó lại có thuộc tính của chất dinh dưỡng sản sinh ra năng lượng khi bịoxi hóa trong quá trình trao đổi chất của vật nuôi Năng lượng được tiềm trữtrong các dạng vật chất của thức ăn như: Lipit, gluxit, protit, hydrocacbon.Năng lượng rất cần thiết cho sự duy trì mọi hoạt động, sinh trưởng và pháttriển của cơ thể Quá trình này đòi hỏi sự lấy vào các chất dinh dưỡng để bùđắp vào chỗ vật chất của cơ thể bị đốt cháy, tạo ra năng lượng tích lũy cho cơthể lớn lên và phát triển được Năng lượng trong thức ăn được tiềm trữ trongcác dạng vật chất của thức ăn đó như: lipit, protein, cacbonhydrate (NguyễnDuy Hoan và cs., 1999).
Gia cầm nhận năng lượng từ thức ăn bên ngoài vào qua sự tiêu hóa vàhấp thu các vật chất trên ở đường tiêu hóa, sau khi được hấp thu vào cơ thể,các vật chất của thức ăn có thể tổng hợp thành lipit, đường glucogen, protitcủa cơ thể qua con đường tổng hợp sinh học
Khi lập khẩu phần cho gia cầm, mức năng lượng thường được chọn làđiểm xuất phát, làm cơ sở để lập hầu hết các nồng độ dinh dưỡng trong khẩuphần Điều này được dựa trên khái niệm cho rằng gia cầm có khuynh hướng
ăn tới khi thoả mãn nhu cầu năng lượng của chúng, giả định rằng khẩu phần ăn
có đầy đủ các dưỡng chất thiết yếu
Gia cầm thu nhận năng lượng cần thiết từ thức ăn, nhưng năng lượng đókhông được gia cầm sử dụng hoàn toàn mà bị mất đi cùng với phân, nước tiểu
và thải nhiệt Vì vậy giá trị năng lượng thực của khẩu phần thức ăn chỉ chiếm
70 - 90% giá trị năng lượng toàn phần (năng lượng tổng số, năng lượng thô)(theo Trần Công Xuân và cs., 2005)
Hàm lượng năng lượng thức ăn trong khẩu phần thức ăn có tương quannghịch với lượng thức ăn gia cầm thu nhận hàng ngày Gia cầm ăn nhiều thức
ăn với mức năng lượng thấp và ăn ít hơn với mức năng lượng cao Cùng hàm
Trang 15lượng protein là 23%, nếu mức năng lượng là 2900 kcal thì tiêu tốn thức ăncho gà Hybro và Isa là 2,35kg và 2,29kg, nếu mức năng lượng là 3200 kcalthì tiêu tốn thức ăn cho gà Hybro và Isa là 1,96kg và 1,94kg (Nguyễn ThịMai, 2001).
Hiện nay người ta tính toán nhu cầu năng lượng cho gia cầm bằng nănglượng trao đổi (ME), được thể hiện bằng số calo, kilocalo, megacalo hoặc jun,kilojun cho một con trong một ngày hoặc 1kg thức ăn hỗn hợp Để tính nhucầu năng lượng cho gà thịt thương phẩm (gà broiler) người ta dựa vào nhu cầucho duy trì và nhu cầu cho sản xuất, trong đó nhu cầu cho sản xuất chỉ là nhucầu cho tăng trọng Có thể sử dụng các công thức sau:
ME (giai đoạn 0-4 tuần tuổi) = 128,5w0,75 + 2,5#w
ME (giai đoạn trên 4 tuần tuổi) = 128,5w0,75 + 3,8#w
Trong đó: ME: nhu cầu năng lượng cho 1 gà tính bằng kcal
W0,75: thể trọng trao đổi tính bằng gam #W: tăng trọng hàng ngày tính bằng gam Theo Bùi Đức Lũng và cs (2001), tiêu chuẩn năng lượng trong khẩu phần
ăn của gà thịt công nghiệp (nhốt hoàn toàn) ở các giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi, 4 - 5tuần tuổi, 6 tuần tuổi đến giết thịt tương ứng là 2900; 2950; 3150 kcal/kg thứcăn
* Nhu cầu về protein và acid amin của gà thịt
Ngay cả khi cơ thể gia cầm không nhận được protein từ thức ăn thì quátrình trao đổi chất vẫn luôn xảy ra Protein có thể liên tục được tổng hợp vàphân hủy, vì vậy cần phải cho gia cầm ăn vào một lượng đủ protein trongkhẩu phẩn Nếu không đủ cung cấp protein theo yêu cầu, gia cầm phải huyđộng protein, lipit tích lũy để cung cấp năng lượng cho duy trì mọi hoạt độngsống của cơ thể Vì vậy, khi xây dựng khẩu phần thức ăn, cần phải cân đối đủyêu cầu protein, năng lượng cho duy trì cơ thể, cho tăng trưởng và cho sảnxuất, có như vậy mới đảm bảo cho gia cầm sức khỏe tốt, tăng khối lượng nhanh
Trang 16Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ thểsống Ngoài vai trò là thành phần chính trong cấu trúc của tế bào và mô,protein còn có nhiều chức năng khác như quyết định những đặc điểm cơ bảncủa sự sống như sự truyền đạt thông tin di truyền và chuyển hóa các chất.Protein có vai trò sinh học là: Tạo hình, xúc tác, bảo vệ, vận chuyển, vậnđộng, dự trữ và dinh dưỡng, dẫn truyền tín hiệu thần kinh, điều hòa, cung cấpnăng lượng (Hồ Trung Thông và cs., 2006).
Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chínhcủa xương, dây chằng, lông, da, các cơ quan và cơ Do protein được sử dụngcho duy trì, sinh trưởng và sản xuất nên nó phải được thường xuyên đưa vào
cơ thể Nếu protein ăn vào thấp hơn nhu cầu thì tốc độ sinh trưởng và điềukiện sống của các mô bào sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến sự phát triển chậm các cơquan cần thiết trong cơ thể (Nguyễn Đức Hưng, 2006)
Trong thành phần protein của gà có 26 acid amin, trong đó có 15 acidamin tự tổng hợp, còn lại các acit amin khác phải cung cấp từ thức ăn như:methionine, phenylalanine, lysine, leuxine, isoleuxine, threonine,Triptophane, valine…, ở gà con có thêm glycine và proline, ở gia cầm đẻtrứng còn cần thêm glutamic Mức độ hấp thu protein từ thức ăn của gà đượcxác định từ các acid amin thiết yếu Nếu lượng acid amin không đủ theo nhucầu sẽ làm giảm hấp thụ protein, khi khẩu phần thiếu so với yêu cầu một acidamin nào đó thì khả năng sử dụng protein đó từ gia cầm sẽ bị giảm đi tỷ lệthuận với nó (Đào Văn Huyên, 2003)
Sự thiếu hoặc vắng mặt một số acit amin không thay thế trong thức ăncủa gia cầm không những làm rối loạn quá trình tổng hợp protit mà còn dẫnđến phá huỷ quá trình trao đổi chất và sự tạo ra các enzim và hormone…
Nhu cầu protein của gia cầm được tính bằng số gam protein thô cho mỗicon ăn được trong một ngày đêm Tuy nhiên gia cầm không thể nuốt trực tiếpprotein theo nhu cầu mà nó phụ thuộc vào lượng thức ăn mà gia cầm thu nhận
Trang 17được hàng ngày Vì vậy, trong khẩu phần ăn của gia cầm, nhu cầu proteinthường đựơc biểu thị bằng tỷ lệ % protein thô
Có thể sử dụng công thức sau để tính nhu cầu protein cho gà thịt thươngphẩm (Nguyễn Thị Mai, 1994):
0,64: hiệu quả sử dụng protein trong thức ăn của gà thịt là 64%
* Nhu cầu vitamin và các chất khoáng
Vitamin là nhóm chất hữu cơ có phân tử nhỏ bé, chúng là những chấtxúc tác có vai trò đặc biệt quan trọng trong các hoạt động sinh lý và trao đổichất của vật nuôi Chúng tham gia vào các quá trình xúc tác sinh học trongtrao đổi các chất dinh dưỡng: protein, gluxit, lipit, khoáng, các hoạt động củacác hormone, enzim Ngoài ra, chúng cũng tham gia vào thành phần cấu tạocủa một số các hormone và các ezim trong cơ thể Vì thế mà lượng vitamin rất
ít nhưng cũng giúp cho các chuyển hoá trong cơ thể có thể đạt tốc độ phảnứng nhanh và hiệu quả phản ứng cao hơn Vì vậy, việc thừa hay thiếu bất cứmột loại vitamin nào cũng đều ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và sinhsản của gia cầm, thậm chí có vitamin chỉ thiếu có một chút cũng làm giảm sứcsản xuất của chúng
Trang 18Vitamin bao gồm có 2 nhóm: nhóm vitamin tan trong nước gồm vitaminnhóm B và vitamin C; nhóm vitamin tan trong dầu mỡ gồm vitamin A, D, E,
K (theo Nguyễn Thị Mai, 2009)
Các chất khoáng giữ vai trò quan trọng trong cơ thể gia cầm Chấtkhoáng có mặt trong mọi cơ quan tổ chức của cơ thể và tham gia nhiều chứcnăng quan trọng như cấu tạo bộ xương, lông, da và tham gia vào các phản ứngsinh hoá, tham gia vào cấu tạo các hormone, enzim trao đổi chất, giúp ổn địnhprotein ở trạng thái keo trong tế bào mô Các chất khoáng còn hoạt động nhưmột chất kích thích, hoặc ức chế các hoạt động sinh lý của cơ thể Tham giahình thành các muối, hệ thống đệm và duy trì áp suất thẩm thấu của dịch tếbào và của máu Việc thiếu hay thừa các chất khoáng đều có ảnh hưởng tới sựsinh trưởng và sinh sản của gia cầm (theo Nguyễn Thị Mai, 2009)
Chất khoáng chiếm trên dưới 10% khối lượng cơ thể gia cầm trong có
40 nguyên tố khoáng Đến nay đã phát hiện được 14 nguyên tố khoáng trong
cơ thể gia cầm, và cũng là những nguyên tố khoáng cần thiết cho chúng
Chất khoáng chiếm tổng số 3% khối lượng cơ thể gia cầm Chất khoángđược chia làm 2 nhóm:
Nhóm chất khoáng đa lượng: là những chất khoáng được cơ thể gia cầmcần với lượng nhiều hơn, gồm 7 nguyên tố: Photpho (P), Lưu huỳnh (S),Magie (Mg)Natri (Na), Kali (K), Clo (Cl), Canxi (Ca)
Nhóm chất khoáng vi lượng: nhóm này được gia cầm cần rất ít, gồm 7nguyên tố chính: Sắt (Fe), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Kẽm (Zn), Selen (Se),Coban (Co), Iot (I)
* Nhu cầu nước uống
Nước uống không phải là một nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và nănglượng nhưng nó lại là dưỡng chất thiết yếu, và nó không được ấn định nhucầu chính xác Nó tham gia vào tất cả các quá trình sống, mất 15% nước cóthể làm cơ thể chết, gà mái không được cung cấp đủ nước, sản lượng trứng sẽ
