1. Tính cấp thiết của đề tàiTrường học an toàn, thân thiện và bình đẳng giới là xu hướng tất yếu của một nền giáo dục tiên tiến và hiện đại. Điều 15 trong luật giáo dục 2019 (Luật số: 432019QH14) quy định: “Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử” 5.Phong trào về cộng đồng LGBTQ+ đang là một trong những phong trào lớn xã hội và nó đang tiến vào môi trường học đường. Nó mang lại một làn sóng mới cho các học sinh LGBTQ+, các em có thể sẽ tự tin để thể hiện bản dạng giới của bản thân hơn. Nhưng làm thế nào để học sinh LGBTQ+ có một nhân cách khỏe mạnh để tham gia vào cộng đồng xã hội chung mà không bị kì thị mới là câu hỏi lớn dành cho người làm nghiên cứu.Hiện nay, đã và đang có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về cộng đồng LGBTQ+ trên các lãnh vực xã hội, y tế, luật pháp,…Các nghiên cứu này đã cung cấp một lượng kiến thức rộng lớn, ở mức độ khái quát hoặc chuyên sâu về cộng đồng LGBTQ+. Nhiều vấn đề của cộng đồng LGBTQ+ đã được đề cập đến, đặc biệt là các vấn đề về ước mơ khát vọng được sống là chính mình; vấn đề bị kì thị và bạo lực ở gia đình, trường học, tại nơi công cộng; những khó khăn và thách thức về luật pháp đối với người LGBTQ+, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người LGBTQ+,…Phần lớn nhằm mục đích phòng chống bạo lực giới và thúc đẩy nhân quyền của con người. Cộng đồng LGBTQ+ đang đấu tranh giành nhân quyền cho chính mình để được tham gia vào cộng đồng xã hội chung một cách bình đẳng.Bên cạnh gia đình, thì trường học là môi trường mà phần lớn học sinh dành nhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hình thành nhân cách và thiết lập các mối quan hệ. Trường học là môi trường cần đề cao tính đa dạng và sự bao dung, nhưng các nghiên cứu phát hiện ra một thực tế khác hẳn như vậy. Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường năm 2016 một nửa học sinh LGBTQ+ từng bị bạn bè bắt nạt và gần một phần tư bị giáo viên, cán bộ nhà trường quấy rầy, bắt nạt bởi vì các em học sinh được coi là LGBTQ+ 4.Các đề tài nghiên cứu về tâm lý của học sinh LGBTQ+ ở trong nhà trường THPT vẫn còn hạn chế vì đây là lứa tuổi học sinh, các em đang chịu sự quản thúc của gia đình và nhà trường. Nhưng đây là khoảng thời gian quan trọng mà các em đang trong giai đoạn định hình bản dạng giới và định đình nhân cách của bản thân. Vậy nên, nhà trường nên tìm ra những định hướng hỗ trợ học sinh LGBTQ+ để các em thể hiện bản dạng giới của mình mà hành vi, cử chỉ, điệu bộ, kiểu tóc...của các em vẫn phù hợp với cộng đồng xã hội và môi trường học đường. Xuất phát từ những lý do nhân văn ở trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT tại Tp. Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình. Đề tài góp phần mang lại những định hướng tốt đẹp cho học sinh LGBTQ+ trong việc thể hiện bản dạng giới của bản thân.2. Mục đích nghiên cứuTrên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ tại các trường THPT, đề xuất các biện pháp hỗ trợ tâm lý cho học sinh, góp phần xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, tích cực.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu3.1. Đối tượng nghiên cứuBiểu hiện, mức độ của nhu cầu thể hiện bản dạng giới và các yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT.3.2. Khách thể nghiên cứuHọc sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT trên địa bàn Tp. Hồ Chí minh.4. Giả thuyết nghiên cứuNhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó học sinh LGBTQ+ THPT thể hiện bản dạng giới của mình qua ngoại hình cơ thể bao gồm quần áo, phụ kiện, kiểu tóc, trang sức, mỹ phẩm, cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ, và các khuôn mẫu hành vi trong giao tiếp với người khác.Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT chịu sự chi phối từ những yếu tố bên trong tâm lý cá nhân, bao gồm sự tin tưởng bản thân, ý chí, năng lực học tập và chịu sự chi phối từ các yếu tố bên ngoài cá nhân, bao gồm gia đình, nhà trường, bạn bè, cộng đồng xã hội.5. Nhiệm vụ nghiên cứuHệ thống hóa các vấn đề lý luận về nhu cầu, bản dạng giới, nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT, mục đích và các yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT.Khảo sát, đánh giá thực trạng, bao gồm biểu hiện, mức độ, mục đích và các yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT.Đề xuất một số biện pháp và định hướng hỗ trợ tâm lý cho học sinh LGBTQ+ trong trường THPT.6. Giới hạn phạm vi nghiên cứuDo điều kiện về mặt thời gian và khả năng nghiên cứu, cũng như giới hạn về số lượng mẫu (học sinh LGBTQ+ THPT là học sinh thiểu số), nên đề tài chỉ tập trung khảo sát và phỏng vấn trên học sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT tại Tp. Hồ Chí Minh. Cụ thể gồm: trường THPT Marie Curie, trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, trường THPT Nguyễn Tất Thành, trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, trường THPT Võ Thị Sáu, trường THPT Trần Phú, trường THPT Lê Trọng Tấn, trường THPT Phước Kiển, trường THPT Bình Khánh.Đề tài cũng khảo sát thêm học sinh THPT ngoài LGBTQ+ (học sinh dị tính) để so sánh và đối chiếu với học sinh LGBTQ+ THPT. Ngoài khảo sát trên học sinh, đề tài cũng tiến hành khảo sát và phỏng vấn sâu thêm các giáo viên tâm lý học đường đang hỗ trợ tâm lý cho học sinh LGBTQ+ THPT, các giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm nhằm phác họa rõ nét hơn bối cảnh về nhu cầu thể hiện bản dạng giới, cũng như những thuận lợi và khó khăn của học sinh LGBTQ+ THPT trong nhà trường phổ thông.7. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các nhómphương pháp nghiên cứu sau:7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết Phương pháp phân loại và hệ thống hóa.7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp chuyên gia Phương pháp trắc nghiệm Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Phương pháp phỏng vấn sâu.7.3. Nhóm phương pháp xử lí kết quả nghiên cứu Phương pháp xử lý thống kê.8. Đóng góp mới của luận vănPhần lớn các đề tài khác nghiên cứu về học sinh THPT trên diện rộng còn đề tài đi vào nhóm học sinh LGBTQ+, nhóm học sinh thiểu số. Hơn nữa, các đề tài khác nghiên cứu về người LGBTQ+ ở lứa tuổi trưởng thành, sau 18 tuổi. Còn đề tài này tập trung vào lứa tuổi học sinh THPT, lứa tuổi các em đang định hình và phát triển nhân cách.Đề tài tập trung vào tìm hiểu về tâm lý học sinh LGBTQ+, nhu cầu thể hiện bản dạng giới thật sự bên trong tâm lý của các em, chứ không chỉ tìm hiểu về bối cảnh bên ngoài bản thân của các em.Đề tài hướng đến xây dựng một sức khỏe tâm lý khỏe mạnh cho các em học sinh LGBTQ+ để các em tự thân phát triển, tự đối diện với vấn đề của cộng đồng xã hội thay vì chỉ đấu tranh, kêu gọi cộng đồng xã hội giảm sự kì thị đối với các em học sinh LGBTQ+. 9. Cấu trúc luận vănNgoài phân mở đầu, luận văn có cấu trúc như sau:Chương 1. Lí luận tâm lý học về nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT.Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứuChương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng về nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC TRƯỜNG HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐỨC SƠN
Hà Nội, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết đây chính là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hỗtrợ của giáo viên hướng dẫn là PGS TS Nguyễn Đức Sơn Tất cả các nội dung được đềcập đến trong đề tài này đều trung thực và xác tín, cụ thể: Phần nội dung lý luận đượctrích dẫn đầy đủ và có nguồn gốc rõ ràng; Phần kết quả nghiên cứu và số liệu hoàn toàntrung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Pháp luật và Hội đồng về kết quả luậnvăn nếu phát hiện bất kì sự gian lận nào
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2020
Học viên ký tên
Nguyễn Thị Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi vô cùng biết ơn tất cả Quý Thầy Cô, Phòng Sau đại học, tất cả các cá nhân vàtập thể đã hỗ trợ tôi trong từng giai đoạn thực hiện đề tài, vì nếu không có sự giúp đỡquý giá đó, cá nhân tôi không thể nào hoàn thành được đề tài nghiên cứu này Xin chânthành tri ân Tất cả!
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô và ban quản lí trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội, quý thầy cô khoa Tâm lí giáo dục cùng các thầy cô phòng Sau Đạihọc
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến tất cả quý thầy cô trong hội đồng chấm đề cương
vì đã hướng dẫn, tạo điều kiện để tôi hoàn thiện đề tài của mình trong bước đầu đầy bỡngỡ Xin chân thành tri ân Quý thầy cô!
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Hội cha mẹ học sinh, thầy cô giáo chủnhiệm, giáo viên tâm lý học đường và đặc biệt là các em học sinh các khối lớp 10, lớp 11
và lớp 12 tại các trường THPT Võ Thị Sáu, Bình Khánh, Marie Curie, Nguyễn TấtThành, Nguyễn Hữu Thọ, Trần Phú, Phước Kiển và Nguyễn Hữu Cảnh ở Tp Hồ ChíMinh đã dành thời gian quý báu tham gia khảo sát Đặc biệt là quý thầy, cô đã rất tậntình giúp đỡ để tôi có thể tiến hành khảo sát trên các em học sinh
Sau cùng, Tôi xin chân thành gởi lời tri ân sâu sắc nhất dành cho giáo viên hướngdẫn: PGS.TS Nguyễn Đức Sơn Thầy luôn nhắc nhở, chỉ dạy tôi bằng sự nhiệt tâm củanhà giáo dục với mong muốn tôi phát triển về tri thức Và trên hết, tôi vô cùng biết ơntất cả sự dẫn dắt và hỗ trợ quý báu của Thầy trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2020
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang 66 GSD Gender and Sexuality Diversity
11 LGBTQ+ Đồng tính, song tính, chuyển giới và đa dạng giới hoặc
những người vẫn còn đang trong giai đoạn tìm hiểu về mình
12 SGM Sexual and Gender Minorities
(Dân số thiểu số về tính dục và giới tính)
13 SOGI Sexual orientation and gender identity
(Xu hướng tính dục và bản dạng giới)
14 TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
15 THPT Trung học phổ thông
16 UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization
(Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa Liên Hiệp Quốc)
17 UNFPA United Nations Population Fund
(Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc)
18 UNICEF United Nations Children's Fund
(Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc)
19 WHO World Health Organization
(Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
DANH MỤC BẢNG
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng giới là xu hướng tất yếu của mộtnền giáo dục tiên tiến và hiện đại Điều 15 trong luật giáo dục 2019 (Luật số:
43/2019/QH14) quy định: “Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử” [5].
