Về mặt thực tiễn, tác giả đã phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả của một DN hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin như: các TK doanh t
Trang 1MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục sơ đồ vi
Danh mục từ viết tắt vii
Phần mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu luận văn 6
6 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong DN 9
1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu, chi phí và KQKD 9
1.1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu 9
1.1.2 Khái niệm và phân loại chi phí 14
1.1.3 Khái niệm và phân loại KQKD 18
1.2 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán doanh thu, chi phí và KQKD 21
1.3 Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD 24
1.3.1 Các nguyên tắc kế toán chi phối kế toán doanh thu, chi phí và KQKD 24
1.3.2 Phương pháp kế toán doanh thu, chi phí và KQKD 35
1.3.3 Trình bày thông tin doanh thu, chi phí và KQKD trên báo cáo tài chính 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 54
Trang 2Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí, KQKD tại Công ty CP Cơ
khí và Xây lắp An Ngãi 55
2.1 Tổng quan về công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán doanh thu, chi phí và KQKD 55
2.1.1 Tổng quan về công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi 55
2.1.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại công ty 62
2.2 Nội dung, đặc điểm kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại công ty 67
2.2.1 Nội dung, đặc điểm kế toán doanh thu tại công ty 67
2.2.2 Nội dung, đặc điểm kế toán chi phí tại công ty 69
2.2.3 Nội dung, đặc điểm kế toán KQKD tại công ty 70
2.3 Thực trạng phương pháp kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi 71
2.3.1 Kế toán doanh thu 71
2.3.2 Kế toán chi phí 76
2.3.3 Kế toán KQKD 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí, KQKD tại công ty cổ phần cơ khí và xây lắp An Ngãi 84
3.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 84
3.2 Yêu cầu có tính nguyên tắc hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi 88
3.3 Các giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại công ty Cổ phần Cơ khí và Xây lắp An Ngãi 91
3.3.1 Hoàn thiện về kế toán doanh thu 91
Trang 33.3.2 Hoàn thiện về kế toán chi phí 94
3.3.3 Hoàn thiện kế toán KQKD 100
3.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 101
3.4.1 Điều kiện về phía nhà nước và các cơ quan chức năng 101
3.4.2 Điều kiện từ phía Công ty 102
KẾT LUẬN 105
Danh mục tài liệu tham khảo 106
Phụ lục 107
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý 57
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán 59
Sơ đồ 1.1 Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 110
Sơ đồ 1.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu 111
Sơ đồ 1.3 Kế toán doanh thu hoạt động tài chính 112
Sơ đồ 1.4 Kế toán thu nhập khác 113
Sơ đồ 1.5: Kế toán giá vốn hàng bán 114
Sơ đồ 1.6 Kế toán chi phí tài chính 115
Sơ đồ 1.7 Kế toán chi phí bán hàng 116
Sơ đồ 1.8 Kế toán chi phí quản lý DN 117
Sơ đồ 1.9 Kế toán chi phí khác 118
Sơ đồ 1.10 Kế toán chi phí thuế TNDN 119
Sơ đồ 1.11 Kế toán xác định KQKD 120
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ buộc mỗi DN phải chủ động, nhanh nhạy nhận biết tình hình, nắm bắt thời cơ và tự đứng vững bằng chính “đôi chân” của mình Sự mở cửa giao lưu, hội nhập kinh tế đã mở
ra cho các DN những cơ hội song cũng đặt ra không ít những thách thức mà một trong số đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Vì vậy, để đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cũng như đẩy mạnh quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, các DN phải có chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả nhất
Trong hệ thống các công cụ quản lý DN, kế toán là một trong những công cụ quản lý quan trọng và hữu hiệu nhất, cung cấp thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính trong DN, giúp cho các nhà quản trị DN có được những thông tin chính xác, trung thực và khách quan để kịp thời đưa ra các phương án kinh doanh hiệu quả nhất
Trong hệ thống các phần hành kế toán, phần hành kế toán doanh thu, chi phí