Trang 19giảm ngay từ ngày thứ 5, ở gà con, 1 tuần tuổi trong 24 giờ không được uốngnước, sinh trưởng sẽ ngừng trong 42 ngày Trong cơ thể gia cầm nước chiếm60%, trong trứng nước chiếm 66% (Nguyễn Mạnh Hùng và cs., 1994)
Nhu cầu nước uống phụ thuộc vào rất nhiều các yêu tố như: nhiệt độ, độ
ẩm tương đối của môi trường, thành phần của khẩu phần, tốc độ tăng trưởnghay sản lượng trứng và mức hiệu quả tái hấp thu nước của thận ở từng cá thể.Khi nhiệt độ môi trường tăng thì lượng nước uống cũng thay đổi, với gà thịt,nước tiêu thụ tăng lên 7% cho mỗi 10C trên 210C, và khi nhiệt độ của nước ở
320C làm cho gà giảm uống nước, gà không uống nước khi nhiệt độ của nước
do, sử dụng nước theo nhu cầu
2.1.3.2.Thức ăn trong chăn nuôi gia cầm
* Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Nhóm thức ăn cung cấp năng lượng bao gồm một số loại củ (sắn,khoai), hạt ngũ cốc và các phụ phẩm, các chất dầu mỡ và phụ phẩm của hạtngũ cốc bao gồm cám, tấm… là các loại thức ăn giàu tinh bột và giàu nănglượng Đây là loại thức ăn nghèo lysine, triptophane và methionyne Trongcác loại hạt ngũ cốc thì ngô là loại quan trọng nhất đối với gia cầm (NguyễnThị Mai, 2009)
* Nhóm thức ăn cung cấp protein
Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật: chủ yếu là các loại hạt họ đậu
và phụ phẩm của chúng, quan trọng nhất là đậu tương Hàm lượng proteintrong đậu tương dao động từ 30 - 38% Trong hạt đỗ tương có chất khángtrypsin và chymotrypsin làm giảm tỷ lệ tiêu hoá và giá trị sinh học protein của
Trang 20chúng Do đó trước khi sử dụng làm thức ăn cho gia cầm, cần xử lý nhiệtthích hợp để phân huỷ các chất gây hại, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá.
Bên cạnh đó, khô dầu của các loại hạt có dầu sau khi đã ép lấy dầu cũng
là một nguồn cung cấp protein cho gia cầm Các sản phẩm này bao gồm: khôdầu lạc, khô dầu đỗ tương, khô dầu hướng dương… ngoài ra còn có khô dầucải, khô dầu bông,… nhưng hàm lượng protein thấp hơn và hàm lượng xơ thôcao Thành phần dinh dưỡng của các loại khô dầu biến động, phụ thuộc vào côngnghệ ép dầu Tuy nhiên các loại khô dầu thường khó bảo quản do dễ bị mốc
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật bao gồm các loại: bộtxương, bột cá (bột cá cho gia cầm phải là bột cá nhạt), bột thịt xương, bột thịt,bột gia cầm, bột máu (bột máu khó tiêu hoá, có vị chát nên gia cầm khôngthích ăn), bột nhộng tằm, bột lông vũ, giun đất, dòi… (theo Vũ Duy Giảng vàcs., 1999; Bùi Đức Lũng và cs., 2001; Nguyễn Thị Mai, 2009) Đây là nguồnprotein có chất lượng cao, cân bằng các acid amin, các nguyên tố khoáng cầnthiết và một số vitamin quan trọng như vitamin B12, A, K, D, E… gia cầm rấtthích ăn và tỷ lệ tiêu hoá hấp thu cao: 95 - 100%
* Nhóm thức ăn bổ sung
Thức ăn bổ sung là những chất hữu cơ hay vô cơ được đưa vào thức ăncho gia cầm nhằm cân đối một số chất dinh dưỡng còn thiếu với lượng rất nhỏnhư vitamin, acid amin tổng hợp, mỡ…
Theo Bùi Đức Lũng và cs (2001), các loại thức ăn bổ sung bao gồm:Thức ăn bổ sung năng lượng, bổ sung protein, bổ sung vitamin, bổ sungkhoáng, bổ sung men sinh vật và ezim, bổ sung kháng sinh, bổ sung chất hữu
cơ và hoá chất tạo màu, mùi
* Hiệu quả sử dụng thức ăn và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn là một chỉ tiêu quan trọng, nó liên quan đến hiệuquả chăn nuôi và đó cũng là mối quan tâm lớn nhất của các nhà chăn nuôi Trong
Trang 21chăn nuôi gia cầm, hiệu quả sử dụng thức ăn chính là mức độ tiêu tốn thức ăn chomột đơn vị sản phẩm (Bùi Đức Lũng và cs., 2001) Hiệu quả sử dụng thức ăn đốivới gà được tính bằng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng
Theo Chambers và cs (1990), hệ số tương quan di truyền giữa khốilượng cơ thể và tốc độ tăng trọng với lượng thức ăn thu nhận là rất cao (0,5 -0,9), còn hệ số tương quan di truyền giữa tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sửdụng thức ăn có giá trị âm và biến động từ -0,2 đến -0,8
Hiệu quả sử dụng thức ăn chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố: loài,giống, dòng, cá thể, kĩ thuật nhân giống Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăngkhối lượng của các giống gà Tam Hoàng; Lương Phượng hoa lần lượt là 2,8 -
3 kg; 2,4 - 2,6 kg (Bùi Đức Lũng và cs., 2001)
Kĩ thuật chế biến thức ăn và tính chất của khẩu phần cũng ảnh hưởngđến hiệu quả sử dụng thức ăn Kết quả nghiên cứu của Ngưyễn Thị Mai(1994) đã kết luận rằng sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trongkhẩu phần sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà
Cùng một chế độ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời điểm, những
lô gà có tốc độ sinh trưởng cao hơn thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn.Vào mùa hè, sử dụng mức năng lượng 3050 kcal/kg thức ăn với mức protein25% trong giai đoạn 0 - 5 tuần tuổi và 23% trong giai đoạn 6 - 7 tuần tuổi làthích hợp nhất với gà thịt
Ngoài ra, một số yếu tố khác như thức ăn, tiểu khí hậu chuồng nuôi,quy trình chăn nuôi, quy trình vệ sinh cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngthức ăn
2.1.4 Kỹ thuật chăn nuôi gà thịt thương phẩm lông màu
* Kỹ thuật úm gà
Trước khi nhận gà 1 tuần, phải quét dọn và sát trùng chuồng trại kỹlưỡng, có đủ bạt che chắn xung quanh Nền chuồng đảm bảo được độn trấuhoặc cám cưa và sát trùng bằng foocmon trước khi đưa gà về 2-3 ngày
Trang 22Khi mới đem gà về nên cho gà uống nước ngay, sau 2 giờ mới cho gà
ăn Thời gian úm là 3 - 4 tuần Quây úm gà làm bằng cót có chiều cao 50cm,quây thành vòng tròn, đường kính quây từ 1,5 - 2m cho 120 - 200 gà Từ ngàythứ 5 bắt đầu nới rộng quây để tăng dần diện tích trong quây
Bố trí xen kẽ máng ăn và máng uống cho gà trong quây đảm bảo cho gà
ăn uống được thuận tiện Chụp sưởi là bóng hồng ngoại được treo giữa quây
gà, cao 40 - 50 cm so với mặt nền
Nhiệt độ chụp úm ở tuần thứ 1 là 31 - 330C, tuần thứ 2 là 29 - 310C,tuần thứ 3 là 28 - 290C
* Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà
Giai đoạn gà úm và sau úm cần cho gà uống nước và ăn tự do Nướccung cấp cho gà phải là nước sạch và được thay thường xuyên Thức ăn cho
gà phải đảm bảo chất lượng, không ôi thiu hay bị mốc Thường xuyên quan sátđàn gà, sớm phát hiện những dấu hiệu của dịch bệnh, những triệu chứng bấtthường như gà bỏ ăn, mệt mỏi, màu sắc của phân gà… để có biện pháp xử lýkịp thời
Bảng 2.1 Chế độ dinh dưỡng cho gà Lạc Thủy
(Theo Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà Lạc Thủy của Viện Chăn Nuôi)
Trang 23Trong ngành chăn nuôi gia cầm sức sản xuất thịt là đặc điểm kinh tếkhá quan trọng Nó được thể hiện bằng khối lượng và chất lượng thịt ở tuổigiết thịt của gia cầm
Mức độ và hiệu quả kinh tế của sức sản xuất thịt của gia cầm được đánhgiá bằng tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ nuôi sống, hiệu quả sử dụng thức ăn và tiêutốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng… nhưng chỉ tiêu cuối cùng mà cácnhà chăn nuôi quan tâm nhất là sản lượng thịt được sản xuất ra từ một gà
Chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất thịt của gia cầm bao gồm: Chỉ tiêu đánhgiá sức sản xuất thịt gia cầm sống (gồm: khối lượng cơ thể gia cầm, tốc độmọc lông, ngoại hình và sự phát triển của cơ ngực, tiêu tốn và chi phí thức ăncho một kg tăng trọng, tỷ lệ nuôi sống, chỉ số sản xuất…) và chỉ tiêu đánh giásức sản xuất thịt gia cầm khi giết mổ (gồm: tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệthịt đùi, tỷ lệ phần nội tạng ăn được, tỷ lệ mỡ bụng)
Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất thịt bao gồm: kiểu thể trạng,loài, giống, giới tính, tốc độ sinh trưởng, tốc độ mọc lông, sự phát triển của cơlườn, chi phí thức ăn cho tăng trọng
2.1.6 Chất lượng thịt và các yếu tố ảnh hưởng
Nhìn chung, thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị dinh dưỡngcủa thịt gia cầm có mức protein cao (trung bình là 18%) chứa đầy đủ cácnhóm chất dinh dưỡng cần thiết ở mức độ cân đối như năng lượng, các chấtkhoáng và acit amin
Tính ngon miệng của thịt còn liên quan đến đặc điểm hình thái của tổchức sợi cơ như đường kính sợi cơ, cấu trúc sợi cơ… và phụ thuộc vào tínhchất lý học của thịt như độ mềm và độ ướt Thịt gia cầm có những sợi cơ cầmrất mỏng và các tổ chức liên kết giữa chúng cũng nhỏ hơn so với thịt của giasúc, vì thế mà thịt gia cầm mềm hơn thịt của các loài gia súc Độ mềm và độướt của thịt phụ thuộc vào loài, giống, tuổi, tính biệt, điều kiện nuôi dưỡng,thức ăn…
Trang 24Nói chung, chất lượng thịt chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau: cácyếu tố di truyền như dòng, giống, giới tính, tuổi, khối lượng, và các yếu tốmôi trường như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, điều kiện khí hậu, thời giannghỉ ngơi trước khi giết mổ, cách giết thịt, phương pháp bảo quản thịt… Theonghiên cứu của S M Lonergan và cs (2003), thì độ sáng của thịt lườn gà ởcác giống gà broiler, gà Leghorn, gà Fayoumi lần lượt là 43,34%; 41,12%;41,31%; tỷ lệ mất nước sau chế biến của các giống gà này lần lượt là 11,47%;16,14%; 16,26%.