Phong trào về cộng đồng LGBTQ+ đang là một trong những phong trào lớn
xã hội và nó đang tiến vào môi trường học đường Nó mang lại một làn sóng mớicho các học sinh LGBTQ+, các em có thể sẽ tự tin để thể hiện bản dạng giới củabản thân hơn Nhưng làm thế nào để học sinh LGBTQ+ có một nhân cách khỏemạnh để tham gia vào cộng đồng xã hội chung mà không bị kì thị mới là câu hỏilớn dành cho người làm nghiên cứu
Hiện nay, đã và đang có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về cộng đồngLGBTQ+ trên các lãnh vực xã hội, y tế, luật pháp,…Các nghiên cứu này đã cungcấp một lượng kiến thức rộng lớn, ở mức độ khái quát hoặc chuyên sâu về cộngđồng LGBTQ+ Nhiều vấn đề của cộng đồng LGBTQ+ đã được đề cập đến, đặcbiệt là các vấn đề về ước mơ khát vọng được sống là chính mình; vấn đề bị kì thị vàbạo lực ở gia đình, trường học, tại nơi công cộng; những khó khăn và thách thức vềluật pháp đối với người LGBTQ+, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người LGBTQ+,
…Phần lớn nhằm mục đích phòng chống bạo lực giới và thúc đẩy nhân quyền củacon người Cộng đồng LGBTQ+ đang đấu tranh giành nhân quyền cho chính mình
để được tham gia vào cộng đồng xã hội chung một cách bình đẳng
Bên cạnh gia đình, thì trường học là môi trường mà phần lớn học sinh dànhnhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hình thành nhân cách và thiết lập cácmối quan hệ Trường học là môi trường cần đề cao tính đa dạng và sự bao dung,nhưng các nghiên cứu phát hiện ra một thực tế khác hẳn như vậy Theo nghiên cứucủa Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường năm 2016 một nửa học sinhLGBTQ+ từng bị bạn bè bắt nạt và gần một phần tư bị giáo viên, cán bộ nhà trườngquấy rầy, bắt nạt bởi vì các em học sinh được coi là LGBTQ+ [4]
Trang 9Các đề tài nghiên cứu về tâm lý của học sinh LGBTQ+ ở trong nhà trườngTHPT vẫn còn hạn chế vì đây là lứa tuổi học sinh, các em đang chịu sự quản thúccủa gia đình và nhà trường Nhưng đây là khoảng thời gian quan trọng mà các emđang trong giai đoạn định hình bản dạng giới và định đình nhân cách của bản thân.Vậy nên, nhà trường nên tìm ra những định hướng hỗ trợ học sinh LGBTQ+ để các
em thể hiện bản dạng giới của mình mà hành vi, cử chỉ, điệu bộ, kiểu tóc của các
em vẫn phù hợp với cộng đồng xã hội và môi trường học đường
Xuất phát từ những lý do nhân văn ở trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT tại Tp
Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình Đề tài góp phần mang lại những địnhhướng tốt đẹp cho học sinh LGBTQ+ trong việc thể hiện bản dạng giới của bản thân
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng nhu cầu thể hiện bản dạng giới củahọc sinh LGBTQ+ tại các trường THPT, đề xuất các biện pháp hỗ trợ tâm lý cho họcsinh, góp phần xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, tích cực
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện, mức độ của nhu cầu thể hiện bản dạng giới và các yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT trên địa bàn Tp Hồ Chí minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT được thể hiện ởnhiều khía cạnh khác nhau, trong đó học sinh LGBTQ+ THPT thể hiện bản dạnggiới của mình qua ngoại hình cơ thể bao gồm quần áo, phụ kiện, kiểu tóc, trangsức, mỹ phẩm, cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ, và các khuôn mẫu hành vi trong giao tiếpvới người khác
Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT chịu sự chi phối
từ những yếu tố bên trong tâm lý cá nhân, bao gồm sự tin tưởng bản thân, ý chí,năng lực học tập và chịu sự chi phối từ các yếu tố bên ngoài cá nhân, bao gồm giađình, nhà trường, bạn bè, cộng đồng xã hội
Trang 105 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nhu cầu, bản dạng giới, nhu cầu thể hiệnbản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT, mục đích và các yếu tố tác động đếnnhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT
Khảo sát, đánh giá thực trạng, bao gồm biểu hiện, mức độ, mục đích và cácyếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT
Đề xuất một số biện pháp và định hướng hỗ trợ tâm lý cho học sinh LGBTQ+trong trường THPT
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về mặt thời gian và khả năng nghiên cứu, cũng như giới hạn về
số lượng mẫu (học sinh LGBTQ+ THPT là học sinh thiểu số), nên đề tài chỉ tậptrung khảo sát và phỏng vấn trên học sinh LGBTQ+ ở một số trường THPT tại Tp
Hồ Chí Minh Cụ thể gồm: trường THPT Marie Curie, trường THPT Nguyễn HữuThọ, trường THPT Nguyễn Tất Thành, trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh, trườngTHPT Võ Thị Sáu, trường THPT Trần Phú, trường THPT Lê Trọng Tấn, trườngTHPT Phước Kiển, trường THPT Bình Khánh
Đề tài cũng khảo sát thêm học sinh THPT ngoài LGBTQ+ (học sinh dị tính)
để so sánh và đối chiếu với học sinh LGBTQ+ THPT
Ngoài khảo sát trên học sinh, đề tài cũng tiến hành khảo sát và phỏng vấn sâuthêm các giáo viên tâm lý học đường đang hỗ trợ tâm lý cho học sinh LGBTQ+THPT, các giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm nhằm phác họa rõ nét hơn bốicảnh về nhu cầu thể hiện bản dạng giới, cũng như những thuận lợi và khó khăn củahọc sinh LGBTQ+ THPT trong nhà trường phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng các nhómphương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
Trang 118 Đóng góp mới của luận văn
Phần lớn các đề tài khác nghiên cứu về học sinh THPT trên diện rộng còn đềtài đi vào nhóm học sinh LGBTQ+, nhóm học sinh thiểu số Hơn nữa, các đề tàikhác nghiên cứu về người LGBTQ+ ở lứa tuổi trưởng thành, sau 18 tuổi Còn đề tàinày tập trung vào lứa tuổi học sinh THPT, lứa tuổi các em đang định hình và pháttriển nhân cách
Đề tài tập trung vào tìm hiểu về tâm lý học sinh LGBTQ+, nhu cầu thể hiệnbản dạng giới thật sự bên trong tâm lý của các em, chứ không chỉ tìm hiểu về bốicảnh bên ngoài bản thân của các em
Đề tài hướng đến xây dựng một sức khỏe tâm lý khỏe mạnh cho các em họcsinh LGBTQ+ để các em tự thân phát triển, tự đối diện với vấn đề của cộng đồng
xã hội thay vì chỉ đấu tranh, kêu gọi cộng đồng xã hội giảm sự kì thị đối với các emhọc sinh LGBTQ+
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phân mở đầu, luận văn có cấu trúc như sau:
Chương 1 Lí luận tâm lý học về nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinhLGBTQ+ THPT
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu thực trạng về nhu cầu thể hiện bản dạng giớicủa học sinh LGBTQ+ THPT
Trang 12CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC VỀ NHU CẦU THỂ HIỆN BẢN DẠNG
GIỚI CỦA HỌC SINH LGBTQ+ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về ý nghĩa và tầm quan trọng của tâm lý học trong nghiên cứu LGBTQ+
Kitzinger và Coyle (2002) lưu ý rằng tâm lý học chính thống đối phó với cácchủ đề chính như giáo dục, công việc và giải trí, phát triển tuổi thọ, nuôi dạy concái, sức khỏe,…Như vậy, nếu bỏ qua những người đồng tính nữ hay những ngườiđồng tính nam hoàn toàn, thì điều này giống như những người đồng tính nữ vàđồng tính nam không bao giờ được đi học, không có việc làm hoặc hoạt động giảitrí, không lớn lên hay già đi, không bao giờ có con cái,…[39]
Theo nhà nghiên cứu chính Charlotte Patterson về lý do tại sao chúng ta cần đến
tâm lý học LGBTQ+, nghiên cứu tâm lý học về xu hướng tính dục và bản dạng giới
không phải là công việc duy nhất chúng ta làm, nhưng nó có thể là một cánh cửa màchúng ta phải mở khóa Nó giúp chúng ta hiểu và khẳng định được xu hướng tính dục
và bản dạng giới tính của bản thân Hơn thế nữa, nghiên cứu về cuộc sống của cộngđồng LGBTQ+ có thể giúp chúng ta hiểu cuộc sống của chính mình [18]
Có thể nói tâm lý học LGBTQ+ là một mô hình thu nhỏ của tâm lý học và nóbao hàm rất nhiều quan điểm về ai hoặc những gì chúng ta nghiên cứu, các lýthuyết và phương pháp chúng ta sử dụng khi tiến hành nghiên cứu Các cuộc tranhluận giữa các nhà tâm lý học LGBTQ+ thường sôi nổi hoặc sống động hơn, cũnggiống như giữa các nhà tâm lý học LGBTQ+ và các nhà tâm lý học chính thống
Nó tìm cách xóa bỏ định kiến và phân biệt đối xử giữa người LGBTQ+ so vớinhững đặc quyền của người dị tính trong tâm lý học và trong xã hội rộng lớn hơn
Nó cung cấp một loạt các quan điểm tâm lý về cuộc sống và trải nghiệm của nhữngngười LGBTQ+ và về tính dục và giới tính của LGBTQ+ [19]
Như vậy, tâm lý học LGBTQ+ và không LGBTQ+ được đan kết với nhau sẽtạo ra một bức tranh về sống đời sống mạnh hơn và bền vững hơn Cũng như đốivới học sinh LGBTQ+ trong nhà trường, cùng nhau chung tay xây dựng một môi
Trang 13học đường đường phong phú và đa dạng, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt về bảndạng giới, hướng tới một cộng đồng xã hội nhân ái và văn minh.
