1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước

107 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện định hướng chung và hướng tới mục tiêu năm 2020 hình thành Kho bạc điện tử trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, Kho bạc Nhà nước đã thực hiện triển khai dịch vụ công trự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐẶNG MINH NGỌC

NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

ĐẶNG MINH NGỌC

NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan: Luận văn thạc sĩ Tài chính Ngân hàng đề tài:

“Nghiên cứu triển khai dịch vụ công trực tuyến trong Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, của riêng tôi

Tác giả đã hoàn thành luận văn dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Hùng Sơn Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có tham khảo, kế thừa

và sử dụng những thông tin, số liệu thứ cấp từ các báo cáo, sách báo, tạp chí chuyên ngành và luận án, luận văn liên quan… theo danh mục tài liệu tham khảo Số liệu trong Luận văn là chính xác và có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy

Hà Nội, ngày 13 tháng 8 năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Minh Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin gửi lời cám ơn và sự biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Hùng Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ dẫn, định hướng và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện

Luận văn “Nghiên cứu triển khai dịch vụ công trực tuyến trong Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước”

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Bộ phận Sau đại học, khoa Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tại Kho bạc Nhà nước đã hỗ trợ tôi trong việc thu thập số liệu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Minh Ngọc

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii

DANH MỤC SƠ ĐỒ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Các công trình nghiên cứu 6

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu 9

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm soát chi ngân sách nhà nước 10

1.2.1 Chi ngân sách nhà nước 10

1.2.2 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 14

1.3 Dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước 17

1.3.1 Khái niệm 17

1.3.2 Dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 20

1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến triển khai dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước 25

1.4 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến và bài học 28

1.4.1 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến 28

Trang 6

1.4.2 Bài học rút ra cho triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm

soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 39

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu 42

2.1.1 Nguồn tài liệu 42

2.1.2 Nguồn dữ liệu 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 43

2.2.2 Phương pháp qui nạp 44

2.2.3 Phương pháp thống kê mô tả 45

2.2.4 Phương pháp so sánh 45

CHƯƠNG 3 46

THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 46

3.1 Tổng quan về bộ máy tổ chức Kho bạc Nhà nước 46

3.1.1 Lịch sử hình thành và bộ máy tổ chức Kho bạc Nhà nước 46

3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước 48

3.2 Thực trạng triển khai thí điểm dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 50

3.2.1 Phân tích thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 50

3.2.2 Triển khai thí điểm dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 55

Trang 7

3.3 Đánh giá triển khai thí điểm dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 653.3.1 Kết quả đạt được 653.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 71CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 804.1 Định hướng triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc nhà nước 804.1.1 Định hướng phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2030 804.1.2 Định hướng triển khai Dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 814.2 Giải pháp triển khai dịch vụ công trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN 834.2.1 Đảm bảo cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và chất lượng dịch vụ 844.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 864.2.3 Tuyên truyền, phổ biến dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 884.3 Kiến nghị, đề xuất 90KẾT LUẬN 93TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 1.1 Xếp hạng các quốc gia trong phát triển Chính phủ điện tử

(E-government)

31

2 Bảng 3.1 Kết quả kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc Nhà nước 54

3 Bảng 3.2 Kết quả kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản 56

4 Bảng 3.3 Kết quả về tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư 57

5 Bảng 3.4 Xếp hạng chung của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

9 Bảng 3.8 Khối lượng kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua kho bạc và

khối lượng kiểm soát chi qua dịch vục công trực tuyến

78

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 1.1 Một số Cục Hải quan tỉnh, thành phố tiếp nhận hồ sơ

nhiều nhất qua Hệ thống HQ36a

40

2 Biểu đồ 3.1 Tình hình đăng ký sử dụng dịch vụ công của đơn vị sử

dụng ngân sách tại các Kho bạc Nhà nước tham gia dịch

vụ công trực tuyến

77

3 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ tương quan tổng số tiền kiểm soát chi qua dịch

vụ công trực tuyến và tổng số tiền kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước

79

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức Tổng cục Hải quan Việt Nam 37

3 Sơ đồ 3.2 Sơ đồ qui trình kiểm soát chi ngân sách nhà nước ứng

dụng dịch vụ công trực tuyến Kho bạc Nhà nước

65

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh Việt Nam đang ở những năm cuối thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như kế hoạch 5 năm 2016-2020 Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã đề ra, việc xây dựng

bộ máy quản lý tinh gọn hiệu quả cùng với cải cách qui trình, thủ tục hành chính là một trong những vấn đề trọng tâm Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đã đi vào cuối giai đoạn 2: 2016-2020, trong đó nội dung về cải cách thủ tục hành chính được sự quan tâm của Chính phủ và tất

cả các bộ, ban, ngành nhằm hướng tới xây dựng một Chính phủ điện tử trong thời gian tới Quyết tâm này được thể hiện rất rõ trong việc ngày 7/3/2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến năm 2025 với quan điểm: “Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức

là thước đo quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng công nghệ thông tin là công cụ hữu hiệu hỗ trợ, thúc đẩy cải cách hành chính”

Phù hợp với chủ trương đó, trong những năm qua Bộ Tài chính đã tích

cực thực hiện các cải cách với mục tiêu thực hiện thủ tục hành chính bằng

phương thức điện tử, đặc biệt là đối với các hệ thống cơ quan trực thuộc Bộ

như Thuế, Hải quan, KBNN Việc điện tử hóa thủ tục hành chính đã đem lại những chuyển biến lớn trong hoạt động quản lý, kiểm soát tại các đơn vị trực thuộc Bộ Tài chính và nhận được những phản hồi tích cực từ phía người sử dụng dịch vụ

Trang 12

Thực hiện định hướng chung và hướng tới mục tiêu năm 2020 hình thành Kho bạc điện tử trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, Kho bạc Nhà nước đã thực hiện triển khai dịch vụ công trực tuyến nhằm cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả và tính công khai, minh bạch trong hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN Dịch vụ công trực tuyến là xu thế tất yếu của tiến trình cải cách thủ tục hành chính, triển khai Chính phủ điện tử Điều đó không những tạo điều kiện cho nhân dân và doanh nghiệp mà còn giảm áp lực giấy tờ công việc lên các cơ quan quản lý nhà nước Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, việc sử dụng DVCTT hiệu quả sẽ được nhân đôi, thực hiện dịch vụ công trực tuyến vừa đem lại hiệu quả phòng chống lây lan dịch bệnh trong tiếp xúc trực tiếp vừa đem lại hiệu quả kinh tế xã hội như: tiết kiệm thời gian đi lại, giao dịch cho các đơn vị, giảm chi phí hoạt động (chi phí in ấn, đi lại…), hạn chế việc giả mạo chữ ký, giả mạo con dấu của đơn vị do Kế toán trưởng và Thủ trưởng đơn vị ký duyệt bằng chữ ký số; thông tin thanh toán được bảo mật Khi đơn vị (người sử dụng) tham gia dịch vụ công trực tuyến, họ có thể chủ động trong việc tra cứu thông tin về thời gian, quá trình tiếp nhận hồ sơ, thanh toán, góp phần tăng tính minh bạch trong việc kiểm soát hồ sơ thanh toán của KBNN Kiểm soát chi NSNN qua KBNN trên hệ thống DVC trực tuyến giúp quản lý NSNN tốt hơn; thời gian xử lý công việc nhanh hơn; giảm bớt áp lực cho các ban ngành, các cán bộ trực tiếp xử lý; các nghiệp vụ được thực hiện thông qua máy tính thay cho việc làm thủ công do con người trực tiếp thực hiện; các quy trình nghiệp vụ được công khai trên các cổng thông tin điện tử;