2.1.7 Một số đặc điểm của giun Quế (Perionyx excavatus)
*Nguồn gốc
Giun Perionyx excavatus ở Việt Nam được gọi là giun Quế hay giun
đỏ Chúng thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủynhư nơi ẩm ướt, có nhiều phân rác mục Giun Perionyx excavatus được tìmthấy ở Ấn Độ, Ceylon, Úc, Newzealan và ở Việt Nam
Giun Quế là một loại giun đất, thuộc ngành giun đốt (Annelida), tronglớp giun ít tơ (Oligochaeta) (Phan Tử Diên và cs , 1988)
* Đặc điểm hình thái cấu tạo
Giun Quế có kích thước tương đối nhỏ, có hình thon dài như một chiếctăm, thân hơi bẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1-0,2 cm, có từmàu đỏ đến màu mận chín tùy theo tuổi, màu nhạt dần về phía bụng, hai đầuhơi nhọn Cơ thể giun Quế dài, nối với nhau bằng nhiều đốt, trên mỗi đốt cómột vành tơ Khi di chuyển, các đốt co duỗi kết hợp các lông tơ phía bên dướicác đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển một cách dễ dàng (Nguyễn VănBảy, 2004)
Cơ thể giun Quế dài khoảng 10-15 cm, có từ 110-180 đốt Giun Quế cósợi tơ rất đặc biệt, nó là cơ quan vận động của giun Quế, các sợi tơ thườngngắn là điểm tựa trên thành hang giúp giun đào và di chuyển trong đất.Trên mỗi đốt có một vành tơ, các cơ quan bên trong như hệ tuần hoàn, hệ
Trang 25thần kinh, hệ bài tiết… đều sắp xếp theo đốt Đai sinh dục chiếm 5 đốt, từđốt XIII đến đốt XVII Điều đặc biệt là cơ thể chúng tiết ra mùi thơm rấtđặc trưng (Nguyễn Văn Bảy, 2000)
* Đặc điểm sinh trưởng
Giun Quế sinh trưởng bằng phương thức tăng số lượng hoặc tiết diệncác đốt trên thân
Giun Quế rất nhạy cảm, chúng có phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt
độ và biên độ nhiệt có, độ mặn và điều kiện khô hạn Nhiệt độ thích hợp chogiun Quế nằm trong khoảng từ 20 - 300C, ẩm độ 75 - 80%, pH 7,0 – 7,5(Allee và cs., 1930 và Petro, 1946) Ở nhiệt độ 300C và độ ẩm thích hợp, chúngsinh trưởng và sinh sản rất nhanh Ở nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp chúng sẽngừng hoạt động và có thể chết
Trong điều kiện môi trường bình thường, khoảng 2 - 3 tuần kén giun nở
ra ấu trùng, khi mới nở con nhỏ như đầu kim, có màu trắng, dài từ 2 - 3 cm.Sau 5 - 7 ngày chúng có thể chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện mộtvằn đỏ thẫm trên lưng, từ 15 - 30 ngày sau chúng trưởng thành và bắt đầuxuất hiện đai sinh dục, lúc này chúng có thể sinh sản, sau 3 tháng chúng trởthành giun mẹ và đẻ trứng
Trong tự nhiên, vào mùa thu và mùa xuân giun sinh trưởng nhanh, cònvào mùa đông và mùa hè thì giun sinh trưởng chậm hơn
Trang 26Kén giun được hình thành ở đai sinh dục, kén giun có hình tròn, hìnhbầu dục hoặc hình hoa, hình túi… Màu sắc thay đổi, từ khi mới đẻ có màutrắng, sau đó chuyển sang màu vàng nhạt, xanh lục hoặc màu nâu nhạt, cuốicùng là màu nâu sẫm hoặc tím sẫm Mỗi tuần giun mẹ đẻ một kén, mỗi kén có
từ 1 - 20 trứng Kén sau khi hình thành sẽ di chuyển về phía đầu và rơi ra đất
để nở thành giun con, sau 2 - 3 tuần mỗi kén nở thành 1 - 20 giun con Ngoài
ra ở giun còn có hiện tượng tái sinh khi cơ thể bị tổn thương hoặc bị cắt đứt
*Thành phần dinh dưỡng của giun Quế
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bảy (2000), giá trị dinhdưỡng của giun Quế phơi khô như sau: vật chất khô chiếm 93,62%, proteinthô chiếm 59,9%, năng lượng thô chiếm 402,09 kcal/100g, béo thô chiếm7,43%, canxi chiếm 0,11%, phốt pho chiếm 0,118%
Theo kết quả phân tích giá trị dinh dưỡng giun Quế đông khô (tạiphòng phân tích thuộc bộ môn Dinh dưỡng - Vi sinh - Đồng cỏ, khoa Chănnuôi - Thuỷ sản) của Nguyễn Đình Linh (2006), vật chất khô của giun Quế là20,69%, Protein thô là 66,14%, lipit thô là 7,4%, khoáng tổng số là 13,23%
Theo kết quả phân tích tại Trung tâm dịch vụ và phân tích thí nghiệmcủa Sở Khoa học - công nghệ môi trường TPHCM của Nguyễn Thanh Duy và
Võ Thanh Liêm (2005), giun Quế phơi khô có 93,62% vật chất khô; 59,90%protein thô; năng lượng thô: 402,09 Kcalo/100 gam; béo thô: 7,43%, xơ thô:1,73%; Ca: 0,11%; P: 0,188%
Theo Nguyễn Thanh Duy và Võ Thanh Liêm (2005) cho biết, thànhphần amino acid trong giun Quế khô có: Aspartic: 3,9%; Glutamic: 7,572%;Lysine: 2,086%; Argrinin: 6,485%
Theo Trần Thị Dân và cs., (2006), giá trị dinh dưỡng của giun Quế saukhi phơi, vật chất khô của giun Quế là 88,68%, protein là 57,14%, béo là
Trang 274,89%, khoáng tổng số là 7,9% Sau khi rang, vật chất khô của giun Quế là91,69%, protein là 41,07%, béo là 4,24%, khoáng tổng số chiếm 36,88%.