và KQKD là một trong những phần hành rất quan trọng Dù kinh doanh trong bất kỳ lĩnh vực nào thì mối quan tâm hàng đầu mà các DN luôn hướng đến là hai nhân tố doanh thu, chi phí vì mục tiêu cuối cùng của DN chính là lợi nhuận Nhờ hệ thống thông tin kế toán về doanh thu, chi phí đã giúp cho các các nhà quản trị phân tích, đánh giá thực tế DN của mình đang hoạt động ra sao, như thế nào, có những điểm mạnh, điểm yếu gì, để quản lý một cách hiệu quả nhất chỉ tiêu doanh thu, chi phí nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN, đem lại lợi nhuận cao nhất và bảo toàn phát triển vốn Xuất phát từ những yêu cầu, lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu và chọn đề tài “Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi” Với mong muốn nắm rõ tình hình kế toán của Công ty, đi sâu tìm hiểu và phân tích về thực trạng Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện bộ máy kế toán tại Công ty để Công ty hoạt động ngày một hiệu quả hơn
Trang 72 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế, việc quản lý tốt doanh thu, chi phí, KQKD
sẽ góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh, đảm bảo sự an toàn và khả năng mang lại thắng lợi cho các quyết định kinh doanh của các DN Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh thu, chi phí, KQKD trong các DN
Luận văn “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả tại công ty CP các
hệ thống viễn thông VNPT – FUJITSU” của tác giả Bùi Thị Thanh Hòa – trường
Đại học Thương Mại năm 2013 Về mặt lý luận, tác giả đã nêu được những vấn đề
cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong các DN Về mặt thực tiễn, tác giả đã phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả của một
DN hoạt động trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin như: các TK doanh thu, chi phí chưa được theo dõi chi tiết theo từng khoản mục, thời gian ghi nhận chi phí không tuân theo nguyên tắc cơ sở dồn tích, chi phí tại DN được ghi nhận tại thời điểm nhận chứng từ chứ không phải thời điểm phát sinh nghiệp vụ và DN chưa xác định KQKD cho từng hoạt động… Từ những tồn tại tác giả đưa ra những giải pháp khắc phục, tuy nhiên những giải pháp này vẫn chỉ mang tính lý thuyết, tác giả không chỉ rõ cách thực hiện các giải pháp tại DN, DN cần thực hiện những công việc gì, kế toán phải tiến hành hoàn thiện như thế nào, chính vì vậy giải pháp đưa ra không có tính ứng dụng cao
Luận án tiến sỹ “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí trong các DN kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách theo tuyến cố định liên tỉnh bằng ô tô tại Việt Nam” của tác giả Trương Thanh Hằng - Học viện Tài chính năm 2014 Luận án đã
nghiên cứu chỉ rõ đặc thù kinh doanh dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh tại Việt Nam và những ảnh hưởng tới kế toán doanh thu, chi phí Trên cơ sở đánh giá, phân tích sâu thực trạng, luận án đã luận giải và phân tích
rõ những ưu điểm và hạn chế trong kế toán doanh thu, chi phí theo mô hình giao khoán – khoán gọn và khoán quản các khoản mục chi phí trong các DN kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định liên tỉnh tại Việt Nam, hạn chế trong việc xác định doanh thu do khó kiểm soát được số lượng vé thực tế bán ra tại
Trang 8các điểm bán vé, xác định chi phí giá vốn do đặc thù ngành nghề kinh doanh từ đó đưa ra các giải pháp trên cả hai góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Tuy nhiên điểm hạn chế của đề tài là phạm vi nghiên cứu, tác giả mới chỉ tiến hành nghiên cứu một số DN vận tải theo tuyến cố định liên tỉnh chủ yếu là hai chiều từ
Hà Nội tới các tỉnh miền núi phía Bắc như Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái,… từ đó đưa ra khái quát chung cho toàn bộ các DN kinh doanh vận tải theo tuyến cố định bằng ô tô tại Việt Nam mà chưa có sự nghiên cứu các DN vận tải ở hai miền Nam
và miền Trung Nếu mở rộng phạm vi nghiên cứu thì công trình của tác giả chắc chắn sẽ có sức thuyết phục cao hơn và hoàn thiện hơn
Luận văn “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định KQKD tại Công ty
CP Dịch vụ Đầu tư Trang Đạt” của tác giả Nguyễn Thị Hương – trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội năm 2014 Về mặt lý luận, Tác giả đã khái quát những vấn đề cơ bản nhất về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong DN Về mặt thực tiễn, tác giả tìm hiểu, phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Dịch vụ Đầu tư Trang Đạt Tại công ty chuyên mua bán các mặt hàng thiết bị vệ sinh, máy móc phục vụ công, nông nghiệp, các sản phẩm đông lạnh, thực phẩm, rau sạch, bán lẻ sơn màu, véc ni thì việc tập hợp chi phí, tính toán doanh thu cần được hạch toán chi tiết Tuy nhiên, khi phát sinh các khoản về chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại kế toán của DN không hạch toán vào TK