… KBNN đã triển khai thí điểm 3 dịch vụ công trực tuyến cho các KBNN cấp tỉnh, thành phố và một số KBNN cấp huyện, qua đó khuyến khích các đơn vị

sử dụng ngân sách, các cá nhân và tổ chức có giao dịch với KBNN thực hiện giao dịch trực tuyến, không cần giao dịch trực tiếp tại địa điểm KBNN Tuy

Trang 13

nhiên, quá trình thực hiện triển khai dịch vụ công trực tuyến còn nhiều khó khăn và vướng mắc cần hoàn thiện để kiểm soát chi NSNN qua KBNN đạt hiệu quả tốt hơn Với cương vị là một công chức đang công tác tại KBNN và

là học viên cao học của trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tôi đã quyết định lựa chọn nội dung: “Nghiên cứu triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:

- Nội dung triển khai dịch vụ công trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN?

- Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến tại các đơn vị?

- Thực trạng triển khai thí điểm DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN?

- Kiến nghị giải pháp triển khai DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu, đánh giá kết quả công tác triển khai thí điểm DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN Trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, đề xuất giải pháp cho việc triển khai dịch vụ công trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN trong toàn hệ thống KBNN và các ĐVSDNS có giao dịch với KBNN nhằm điện tử hóa thủ tục hành chính, minh bạch hóa quá trình KSC NSNN, hướng tới mục tiêu KBNN điện tử nói riêng và Chính phủ điện tử nói chung

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và khái quát hóa cơ sở lý luận về chi NSNN, KSC NSNN và dịch vụ công trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN

Trang 14

- Nghiên cứu kinh nghiệm triển khai DVC trực tuyến tại các đơn vị khác

- Phân tích, đánh giá công tác triển khai thí điểm DVC trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN

- Đưa ra định hướng, giải pháp triển khai DVC trực tuyến trong KSC

NSNN qua KBNN

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu việc triển khai DVC trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN, đưa ra kiến nghị giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại khi triển khai thí điểm DVC trực tuyến trong

4 Dự kiến đóng góp mới của đề tài

- Rút ra bài học kinh nghiệm từ các đơn vị khác cho công tác thực hiện triển khai DVC trực tuyến trong KSC NSNN của KBNN

- Đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế khi thí điểm triển khai DVC trực tuyến trong KSC NSNN

- Đưa ra giải pháp triển khai DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN

Trang 15

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài gồm 4 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Chương 4 Giải pháp triển khai dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TRONG

KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu

Cải cách thủ tục hành chính, tài chính, hiện đại hóa công tác KSC NSNN, giảm thời gian, chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, đơn vị giao dịch với KBNN là một trong những mục tiêu hướng tới trong hoạt động của hệ thống KBNN, nằm trong Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 Đây cũng là nội dung chính của nhiều văn bản, công trình nghiên cứu khoa học, đề tài luận văn, luận án, trong đó có thể kể đến:

Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính Phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính và Thông tư số 133/2017/TT-BTC ngày 15/12/2017 của Bộ Tài chính quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động nghiệp vụ Kho bạc nhà nước (KBNN): Đây là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng cho việc triển khai dịch vụ công (DVC) trực tuyến trong hoạt động nghiệp vụ của hệ thống KBNN DVC của KBNN được xem là bước đi mạnh mẽ nhằm hiện thực hóa chương trình cải cách thủ tục hành chính lĩnh vực KBNN; từng bước công khai minh bạch toàn

bộ khâu tiếp nhận, kiểm soát và xử lý thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua KBNN, rút ngắn thời gian thực hiện, đảm bảo vừa đáp ứng tốt nhu cầu quản lý chi NSNN, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị giao dịch với KBNN Điều này khẳng định DVC thích ứng với xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đây vừa là trách nhiệm, vừa là quyền lợi của mỗi đơn

Trang 17

vị sử dụng ngân sách, góp phần tạo môi trường tài chính công luôn công khai minh bạch, xây dựng môi trường hành chính công thân thiện

Luận văn Thạc sỹ “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong điều kiện

triển khai Đề án “Thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước trong hệ thống Kho bạc Nhà nước”” của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bình

năm 2018: Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kiểm soát chi NSNN, từ

đó xây dựng khung phân tích về kiểm soát chi NSNN Phân tích và đánh giá thực trạng về công tác kiểm soát chi NSNN và việc tổ chức thực hiện nhiệm

vụ kiểm soát chi NSNN tại KBNN trước và sau khi triển khai Đề án Thống nhất đầu mối kiểm soát chi qua KBNN Qua đó, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN trong điều kiện triển khai Đề

án Thống nhất đầu mối kiểm soát chi qua KBNN

Luận văn Thạc sỹ “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo mô hình

Kho bạc nhà nước điện tử ở Việt Nam” của tác giả Vũ Tùng Anh năm 2018:

Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát chi NSNN theo mô hình KBNN điện tử Đồng thời, phân tích, đánh giá thực trạng, làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm soát chi NSNN theo mô hình KBNN điện tử ở Việt Nam thời gian qua Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần hoàn thiện kiểm soát chi NSNN theo mô hình KBNN điện tử trong thời gian tới; phấn đấu hoàn thành mục tiêu của Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 theo Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020 và Quyết định 430/QĐ-BTC ngày 08 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành kế hoạch phát triển hệ thống Kho bạc Nhà nước giai đoạn 2017 – 2020, cụ thể như sau: đến năm 2020, các hoạt động Kho bạc Nhà nước được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin

Trang 18

hiện đại, hình thành kho bạc điện tử Cung cấp đầy đủ các dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước; triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ các chức năng của Kho bạc Nhà nước (quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quản lý ngân quỹ nhà nước, tổng kế toán nhà nước) Xây dựng mô hình hành chính điện tử tập trung tại hệ thống KBNN…

Đề tài “Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN cấp

huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện thống nhất đầu mối kiểm soát chi NSNN” của tác giả Hoàng Quốc Thái, năm 2018 đăng trên Tạp chí

Quản lý Ngân quỹ quốc gia số 195: Đề tài đã hệ thống được các lý luận về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước, kiểm soát chi ngân sách nhà nước; đưa ra các nội dung kiểm soát chi ngân sách nhà nước đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại KBNN cấp huyện trực thuộc KBNN Thái Nguyên từ năm