1.1.1.2 Các nghiên cứu về trẻ em LGBTQ+
Trẻ em đa dạng giới (GSD) phải đối mặt với các vấn đề về quyền tự chủ vàđưa ra quyết định phù hợp với sự phát triển của các em so với những đứa trẻ khác.Trẻ em đa dạng giới có thể bị áp lực với những lỗ hổng từ phía gia đình và (hoặc) bị
từ chối nếu trường hợp của các em thuộc một nhóm giới tính thiểu số hoặc giới tính
ít được tiết lộ Đối với một số trẻ em, lỗ hổng này mạnh đến mức nếu gia đình biết vềtình trạng GSD của các em, các em có nguy cơ bị đuổi khỏi nhà và một số trẻ emphải đối mặt với sự xấu hổ này, có thể cảm thấy không có lựa chọn nào khác ngoài tựsát Một ước tính thận trọng là 20% thanh thiếu niên vô gia cư là GSD, nhiều hơnnhiều so với ước tính của GSD trong dân số nói chung Do bị bắt nạt, ở trường hoặc
ở nhà, trẻ em GSD ở độ tuổi 7-12 có khả năng tự tử cao gấp đôi so với các bạn dịtính cùng lứa trang lứa [57]
Để giải quyết những nguy cơ đáng kể này cho thanh thiếu niên GSD, các nhànghiên cứu phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các thiết kế các nghiên cứu
để bảo vệ quyền riêng tư và “tính toàn diện” cho thanh thiếu niên GSD Đối vớinhững trẻ em chưa cảm thấy an toàn khi chia sẻ danh tính giới tính hoặc giới tínhcủa mình thì thường không đủ sự cho phép từ cha mẹ Những gia đình này cũng cóthể cần tiếp cận với những người chuyên môn và đáng tin cậy để cung cấp mộtbảng đánh giá khi xem xét tham gia nghiên cứu [63]
Hiện nay, nhận thức, hỗ trợ và chấp nhận danh tính GSD cao hơn nên giới trẻGSD ngày nay có thể quản lý được những áp bức và phân biệt đối xử tốt hơn so vớicác cá nhân lớn lên ở thời gian trước (20, 30 hoặc 40 năm trước) Trong một cuộcthăm dò của Gallup từ năm 2013, 70% thanh niên từ 18 đến 29 tuổi ủng hộ hônnhân đồng giới hợp pháp, tăng từ 41% vào năm 1996 Trong cùng một cuộc thăm
dò, chỉ có 41% từ 65 tuổi trở lên ủng hộ hôn nhân đồng giới hợp pháp vào năm
2013, tăng từ 14% năm 1996 [35]
Nghiên cứu của Katz-Wise (2016) nghiên cứu về sự gắn bó, sự chấp nhận vàchối bỏ của cha mẹ và có ý nghĩa như thế nào đối với bản dạng giới và sức khỏecủa giới trẻ LGBT Nghiên cứu đã phân tích hai trường hợp lâm sàng để minh họa
Trang 14tác động của sự chấp nhận và sự từ chối từ gia đình trên hai đối tượng: một thanhniên chuyển giới và một thanh niên không xác định giới Kết quả nghiên cứu quansát, phân tích định tính đã cho thấy sự chấp nhận và từ chối của gia đình là rất quantrọng đối với sức khỏe và hạnh phúc của thanh niên LGBT Cần nhiều nghiên cứuhơn để hiểu hơn về sự ảnh hưởng của sự chấp nhận và từ chối của gia đình đến đờisống của thanh niên trong cộng đồng LGBT Những chuyên gia trong lĩnh vựcchăm sóc sức khỏe tinh thần ở cộng đồng LGBT trẻ tuổi nên giải quyết các vấn đề
về sự chấp nhận và từ chối từ gia đình trong các lần khám lâm sàng để đảm bảorằng các thanh thiếu niên phát triển ý thức lành mạnh về xu hướng tình dục và bảndạng giới của các em [38]
1.1.1.3 Các nghiên cứu về LGBTQ+ trong trường học
Các nghiên cứu gần đây cung cấp bằng chứng rõ ràng về xu hướng tính dục
và sự chênh lệch liên quan đến bản dạng giới trong các trải nghiệm ở trường học:Một báo cáo dựa trên dữ liệu từ cuộc khảo sát giám sát sức khỏe học đườnglớn nhất toàn quốc tại Hoa Kỳ (Hệ thống giám sát hành vi rủi ro của thanh thiếuniên) đã ghi nhận rằng 34% thanh niên đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính(LGB) có khả năng bị bắt nạt ở trường so với 19% thanh niên dị tính [37] Mộtnghiên cứu quốc gia khác ở Hoa Kỳ về thanh niên LGBTQ+cho thấy 89% đã trảiqua ít nhất một loại nạn nhân; cụ thể, 67% là nạn nhân vì xu hướng tính dục của họ
và 60% vì thể hiện giới tính của họ [29]
Cũng có các bằng chứng mạnh mẽ về những tác động bất lợi của việc bắt nạt
và phân biệt đối xử đối với sức khỏe và hạnh phúc của thanh thiếu niên ở tuổi đihọc [20] bao gồm cả việc thành công trong học tập và cảm nhận không khí giốngnhư thù địch ở học đường [12]
Bên cạnh đó, có sự phát triển một số chính sách và thực tiễn về xu hướng tính dục
và bản dạng giới (SOGI) của nhà trường, bao gồm sự phát triển chuyên môn của nhânviên, tài nguyên và thông tin, cùng với sự hiện hữu của môi trường học tập an toàn vànhóm các học sinh lãnh đạo Nó cho thấy môi trường học đường đã được cải thiện tíchcực dành cho tất cả thanh thiếu niên và giảm hành vi bắt nạt và phân biệt đối xử [55],[56].Mặc dù đã có những tiến bộ lớn nhưng những kiến thức hiện tại đã bị cắtgiảm do một số hạn chế đáng chú ý của các nghiên cứu trước đây Đầu tiên, gần
Trang 15như tất cả các nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào thanh niên LGB, hoặc thanhniên LGBT như một nhóm nguyên khối kết hợp duy nhất, điều này có khả năng chekhuất những trải nghiệm đặc biệt liên quan đến tính độc lập của bản dạng giới trong
xu hướng tính dục Lỗ hổng trong tài liệu này đặc biệt liên quan đến bằng chứngđược đưa ra trong báo cáo: thanh thiếu niên chuyển giới trải qua môi trường họcđường đặc biệt khắc nghiệt liên quan đến quấy rối và cảm thấy không an toàn ởtrường học [47]
Một hạn chế thứ hai là gần như tất cả các nghiên cứu trước đây đã được rút ra
từ các nghiên cứu địa phương, khu vực hoặc quốc gia được thiết kế để điều tra kinhnghiệm học đường của thanh niên LGBT Những nghiên cứu này thường dựa trêncác mẫu trong cộng đồng không có giới hạn hoặc có giới hạn về mặt địa lý Vớiđiều đáng chú ý là càng ngày càng gia tăng sự chênh lệch liên quan đến xu hướngtính dục và bản dạng giới trong trường học Các nỗ lực giám sát đã nhiều hơn, đượcbắt đầu từ các câu hỏi về xu hướng tính dục và bản dạng giới của từng thanh niên.Việc đưa ra các biện pháp tập trung vào SOGI đã tạo ra những nỗ lực mới đểnghiên cứu các chính sách và thực tiễn: ở cấp bậc trường học nào thì liên quan đếnthông tin về sức khỏe và hạnh phúc của học sinh cấp ở cấp bậc đó
Như vậy, để mang tính toàn diện hơn chúng ta nên xem xét trải nghiệm ở cả họcsinh LGBTQ+ và học sinh dị tính Để từ đó, chúng ta có cái nhìn bao quát và đưa ranhững biện pháp hỗ trợ tốt nhất cho học sinh LGBTQ+ trong cộng đồng chung
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
An Giang về đồng tính cho thấy thì một phần lớn người dân đang có kiến thức sai
về đồng tính hoặc có thái độ tiêu cực về đồng tính như: 48% người tham gia đồng ýrằng đồng tính có thể chữa được, 57% cho rằng đồng tính là trào lưu xã hội, 62%cho rằng người đồng tính không thể sinh con và đặc biệt 77% người trả lời cho rằng
họ sẽ thất vọng nếu con cái của họ là người đồng tính và 58% sẽ ngăn cản con chơi
Trang 16với người đồng tính [7].
Nghiên cứu của Đặng Kim Hoàn, Nguyễn Thị Thanh Phượng, Đinh ThịHuyền Trang và Bùi Văn Vân (2012) đã tiến hành khảo sát trên 200 sinh viêntrường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng nhằm tìm hiểu thái độ của sinh viênđối với tình dục đồng giới Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sinh viên có hiểu biết,nhận thức đúng chiếm 75.9%, tuy nhiên nhận thức chưa đầy đủ và tiêu cực vẫn cònmột tỉ lệ khá cao, chiếm 24.1% Nghiên cứu cũng nhận thấy sinh viên được học vềgiáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản (GDGT & SKSS) có nhận thức đúng và sâusắc hơn nhóm sinh viên chưa được học; 33,1% sinh viên có xúc cảm tiêu cực và chỉ
có 47% sinh viên có hành vi tích cực trong khi có đến 53% sinh viên có hành vicòn tiêu cực đối với tình dục đồng giới Điều đó cho thấy sinh viên đã có nhận thức
và xúc cảm tốt nhưng chưa chuyển hóa thành hành vi tích cực trong thái độ đối vớitình dục đồng giới Xét theo góc độ giới tính, có sự chênh lệch trong thái độ của haigiới nam và nữ như sau: nữ sinh viên có nhận thức tốt hơn nam sinh viên Tuynhiên, nam sinh viên có xúc cảm tình cảm và hành vi tốt hơn nữ sinh viên [3].Nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh đã thực hiện khảo sát trên 150 nhânviên y tế bao gồm 61 câu hỏi và 12 cuộc phỏng vấn sâu tại hai đô thị trung tâm ởViệt Nam là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm hiểu sự hiểu lầm và thiếukiến thức của các chuyên gia y tế tại Việt Nam liên quan đến quan hệ tình dục namgiới với nam giới (MSM) và chuyển giới Nghiên cứu này sử dụng khảo sát dựatrên ba chủ đề chính bao gồm (1) kiến thức chung của nhân viên y tế về MSM vàngười chuyển giới; (2) kiến thức của họ về sức khỏe sinh sản tình dục và virus suygiảm miễn dịch ở người, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV / AIDS) cónguy cơ mắc ở MSM và người chuyển giới; và (3) thái độ và hành vi của họ đối vớiMSM và người chuyển giới Một trong những phát hiện đáng chú ý là mức độ phổbiến của những nhận thức sai về những chủ đề trên, ở cả nhân viên của cả hai giới,trong hai thành phố, tại các loại cơ sở y tế, ở các vị trí công việc và trình độ học vấnkhác nhau Trong khi một nửa số người được hỏi cho rằng người chuyển giới cóvấn đề về tâm thần có thể chữa được thì có 45% số người được hỏi cho rằng MSMchỉ quan hệ tình dục với nam giới Đáng chú ý nhất, 12,7% nêu rõ nếu họ được lựachọn, họ không muốn thực hiện bất kỳ hành vi gì đối với MSM và người chuyển
Trang 17giới Nghiên cứu cho thấy có một tỷ lệ đáng kể các chuyên gia y tế thiếu kiến thức
về sự đa dạng của xu hướng tình dục, bản dạng giới và các vấn đề sức khỏe liên quanđến nhóm có xu hướng tính dục thiểu số và bảng dạng giới chưa xác định Để cải thiệnquy trình lâm sàng phục vụ các nhóm có nguy cơ này, nghiên cứu cho thấy giáo dục liêntục cho nhân viên y tế cần được bổ sung vào đào tạo chính quy cũng như tại cơ sở làmviệc [50]
Phạm Thu Hoa & Đồng Thị Yến (2015) đưa ra nhận định định kiến, kỳ thị vàphân biệt đối xử đã ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của cộng đồng LGBTQ+ ở ViệtNam Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cộng đồng LGBTQ+ phải chịu đựng bạo lựcthể xác ở mức độ cao, quấy rối tình dục và xúc phạm bằng lời nói Nhưng có lẽ, sựtổn thương lớn nhất đối với họ chính là sự chối bỏ của gia đình, công việc không ổnđịnh Sự bi quan trong tình yêu đã khiến người đồng tính, chuyển giới trở nên chánnản, bi quan và trầm cảm Nhiều người đồng tính, chuyển giới vì sự xa lánh và kỳthị của gia đình, nhà trường và xã hội mà có những suy nghĩ và hành vi tiêu cực.Rất nhiều người trong cộng đồng LGBTQ+ đã trải qua giai đoạn khủng hoảngtrước những quyết định quan trọng của cuộc đời mình đó là có “công khai” bảndạng giới hoặc đi phẫu thuật hay không? Ngay cả những người đã công khai hoặc
đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính cũng sẽ mất vài năm đầu hoang mang, khủnghoảng khi phải chịu sự định kiến, kỳ thị của xã hội [2]
Hiện nay, quan niệm về cộng đồng LGBTQ+ rất đa dạng Điều này phản ánh
sự đa dạng về cách hiểu thế nào là người đồng tính, người chuyển giới của xã hội
Sự đa dạng này xuất phát từ cách nhìn nhận các khía cạnh khác nhau trong cuộcsống xã hội, từ góc độ con người sinh học, đặc điểm cấu tạo cơ thể, thay đổi nội tiết
tố bên trong cơ thể, thể hiện giới ra bên ngoài, hay vai trò giới,…
Trước đây tình dục đồng tính bị xem là một căn bệnh, một rối loạn cần phảiđược chữa trị Nhưng khi y học và tâm thần học đã công bố thì khác biệt hoàn toàn.Năm 1973, đồng tính được chính thức đưa ra khỏi Sổ tay liệt kê và Hướng dẫn chẩnđoán các rối loạn tâm thần (DSM-3) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) VìLGBTQ+ không phải là bệnh nên xã hội cần có ý thức tôn trọng sự đa dạng của các
cá nhân trong xã hội, trên cơ sở đó tôn trọng quyền của họ như quyền của người dịtính Tránh sự khắc họa chân dung người đồng tính và người chuyển giới dựa trên
Trang 18những định kiến về “khuôn mẫu giới” Điều này sẽ góp phần giảm thiểu những ảnhhưởng tiêu cực của định kiến, kỳ thị đối với cộng đồng LGBTQ+ ở Việt Nam.