521 mà hạch toán hết vào TK 641, điều này gây nhầm lẫn trong việc tính toán doanh thu thuần và tập hợp chi phí bán hàng, xác định KQKD và theo dõi thuế GTGT đầu ra… Từ những hạn chế tác giả đưa ra các giải pháp để hoàn thiện việc ghi nhận các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,… Mặc khác, việc bán hàng tại Công ty chưa thực sự hiệu quả và những giải pháp Tác giả đưa ra chưa đủ
để thúc đẩy việc bán hàng tại Công ty
Đề tài “Kế toán doanh thu, chi phí và kết quả tại các công ty CP dược trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Loan – trường Đại học Thương mại Hà Nội
năm 2015 Luận văn đã tiếp cận ba công ty CP dược trên địa bàn Hà Nội: Công ty
CP dược phẩm Trung ương 2, công ty CP dược phẩm Vinacare và công ty CP dược
Trang 9phẩm Hà Nội Về mặt lý luận, tác giả cũng đã nêu được những vấn đề cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong các công ty Về mặt thực tiễn, tác giả cũng
đã phân tích thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả của các Công
ty Dược như: Tại cả ba công ty mà tác giả khảo sát đều không theo dõi các khoản chênh lệch vĩnh viễn và chênh lệch tạm thời, do đó việc xác định thuế TNDN hiện hành phải nộp trong kỳ chưa chính xác, kế toán không tiến hành ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính từ các khoản cho vay, các khoản tiền gửi tiết kiệm, mà chỉ ghi nhận khi nhận tiền lãi, kế toán không phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN cho từng nhóm hàng, các công ty không mở sổ theo dõi TK 521 và TK 532, chỉ mở
sổ theo dõi TK 531, Tác giả làm rõ những điểm mạnh điểm yếu trong công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định KQKD và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán, tuy nhiên những giải pháp tác giả đưa ra chưa chú trọng nhiều đến việc hoàn thiện công tác kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại các Công ty
Luận án “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu, KQKD trong các DN sản xuất thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hạnh –
trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2015 Về mặt lý luận, tác giả cũng đã nêu được những vấn đề cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong các công
ty Về mặt thực tiễn, luận văn đã nghiên cứu về kế toán chi phí, doanh thu, KQKD của các công ty thép thuộc Tổng công ty thép Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu của mình, tác giả đã phản ánh được toàn cảnh về thực trạng công tác kế toán chi phí, doanh thu, KQKD của ngành thép Luận án cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu, KQKD của ngành thép Với nội dung này, luận án chỉ dừng lại nghiên cứu chung các vấn đề liên quan đến tổ chức công tác kế toán doanh thu, chi phí, KQKD của các DN trong ngành thép, một số vấn đề mới chỉ được tác giả đề cập đến chưa có những nghiên cứu cụ thể
Các nghiên cứu trên rất thiết thực, chủ yếu tập trung hệ thống những vấn đề
lý luận cơ bản về công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định KQKD trong các
DN thương mại, dịch vụ, sản xuất thép – ngành công nghiệp nặng Vì vậy, những nghiên cứu này áp dụng không phù hợp cho lĩnh vực cơ khí, xây lắp, sản xuất
Trang 10gạch, Luận văn: “Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty cổ phần Cơ khí và Xây lắp An Ngãi” mong muốn được làm rõ những điểm mạnh điểm yếu trong
công tác kế toán chi phí, doanh thu và xác định KQKD trong DN sản xuất và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nêu trên; đồng thời tìm các giải pháp góp phần giúp các DN Cơ khí và Xây lắp ngày càng phát triển ổn định và bền vững hơn trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa
3 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý luận:
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại các DN
Về mặt thực tiễn:
Nghiên cứu thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP
Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
Phân tích, đánh giá thực trạng về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong DN Từ đó, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua quan sát; phỏng vấn; nghiên cứu tài liệu; khảo sát, ghi chép
Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các biến cố hoặc tác phong của con người qua cảm nhận nơi mình đang sống hay hành động, con người có thể ghi nhận và định lượng các sự kiện bên ngoài Quan sát gồm hai hành động của con người: nghe nhìn để cảm nhận và định lượng Con người có thể quan sát trực tiếp bằng tai, mắt để nghe, nhìn hay bằng phương tiện cơ giới như máy quay, camera (Giới và cộng sự, 2006) Chương trình quan sát có thể được xác định chi tiết gồm việc trả lời các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Và bằng cách nào?