2013 -2017, trong đó tập trung nghiên cứu sâu kể từ khi thực hiện thống nhất đầu mối kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại KBNN cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ tháng 7/2017, cùng với hệ thống các văn bản, cơ chế chính sách, quy trình kiểm soát chi theo đề án thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước qua KBNN…, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc Qua đó, nhóm tác giả đã đề ra 05 nhóm giải pháp góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó có nhóm giải pháp

về về hoàn thiện các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin

Bài viết nghiên cứu trao đổi “Kiểm soát chi NSNN theo mô hình Kho

bạc điện tử: Những vấn đề cần hoàn thiện” của tác giả Bùi Quang Vinh đăng

trên tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia số 176 năm 2017: Thực hiện Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê

Trang 19

duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính đã cung cấp 30 dịch vụ công, trong đó hệ thống KBNN cung cấp 03 dịch vụ công hướng tới mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác kiểm soát chi, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các đơn vị trong quá trình kiểm soát thanh toán Như vậy, tác giả đã khẳng định việc KBNN triển khai dịch vụ công trong kiểm soát chi NSNN là xu thế tất yếu và phù hợp với lộ trình của Chính phủ Tác giả đã chỉ

ra những kết quả đã đạt được sau khi triển khai thí điểm dịch vụ công trong kiểm soát chi NSNN tại 05 địa bàn gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng Đồng thời, tác giả cũng đánh giá lại toàn bộ quá trình triển khai thí điểm và chỉ ra những vấn đề cần hoàn thiện gồm: (i) Hoàn thiện kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, tài liệu chi NSNN; (ii) Kiểm soát tính pháp lý của chữ ký điện tử của đơn vị sử dụng ngân sách; (iii) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hoàn thiện kiểm soát chi NSNN; (iv) Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện tốt kiểm soát chi NSNN; (v) Hoàn thiện, nâng cấp phần mềm kiểm soát chi NSNN theo mô hình Kho bạc điện tử

1.1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến cải cách, điện tử hóa thủ tục hành chính; tăng cường công tác KSC NSNN qua KBNN; hướng tới thực hiện mô hình Kho bạc điện tử, ứng dụng CNTT trong KSC NSNN một cách khái quát hoặc như một giải pháp nhỏ để giải quyết vấn

đề nghiên cứu, chưa tập trung nghiên cứu sâu về dịch vụ công trực tuyến và ứng dụng DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN

Do vậy, đề tài: “Nghiên cứu triển khai dịch vụ công trực tuyến trong Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước” là một đề tài mới, không trùng lặp với các tài liệu, nghiên cứu có sẵn

Trang 20

1.2 Cơ sở lý luận về kiểm soát chi ngân sách nhà nước

1.2.1 Chi ngân sách nhà nước

1.2.1.1 Khái niệm

a Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Nhà nước khi hình thành cần phải có nguồn lực để đảm bảo thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, vì vậy, bằng quyền lực chính trị, Nhà nước đã đặt

ra những khoản thu, chi NSNN

Như vậy, NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử Nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa – tiền tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước

“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.[14]

b Chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước

Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung về quỹ NSNN, là sự phân bổ, điều tiết cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng Nhà nước

Chi NSNN bao gồm mọi khoản chi nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực hiện nghĩa vụ chi trả nợ gốc, lãi vay của Nhà nước (nếu có), chi viện trợ và các khoản chi khác theo qui định của pháp luật

Trang 21

1.2.1.2 Phân loại

Trên thực tế, có nhiều tiêu thức để phân loại chi NSNN như: phân loại theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước, theo đối tượng, hay theo mục đích kinh tế… Tuy nhiên, xét với các nền kinh tế thị trường và ở nước ta hiện nay, cách phân loại nội dung chi tiêu ngân sách nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng phổ biến Đây cũng là cách phân loại quan trọng nhất, nó trình bày nội dung chi tiêu của Chính phủ để qua đó người ta có thể nhận rõ và phân tích, đánh giá những chính sách, chương trình của Chính phủ thông qua các kinh phí để thực hiện các chương trình, chính sách đó

Với tiêu chí phân loại trên, chi ngân sách nhà nước được chia ra các nội dung sau đây:

- Chi thường xuyên: “là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.” Về nguyên tắc, các khoản chi này phải được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn trả (thu trong cân đối) của ngân sách nhà nước

- Chi đầu tư phát triển: là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật

- Chi dự trữ quốc gia: là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia

- Chi trả nợ lãi: là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước để trả các khoản nợ đến hạn phải trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác phát sinh từ việc vay

Trang 22

- Chi viện trợ

- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

1.2.1.3 Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Kho bạc Nhà nước thực hiện quản lý các nhiệm vụ chi NSNN từ khâu lập dự toán cho tới khâu thực hiện dự toán chi, quyết toán chi NSNN và thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chi NSNN đối với các KBNN tỉnh/thành, Sở giao dịch, KBNN quận/huyện/thị xã trực thuộc hệ thống

Quản lý nhập dự toán chi NSNN: KBNN có trách nhiệm rà soát, kiểm tra đảm bảo dự toán được giao cho các ĐVSDNS (bản đơn vị gửi) khớp đúng với dự toán được các cơ quan Bộ, ngành, Sở tài chính, phòng Tài chính nhập trên hệ thống Tabmis Riêng với dự toán tạm cấp, được tạm cấp đầu năm phục

vụ nhiệm vụ chi thường xuyên của các đơn vị khi chưa có dự toán chính thức, KBNN căn cứ quyết định giao dự toán và nhập, quản lý dự toán trên hệ thống Tabmis, thực hiện thu hồi dự toán tạm cấp khi có quyết định giao dự toán chính thức Đối với dự toán ngân sách cấp xã/phường, trong trường hợp KBNN giao dịch cấp quận/huyện là đơn vị nhập dự toán (một số địa phương, phòng Tài chính thực hiện trách nhiệm này), KBNN giao dịch thực hiện kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của bản dự toán do Ủy ban nhân dân xã gửi đến, nhập dự toán vào hệ thống và quản lý chi, kiểm soát chi ngân sách

Quản lý thực hiện dự toán chi NSNN: KBNN thực hiện quản lý chấp hành dự toán theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao: “… Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật.” [10]

Mọi khoản chi NSNN đều được thanh toán trực tiếp qua KBNN cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho Nhà nước; mọi khoản chi NSNN đều phải được KBNN kiểm soát trước khi thanh toán, chi trả cho các đơn vị; phân định

Trang 23

rõ trách nhiệm của người chuẩn chi – thủ trưởng cơ quan đơn vị với KBNN –

kế toán của Nhà nước KBNN quản lý, kiểm soát mọi khoản chi NSNN phải thực hiện theo dự toán (chấp hành dự toán), đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành NSNN, ngăn chặn rủi ro trong sử dụng kinh phí được cấp sai mục đích, sai khối lượng tại các ĐVSDNS