1.1.2.2 Các nghiên cứu về trẻ em LGBTQ+
Nghiên cứu của Horton (2014) tại Việt Nam đã thực hiện các cuộc phỏng vấnbán cấu trúc với những thanh thiếu niên đồng tính nam, đồng tính nữ và song tính ởthủ đô Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy sự cộng nhận về sự hiện diện của cộngđồng LGBT trong đời sống văn hóa - xã hội tại Việt Nam và mô tả những nhậnthức sai lầm của người dị tính về những người LGBT Dựa trên lời kể của nhữngngười trẻ LGBT, bài viết nhấn mạnh những tác động tiêu cực có thể có, sự nhậnthức sai lầm như vậy có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và cảm nhận hạnhphúc của những người trong cộng đồng LGBT Nghiên cứu cũng nhận thấy cáccuộc tuần hành và thảo luận về quyền LGBT gần đây về hôn nhân đồng giới đã đẩyvấn đề đồng tính luyến ái trở nên nổi bật [33]
Nghiên cứu so sánh giữa hai xã hội Việt Nam và Trung Quốc (2012) cho thấy
tỷ lệ thanh thiếu niên có quan điểm tích cực về LGBT (nghĩa là cho rằng điều đó làbình thường hoặc chấp nhận được) là thấp, đặc biệt là ở hai thành phố lớn ở haiquốc gia bao gồm: Hà Nội và Thượng Hải Quan điểm tích cực về cộng đồngLGBT từ thấp đến cao lần lượt là Hà Nội đến Thượng Hải đến Đài Bắc cho cả giớinam và nữ Nhìn chung, những yếu tố liên quan đáng kể đến nhận thức của thanhthiếu niên về cộng đồng LGBT bao gồm các đặc điểm nhân khẩu học của ngườidân (thành thị / nông thôn, tuổi tác, tình trạng kinh tế, trình độ học sinh và trình độ họcvấn), thể loại phim / video ưa thích, tự nhận dạng xu hướng tính dục cá nhân, kiến thức
về sức khỏe sinh sản và tình dục, giá trị gia đình, giá trị vai trò giới và thái độ đối vớiquan hệ tình dục trước hôn nhân Nghiên cứu này đã kết luận trong ba thành phố châu
Á này bao gồm các quần thể có quan điểm chủ yếu chịu ảnh hưởng của Nho giáo,thanh thiếu niên chủ yếu giữ nhận thức tiêu cực về cộng đồng LGBT Cần phải chú ýnhiều hơn đến việc phổ biến kiến thức về sức khỏe sinh sản và tình dục bao gồm cảLGBT và những nỗ lực nhằm thúc đẩy khai phóng tư duy, suy nghĩ của thanh thiếuniên về nhận thức xung quanh chủ đề LGBT Điều này có thể làm giảm sự kỳ thị, từ đócải thiện chất lượng cuộc sống của thành viên trong cộng đồng LGBT [23]
1.1.2.3 Các về LGBTQ+ trong trường học
Trang 19Một nghiên cứu về bạo lực học đường của Trung tâm sáng kiến sức khỏe vàdân số (CCIHP) thực hiện năm 2012 cho thấy 40.7% người LGBT đã từng bị bạolực và phân biệt đối xử ở trường học, 13.2% bị bạo lực bởi các thầy cô giáo trongtrường Nghiên cứu này cũng cung cấp thêm một số thông tin về bối cảnh của bạolực: tuổi trung bình lần đầu bị bạo lực là 12.39 tuổi, 15% bị bạo lực hàng ngày, thờigian diễn ra phổ biến nhất là giờ nghỉ giải lao, địa điểm là trong chính lớp học, vớinguyên nhân hàng đầu cũng là cách ăn mặc, đi đứng [6]
Một nghiên cứu gần đây về bạo lực học đường trên cơ sở giới với học sinhLGBT của UNESCO năm 2015 tại 20 nước ở Châu Á, trong đó có Việt Nam, chothấy 70% học sinh LGBT từng bị bắt nạt bằng lời nói (gọi tên và các kiểu chọcghẹo), cao nhất so với các nước cùng bảng khảo sát là Úc, Trung Quốc, HongKong, Nhật, Hàn, Thái Lan Con số 70% này khá phù hợp với phát hiện 67.5%người LGBT từng nghe, nhìn thấy những nhận xét, hành động tiêu cực từ bạn bè.Các hành vi phân biệt đối xử khác mà người tham gia khảo sát báo cáo còn có: bạn
bè ngừng kết bạn khi phát hiện ra là LGBT, bị bàn tán về ngoại hình, bị tẩy chaytrong lớp học,…dẫn đến các hậu quả như phải trốn học (9.8%) hoặc thậm chí bỏhọc (5.0%) vì sự phân biệt đối xử này Học sinh đến trường không phải để học cách
kì thị và thù ghét người khác Ở Việt Nam, đôi khi vấn đề bắt nạt giữa học sinh vớinhau thường được xem là “chuyện con nít” và chưa được đánh giá đúng mức độnghiêm trọng của nó nên những học sinh là nạn nhân của sự bắt nạt và trêu chọc.Thực tế, hậu quả của những sự phân biệt đối xử này để lại kéo dài tới cả cuộc đời
và ảnh hưởng tiêu cực lên nhân cách và khả năng hòa nhập của học sinh Bắt nạtthường có đặc tính kéo dài, liên tục với mức độ tăng dần và quá trình “bình thườnghóa” hành vi bắt nạt Học sinh LGBT trở nên trầm cảm, ngại tiếp xúc bạn bè, suygiảm khả năng học tập, dẫn tới áp lực từ gia đình rồi lại tiếp tục che giấu, học hành
sa sút như một vòng lẩn quẩn [62]
Bên cạnh gia đình, thì trường học là môi trường mà phần lớn người dưới 18tuổi dành nhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hình thành nhân cách và thiếtlập các mối quan hệ Vốn dĩ trường học là môi trường cần hơn cả sự đề cao tính đadạng và bao dung, nhưng các phát hiện đã chỉ ra một thực tế chưa hẳn như vậy.Hơn một nửa từng bị bạn bè bắt nạt, và gần một phần tư bị giáo viên, cán bộ nhà
Trang 20trường quấy rầy, bắt nạt bởi vì họ được coi là LGBT Đáng chú ý, gần một phần bacho biết họ bị đối xử không công bằng vì có quan điểm ủng hộ LGBT Tương tựnhư ở gia đình, cử chỉ, điệu bộ, kiểu tóc cũng là yếu tố khiến người LGBT bị phânbiệt và gây áp lực nhiều nhất Đồng phục thể hiện bản dạng giới là một trở ngại đáng
kể ảnh hưởng tới chất lượng học tập cũng như tâm lý của người chuyển giới Cácphân biệt đối xử từ phía nhà trường và gia đình thường có mối liên hệ rất chặt chẽvới nhau [4]
1.1.2.4 Thành tựu trong pháp luật
Ngoài các công trình nghiên cứu, cộng đồng LGBTQ+ ở Việt Nam đã đạt đượcmột số thành tựu nhất định trong luật pháp như:
Ngày 10/5/2013, Viện Nghiên cứu Lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội
tổ chức hội thảo “Người đồng tính, song tính và chuyển giới: Quy định pháp luật vàquan điểm của cộng đồng.”
Trong phiên họp thứ 18 của Báo cáo Kiểm điểm Định kỳ Phổ Quát về Nhânquyền (UPR) vào tháng 6 năm 2014, Chính phủ Việt Nam chấp nhận khuyến nghị
và ban hành một đạo luật chống phân biệt đối xử bao gồm trên cơ sở bản dạng giới
và xu hướng tính dục Tháng 9 năm 2014, Việt Nam bỏ phiếu thông qua nghị quyết
về nhân quyền, xu hướng tính dục và bản dạng giới của Hội đồng Nhân quyền, thểhiện cam kết loại bỏ bạo hành và kì thị dựa trên xu hướng tính dục và bản dạnggiới
Ngày 24/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Bộ luật Dân sự hợp pháphóa quyền chuyển đổi giới tính, trong đó ghi nhận sẽ có quy định pháp luật cụ thểđiều chỉnh Điều này mở ra một bước tiến cho người chuyển giới
Như vậy, những thành tựu trong pháp luật phần nào cho thấy những thuận lợinhất định của người LGBTQ+ trong xã hội hiện nay Những thay đổi về luật pháp đãtạo nhiều cơ hội cho người LGBTQ+ trên nhiều lĩnh vực như tham gia vào nghềnhiệp, chăm sóc sức khỏe, để họ khẳng định và thể hiện bản thân trong cộng đồng xãhội
1.2 Lí luận về nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông
1.2.1 Khái niệm về nhu cầu thể hiện bản dạng giới
Trang 21Maslow's hierarchy of needs Adapted from Abraham Maslow (1943)
1.2.1.1 Khái niệm nhu cầu
Theo Abraham Maslow (1908-1970), con người có những nhu cầu nhất địnhphải được đáp ứng để có cuộc sống lành mạnh Những nhu cầu này thúc đẩy chúng
ta hành động theo cách chúng ta làm để đạt được, thỏa mãn những nhu cầu chúng tamong muốn mà chưa được đáp ứng [45]
Ngoài ra, Maslow cho rằng những nhu cầu này không phải đều quan trọngnhư nhau, nhưng nó tồn tại trong một hệ thống phân cấp (có hình dạng như mộtkim tự tháp), với những nhu cầu cơ bản, quan trọng nhất ở phía dưới Ông chỉ rarằng con người được thúc đẩy bởi năm loại nhu cầu cơ bản, theo thứ tự như sau:
- Sinh lý: chúng đề cập đến
các nhu cầu thể chất cơ bản như
uống khi khát hoặc ăn khi đói Theo
Maslow, một số nhu cầu này liên
quan đến những nỗ lực của chúng ta
để đáp ứng nhu cầu của cơ thể
cho cân bằng nội môi; nghĩa là, duy
trì mức độ phù hợp trong các hệ
thống cơ thể khác nhau (cho ví dụ,
duy trì nhiệt độ cơ thể là 37°C)
Maslow coi nhu cầu sinh lý là nhu
cầu thiết yếu nhất trong nhu cầu của chúng ta Nếu ai đó đang thiếu nhiều hơn mộtnhu cầu, họ có thể sẽ cố gắng đáp ứng những điều này nhu cầu sinh lý trước Ví dụ,nếu ai đó cực kỳ đói, thật khó để tập trung vào bất cứ điều gì khác ngoài thức
ăn Một ví dụ khác về nhu cầu sinh lý sẽ là nhu cầu cho giấc ngủ đầy đủ
- Sự an toàn: một khi các yêu cầu sinh lý của mọi người được đáp ứng, nhu
cầu tiếp theo nảy sinh là Môi trường an toàn Nhu cầu an toàn của chúng ta rõ ràngngay từ khi còn nhỏ, vì trẻ em có nhu cầu về môi trường an toàn và có thể dự đoánđược và thường phản ứng với nỗi sợ hãi hoặc lo lắng khi những điều này khôngđược đáp ứng Maslow chỉ ra rằng ở những người trưởng thành sống ở các quốc giaphát triển, nhu cầu an toàn rõ ràng hơn trong các tình huống khẩn cấp (ví dụ nhưchiến tranh và thảm họa), nhưng nhu cầu này cũng có thể giải thích tại sao chúng ta
Trang 22có xu hướng thích quen thuộc hoặc tại sao chúng ta làm những việc như mua bảohiểm và đóng góp vào một tài khoản tiết kiệm.