Có hai loại quan sát, quan sát tham gia (người nghiên cứu tham gia hoàn toàn vào hoạt động của những chủ thể nghiên cứu và trở thành thành viên trong nhóm)
và quan sát có tính cấu trúc (phương pháp quan sát có tính hệ thống và có cấu trúc định sẵn)
Quan sát công việc thực tế tại công ty thực tập, bao gồm việc xuất hóa đơn, chứng từ; nhập xuất kho hàng hóa; sổ phụ của Công ty; cách ghi nhận giá vốn, chi phí và cách phân bổ các loại chi phí; cách sắp xếp, phân loại chứng từ, lên sổ sách
kế toán; cách ghi nhận doanh thu, tính toán KQKD của các công ty Qua đó, có thể tìm hiểu về quy trình kế toán doanh thu, chi phí và KQKD của các DN diễn ra như thế nào, tìm ra được những mặt hạn chế để đưa ra những phương hướng phù hợp
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp là phương pháp mà nhân viên điều tra gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một bảng câu hỏi đã soạn sẵn Hoặc phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại các nhân viên phòng kế toán
Theo Giới và cộng sự (2006), bảng câu hỏi là một trong những công cụ để thu thập dữ liệu, nó bao hàm một tập hợp các câu hỏi và câu trả lời theo một logic nhất định
Trang 12Bảng câu hỏi phỏng vấn được xây dựng dựa trên nội dung được nghiên cứu, bảng câu hỏi bao gồm cả câu hỏi đóng (dạng câu hỏi mà cả câu hỏi và câu trả lời được cấu trúc) và câu hỏi mở (dạng câu hỏi mà trong đó câu hỏi được cấu trúc còn câu trả lời thì không)
Phỏng vấn trực tiếp nhân viên và người lao động trong công ty bằng bảng câu hỏi, phỏng vấn cá nhân trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, mạng Internet (qua website hoặc qua e-mail có thiết kế bảng câu hỏi), qua đó nhận thấy những tồn tại trong công tác kế toán doanh thu và chi phí của Công ty
Để thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, tác giả sử dụng Bảng câu hỏi
(Phụ lục 01) được chuẩn bị trước, nội dung chứa đựng thông tin liên quan đến công
tác kế toán doanh thu, chi phí và KQKD để phỏng vấn Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi Đối tượng được phỏng vấn là kế toán trưởng Tác giả gửi bảng câu hỏi cho kế toán trưởng và nhờ trả lời những câu hỏi trong bảng câu hỏi đã soạn sẵn để thu thập thông tin
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tác giả nghiên cứu các tài liệu về Luật kế toán, chế độ và chuẩn mực kế toán liên quan đến đề tài nghiên cứu, các tài liệu trên Tạp chí kế toán và các sổ, báo cáo tài chính, cũng như các bài luận văn, chuyên đề cùng với đề tài nghiên cứu của những năm trước, bài báo đăng trên tập san, tạp chí Các số liệu thống kê của Cục thuế tỉnh Quảng Ngãi, trang Google, website của Công ty, website của các tổ chức hành nghế kế toán – kiểm toán ở Việt Nam
Phương pháp khảo sát, ghi chép để nghiên cứu đối với hệ thống sổ sách, cơ
sở vật chất thực hiện công tác kế toán doanh thu, chi phí, KQKD của công ty
Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi, tác giả tiến hành so sánh giữa lý luận với thực tế kế toán tại các DN Cụ thể: so sánh kế toán doanh thu, chi phí và KQKD giữa các DN cùng ngành với nhau, đối chiếu số liệu trên chứng từ gốc với số liệu
Trang 13trên sổ, so sánh số liệu trên sổ chi tiết với sổ tổng hợp, đối chiếu số liệu chứng từ gốc và bảng phân bổ với các sổ kế toán có liên quan So sánh KQKD giữa các năm của Công ty
Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu
Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu được sử dụng để tổng hợp kết quả của các phiếu điều tra, các cuộc phỏng vấn theo từng nội dung cụ thể đã đưa ra, từ
đó thực hiện đánh giá, phân tích thực trạng công tác kế toán doanh thu, chi phí và KQKD của Công ty
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng, sơ đồ và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong DN Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP
Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và KQKD tại Công ty CP Cơ khí và Xây lắp An Ngãi
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ
KQKD TRONG DN 1.1 Khái niệm và phân loại doanh thu, chi phí và KQKD
1.1.1.1 Khái niệm doanh thu