Quyết toán NSNN: KBNN phối hợp chặt chẽ với các ĐVSDNS, cơ quan liên quan như Sở tài chính, phòng Tài chính, Chi cụ Thuế, Chi cục Hải quan…trong việc xác nhận số thực thu, thực chi và tình hình sử dụng dự toán được giao tại các ĐVSDNS, cung cấp số liệu chính xác phục vụ công tác quyết toán ngân sách nhà nước theo đúng qui định pháp luật Mọi số liệu trong báo cáo quyết toán phải đảm bảo phản ánh trung thực, đầy đủ và chính xác mọi khoản thu, chi của Nhà nước Trong quá trình đối chiếu số liệu quyết toán ngân sách nhà nước, nếu KBNN hoặc các bên liên quan phát hiện khoản thu, chi không đúng qui định pháp luật sẽ phải hoàn thu/thoái thu/truy thu hoặc ĐVSDNS nộp trả NSNN (trường hợp chi sai)

Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chi NSNN: Công tác thanh tra chuyên ngành được KBNN triển khai thực hiện từ năm 2016 Qua quá trình thanh tra, KBNN đã phát hiện và xử lý nhiều sai phạm trong việc chấp hành chế độ chính sách pháp luật của các ĐVSDN như: chi không đúng đối tượng, chi vượt định mức, sử dụng tạm ứng sai qui định, lập hồ sơ thanh toán khống khối lượng… Từ việc phát hiện sai phạm, thanh tra chuyên ngành cũng kiến nghị xử phạt thu hồi NSNN, giảm thiểu rủi ro trong công tác KSC NSNN qua KBNN, giúp các đơn vị trong hệ thống KBNN phát hiện những tồn tại, sai sót trong quá trình thực thi nhiệm vụ, những bất cập của cơ chế chính sách đã ban hành, qua đó có những chấn chỉnh kịp thời đối với những tồn tại, sai sót và đề

xuất kiến nghị sửa đổi cơ chế chính sách cho phù hợp với thực tiễn

Trang 24

1.2.2 Kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

1.2.2.1 Khái niệm

Khi thực hiện hoạt động chi NSNN đồng thời sẽ phải thực hiện việc kiểm soát chi NSNN để đảm bảo việc quản lý, sử dụng các khoản NSNN đúng yêu cầu quản lý, phân phối của Nhà nước

Kiểm soát chi NSNN: là quá trình các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định, dựa trên cơ sở các nguyên tắc, hình phạt và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ

KSC NSNN qua KBNN là quá trình KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát, xem xét các hồ sơ chi NSNN đã được kế toán trưởng, chủ tài khoản ĐVSDNS kiểm soát, chuẩn chi và gửi đến KBNN giao dịch KBNN thực hiện KSC các hồ sơ chi NSNN đảm bảo các khoản chi được phê duyệt, thanh toán đúng chế độ, đúng định mức/kế hoạch vốn được giao, đúng yêu cầu (tính pháp lý của hồ sơ, sự đầy đủ của bộ hồ sơ xinh thanh toán/tạm ứng…) và đúng mục tiêu, nhiệm vụ chi NSNN

Công tác KSC NSNN qua KBNN liên tục được hoàn thiện, giám sát nhằm đảm bảo kỷ cương, kỷ luật trong việc chấp hành ngân sách theo đúng

dự toán/kế hoạch vốn được phân bổ KBNN thực hiện phối hợp chặt chẽ với

kế toán, chủ tài khoản của ĐVSDNS, cơ quan tài chính, các bộ ngành liên quan để đảm bảo mọi khoản chi NSNN thực hiện qua KBNN phải đúng, đủ

và kịp thời

1.2.2.2 Nguyên tắc kiểm soát chi ngân sách nhà nước

KBNN thực hiện KSC NSNN theo các nguyên tắc:

Trang 25

- Chi NSNN phải nằm trong định mức dự toán/kế hoạch vốn được giao

Dự toán chi NSNN đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là căn cứ để ĐVSDNS thực hiện chi đúng chế độ, đúng tiêu chuẩn, định mức

- KSC chi NSNN đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm: các khoản chi NSNN thực hiện đúng qui định, tiêu chuẩn

- KSC NSNN qua KBNN đảm bảo các khoản chi trả được thực hiện thanh toán qua KBNN, có sự kiểm tra, giám sát của KBNN Hồ sơ thanh toán của ĐVSDNS cho đơn vị thụ hưởng sẽ được chuyển tới KBNN, KBNN thực hiện qui trình kiểm soát chi và tiến hành thanh toán cho đơn vị thụ hưởng nếu hợp lệ

1.2.2.3 Nội dung kiểm soát chi ngân sách nhà nước

Nội dung của kiểm soát chi NSNN tại Kho bạc:

- Tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi NSNN

- Tính hợp pháp về con dấu, chữ kí của người quyết định chi và kế toán

- Các điều kiện chi theo chế độ quy định, cụ thể:

 Các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, trừ các trường hợp như dự toán NSNN và phương án phân bổ NSNN có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán NSNN theo quy định; chi từ nguồn dự phòng NSNN theo quyết định của cấp có thẩm quyền; các khoản chi đột xuất ngoài

dự toán được duyệt nhưng không thể trì hoãn được (như chi khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt )

 Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền quy định Đối với khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, KBNN kiểm tra, kiểm soát và cấp phát căn cứ vào mức chi trong dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Trang 26

 Đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN

hoặc người được ủy quyền quyết định chi

 Có đủ các chứng từ liên quan tùy theo tính chất từng khoản chi

1.2.2.4 Rủi ro trong công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước

Trong hoạt động KBNN thì sai sót của hoạt động nghiệp vụ kế toán, kiểm soát chi là những sự kiện xảy ra trong quá trình thực hiện nghiệp vụ và

có thể làm sai lệch qui định hạch toán kế toán, thanh toán, dẫn đến làm thất thoát kinh phí, tài sản của Nhà nước/đơn vị sử dụng ngân sách

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công tác KSC NSNN của Kho bạc Nhà nước thường xuyên phải đối mặt với rủi ro hoạt động, rủi ro đạo đức có thể gây ra những sai sót ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiền, tài sản, tính trung thực, hợp lý, đúng đắn của thông tin kế toán, ảnh hưởng đến nghĩa vụ pháp lý của đơn vị, của cán bộ KBNN (kế toán viên/ kiểm soát chi viên/ lãnh đạo KBNN)

Trang 27

- Kiểm soát, kiểm tra mẫu dấu chữ ký thực hiện thủ công (KTV/KSC thực hiện quan sát so sánh chữ ký trên hồ sơ với mẫu dấu chữ ký đã đăng ký bằng mắt thường), tên ký Chủ tài khoản nhưng chữ ký của Ủy quyền Chủ tài khoản, ký khống, chữ ký giả

- Phân công công việc khi có cán bộ nghỉ chế độ, nghỉ phép, đi học, phân công kiêm nhiệm chưa đúng có thể dẫn tới vi phạm nguyên tắc “bất kiêm nhiệm” (một người không được phép thực hiện 2 nghiệp vụ kế toán)

- Công tác bàn giao, luân chuyển, lưu trữ hồ sơ, chứng từ giấy không khớp thông tin lưu Sổ bàn giao