- Tình yêu / thuộc về: theo Maslow, nhu cầu tiếp theo trong hệ thống phân
cấp liên quan đến cảm giác được yêu thương và được chấp nhận Nhu cầu này baogồm cả mối quan hệ tình yêu cũng như mối quan hệ với bạn bè và người thân Nócũng bao gồm nhu cầu của chúng ta để cảm thấy rằng chúng tôi thuộc về một nhóm
xã hội Điều quan trọng, nhu cầu này bao gồm cả cảm giác được yêu và cảm thấyyêu đối với người khác Kể từ thời Maslow, các nhà nghiên cứu đã tiếp tục khámphá cách yêu và thuộc về cần tác động hạnh phúc Ví dụ, có kết nối xã hội có liênquan đến tốt hơn sức khỏe thể chất và ngược lại, cảm thấy bị cô lập (nghĩa là cónhu cầu không được đáp ứng) có những hậu quả tiêu cực đối với sức khỏe và hạnhphúc
- Kính trọng: nhu cầu lòng tự trọng của chúng ta liên quan đến mong muốn
cảm thấy tốt về bản thân Theo Maslow, nhu cầu quý trọng bao gồm hai thànhphần Đầu tiên liên quan đến cảm giác tự tin và cảm thấy tốt về bản thân Thànhphần thứ hai liên quan đến cảm giác được người khác coi trọng; đó là, cảm thấyrằng những thành tựu và đóng góp của chúng ta đã được được người khác côngnhận Khi nhu cầu của mọi người được đáp ứng, họ cảm thấy tự tin và xem nhữngđóng góp và thành tựu của họ là có giá trị và quan trọng Tuy nhiên, khi nhu cầu vềlòng tự trọng của họ không được đáp ứng, họ có thể trải nghiệm những gì nhà tâm
lý học Alfred Adler gọi là cảm giác tự ti
- Tự thực hiện hóa: nhu cầu tự thực hiện đề cập đến cảm giác thỏa mãn, hoặc
cảm thấy rằng chúng ta đang sống theo tiềm năng Một tính năng độc đáo của tựthực hiện là nó trông khác nhau đối với mọi người Đối với một người, tự thực hiện
có thể liên quan đến việc giúp đỡ người khác hay cho người khác, nó có thể liênquan đến thành tích trong một lĩnh vực nghệ thuật hoặc sáng tạo Về cơ bản, tựthực hiện có nghĩa là cảm thấy rằng chúng ta đang làm những gì chúng ta tin rằngchúng ta sẽ làm
1.2.1.2 Khái niệm nhu cầu thể hiện bản thân
Mọi người đều có khả năng và có mong muốn tiến lên cấp bậc thể hiện hóabản thân trong tháp nhu cầu Nhưng thật không may, tiến độ thường bị gián đoạn
Trang 23bởi những kinh nghiệm sống ở bậc dưới, bao gồm như sự mất mát, sự kì kị có thểkhiến một cá nhân đó dao động giữa các cấp bậc của hệ thống tháp nhu cầu Do đó,không phải ai cũng sẽ tiến lên các cấp bậc trong tháp nhu cầu theo một hướng đilên mà có thể di chuyển qua lại giữa các loại nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu “phát triển” không xuất phát từ việc cá nhân thiếu một cái gì đó, mà
là nó xuất phát từ mong muốn được thể hiện bản thân trong cộng đồng của họ Mộtkhi những nhu cầu “phát triển” này đã được thỏa mãn một cách hợp lý thì người ta
có thể đạt đến mức cao nhất được gọi là tự thực hiện hóa bản thân [45]
Carl Rogers (1902-1987) là một nhà tâm lý học nhân văn, người đã đồng ývới các giả định chính của Abraham Maslow Tuy nhiên, Rogers (1959) nói thêmrằng để một người “phát triển”, họ cần một môi trường cung cấp cho họ sự chânthực (cởi mở và tự bộc lộ), chấp nhận (được nhìn nhận với sự quan tâm tích cực vôđiều kiện) và sự đồng cảm (được lắng nghe và thông hiểu) Không có những điềunày, các mối quan hệ và tính cách lành mạnh sẽ không phát triển như bình thường,giống như một cái cây sẽ không phát triển nếu không có ánh sáng mặt trời và nước.Rogers tin rằng mỗi người đều có thể đạt được mục tiêu, mong muốn và mongmuốn của mình trong cuộc sống Hay đúng hơn là nếu họ làm như vậy, thì quátrình tự thực hiện hóa bản thân đã diễn ra
1.2.1.3 Khái niệm bản dạng giới
Bản dạng giới là một yếu tố trong tính dục, cảm nhận về giới tính của mình lànam hay nữ Bản dạng giới không nhất thiết phải trùng với giới tính sinh học Bảndạng giới cũng độc lập với xu hướng tính dục, vì bản dạng giới liên quan tới việcmột người nghĩ mình thuộc giới tính nào, còn xu hướng tính dục liên quan tới việcmột người cảm thấy hấp dẫn với ai [1]
Một định khác: bản dạng giới là giới tính mà bản thân cảm thấy là gì Nhữngngười có bản sắc giới tính phù hợp với giới tính của họ được chỉ định khi sinh đãđược các nhà hoạt động chuyển giới gọi là “Cisgender” [59] Những cá nhân khác
có thể xác định là “Transgender”, là một thuật ngữ bao hàm sự khác biệt về bảndạng giới, trong đó giới tính sinh học được chỉ định của một người không khớp vớinhận dạng bản dạng giới qua cảm nhận của người đó Thuật ngữ này bao gồmnhững người không cảm thấy họ phù hợp với cơ cấu giới tính chia đôi (họ không
Trang 24được xác định là nam hay nữ) Những người thuộc nhóm này như thể họ đang cảmthấy sai giới tính, nhưng nhận thức này có thể có hoặc không tương quan với mongmuốn phẫu thuật hoặc chuyển đổi nội tiết tố [48].
Có rất nhiều bản dạng giới và điều này ngày càng trở nên rõ ràng hơn trongvăn hóa, bằng chứng là sự thay đổi của Facebook cho phép người sử dụng lựa chọnnhận dạng giới tính tới 56 lần [54]
Như vậy, có một sự đa dạng và phong phú trong trải nghiệm về bản dạng giớicủa mỗi cá nhân khác nhau
1.2.1.4 Khái niệm thể hiện bản dạng giới
Thể hiện giới mô tả những cách mà một người truyền đạt bản dạng giới tínhcủa mình cho người khác biết Điều này có thể bao gồm kiểu tóc, quần áo, dáng đi(tư thế) và trang điểm Thể hiện giới là cách mà một người mong muốn được hiểu
về giới tính của họ [28]
Một định nghĩa khác của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (2015) định nghĩa thể hiệnbản dạng giới phản ánh bản sắc giới tính của một người (ý thức bên trong về giớitính của chính họ), nhưng không phải trong mọi trường hợp Thể hiện giới là riêngbiệt và độc lập với các khái niệm xu hướng tính dục và giới tính bẩm sinh [10],[11].Thể hiện giới còn là cách một người bày tỏ công khai đặc tính về giới mà họmong muốn được xã hội và người xung quanh nhìn nhận họ là ai Thể hiện giới cóthể biểu hiện dưới hình thức hành vi và ngoại hình như trang phục, tóc, trang điểm,ngôn ngữ cơ thể và giọng nói Kể cả những yếu tố như tên biệt danh và đại từ danhxưng cũng là những cách phổ biến để thể hiện bản dạng giới [52]
Bên cạnh đó cũng cần phải chú ý đến ảnh hưởng của văn hóa, các đặc điểm xãhội đến thể hiện giới Một người thể hiện giới tính của mình có thể hoặc không thểphù hợp với vai trò giới được quy định trong xã hội và có thể hoặc không thể phảnánh bản sắc giới tính của người đó [9] Ví dụ như tại Myanmar, đàn ông có thể thoalên mặt các lớp kem chống nắng như phụ nữ và không bị kì thị
Hiệp hội chuyên khoa thế giới về sức khoẻ chuyển giới (WPATH) ra tuyên bốvào tháng 5 năm 2010 coi việc không theo chuẩn giới không phải là một vấn đềbệnh lý Tuyên bố này nhấn mạnh rằng “việc thể hiện các đặc điểm giới, bao gồm
Trang 25Gender inclusive training handouts, adapted from and reprinted with permission of Center for Gender Sanity, 2012
bản dạng giới mà không liên quan đến giới tính sinh học của một người là một hiệntượng phổ biến và mang tính đa dạng về văn hoá của con người, và không nên bịcoi là tiêu cực hay bệnh lý mang tính di truyền” [64]
Như vậy, thể hiện bản dạng giới là cách và một người truyền tải những đặc
tính được định nghĩa bởi văn hóa về sự nam tính, nữ tính (hoặc cả hai, hoặc khôngcái nào) ra bên ngoài thông qua ngoại hình cơ thể (bao gồm quần áo, phụ kiện, kiểutóc, trang sức, mỹ phẩm), cử chỉ điệu bộ, nói năng, và các khuôn mẫu hành vi tronggiao tiếp với người khác
Biểu đồ dưới đây giúp phân biệt rõ ràng hơn giữa giới tính sinh học với bảndạng giới, thể hiện giới và xu hướng tính dục:
1.2.1.5 Khái niệm nhu cầu thể hiện bản dạng giới
Hiệp hội Cha mẹ nước Úc đã phân tích rằng hầu như tất cả trẻ em bắt đầu thểhiện bản dạng giới tính của mình vào khoảng 2-3 tuổi thông qua tên, quần áo, hành
vi, kiểu tóc hoặc giọng nói Trẻ làm điều này theo cách các nói về bản thân vàthông qua trang phục được lựa chọn Trẻ em có thể rất vững về giới tính của mình
từ khi còn nhỏ Ví dụ, trẻ mới biết đi thường tuyên bố “Con là con trai!” hoặc “Con
là con gái!” Nhiều trẻ em đa dạng giới cũng thể hiện bản dạng giới của mình vàokhoảng 2-3 tuổi Trẻ có những ý niệm vững chắc về giới tính của mình, ví dụ, mộtđứa trẻ có thể tức giận khi mọi người gọi mình là trai hay gái, từ chối mặc quần áođặc biệt hoặc nói rằng trẻ là một giới tính khác Những đứa trẻ đa dạng giới khác cóthể bắt đầu nói về bản sắc giới tính của chúng khác nhau khi chúng ở trường tiểuhọc Đối với một số người, điều này xảy ra sau tuổi dậy thì và một số có thể không
Trang 26biết cho đến khi bước vào tuổi trưởng thành Tất cả trẻ em và thanh thiếu niên đềuthử nghiệm vai trò giới Ví dụ, bé gái có thể từ chối mặc váy hoặc đầm, hoặc bé trai
có thể muốn đóng vai “mẹ” Đối với hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên, thử nghiệmvới vai trò giới không có nghĩa là các em có thể đa dạng giới hoặc chuyển giới [61].Một trong những đặc thù của việc thể hiện bản dạng giới đó là môi trường thểhiện Một cá nhân thuộc cộng động LGBTQ+ trong môi trường đa dạng giới với đầy đủgiới tính bao gồm cả dị tính và môi trường sinh hoạt cộng đồng của riêng giới LGBTQ+thì sẽ có những nhu cầu, muc tiêu và mức độ thể hiện bảng dạng giới riêng [49]
Giống như cách đối phó căng thẳng ở người trong cộng đồng nói chung, thànhviên nhóm LGB nói riêng cũng sử dụng một loạt các cơ chế cá nhân nhằm đối phó,khả năng phục hồi tâm lý để chịu đựng những trải nghiệm căng thẳng và áp lực từphía xã hội [46] Ngoài các yếu tố cá nhân như vậy, việc ứng phó lại những căngthẳng/ áp lực/ kì thị ở cấp độ xã hội còn mang đến những lợi ích lớn hơn để cộngđồng LGBTQ+ duy trì trạng thái cân bằng về mặt sức khỏe tâm lý Công trìnhnghiên cứu của Jones Edward và cộng sự (1984) đã mô tả hai lợi ích của việc ứngphó căng thẳng theo cách các liên kết nhóm thiểu số: cho phép những người bị kỳthị trải nghiệm môi trường xã hội mà họ không bị người khác kỳ thị và hỗ trợ/ nâng