Như vậy, giun Quế rất giàu các chất dinh dưỡng, phù hợp để làm thức
ăn chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm
2.2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Các nghiên cứu trong nước
Theo Phan Tử Diên và cs., (1998), dùng giun Quế cho gà thịt ăn với sốlượng 10 - 15 con/gà/ngày là thích hợp
Theo Nguyễn Văn Bảy (2000), sử dụng giun đất tươi loài Perionyxexcavatus bổ sung cho gà thả vườn đều cho kết quả tăng trọng và tỉ lệ đẻ khảquan Nếu là gà thịt thả vườn thì cho thân thịt chắc, thơm ngon, còn ở gà đẻsản xuất trứng có tỷ lệ lòng đỏ/lòng trắng không thay đổi Đặc biệt đối với gà
đẻ ăn thức ăn có bổ sung thêm giun tươi thì bước đầu ghi nhận được hàmlượng cholesterol trong trứng không đáng kể Cho gà thịt thả vườn và gà đẻthả vườn ăn thêm giun tươi 7-10g/con/ngày đều tiết kiệm được một phần thức
ăn đáng kể khi nuôi gà với cám viên hoặc với cám nông hộ tự trộn
Theo Đỗ Thị Kim Dung (2014), gà Lạc Thủy có khối lượng cơ thểtrung bình của gà con mới nở là 33,18 g, lúc gà được 8 tuần tuổi là 535,82 g ở
gà mái và 647,92 g ở gà trống, ở tuần tuổi thứ 19 gà có khối lượng là 1717,92
g ở gà trống và 1455,85 g ở gà mái; tiêu tốn thức ăn ở gia đoạn hậu bị 1 - 19tuần tuổi của gà trống và gà mái lần lượt là: 7371,12 g và 7042,12 g
Theo Phạm Thành Định và cs, (2017), gà Lạc Thủy (Hòa Bình) vớiđiều kiện thời tiết khí hậu ôn hòa có tỷ lệ nuôi sống cao (97 - 98%), sinhtrưởng bình thường, khối lượng đạt tương đương với các giống gà địaphương trong nước
Theo tác giả Đào Huyên (2003), để chăn nuôi đạt hiệu quả cao, ngườichăn nuôi nên bổ sung 3-5% bột giun vào thức ăn cho lợn và gia cầm hoặc 5-
10 con giun tươi/gà/ngày
Trang 28Theo Lê Hồng Mận (2004), có thể cho gia cầm ăn giun tươi sau khi thuhoạch giun, có thể bắt giun cho gà ăn hàng ngày hoặc có thể bổ sung bột giunvào thức ăn của lợn, gia cầm 3-5%.
Theo Nguyễn Công Tạn (2005), khẩu phần hàng ngày của gà 56 ngàytuổi được bổ sung thêm 7,7% bột giun sẽ tăng trọng cao hơn 13% Thức ăncho gà đẻ trứng có thêm 4% bột giun thì năng suất trứng sẽ tăng 20% so vớithức ăn không có bột giun Nếu vịt được ăn mỗi ngày 30 con giun thì tỷ lệ đẻtrứng từ 80% được nâng lên 95%, trứng to, ngon, chất lượng trứng được nângcao rõ rệt Khẩu phần nuôi chim bồ câu có bổ sung thêm bột giun thì tỷ lệnuôi sống cao, sinh trưởng nhanh, thể trọng chim tăng 14,2%, tỷ lệ sống tăng5,3%, tỷ lệ đẻ trứng tăng 6,4% và hiệu quả sử dụng thức ăn cũng giảm nhiều
Theo nghiên cứu Vũ Đình Tôn và cs (2009), khi bổ sung giun Quế cho
gà thịt (Hồ x Lương Phượng) ở các mức 1%, 1,5% và 2% tính theo vật chấtkhô khẩu phần cho thấy: Mức bổ sung 2% giun cho tăng trọng của gà caonhất; tỷ lệ thân thịt, thịt đùi và thịt lườn của gà ở lô bổ sung 2% giun cao hơn
so với lô đối chứng
2.2.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nhà khoa học trên thế giới : Harwood – Úc (1976), Yoshida vàHoshii (1978), Mekada - Nhật (1979), Taboga - Mỹ (1980) và Fisher – Anh(1988) đã nghiên cứu về việc bổ sung bột giun đất vào khẩu phần ăn của giacầm như một nguồn protein chính của khẩu phần, cho tăng trưởng tươngđương hoặc tốt hơn khi cho gia cầm ăn thức ăn truyền thống giàu protein.Harwood (1976) và Mekada và ctv (1979) cho rằng, gà được ăn giun đất đãcải thiện mức tiêu tốn thức ăn tốt hơn đối chứng, nghĩa là gà ở lô thí nghiệm
có cùng tăng trọng với lô đối chứng nhưng lại có tiêu tốn thức ăn ít hơn
Mekada (1979) làm thí nghiệm dùng 5% bột giun trong khẩu phần của
gà và không thấy sự tăng trọng rõ rệt nhưng có xu hướng giảm tiêu hao thức
ăn Họ cũng thành công trên thí nghiệm nuôi gà đẻ với khẩu phần có bổ sung
Trang 29giun tươi Những thí nghiệm khác trên gà ở Trung Quốc cho thấy giun tươicắt vụn có khả năng thay thế bột cá và cải thiện được năng suất.