Rủi ro đạo đức là một trong những rủi ro đe dọa hiệu quả hoạt động KSC NSNN nói chung và sự phát triển bền vững trong hoạt động KBNN nói riêng Rủi ro đạo đức có thể kể đến như sau:

- Các đối tượng thuộc đơn vị SDNS (ví dụ: kế toán đơn vị) thực hiện lập hồ sơ khống, giả mạo chữ ký Chủ tài khoản, sử dụng con dấu đơn vị hoàn tất hồ sơ gửi KBNN KTV/KSC KBNN không kiểm tra/ kiểm tra không kỹ mẫu dấu, chữ ký trên chứng từ với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký tại KBNN, không phát hiện ra chữ ký giả mạo, thực hiện thanh toán theo đề nghị dẫn tới thất thoát tiền, tài sản Nhà nước

- Toàn bộ những kẽ hở, lỏng lẻo trong quản lý, giám sát qui trình KSC NSNN là điều kiện thuận lợi cho đối tượng xấu (đối tượng thuộc đơn vị có giao dịch với KBNN hoặc có thể là chính cán bộ KTV/KSC và KTT/Phụ

trách KSC KBNN) lợi dụng để chiếm đoạt tài sản công

1.3 Dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước

1.3.1 Khái niệm

1.3.1.1 Dịch vụ công (Public Service)

Trang 28

Theo từ điển Le Petit Larousse: "Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm" Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm

rõ được tính chất "công" của dịch vụ này

Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller: "Một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa mãn một nhu cầu về lợi ích chung" Từ đó, các tác giả cho rằng, "một hoạt động lợi ích chung được một pháp nhân công quyền đảm nhiệm được coi là một dịch vụ công" – "đảm nhiệm" ở đây được hiểu như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công Như vậy, một hoạt động vì lợi ích chung do một tư nhân đảm trách không được xem là một dịch vụ công, trừ phi có sự tác động của Nhà nước đến việc cung ứng dịch vụ đó

Theo ý nghĩa kinh tế học: dịch vụ công có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hàng hóa công cộng với một số đặc tính cơ bản:

- Là loại hàng hóa mà khi được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai khỏi việc sử dụng nó

- Việc tiêu dùng của người này không làm ảnh hưởng đến lượng tiêu dùng của người khác

- Không thể vứt bỏ, hàng hóa công cộng tồn tại ngay cả khi không được tiêu dùng

Khái niệm và phạm vi DVC sẽ biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh được xem xét (các quốc gia khác nhau sẽ đưa ra cách hiểu và phạm vi áp dụng cho DVC khác nhau)

Ở Việt Nam, DVC là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp

Trang 29

lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý Mỗi DVC gắn liền với một thủ tục hành chính để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân.[15]

1.3.1.2 Dịch vụ công trực tuyến

Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ

khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng.[16]

Việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, chương trình dịch vụ công trực tuyến khi triển khai được chia theo 4 mức độ tương ứng với mỗi dịch vụ khác nhau:

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy

đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định

về thủ tục hành chính đó như: quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Như vậy, đặc điểm chung của dịch vụ công mức độ 1 và 2 là đơn vị/người sử dụng dịch vụ được cung cấp phải đến trực tiếp cơ quan Nhà nước ít nhất 02 lần trong giờ làm việc hành chính Lần 01 để nộp hồ sơ, lần

02 để nhận kết quả

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến

cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ

và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ

Trang 30

phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

Như vậy, khi được cung cấp và sử dụng dịch vụ công mức độ 3, đơn vị/người dùng sẽ có thể khai báo và nộp hồ sơ qua mạng bất cứ lúc nào, bất

cứ ở đâu; chỉ đến cơ quan Nhà nước 01 lần duy nhất để nhận kết quả; nộp lệ phí (nếu có)

- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức

độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng

Như vậy, với dịch vụ công mức độ 4, đơn vị/người dùng nộp hồ sơ qua mạng (tương tự như dịch vụ công mức độ 3), thanh toán lệ phí (nếu có) trực tuyến; Trả kết quả trực tuyến/ trực tiếp/ hoặc tại địa chỉ theo đăng ký; không phải đến cơ quan Nhà nước

1.3.2 Dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

1.3.2.1 Khái niệm

Dịch vụ công trực tuyến trong KSC NSNN qua KBNN được hiểu là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác đáp ứng những thủ tục hành chính trong lĩnh vực chi ngân sách nhà nước, do KBNN hoặc các đơn vị (được KBNN ủy quyền) cấp cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân trên môi trường mạng

Hiện tại, Kho bạc Nhà nước đã thí điểm triển khai dịch vụ công trực tuyến, bước đầu cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 bao gồm:

- Mở tài khoản: Đăng ký mở và sử dụng tài khoản tại KBNN Khai báo

hồ sơ thay đổi thông tin đơn vị, tài khoản, thành viên của ĐVSD DVC

Trang 31

- Giao nhận hồ sơ: Khai báo phiếu giao nhận hồ sơ giao dịch kiểm soát chi qua mạng và giao dịch một cửa với KBNN

- Yêu cầu thanh toán: Giao diện thông tin yêu cầu thanh toán qua mạng

và chương trình kê khai yêu cầu thanh toán

- Đăng ký rút tiền mặt: Đơn vị sử dụng NSNN điền Thông báo nhu cầu rút tiền mặt gửi KBNN nơi đơn vị giao dịch để được tiếp nhận và xử lý

- Thông báo, tra soát biến động số dư tài khoản ĐVSDNS tại KBNN

1.3.2.2 Điều kiện tham gia dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước

Để tham gia DVC trực tuyến, các đơn vị giao dịch với KBNN cần đáp ứng các điều kiện về con người và cơ sở hạ tầng cơ bản như:

- Một là, ĐVSDNS có máy tính và kết nối với mạng Internet, máy scan,

địa chỉ thư điện tử liên lạc với KBNN để nhận thông báo chấp nhận đăng ký

sử dụng dịch vụ công và một số thông báo khác của KBNN trong quá trình sử dụng DVC trực tuyến

- Hai là, ĐVSDNS có chứng thư số đang còn hiệu lực do một trong số

các tổ chức sau cung cấp: Chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch

vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị hoặc chứng thư số được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng Cụ thể:

+ Đơn vị có thể đăng ký chứng thư số chuyên dùng với Ban Cơ yếu Chính phủ theo quy định tại Thông tư số 08/2016/TT-BQP ngày 01/02/2016 của Bộ Quốc phòng hoặc liên hệ với các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng như FPT, VNPT, VIETTEL ”;

+ Các chức danh của đơn vị sử dụng ngân sách cần thực hiện ký số trên DVC trực tuyến của KBNN gồm: Chủ tài khoản và người được ủy

quyền; Kế toán trưởng và người được ủy quyền (Lưu ý: Đối với danh sách

Trang 32

chủ tài khoản, người được ủy quyền chủ tài khoản, kế toán trưởng, người được ủy quyền kế toán trưởng khi đăng ký cần phù hợp với danh sách đã được đăng ký các chức danh tương ứng (đang có hiệu lực) khi đăng ký mở tài khoản tại KBNN)