đỡ lẫn nhau của nhóm thiểu số bị kỳ thị [21] Các thành viên của các nhóm bị kỳthị, những người có ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết cộng đồng sẽ đánh giá bản thân
họ so với những người khác, và hoàn toàn tách biệt khỏi những đánh giá của cộngđồng còn lại
Do đó, chúng tôi đặt ra giả thuyết rằng tình trạng kì thị cộng đồng LGBTQ+(là một trong những nhóm xã hội thiểu số dễ bị tổn thương) trong thời gian dài ảnhhưởng đến đời sống sức khỏe tinh thần của họ, từ đó nảy sinh các phương phápkhác nhau ứng theo hai cấp độ là cấp độ cá nhân và cấp độ cộng đồng Ở cấp độ cánhân, việc thể hiện bảng dạng giới như là một cách để khẳng định bản sắc riêng củachủ thể, điều này thể hiện ra nhân cách bên ngoài của chủ thể Còn ở cấp độ cộngđồng, việc thể hiện ra bản dạng giới sẽ giúp những người trong cộng đồngLGBTQ+ liên kết với nhau và họ có xu hướng tương hỗ lẫn nhau trong hoạt độnghằng ngày, nhằm mang tới sự an toàn cho chủ thể
Trang 271.2.2 Khái niệm học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông
1.2.2.1 Khái niệm LGBTQ+
Khi nói về sự đa dạng tính dục và giới tính, một số từ viết tắt khác nhau được
sử dụng: LGB, GLBT, LGBT, LGBTIQ, LGBTIQQA và LGBTTTQQIAA Nhữngchữ cái đầu này là viết tắt của Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender, Transsexual,Two-Spirit, Intersex, Queer, Questioning, Asexual, Ally Mọi người thường sử dụng từviết tắt LGBTQ+ để chỉ tất cả các cộng đồng được bao gồm trong LGBTTTQQIAA
Để đơn giản hơn nữa, một số tác giả sử dụng từ viết tắt SGM (Sexual andGender Minorities) để chỉ định dân số thiểu số về tính dục và giới tính Hoặc trongmột số nghiên cứu thì sử dụng từ viết tắt GSD (Gender and Sexuality Diversity) đểchỉ sự đa dạng giới tính và tính dục
Trong thảo luận về giới tính và tính dục, thì nó được hiểu rằng mỗi một cá nhân
có một số lớp nhận dạng bằng cách biểu hiện ở bên trong và ra bên ngoài, nó tác độngđến cách cá nhân đó thể hiện qua thế giới bên ngoài và cá nhân tự nhận dạng [58].LGBTQ+ cũng được hiểu như là xu hướng tính dục, là một cách để mô tả sựhấp dẫn về tình cảm, lãng mạn và (hoặc) tình dục của một cá nhân đối với nhữngngười có giới tính cụ thể “đồng tính nam” là đàn ông bị thu hút chủ yếu bởi nhữngngười đàn ông khác, “đồng tính nữ” là phụ nữ chủ yếu bị thu hút bởi những ngườiphụ nữ khác”, “lưỡng tính” là nam và nữ bị thu hút bởi cả nam và nữ Ngoài ra, “vôtính” là những người thuộc bất kỳ giới tính nào có sức hấp dẫn giới tính thấp hoặcvắng mặt đối với mọi người thuộc bất kỳ giới tính nào đã bắt đầu được khẳng định
là một định hướng tính dục bổ sung [31]
Một bổ sung gần đây cho các thuật ngữ để mô tả xu hướng tính dục là thuậtngữ “pansexual”, mô tả sự hấp dẫn đối với mọi người bất kỳ bản sắc giới tính nào,không chỉ những người xác định là “nam” hay “nữ” [43]
Xu hướng tính dục không phải là tĩnh đối với tất cả mọi người, vì vậy một số
cá nhân có thể di chuyển giữa các xu hướng tính dục trong thời gian sống của họ[41] Vì lý do đó, cũng có thể bắt gặp những người coi xu hướng tính dục của họ là
“câu hỏi” Đây có thể là những người trẻ tuổi mới bắt đầu khám phá tính dục củabản thân hoặc đây có thể là những người đang ở giữa giai đoạn chuyển đổi giữa các
xu hướng tình dục
1.2.2.2 Khái niệm học sinh trung học phổ thông
Trang 28Căn cứ theo Điều 6 Luật Giáo dục 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2020) quyđịnh về hệ thống giáo dục quốc dân, học sinh THPT là những học sinh đã hoànthành chương trình giáo dục trung học cơ sở Trong thời gian học trung học phổthông, học sinh có thể chuyển sang học chương trình đào tạo trình độ trung cấp nếu
có nguyện vọng và đáp ứng được yêu cầu của chương trình [5]
Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp 10 đếnhết lớp 12 Tuổi của học sinh vào học lớp 10 là 15 tuổi Đối với những học sinh được họcvượt lớp ở cấp học trước hoặc học sinh vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thìđược giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước
Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể học lên đại học hoặc theohọc các chương trình giáo dục nghề nghiệp
Theo Công ước Quyền Trẻ em của Liên Hợp Quốc thì học sinh THPT nằmtrong độ tuổi trẻ em, cùng với độ tuổi của vị thành niên, thanh thiếu niên và thanhniên ở bảng tổng hợp dưới đây:
Bảng 1.1 Bảng phân chia độ tuổi theo Liên Hiệp Quốc
Trẻ em Dưới 18 tuổi (hoặc thấp hơn nếu độ
tuổi trung bình dân số thấp hơn)
Liên Hợp Quốc (theoCông ước Quyền Trẻ em)
1.2.2.3 Khái niệm học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông
Học sinh LGBTQ+ THPT là những học sinh đang học tập ở các khối lớp 10,
11 và 12 tại các trường THPT và tự đánh giá bản dạng giới của mình nằm trongnhóm LGBTQ+ Lưu ý xu hướng này có thể thay đổi giữa các nhóm trong cáckhoảng thời gian khác nhau
1.2.3 Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông
1.2.3.1 Quyền của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông
Theo tài liệu của UNESCO về nạn bắt nạn chuyển giới và đồng tính, những
Trang 29trẻ em, thanh thiếu niên LGBTQ+ thường xuyên bị phân biệt đối xử và bắt nạt vìbản dạng giới hay thể hiện giới của mình Những quyền được ghi nhận trong Côngước Quyền Trẻ em Liên Hợp Quốc áp dụng cho mọi cá nhân dưới 18 tuổi, ngoại trừquy định khác bởi pháp luật thì mọi trẻ em có quyền thể hiện giới và bản dạng giớikhác với giới tính của các em khi sinh ra
Học sinh LGBTQ+ THPT được hưởng đầy đủ quyền của học sinh theo điều
83 về “Quyền của người học” của luật giáo dục 2019, được Bộ GD&ĐT :
- Được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.
- Được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện của mình.
- Được học vượt lớp, học rút ngắn thời gian thực hiện chương trình, học ở
độ tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian, học lưu ban, được tạo điều kiện để học các chương trình giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Được học tập trong môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh.
- Được cấp văn bằng, chứng chỉ, xác nhận sau khi tốt nghiệp cấp học, trình
độ đào tạo và hoàn thành chương trình giáo dục theo quy định.
Được tham gia hoạt động của đoàn thể, tổ chức xã hội trong cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Được sử dụng cơ sở vật chất, thư viện, trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hóa, thể dục, thể thao của cơ sở giáo dục.
- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghị với
cơ sở giáo dục các giải pháp góp phần xây dựng cơ sở giáo dục, bảo vệ quyền, lợi ích của người học.
- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi và có đạo đức tốt.
- Được cử người đại diện tham gia hội đồng trường theo quy định.
1.2.3.2 Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ + trung học phổ thông
Trong nghiên cứu của Freitas và cộng sự (1996) họ nhìn nhận rằng các thành
Trang 30viên của cộng đồng LGBTQ+ thường xuyên gửi tín hiệu cho nhau để xác nhận lẫnnhau Một trong những cách để thể hiện rõ nhất là thông qua hình thể bên ngoàinhư trang sức mang tính trái giới, tư thế đi và sâu hơn là việc trao đổi ánh mắt [26].
Ambady, Hallahan và Conner (1999) đã khám phá sự nhìn nhận của ngườixung quanh về giới tính của một người thông qua một thực nghiệm Họ sử dụng cáchình ảnh, clip ghi hình hoặc loạt hình ảnh từ 1 đến 10 giây Những người xem đều
là những người tự nhìn nhận mình thuộc cộng đồng LGBTQ+ và nhiệm vụ của họ
là thông qua các manh mối này để đánh giá xem ai là người cũng thuộc cộng đồngLGBTQ+ Phân tích cho thấy những người đồng tính nam và đồng tính nữ thànhthạo hơn những người dị tính trong việc nhận ra những người đồng tính luyến kháctrên cơ sở tiếp xúc ngắn với những hành vi không lời Tác giả Ambady cho thấyviệc thể hiện bảng dạng giới góp phần tạo nên thông điệp đến người xung quanh vềgiới tính của mình, cũng như những đặc trưng của mình [8]
Theo lý thuyết “nhận diện người thuộc cùng cộng đồng”, thành viên của nhómLGBTQ+ có khả năng xác định chính xác những người có cùng xu hướng ngay cả saukhi tiếp xúc ngắn giữa các cá nhân Với các yếu tố dễ tổn thương mà người LGBTQ+phải đối mặt về bạo lực và định kiến chống đối, nếu thành viên LGBTQ+ có sự chínhxác về nhận thức thì sẽ mang lại sự tự bảo vệ cho chính mình [16]
Ở học sinh, việc thể hiện bảng dạng giới có thể có mối tương quan nghịch vớibạo lực học đường và việc bị bắt nạt Các bằng chứng chỉ ra rằng thanh thiếu niênthuộc cộng đồng LGBTQ+ có nhiều khả năng góp phần vào trải nghiệm bắt nạt và bạolực (Gordon et al., 2018) Một nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng 23% trẻ nam và 39% trẻ
nữ có nhiều hành vi không điển hình tương ứng với giới tính sinh học của mình [38]
Frable, Blackstone và Scherbaum (1990) lập luận rằng khi là thành viên củamột nhóm thiểu số bị thiệt thòi, những học sinh LGBTQ+ phải chú ý đến sự thể hiệnbản thân và đặc biệt chú ý đến hành vi phi ngôn từ trong giao tiếp với người khác [24]
Franklin (2000) đã báo cáo rằng trong số những người trẻ tuổi không có tiền
sử phạm pháp, 10% thừa nhận tham gia vào bạo lực thể xác hoặc các mối đe dọachống lại bạn học thuộc cộng đồng LGBTQ+ của mình, và 24% thừa nhận có biểuhiện tiêu cực khi tiếp xúc Những phát hiện này khiến tác giả đặt ra câu hỏi về tầmquan trọng của việc nhận thức bản thân và tự nâng cao kiểm soát cá nhân với mức
Trang 31độ thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+, cũng như so sánh với việc thểhiện giới thông thường của cộng đồng còn lại Đây là tiền đề cho sự thích nghitrong cộng đồng Tuy nhiên, vẫn còn sự kì thị nhất định [25].