Một số thí nghiệm ở Ấn Độ (Kale và cs.,1982) và Philippine (Guerro,1983) cho rằng giun Quế biến đổi thành công phân gia súc, tạo ra nguồnnguyên liệu protein dùng làm thức ăn bổ sung cho gia cầm
Trong thí nghiệm dùng thức ăn tự trộn có bổ sung 300g giun đất tươicung cấp cho 27 gà (5 tuần tuổi) trong suốt 11 tuần, Vorsters (1995) kết luậnrằng giống gà địa phương tiêu thụ dễ dàng một lượng khá lớn giun đất tươi,
có thể sử dụng giun đất để thay thế cho đậu nành, bột cá trong thức ăn hỗnhợp có chất lượng thấp mà giá thành rẻ hơn Louis (1985) cho rằng có thể sửdụng giun đất làm thức ăn nuôi chim và dùng một lượng nhỏ giun đất cho giacầm để hạn chế bệnh thiếu dinh dưỡng, làm giảm tỷ lệ chết
Anthony làm nhiều thí nghiệm và xác định rằng giun đất là thức ănthích hợp để nuôi gà, nó đóng vai trò là nguồn protein bổ sung R.A.Dynes(2003) cho rằng bột giun có thể thay thế bột cá trong khẩu phần của gia cầm
và thuỷ sản với tỷ lệ 25 - 50% là thích hợp
Reed và cs., (2006) cho rằng bột giun làm tăng khả năng tăng trưởng,phát triển cơ, tăng trọng, bồi đắp lượng protein và axitamin thiếu hụt, là thức
ăn hấp dẫn hơn đối với vật nuôi
Như vậy cũng đã có một số công trình nghiên cứu về việc sử dụng giunQuế cho gia cầm Tuy nhiên các kết quả đạt được cũng rất khác nhau, nhưngchủ yếu đều cho kết quả tốt Mặc dù vậy, gần như chưa có nghiên cứu nghiêncứu nào đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun đến chất lượng thịt của giacầm Đây là hạn chế lớn mà hầu hết các nghiên cứu chưa đề cập đến
Trang 30Phần 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà Lạc Thủy từ 5 đến 17 tuần tuổi
- Giun Quế (Perionyx excavatus) bổ sung dưới dạng bột.
3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2019 đến tháng 9/2019
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Địa điểm nuôi gà thí nghiệm: Trung tâm thực nghiệm - Trường Đạihọc Hùng Vương, Phú Thọ
+ Địa điểm phân tích mẫu: Phòng thí nghiệm khoa học động vật Đạihọc Hùng Vương và tại Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3.3 Nội dung nghiên cứu
1 Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khả
năng sinh trưởng của gà.
2 Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khảnăng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà
3 Ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến năngsuất, chất lượng thịt
4 Đánh giá hiệu quả kinh tế
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên theo phươngpháp phân lô so sánh với 4 lô: 1 lô đối chứng và 3 lô thí nghiệm Mỗi lô gồm
35 con, tổng số 4 lô có 140 con Các lô đảm bảo tỷ lệ đồng đều về trống mái,
về giống, về chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như quy trình vệ sinh thú y,
Trang 31phòng bệnh… Sơ đồ bố trí thí nghiệm và thức ăn tự phối trộn theo tỷ lệ đượcthể hiện ở bảng 3.1 và 3.2.
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm Chỉ tiêu ĐVT LÔ ĐC LÔ TN 1 LÔ TN 2 LÔ TN 3
Bột giun Quế được mua tại Viện Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam
Gà được cho ăn tự do và được chia làm hai giai đoạn là: 28 ngày tuổiđến 56 ngày tuổi và 56 ngày tuổi đến xuất chuồng Sau mỗi giai đoạn thìchuyển thức ăn cho gà
- Chăm sóc: Gà được nuôi trên nền xi măng với chất độn chuồng làtrấu Gà được cho ăn theo tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho gà Lạc Thủy củaViện Chăn nuôi Gà được tiến hành phân lô và sử dụng bột giun Quế để bổsung vào khẩu phần ăn của lô thí nghiệm Gà được cho ăn tự do, nước uốngđược cung cấp thường xuyên Tiến hành tiêm phòng cho gà theo đúng lịch
Bảng 3.2 Tỷ lệ phối trộn và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thí nghiệm
Trang 3288,19 88,1
6Protein thô (%) 20,00 20,00 20,00 20,00 17,0
0
17,00
Trang 33Xơ thô(%) 3,12 3,10 3,09 3,08 2,89 3,00 3,04 3,04
Trang 343.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng của gà
* Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là một chỉ tiêu có ảnh hưởng đến khả năng sản xuấttổng thế của cả đàn, đặc biệt là hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Hàng ngàytheo dõi số gà chết và loại thải ở mỗi lô và mức độ nhiễm bệnh, toàn bộ số gàchết được mổ khám và chẩn đoán bệnh
Số gà sống cuối kỳ (con)
Số gà đầu kỳ (con)
* Khả năng sinh trưởng
- Sinh trưởng tích lũy (g/con)
Cân toàn bộ số gà ở mỗi lô, cân hàng tuần từ khi bắt đầu thí nghiệmđến kết thúc Cân buổi sáng trước khi ăn (chỉ cho gà uống nước), tiến hànhcân từng con một để xác định khối lượng sống bình quân của đàn gà thínghiệm qua các tuần tuổi Người cân và dụng cụ cân được cố định, cân bằngcân có độ chính xác ± 1g - 5g
- Sinh trưởng tuyệt đối – tăng khối lượng hàng ngày (g/con/ngày)
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong một đơn
vị thời gian giữa 2 lần khảo sát (Bùi Hữu Đoàn và cs., 2011)
P2 - P1
A =
T2 – T2
Trong đó:
A: Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
P1: Khối lượng gà cân ở thời điểm T1 (gam)
P2: Khối lượng gà cân ở thời điểm T2 (gam)
T1: Thời điểm khảo sát trước (ngày tuổi)
T2: Thời điểm khảo sát sau (ngày tuổi)
Trang 35- Sinh trưởng tương đối (%)