- Ba là, ĐVSDNS đã được KBNN cấp tài khoản đăng nhập và sử dụng

các DVC của KBNN Để được cấp tài khoản đăng nhập và sử dụng DVCTT với KBNN, đơn vị cần khai hồ sơ trực tuyến (online) đăng ký sử dụng DVC gửi KBNN giao dịch và được KBNN tiếp nhận, phê duyệt

Đối với các KBNN tham gia thí điểm DVCTT cần rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị tại trụ sở cũng như trang bị cho các cán bộ tham gia trong qui trình tiếp nhận giao dịch DVCTT, cụ thể:

- Các Kho bạc đã được rà soát và trang bị bổ sung máy tính, máy in, scan, chứng thư số (nếu cán bộ có vai trò duyệt trên DVC chưa từng được cấp chứng thư số trước đó hoặc chứng thư số hỏng/hết hạn)

- Cán bộ công chức KBNN được đào tạo, kiểm thử hệ thống DVC trước, ưu tiên hỗ trợ cao nhất từ Trung Ương để vận hành DVCTT

- KBNN đảm bảo hệ thống hạ tầng server, máy chủ, kết nối truy cập, đồng bộ thông tin DVC ĐVSDNS với DVC KBNN và đảm bảo bảo mật, tường lửa khi thực hiện thí điểm DVCTT

1.3.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ công trực tuyến trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước

Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện DVCTT trong hệ thống KBNN và các đơn vị sử dụng ngân sách, việc nghiên cứu, xây dựng một bộ công cụ nhằm theo dõi, đánh giá hoạt động, hiệu quả của việc ứng dụng DVCTT trong giao dịch, KSC NSNN qua KBNN đã được đặt ra Theo đó, mục tiêu nhằm đánh giá một cách toàn diện, thực chất và khách quan chất lượng, hiệu quả hoạt động của DVCTT, xác định rõ mặt mạnh, mặt yếu khi

Trang 33

ứng dụng giao dịch trực tuyến nhằm giúp cho KBNN nói chung, các đơn vị tham gia triển khai DVCTT nói riêng không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng cơ chế cung ứng dịch vụ hành chính công trong toàn bộ hệ thống KBNN, đáp ứng 100% các ĐVSDNS giao dịch với KBNN đều tham gia và thực hiện giao dịch trực tuyến trên DVC

Một số tiêu chí có thể được xét đến khi thực hiện đánh giá chất lượng DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN bao gồm:

(1) Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin dành cho triển khai, ứng dụng DVCTT: số lượng người dùng đồng thời đáp ứng trên DVCTT, thời gian chờ hoàn thành thao tác lưu, tải tệp đính kèm, ký số của ĐVSDNS và KBNN Cổng dịch vụ công cần đáp ứng ít nhất 5 phương diện:

Dễ nhận biết (tìm thấy trang web dễ dàng); truy cập thuận tiện; kỹ thuật (vận hành trơn tru, ổn định, không bị treo); nội dung (dễ hiểu, dễ tra cứu và được cập nhật thường xuyên); dịch vụ tốt (ví dụ người dân gửi email thì được trả lời lại nhanh chóng)

(2) Lực lượng cán bộ, công chức của KBNN tham gia DVCTT: tiêu chí này xét đến số lượng và năng lực, trình độ cán bộ, công chức của KBNN tham gia DVCTT Ngoài ra, công chức hướng dẫn giải quyết công việc phải có thái

độ giao tiếp lịch sự, chú ý lắng nghe ý kiến người dân, tổ chức và có trách nhiệm trả lời, giải thích đầy đủ (khi kiểm soát từ chối thanh toán hồ sơ/chứng

từ đơn vị), hướng dẫn kê khai tận tình, chu đáo…

(3) Số lượng thủ tục hành chính được cung cấp trên DVCTT, số DVCTT mức độ 3, 4 được cung cấp Thủ tục hành chính được đăng tải đầy

đủ, công khai, chính xác, kịp thời theo đúng quy định; Các biểu mẫu thủ tục hành chính đúng theo qui định pháp lý về chi NSNN, dễ kê khai

(4) Số lượng, tỷ lệ ĐVSDNS có giao dịch với KBNN đăng ký và thực hiện giao dịch DVCTT thay thế cho giao dịch trực tiếp tại kho bạc Tiêu chí

Trang 34

này thể hiện rõ kết quả, hiệu quả khi ứng dụng DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN Việc đánh giá phải kết hợp cả 2 thông tin, số lượng đơn vị đăng

ký giao dịch DVCTT và số lượng đơn vị thực sự gửi hồ sơ kiểm soát chi NSNN tới KBNN qua DVC KBNN nhận được phản hồi về hồ sơ, chứng từ (có thể là phản hồi chấp nhận hoặc từ chối kiểm soát chi, thanh toán)

(5) Kết quả giải quyết hồ sơ/công việc trên DVCTT: tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận và giải quyết đúng hạn, quá hạn và hồ sơ xử lý có sai sót Chỉ tiêu này cho phép đánh giá được hiệu quả tiếp nhận, kiểm soát, thanh toán hồ sơ chi NSNN trên DVCTT KBNN, tiêu chí đánh giá cần dựa trên việc đáp ứng đúng các qui định pháp lý về thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc

(6) Thời gian giải quyết hồ sơ/công việc khi giao dịch qua DVCTT: tổng thời gian kể từ khi hồ sơ được ĐVSDNS chuyển KBNN xử lý cho đến khi KBNN hoàn thành xử lý, kết thúc qui trình giao dịch DVCTT Thời hạn giải quyết từ ngày tiếp nhận hồ sơ đến ngày trả kết quả phải đúng theo quy định cho từng nghiệp vụ chi NSNN

(7) Hiệu quả giải quyết hồ sơ/công việc khi ứng dụng DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN: đơn vị có phải kết hợp giao dịch trực tiếp với KBNN hoặc trả bất kỳ khoản chi phí nào ngoài qui định để được tiếp nhận xử lý giao dịch trên DVCTT với KBNN?