Một số người có cùng cách thể hiện bản dạng giới mọi lúc, trong khi nhữngngười khác có thể thay đổi biểu hiện theo thời gian hoặc dựa trên hoàn cảnh Ví dụ
có những người có thể hiện bản dạng giới cho những mục đích cá nhân liên quanđến nghệ thuật, sân khấu, biểu diễn và một số người có thể chọn thể hiện bản dạnggiới của mình theo những cách khác nhau vào những thời điểm khác nhau Mộtnghiên cứu đã cho thấy nhu cầu thể hiện bản dạng giới của một người không bị ảnhhưởng bởi các đánh giá và nhìn nhận của những người xung quanh [53]
Như vậy, các nghiên cứu khác nhau cho ra những kết quả có thể trái ngượcnhau, nhu cầu thể hiện bảng dạng giới ở một số người có thể bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố bên ngoài nhưng một số người khác sẽ do yếu tố tâm lý cá nhân quyết định
Linda Brannon (2010) đã nhận thấy xã hội dễ chấp nhận với các hành vi đagiới tính của người mang tính sinh học là nữ hơn Những người có giới tính sinhhọc là nữ có xu hướng nhận thấy những lợi thế khi là nam Khi được hỏi chuyện gì
sẽ xảy ra nếu thay đổi giới tính, các nữ sinh tiểu học đã tưởng tượng ra những lợithế, trong khi các nam sinh tưởng tượng ra thảm họa Người trưởng thành cũng đưa
ra những đánh giá tương tự, tin rằng việc nam giới mang đến những ưu điểm và nếu
là nữ giới mang đến những bất lợi Nghiên cứu này gợi ý rằng việc thể hiện bảndạng giới là nam ở học sinh nữ sẽ khiến họ có nhiều lợi thế, do đó nhu cầu thể hiện
ở học sinh nữ chúng tôi đặt giả thuyết cao hơn nam sinh [13]
Như vậy thông qua các nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng người thuộccộng đồng LGBTQ+ thể hiện bản dạng giới nhằm mãn những nhu cầu của thápMaslow (1943):
- Nhu cầu Sinh lý: theo học thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý tính dục
của S.Freud (1856 - 1939), đây là độ tuổi tâm lý tính dục và thể lý phát triển, các emhọc sinh kể cả nhóm dị tính và nhóm LGBTQ+ sẽ bắt đầu có các nhu cầu sinh lý Việcthể hiện bảng dạng giới có thể sẽ là kênh thông tin để các em tìm kiếm bạn tình
- Nhu cầu tầng An toàn và Thuộc về: việc đối mặt thường xuyên với bạo
lực học đường sẽ khiến các em LGBTQ+ có những giải pháp bảo vệ mình Một
Trang 32trong số đó là xây dựng cộng đồng cho riêng mình Các em sẽ thể hiện bản dạnggiới để đồng bộ với các cá nhân khác trong cộng đồng như là một cách tìm kiếmbạn đồng đẳng Chúng tôi nhận thấy xu hướng thể hiện nữ tính của các em đồngtính nam và chuyển giới để các em hòa nhập với nhóm bạn nữ và ngược lại các emđồng tính nữ sẽ thể hiện bảng dạng giới nam để hòa nhập với nhóm bạn nam.
- Nhu cầu Thể hiện mình - Khẳng định cái tôi: ở giai đoạn THPT, các học
sinh có xu hướng cố gắng thể hiện mình như những người đã lớn Các em hướngtới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập,
tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng các em Nếu như lứa tuổi trước đó các
em sẵn sàng chấp nhận quan hệ người lớn - trẻ con, nhưng đối với học sinh THPTtính chất như vậy trong quan hệ giữa các em với người lớn được các em coi như làkhông bình thường Nên việc các em học sinh THPT LGBTQ+ khẳng định bảnthân và thể hiện bản dạng giới của mình như là một nhu cầu tất yếu
1.2.3.3 Đặc điểm của nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ + trung học phổ thông
Để xác định xu hướng của một người chuyển giới dưới độ tuổi 13, Hiệp hộichăm sóc sức khỏe của cộng đồng LGBT, Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ yêu cầu
họ phải mô tả một số đặc điểm như sau: (1) Mức độ ước ao mình sinh ra với mộtgiới tính khác và (2) Thích mặc đồ như người khác giới và câu trả lời sẽ được thểhiện dưới hình thức Likert 7 mức độ với 0 là không bao giờ, 3 là thỉnh thoảng và 6
là luôn luôn Sau đó các em học sinh phải tiếp tục trả lời thêm rằng: Liệu người đốidiện có xác định được giới của các em thông qua biểu hiện giới hay không với 4đáp án bao gồm: không bao giờ (0), đôi khi (1), thường (2) hoặc luôn luôn (3) [34]
Như vậy có thể thấy đặc điểm của nhu cầu thể hiện bản dạng giới không thểđánh giá dưới hình có hoặc không mà phải đánh giá dựa trên mức độ thường xuyêncủa nhu cầu này
Martos và cộng sự (2015) cho rằng việc đánh giá độ tuổi có nhu cầu thể hiệnbản dạng giới cũng cần phải được chú ý [44]
Nghiên cứu của Grossman (2006) trên toàn bộ nhóm trẻ em nam đã xác địnhnhu cầu thể hiện bản dạng giới của trẻ em hình thành theo các cột mốc phát triểntâm lý Các em học sinh tham gia nghiên cứu được yêu cầu nhớ lại nếu các em cảm
Trang 33thấy khác với những đứa trẻ khác trong quá trình lớn lên Mỗi em học sinh cũngđược hỏi độ tuổi mà người khác cho rằng các em khác với những đứa trẻ khác và
độ tuổi khi các em được gọi bằng một đại từ hoặc thuật ngữ ám chỉ giới tính tráivới giới tính sinh học, ví dụ như học sinh nam được gọi bằng chị, cô bé, ở dưới
13 tuổi [30] Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2 Các mốc nhu cầu thể hiện bản dạng giới ở trẻ chuyển giới nam sang
nữ theo nghiên cứu của Grossman và cộng sự (2006)
trung bình
Độ lệch chuẩn
Khoảng
Cảm thấy khác những trẻ khác 7,6 3,1 1 - 14Được nhận xét khác với trẻ khác 9,3 3,3 4 - 16
Được gia đình ra lệnh phải ngưng
Nói với người khác về giới tính
của mình lần đầu tiên
Khi được yêu cầu nhớ lại lý do tại sao các em cảm thấy khác với nhữngngười bạn đồng trang lứa khác khi còn nhỏ, các câu trả lời của dễ dàng được phânloại thành sáu loại Phản ứng thường xuyên nhất liên quan đến sở thích trò chơihoặc đồ chơi Những câu trả lời được báo cáo thường xuyên khác tập trung vàocảm giác dai dẳng của họ khi cho rằng mình được sinh ra trong cơ thể của ngườikhác giới, sự hấp dẫn đối với những người cùng giới tính hoặc cảm giác bị thu hútlẫn lộn Những lý do khác được các em cung cấp là tình trạng bị trêu chọc và quấyrối bởi những người khác, hành vi không điển hình giới tính được chỉ ra bởi nhữngngười khác, và sở thích quần áo thường được xác định với người khác giới [30]
Kết quả nghiên cứu này cho thấy việc thể hiện bản dạng giới ở trẻ em cũng
có những đặc điểm như các nét tâm lý trong sự phát triển nhân cách, được trải quacác giai đoạn phát triển theo lứa tuổi tương ứng Ở độ tuổi tiểu học, các em sẽ bắt
Trang 34đầu có những tự nhìn nhận sự khác biệt trong xu hướng của bản thân và sau đó ở độtuổi trung học cơ sở (cấp 2) các em sẽ bắt đầu thể hiện ra bên ngoài những xuhướng này như một cách tự khẳng định mình Và việc các em thể hiện bản dạnggiới của mình ở độ tuổi THPT là một nhu cầu tất yếu.
Trang 351.2.3.4 Những biểu hiện của nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ + trung học phổ thông
a Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông thể hiện qua ngoại hình cơ thể (bao gồm quần áo, phụ kiện, kiểu tóc, trang sức, mỹ phẩm)
Trong một nghiên cứu thăm dò của mình trên 123 người được khảo sát,Carroll & Gilroy (2002) đã đánh giá các tín hiệu để nhận ra nhau đối với nhữngngười đồng tính nam và đồng tính nữ theo thang Likert 5 mức độ Kết quả cho thấymột số yếu tố hữu ích đáng kể trong việc xác định người cùng xu hướng bao gồm:phong cách và trang phục phù hợp, trang sức [16]
b Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông thể hiện qua cử chỉ điệu bộ (ngôn ngữ cơ thể)
Trong một nghiên cứu thăm dò của mình trên 123 người được khảo sát,Carroll & Gilroy (2002) đã đánh giá các tín hiệu để nhận ra nhau đối với nhữngngười đồng tính nam và đồng tính nữ theo thang Likert 5 mức độ Kết quả cho thấygiao tiếp mắt đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lẫn nhau Đối với cảngười tham gia thuộc giới đồng tính nam và đồng tính nữ, một số yếu tố khác hữuích đáng kể trong việc xác định người cùng xu hướng bao gồm: tư thế, kiểu cơ thể,
đi bộ hoặc dáng đi, và cả kiểu và tần số của cử chỉ [16]
Nghiên cứu của Nicholas (2004) tiếp tục khẳng định yếu tố ánh mắt đóng vai trònhận diện nhau giữa những người đồng tính nam và đồng tính nữ Ánh mắt đóng vaitrò là yếu tố kích hoạt và củng cố những nhìn nhận của người khác đối với bản dạnggiới của mình, đặc biệt là trong bối cảnh giao tiếp xã hội Việc giao tiếp mắt để phát racác tín hiệu bản dạng giới của nhóm đồng tính nam được được đặt cho thuật ngữGaydar là ghép từ hai khái niệm Gay (đồng tính nam) và radar (hệ thống định vị) Có 2phương thức giao tiếp bằng thị giác chính là nhìn trực tiếp và nhìn chằm chằm Bêncạnh đó nghiên cứu này cũng gợi ý các tín hiệu khác như tư thế, cử chỉ và nụ cười[51]
c Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông thể hiện qua ngôn ngữ nói
Hai thập kỷ qua đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc mô tả, tìm hiểu
cách thức mà người LGBTQ+ sử dụng ngôn ngữ Trên thực tế, mặc dù, nghiên cứu
về chủ đề này đã xuất hiện trong một số ngành (triết học, ngôn ngữ học, nhânchủng học và lĩnh vực giao tiếp lời nói) từ những năm 1940 nhưng vẫn chưa cónhiều nghiên cứu trên nhóm đối tượng trẻ, là học sinh và chưa định hình rõ về nhân
Trang 36Kulick cho rằng việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng đồng tính nam và đồngtính nữ thể hiện rõ quan điểm của họ về chính bản thân cũng như mô tả về nhữngkhía cạnh cuộc sống nhưng phải đảm bảo tính khác biệt so với phần lớn người dịgiới Các khái niệm, cách mô tả về tính dục, cái tôi và mối quan hệ của họ khác vớingôn ngữ phổ thông [40]
Từ những năm 70, nhà nghiên cứu Sonenschein mô tả những người đồng tínhnam sử dụng ngôn ngữ của phụ nữ để châm biếm định kiến rằng đàn ông đồng tínhtương đồng với phụ nữ, đặc biệt là việc sử dụng “các từ ám chỉ tính nữ” [60] Ví dụnhư tại Việt Nam khi mô tả về một người đàn ông mang những nét tiêu cực nhưnhỏ mọn, nhiều chuyện thì thường được gán cho các biệt danh như “thằng đàn bà”hay “thằng đàn ông mặc váy”
Fellegy (1995) đã đặt ra một khái niệm gọi là phản ứng giao tiếp tối thiểu đó
là cách hồi đáp về một thông tin ngôn ngữ ở mức độ tối thiểu như các âm: ừm hứm,
à há, yeah, à, ừa Nghiên cứu của Fellegy (1995) đã phân tích cách sử dụng các âmngữ và mô hình phản ứng giao tiếp tối thiểu trên 6 nhóm đồng giới bao gồm 3nhóm đồng tính nam và 3 nhóm đồng tính nữ thông qua các đoạn ghi âm giao tiếpcủa họ với nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm đồng tính nam sử dụng cáccụm từ giao tiếp tối thiểu trong suốt quá trình giao tiếp hơn và dường như tônggiọng cũng có sự khác biệt [22]
d Nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ trung học phổ thông thể hiện qua các khuôn mẫu hành vi trong giao tiếp với người khác
Định kiến giới tại bối cảnh xã hội phương Tây mô tả phụ nữ thường biểu đạtnhững cảm xúc như hạnh phúc và đàn ông thường thể hiện sự tức giận nhiều hơn
Có các giả thuyết khác nhau về tác động của khuôn mẫu giới với cảm xúc đượcphép thể hiện Các cảm xúc này được thể hiện chính thông qua hành vi, nét mặt vàngôn từ biểu đạt [32]
1.2.3.5 Các yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ + trung học phổ thông
Một cuộc khảo sát quốc gia của Kosciw Joseph và cộng sự (2012) tại Hoa Kỳcho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến việc thể hiện bản dạng giới của những ngườidưới 18 tuổi bao gồm: các bình luận tiêu cực của bạn bè đồng trang lứa về xuhướng tính dục (71%) và thể hiện bản dạng giới (61%), các bình luận tiêu cực của
Trang 37giáo viên về xu hướng tính dục (57%) và thể hiện bản dạng giới (57%), bị quấy rốibằng lời nói từ người khác về xu hướng tính dục (82%) và thể hiện bản dạng giới(64%), bị quấy rối bằng hành vi từ người khác về xu hướng tính dục (38%) và thểhiện bản dạng giới (27%) [36].