Sinh trưởng tương đối là khối lượng gia cầm tăng lên tương đối của lầncân sau so với lần cân trước Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường xác địnhsinh trưởng tương đối theo từng tuần tuổi, đơn vị tính sinh trưởng tương đối là tỷ
lệ phần trăm (%) (Bùi Hữu Đoàn và cs., 2011), được tính theo công thức:
P2 – P1
(P2 + P1)/2Trong đó:
R: Sinh trưởng tương đối (%)
P1: Khối lượng gà cân lần trước (gam)
P2: Khối lượng gà cân lần sau (gam)
3.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến khả năng thu nhận thức ăn và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà
* Khả năng thu nhận thức ăn
Hàng ngày cân thức ăn cho từng lô, ngày cuối tuần cân thức ăn thừa sau
đó cộng dồn sẽ tính được mức độ tiêu tốn thức ăn cho 1 kg khối lượng
Tổng số thức ăn sử dụng trong tuần (g) Lượng thức ăn thu nhận (g/con/ngày) =
Tổng số gà (con) x 7 ngày
Khối lượng thức ăn gà ăn được trong tuần được xác định bằng tổng khốilượng thức ăn cho gà ăn hàng ngày của tuần đó trừ đi khối lượng thức ăn cònthừa trên máng hàng ngày
Khối lượng thức ăn tiêu thụ ở mỗi lô của cả giai đoạn được cộng lũy kếkhối lượng thức ăn tiêu thụ các tuần tuổi
* Hiệu quả sử dụng thức ăn
Tiêu tốn thức ăn (kg)/ kg tăng khối lượng cộng dồn
Trang 36Khối lượng thức ăn thu được cộng dồn (kg)
FCR =
Khối lượng cơ thể gà tăng lên (kg)
3.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giun Quế vào khẩu phần ăn đến năng suất, chất lượng thịt
* Mổ khảo sát xác định khả năng cho thịt
Kết thúc thí nghiệm, mổ mỗi lô 3 con trống, 3 con mái có khối lượng cơthể trung bình của toàn đàn, khảo sát theo phương pháp của Auaas và R.Wilke (1987)
+ Khối lượng sống (kg) là khối lượng sau khi gà nhịn ăn 12 giờ
+ Khối lượng thân thịt (kg) là khối lượng gà sau khi cắt tiết, vặt lông,
bỏ nội tạng, cắt đầu tại vị trí giữa xương chẩm và xương atlat, cắt chân ở đoạnkhớp khuỷu
Khối lượng thân thịt (g)
Khối lượng sống (g)
Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2
Khối lượng thân thịt (g)
Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2
Khối lượng thân thịt (g)
Khối lượng mỡ bụng (g)
Trang 37Khối lượng thân thịt (g)
* Chất lượng thịt gà
- Phương pháp xác định giá trị pH của thịt
Giá trị pH của thịt ngực và thịt đùi được đo bằng máy đo pH Testo 230.Giá trị pH của thịt được đo trực tiếp trên thịt tại các thời điểm 15 phút, 24 giờ,
48 giờ và được thực hiện trên mẫu thịt ở phòng thí nghiệm Mỗi thời điểm chỉtiêu này được đo lặp lại 5 lần
- Phương pháp xác định tỷ lệ mất nước sau bảo quản và chế biến của thịt gàThịt ngực và thịt đùi gà được lọc riêng và để trong túi nilong tránh tiếpxúc với không khí, bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 20C Tại các thời điểm
24 giờ và 48 giờ, ta sẽ lấy thịt ra phơi 90 phút trong tủ mát Sau đó cho thịtvào túi nilon chuyên dụng và đem thịt đi hấp bằng máy cách thủy WaterbachMemmert ở nhiệt độ 850C trong vòng 45 phút, lấy thịt ra ngâm nước trongvòng 20 phút cho thịt nguội
Cân khối lượng thịt ngực và đùi trước và sau bảo quản, trước và sau chếbiến tại các thời điểm khác nhau (24 giờ và 48 giờ), sẽ tính được khối lượngnước bị mất đi, từ đó tính được tỷ lệ mất nước
Trang 38
- Phương pháp xác định màu sắc thịt
Sử dụng máy Minolta CR - 410 đo màu sắc thịt tại các vị trí khác nhau củamiếng thịt, màu sắc thịt được thể hiện qua 3 giá trị L* (lightness), a* (redness) vàb* (yellowness) theo tiêu chuẩn độ chiếu sáng D và góc quan sát tiêu chuẩn 650
C.I.E (C.I.E., 1978) Màu sắc được đo ở các thời điểm 24 giờ và 48 giờ
- Phương pháp đo độ dai của thịt
Độ dai được xác định bằng lực cắt tối đa đối với cơ sau khi hấp cáchthủy Mẫu cơ sau khi hấp cách thủy sẽ được làm nguội và dùng ống thépđường kính 1,25cm để khoan dọc theo chiều dài của sợi cơ Sử dụng máy xácđịnh lực Warner Bratzer 2000D (Mỹ) để đo lực để cắt mẩu thịt vừa khoanđược Lực cắt được tính bằng đơn vị Newton (N) Độ dai của mỗi mẫu thịtđược xác định là trung bình của 5 lần đo lặp lại
Độ dai thịt gà phân loại theo tiêu chuẩn của Schiling và cs (2008):
Độ dai > 4,5 thịt dai
Độ dai < 4,5 thịt không dai
3.4.5 Sơ bộ tính giá chi phí trực tiếp và hiệu quả kinh tế
- Tổng chi phí trực tiếp bao gồm: Chi phí giống, thức ăn, thuốc thú y vàcác chi phí khác (không tính công lao động)
- Tổng thu: Là tổng khối lượng gà * giá tiền của 1 kg tại thời điểm bán
3.5 Xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý theo phương pháp thống kê sinh họcbằng chương trình Excel 2010 và SPSS (Anova 1 nhân tố)
Trang 404.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thịt thí nghiệm qua các tuần tuổi.
Tỷ lệ nuôi sống của gà là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôikhông những để đánh giá khả năng sinh sản mà còn là chỉ tiêu đánh giá sứcsản xuất chung của gia cầm Ngoài ra, tỷ lệ nuôi sống còn phản ánh sức sống
và khả năng kháng bệnh của gia cầm Tỷ lệ nuôi sống chịu sự tác động của
các yếu tố ngoại cảnh và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Kết quả theo dõi tỷ lệ
nuôi sống của gà qua các tuần tuổi được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm (%)