(8) Thái độ phục vụ của cán bộ, công chức KBNN khi triển khai DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN: đơn vị có được giải đáp, hỗ trợ vướng mắc kịp thời trong giao dịch; ĐVSDNS có hài lòng với tính chính xác, chuyên nghiệp trong công việc của cán bộ, công chức KBNN

Trang 35

1.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến triển khai dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước

Triển khai dịch vụ công trực tuyến đối với KBNN nói riêng chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, bao gồm cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan

1.3.3.1 Nhân tố khách quan

Một số nhân tố bên ngoài có tác động đến công tác triển khai và hiệu quả triển khai dịch vụ công trực tuyến tại KBNN bao gồm:

- Thứ nhất, sự sẵn sàng về các văn bản hướng dẫn và khung pháp lý đối

với việc công nhận và thực hiện các giao dịch điện tử trong chi NSNN qua KBNN Hiện tại, các qui trình, nghiệp vụ chi NSNN qua KBNN thực hiện trên cổng DVC trực tuyến của Kho bạc được căn cứ theo Thông tư số 133/2017/TT-BTC ngày 15/12/2017 của Bộ Tài chính về về giao dịch điện

tử trong hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước và Quyết định số KBNN về việc ban hành Quy trình xử lý giao dịch điện tử qua Trang thông tin dịch vụ công của Kho bạc Nhà nước trong hệ thống Kho bạc Nhà nước Tuy nhiên, nội dung về lưu trữ điện tử chưa được qui định và hướng dẫn cụ thể, khi tiếp nhận hồ sơ chi NSNN điện tử, KBNN giao dịch phải thực hiện in, lưu chứng từ phục hồi (bản giấy), các ĐVSDNS tải, in báo nợ của KBNN, in phục hồi chứng từ (sau khi hồ sơ được thanh toán)

6099/QĐ Thứ hai, cơ sở hạ tầng, nền tảng CNTT, hệ thống đường truyền mạng

cần vận hành thông suốt khi các đơn vị đều “online” (trực tuyến) Việc đảm bảo các giải pháp kỹ thuật, hiệu năng hệ thống khi DVCTT được triển khai diện rộng có vai trò quan trọng, quyết định thành công của triển khai DVCTT trong KSC NSNN qua KBNN Thông tin hồ sơ chi NSNN sau khi được chủ tài khoản đơn vị ký chuyển KBNN cần phải được đồng bộ tức thời về phía KBNN giao dịch để kịp thời tiếp nhận, trả lời đơn vị Hồ sơ, chứng từ sau khi

Trang 36

được KBNN kiểm soát, hoàn thiện cần được giao diện chuyển tiếp ngay (gần như không có độ trễ) tới hệ thống quản lý thông tin Ngân sách Tabmis để kiểm soát, giao diện tới các hệ thống thanh toán điện tử, giao diện ra bên ngoài tới các ngân hàng thương mại, tổng hợp số liệu cho cơ quan thu…

- Thứ ba, thói quen giao dịch trực tiếp của ĐVSDNS ĐVSDNS sẽ chỉ

tham gia DVC trực tuyến khi nhận thức được sự tiện lợi, lợi ích từ sử dụng dịch vụ Đối với không ít đơn vị, việc thay đổi nhận thức và thói quen giao dịch trực tiếp tại trụ sở cơ quan KBNN trong nhiều năm sang giao dịch điện

tử qua DVC là công việc rất khó khăn Các ĐVSDNS (đặc biệt là đơn vị ở vùng sâu vùng xa, các tỉnh miền núi, các đơn vị không thường xuyên giao dịch với KBNN) có tâm lý ngại thay đổi, chưa sẵn sàng tiếp cận sang qui trình giao dịch điện tử trong khi qui trình giao dịch trực tiếp/truyền thống vẫn đáp

ứng tốt yêu cầu chi NSNN tại đơn vị

1.3.3.2 Nhân tố chủ quan

Bên cạnh những tác động từ bên ngoài, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ chính những nhân tố nội tại của KBNN, bao gồm:

- Một là, sự quan tâm, giám sát chặt chẽ công tác triển khai và hỗ trợ

sau triển khai từ các cơ quan quản lý và từ lãnh đạo cấp trên Để triển khai giao dịch điện tử chi NSNN qua cổng DVCTT của KBNN theo định hướng cải cách hành chính của Chính phủ và hình thành Kho bạc điện tử, cần có sự chỉ đạo và giám sát liên tục từ phía Bộ Tài chính, lãnh đạo KBNN TW, tỉnh/thành, quận/huyện nhằm đôn đốc, vận động và tạo điều kiện thuận lợi các ĐVSDNS tìm hiểu, tham gia giao dịch trực tuyến KBNN địa phương thực hiện triển khai DVCTT cần được ưu tiên hỗ trợ kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm tháo

gỡ mọi vướng mắc ngay tại thời điểm giao dịch, giảm thiểu việc ảnh hưởng đến thời gian xử lý KSC NSNN của đơn vị khi thực hiện giao dịch trực tuyến

Trang 37

- Hai là, chất lượng nguồn nhân lực: chất lượng cán bộ trong hệ thống

KBNN và chất lượng nguồn nhân lực của ĐVSDNS/người sử dụng cần đáp ứng được tốc độ điện tử hóa, công nghệ hóa trong triển khai DVC trực tuyến Con người luôn được xem là yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại, ổn định

và phát triển của mọi tổ chức Đội ngũ cán bộ KSC KBNN ngoài việc phải đảm bảo đáp ứng chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững qui trình, qui định về kiểm soát chi NSNN còn cần phải được đào tạo bổ sung kỹ năng trong tiếp nhận và trả kết quả thực hiện DVC trực tuyến nhằm đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu, điều kiện thực hiện giao dịch điện tử chi NSNN Với ĐVSDNS, trình

độ năng lực của kế toán các đơn vị không đồng đều, đặc biệt là ngân sách xã, đơn vị ở những địa bàn khó khăn, chưa phát triển được coi là một khó khăn, thách thức trong việc sử dụng DVCTT giao dịch điện tử với KBNN

- Ba là, số lượng DVC trực tuyến và mức độ DVCTT được cung cấp,

áp lực về khối lượng công việc cho ĐVSDNS/ người sử dụng cũng như cán

bộ KSC KBNN sẽ gia tăng khi phải duy trì cả 2 phương thức giao dịch: trực tiếp và trực tuyến KBNN bước đầu cung cấp DVCTT tới các ĐVSDNS có giao dịch chi NSNN qua KBNN ở một số nghiệp vụ như mở tài khoản; lập, giao nhận hồ sơ chi NSNN; đăng ký rút tiền mặt; truy vấn số dư, trong khi đó, một số nghiệp vụ thường xuyên phát sinh khác vẫn thực hiện theo hình thức truyền thống (trực tiếp) như: ghi thu ghi chi, ghi nhận hợp đồng/cam kết chi (kế hoạch vốn theo năm ngân sách), đối chiếu số dư dự toán, lệnh chi tiền…Khi DVCTT chưa đáp ứng với mọi nghiệp vụ chi NSNN, kiểm soát chi NSNN, bắt buộc KBNN và ĐVSDNS giao dịch phải duy trì cả hai hình thức giao dịch: trực tuyến và trực tiếp, điều này có thể làm giảm động lực khuyến khích các đơn vị giao dịch trực tuyến hoặc tăng áp lực cho KBNN phải tiếp nhận, kiểm soát hồ sơ chi NSNN cả bản cứng và bản điện tử

Trang 38

1.4 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến và bài học

1.4.1 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến

1.4.1.1 Dịch vụ công trực tuyến ở Hàn Quốc

Hàn Quốc là một thành công điển hình trong xây dựng Chính phủ điện

tử theo mô hình “từ trên xuống” Ở Hàn Quốc, cuộc khủng hoảng năm 1997

đã buộc nước này đối diện với một nhận thức thực tế là các phương thức cũ trong điều hành bộ máy Nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạn mới Do