Dựa theo kết quả của những nghiên cứu trong và ngoài nước Chúng tôi phâncác yếu tố tác động đến nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+THPT thành 3 nhóm chính: các yếu tố tâm lý cá nhân, các yếu tố gia đình và cácyếu tố nhà trường - xã hội
a Các yếu tố tâm lý cá nhân
Nhà tâm lý học Hoa Kỳ Marilynn B Brewer (1991) đã đặt ra thuật ngữ “nhậndiện bản dạng của nhóm thiểu số” trong quá trình nghiên cứu về cái tôi xã hội ởthanh thiếu niên Ông lấy ví dụ sự cảm nhận của chính bản thân một người vềnhững đặc điểm mang tính thiểu số (ít giống với đại đa số người) mà họ cho rằnggiúp họ nổi bật, điều này đôi khi khiến họ gặp phải những áp lực từ phía xã hội vàđôi khi họ sẽ có những thay đổi điều chỉnh từ bên trong để hòa nhập Ông cho rằngkhi các tác động đến cảm xúc càng mạnh thì bên trong cá nhân đó sẽ có những điềuchỉnh cho phù hợp [15]
Các đặc điểm bản dạng nhận diện thiểu số này có thể ảnh hưởng đến đời sốngtinh thần, sức khỏe tâm lý trực tiếp hoặc gián tiếp Một số trường hợp cho thấy cácảnh hưởng trực tiếp này có thể gây ra cảm giác đau khổ
Burke (1991) đã kết luận rằng phản hồi, nhận xét của người xung quanhkhông tương thích với bản dạng của một người có thể khiến họ đau khổ và do đó
họ sẽ tự điều chỉnh bản dạng của chính mình như là một cách ứng phó với nhữngkhó khăn Quá trình này được Burke mô tả là “gián đoạn bản dạng” và Linville(1987) nhận thấy rằng một người có niềm tin về căn tính, bản dạng riêng của mình
sẽ ít có nguy cơ trầm cảm, lo âu hơn với các kích thích từ bên ngoài [15],[42] Do
đó, việc tâm lý cá nhân và mức độ phát triển nhân cách của cá nhân có thể ảnhhưởng đến việc người nào đó nhìn nhận, thể hiện bản thân mình ra sao
Mặt khác, bản dạng thiểu số cũng có thể dẫn đến sự liên kết mạnh mẽ hơn vớicộng đồng của một người, điều này có thể giúp cải thiện tác động của căng thẳng [14]
b Các yếu gia đình
Theo thống kê từ Cục kiểm soát và phòng chống bệnh tật Hoa Kỳ, khoảng40% thanh niên vô gia cư là LGBT Một nghiên cứu được công bố vào năm 2009
Trang 38đã so sánh những người trẻ tuổi đồng tính nam, đồng tính nữ và lưỡng tính, nhữngngười trải qua việc bị gia đình chối bỏ so với những người đồng trang lứa khi cóđược sự hỗ trợ trong việc phát triển bản thân từ gia đình [17].
Nghiên cứu của Grossman (2006) nhận thấy cách phụ huynh đối xử với thanhthiếu niên trong thời thơ ấu có thể có tác động đến việc thể hiện bản dạng giới và
xu hướng tính dục [30]
c Các yếu tố trường học - xã hội
Nghiên cứu của Mạng lưới hỗ trợ cho thanh thiếu niên LGBT bị kì thị và phânbiệt đối xử (GLSEN) đã nhận thấy học đường ẩn chứa nhiều yếu tố nguy cơ vớiviệc thanh thiếu niên LGBT bị bắt nạt, tấn công bằng lời nói và thậm chí là thể lý[27]
…
Tiểu kết chương 1
Như vậy, nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT đượcthể hiện qua những hành vi và hình thức có thể quan sát thấy như: ngôn ngữ nói,điệu bộ cơ thể, ngoại hình cơ thể (quần áo, kiểu tóc, phụ kiện, trang sức, mỹ phẩm)
và khuân mẫu hành vi giao tiếp với người khác
Nhu cầu thể hiện bản dạng giới như một nhu cầu tất yếu trong quá trình pháttriển bản thân của học sinh LGBTQ+ THPT Theo tháp nhu cầu của Maslow (1943),
nó bao gồm cả nhu cầu sinh lý theo mốc phát triển của tâm lý tính dục, nhu cầu an toàn
và thuộc về để tìm kiếm cộng đồng của mình, nhu cầu thể hiện mình và khẳng định cáitôi để hướng tới những giá trị của bản thân, phát triển nhân cách của bản thân
Những nghiên cứu khác nhau cho ra những kết quả có thể trái ngược nhau, nhucầu thể hiện bảng dạng giới của học sinh LGBTQ+ THPT có thể bị ảnh hưởng nhiềubởi các yếu tố bên ngoài nhưng một số khác có thể do yếu tố tâm lý cá nhân quyếtđịnh Như vậy nhu cầu thể hiện bản dạng giới của học sinh LGBTQ+ ảnh hưởng từbao gồm các yếu tố tâm lý cá nhân, các yếu tố gia đình và yếu tố trường học - xã hội.Tổng hợp các nghiên cứu về LGBTQ+ ở trong và ngoài nước, các nghiên cứu
về nhu cầu thể hiện bản dạng giới của trẻ em LGBTQ+ trong nhà trường đã pháchọa cho chúng ta thấy phần nào về một bức tranh của học sinh LGBTQ+ trong nhàtrường trung học phổ thông Để bức tranh này trở nên hoàn thiện và trọn vẹn thìphần nghiên cứu thực trạng ở trong chương 2 kế tiếp sẽ làm sáng tỏ
Trang 39CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 9 trường THPT trải đều từ các quận nội thànhcho đến các huyện ở ngoại thành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Thông tincủa các trường như sau:
THPT Marie Curie – Quận 3
Trường trung học phổ thông Marie Curie tọa lạc ở địa chỉ:159 Nam Kỳ KhởiNghĩa, Phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, là một trường trung học phổ thôngcông lập, với diện tích 20.700 m2 Trường là một trong những trường trung học lâuđời nhất của Sài Gòn và là trường duy nhất không thay đổi tên ban đầu do ngườiPháp đặt Trường có kiến trúc Pháp độc đáo với 8 dãy phòng học: A, B, C, D, E, F,
G và H Dãy lớn nhất, mới nhất là dãy F, một tòa nhà 4 tầng, nơi đặt các phòng thínghiệm Lý, Hóa, Sinh, hội trường, phòng lab, phòng vi tính, điện gia dụng và dinhdưỡng và nhà thi đấu thể thao Dãy nhỏ nhất là dãy H với duy nhất hai phòng Cácphòng học đều được trang bị điều hoà Với bề dày lịch sử, trường được UBNDthành phố Hồ Chí Minh xếp vào danh mục “di tích thành phố” vào năm 2015
THPT Nguyễn Hữu Thọ - Quận 4
Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ được thành lập từ năm 2003 tại địa chỉ: 209Tôn Thất Thuyết phường 3 quận 4 thành phố Hồ Chí Minh Lúc đầu trường có 2cấp và đến năm 2011-2012 trường chỉ còn cấp 3 cho đến nay Ngày 12/8/2013trường THPT Nguyễn Hữu Thọ chính thức chuyển sang cơ sở mới tọa lạc tại số 2Bến Vân Đồn phường 12 quận 4 (cơ sở cũ sẽ chuyển giao cho trường THCS QuangTrung) Cơ sở mới có vị thế khá tốt cho việc phát triển sau này của trường vớikhuôn viên rộng gần 11.000m2 tiện lợi cho việc dạy và sinh hoạt của học sinh vàgiáo viên Trường nằm ở khu hành chính của quận nên bảo đảm về an ninh và luôn
Trang 40được sự quan tâm của chính quyền Bên cạnh đó trường có tầng hầm để rộng rãi và
ít trường nào trong thành phố có được Trong tương lai gần, trường sẽ có thêm mộtnhà thi đấu đa năng nhằm giúp cho các em học sinh có môi trường học thể dục tốthơn Trường có các phòng chức năng được trang bị các dụng cụ hỗ trợ học tập, thínghiệm khá tốt Ngoài ra trường có các phòng họp khá lớn nhằm để diễn ra các hộinghị của các ban ngành đoàn thể của quận và thành phố
THPT Nguyễn Tất Thành – Quận 6
Trường được khỏi công xây dựng từ ngày 26/03/2010 tại phường 11, quận 6,thành phố Hồ Chí Minh và đi vào hoạt động 1 năm sau đó Địa điểm xây trường làkho bãi sử dụng không hiệu quả của một đơn vị kinh tế, được thu hồi để xây dựngtrường học Công trình có diện tích đất hơn 11.000m², diện tích sàn hơn 9.000m²,gồm 46 phòng học và các phòng phục vụ, đáp ứng nhu cầu học tập cho 1.600 họcsinh Trường được xây dựng theo các tiêu chí đạt chuẩn quốc gia, có khối nhà giáodục thể chất đa năng, sân bóng đá Hiện nay trường có 135 cán bộ, giáo viên vànhân viên, gồm 54 lớp với 2.366 HS Tập thể sư phạm nhà trường tiếp tục thốngnhất quán triệt tinh thần làm việc “Có kỷ luật - Có tất cả”, “Đoàn kết, Sáng tạo,Trách nhiệm”, “Luôn đặt quyền lợi HS lên hàng đầu”
THPT Nguyễn Hữu Cảnh – Quận Bình Tân
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh được thành lập tháng 8 năm 2010, theoquyết định số 3595 của Ủy ban nhân dân thành phố, toạ lạc Quận Bình Tân, thànhphố Hồ Chí Minh Qua 10 năm thành lập, nhà trường đã có nhiều biện pháp đồng
bộ nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giáo viên nhân viên,song song với hoạt động chuyên môn, công tác chủ nhiệm, công tác quản lý họcsinh và hoạt động giáo dục khác của nhà trường cũng được quan tâm và có một sốbiện pháp tích cực phù hợp, hiệu quả Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tư vấnhướng nghiệp cho học sinh Các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, giáo dục tưtưởng chính trị, giáo dục truyền thống lịch sử, giáo dục pháp luật, giáo dục an toàngiao thông, giáo dục môi trường thường xuyên được coi trọng, lồng ghép trong cáchoạt động giáo dục, tích hợp trong các môn học đồng thời gắn với các nội dung củaphong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”