đó, Hàn Quốc đã khẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế

để xây dựng Chương trình cải cách khu vực công, tập trung trên 4 lĩnh vực chính: Hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong đó xem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm

Hàn Quốc đã thành lập Ủy ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu trách nhiệm lập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ và đưa vào thử nghiệm nhiều ý tưởng cải cách mới Cải cách được tiến hành tại tất cả các đơn

vị thuộc khu vực công, với trọng tâm là tái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy,

áp dụng nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc chất lượng thực thi công việc Các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, theo định kỳ, phải nộp báo cáo cải cách hàng quý cho Ủy ban Cải cách hành chính (RRC)

Kết quả việc thực hiện nhiệm vụ cải cách của từng cơ quan sẽ là cơ sở

để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quan này vào năm sau Đồng thời, việc phản hồi thông tin và chế độ thưởng phạt minh bạch đã khuyến khích việc thực hiện sự cam kết đối với cải cách

Hàn Quốc đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế giới, thiết lập xong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ công thông qua internet, kể cả việc cung cấp dịch vụ hành chính

Trang 39

thông qua điện thoại di động, công khai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng…

Hàn Quốc là quốc gia Đông Á hiện đang xếp thứ 3 thế giới về chỉ số EGDI- Chỉ số phát triển chính phủ điện tử (chỉ số do Liên Hợp Quốc đƣa ra),

dẫn đầu châu Á trong việc xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử

Bảng 1.1: Xếp hạng các quốc gia trong phát triển Chính phủ điện tử government)

(E-Nguồn: Báo cáo Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp

Quốc năm 2018 (trang 89)

Trang 40

Hàn Quốc vẫn duy trì vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng (như năm 2016)

và là quốc gia có cơ sở hạ tầng dịch vụ và kỹ thuật trực tuyến phát triển cao nhưng riêng sự phát triển về nguồn nhân lực đồng bộ lại tương đối thấp so với các nước khác cùng trong nhóm dẫn đầu

Hàn Quốc đã tích cực trong việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình trong việc hình thành Chính phủ điện tử với các nước trên thế giới, sự quan tâm của thế giới đã giúp Hàn Quốc xuất khẩu được các hệ thống này Theo Bộ Nội vụ Hàn Quốc, tính đến 2015, Hàn Quốc xuất khẩu các hệ thống Chính phủ điện tử cho 11 cơ quan nước ngoài với các hợp đồng trị giá khoảng

534 triệu đô-la Mỹ Quan chức chính phủ của các nước ở châu Phi, châu Á, châu Úc và Bắc, Trung Nam Mỹ đang tìm đến Hàn Quốc để học hỏi kinh nghiệm, kiến thức về phát triển Chính phủ điện tử

Một số nhân tố góp phần tạo nên thành công của Chính phủ điện tử Hàn Quốc:

- Cải cách hành chính công được thực hiện đồng bộ, “từ trên xuống”, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Tổng thống, áp dụng nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và thưởng phạt minh bạch, báo cáo định kỳ về kết quả đạt được

- Chính phủ đẩy mạnh chính sách phát triển công nghệ thông tin dẫn đến thay đổi sâu sắc toàn xã hội: Chính phủ giữ vai trò là “nhà đầu tư” xây dựng cơ sở hạ tầng (máy tính giá rẻ, đường mạng chất lượng cao, đường truyền tốt…) và sau đó “cộng đồng tự phát triển”

- Thực hiện phổ cập công nghệ thông tin, Chính phủ đã mở các phòng đào tạo miễn phí về ứng dụng CNTT tại các trường học, trung tâm công cộng Người nghèo Hàn Quốc dù sống ở bất kỳ đâu cũng có thể tham gia các khóa học e-learning (học qua mạng)

Ngày đăng: 10/11/2020, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nguyễn Thị Cẩm Bình, (2018), “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong điều kiện triển khai Đề án “Thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước trong hệ thống Kho bạc Nhà nước””, Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường ĐHKT ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chi ngân sách nhà nước trong điều kiện triển khai Đề án “Thống nhất đầu mối kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước trong hệ thống Kho bạc Nhà nước”
Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Bình
Năm: 2018
5. Vũ Tùng Anh, (2018), “Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo mô hình Kho bạc nhà nước điện tử ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Quản lý kinh tế, Trường ĐHKT ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo mô hình Kho bạc nhà nước điện tử ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Tùng Anh
Năm: 2018
6. Hoàng Quốc Thái, (2018), “Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện thống nhất đầu mối kiểm soát chi NSNN”, Tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia, số 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua KBNN cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong điều kiện thống nhất đầu mối kiểm soát chi NSNN
Tác giả: Hoàng Quốc Thái
Năm: 2018
7. Bùi Quang Vinh, (2017), “Kiểm soát chi NSNN theo mô hình Kho bạc điện tử: Những vấn đề cần hoàn thiện”, tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia, số 176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chi NSNN theo mô hình Kho bạc điện tử: Những vấn đề cần hoàn thiện
Tác giả: Bùi Quang Vinh
Năm: 2017
8. Dương Công Trinh, (2018), “Nhận diện rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ KBNN”, tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia, số 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ KBNN
Tác giả: Dương Công Trinh
Năm: 2018
1. Lê Chi Mai, (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Khác
3. Nguyễn Nhƣ Phát, (2002), Dịch vụ công ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn, Nhà nước và Pháp luật, số 12/2002 Khác
9. Kho bạc Nhà nước, Báo cáo tổng kết hoạt động hệ thống KBNN các năm 2016, 2017, 2018, 2019 Khác
10. Thủ tướng, (2015), Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 8/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính Khác
11. Chính phủ, (2018), Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính Phủ quy định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính Khác
12. Thủ tướng, (2010), Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình Quốc gia về CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 Khác
13. Bộ Tài chính, (2012), Thông tƣ số 161/2012/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2012 quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc nhà nước Khác
14. Quốc hội, (2015), Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015 Khác
15. Chính phủ, (2011), Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Khác
16. Bộ Thông tin và Truyền thông, (2009), Thông tƣ số 26/2009/TT- BTTTT ngày 31/07/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Khác
17. Bộ Tài chính, (2016), Thông tƣ số 39/2016/TT-BTC ngày 01 tháng 3 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tƣ số 161/2012/TT-BTC Khác
18. Bộ Tài chính, (2015), Quyết định số 2765/QĐ-BTC ngày 25/12/2015 ban hành kế hoạch hành động của Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết 36a/NQ- CP Khác
19. Bộ Tài chính, (2016), Quyết định 1534/QĐ-BTC ngày 28/6/2016 phê duyệt định hướng phát triển Cổng thông tin điện tử ngành Tài chính đến năm 2020 Khác
20. Bộ Tài chính – Kho bạc Nhà nước, (2017), Công văn số 5608/BTC- KBNN ngày 28/04/2017 về việc chuẩn bị các điều kiện để tham gia dịch vụ công trực tuyến của KBNN Khác
21. Chính phủ, (2018), Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/09/2018 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w