Theo VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác thì “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu” “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN đã thu được hoặc sẽ thu được Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lực kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN
sẽ không được coi là doanh thu Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải là doanh thu”
Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) định nghĩa: “Thu nhập là sự tăng lên của lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức dòng vào (hay sự gia tăng) của tài sản hoặc sự giảm đi của nợ phải trả dẫn đến sự tăng lên của vốn chủ sở hữu mà không phải do góp vốn” IASB cho rằng thu nhập bao gồm doanh thu và thu nhập khác Doanh thu phát sinh từ những hoạt động kinh doanh bình thường của DN; còn thu nhập khác thì có thể hoặc không phát sinh từ các hoạt động này Theo IASC, thu nhập khác về bản chất không khác với doanh thu nên không tách thành một yếu tố riêng của báo cáo tài chính
Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) định nghĩa “Doanh thu là dòng vào hoặc sự gia tăng khác của tài sản hay là việc thanh toán nợ phải trả (hoặc phối hợp cả hai) xuất phát từ việc phân phối hay sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch
vụ hay các hoạt động khác cấu thành các hoạt động chủ yếu hoặc trung tâm của DN”
Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng của Mỹ (AICPA) định nghĩa “Doanh thu là tổng GTGT tài sản hay là sự giảm gộp các khoản nợ được công nhận và được
Trang 15định lượng theo đúng các nguyên tắc kế toán được chấp thuận, là kết quả của các hoạt động có lợi nhuận của DN và có thể làm thay đổi vốn chủ sở hữu”
Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 (IAS 18) định nghĩa: “Doanh thu là luồng thu gộp của các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn CP Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba”
Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu Tuy nhiên về bản chất doanh thu là sự gia tăng giá trị tài sản của DN và được tính trong một thời kì nhất định Doanh thu trong kì là tổng số tiền và các khoản thu được từ việc bán sản phẩm do DN sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong kì DN Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiệp vụ làm tăng tiền và các khoản phải thu hoặc các tài sản khác đều liên quan đến doanh thu, và cũng không chỉ có doanh thu làm thay đổi vốn chủ sở hữu, doanh thu chỉ là một trong những nghiệp vụ kinh tế làm tăng tài sản và làm thay đổi vốn chủ sở hữu Bản chất của doanh thu chỉ bao gồm giá trị các lợi ích kinh tế đã nhận được và có thể nhận được của riêng DN phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, các khoản thu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu được coi là thu nhập khác, các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lực kinh tế của DN và không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN thì không được coi là doanh thu
Theo VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác “Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên mua, bên sử dụng dịch vụ hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại”
Chiết khấu thương mại: là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng
mua hàng với khối lượng lớn
Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém
phẩm chất, sai qui cách
Trang 16Giá trị hàng bán trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ
bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Đối với các DN sản xuất, doanh thu phát sinh từ các hoạt động khác nhau, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác Trong đó:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ của DN trong kì, bao gồm doanh thu từ bán sản phẩm do DN sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và bán bất động sản đầu tư, thực hiện các công việc
đã thỏa thuận trong hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán,
Doanh thu hoạt động tài chính: Là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động
tài chính như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
Thu nhập khác: Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động
ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu Bao gồm các khoản thu từ các hoạt động xảy
ra không thường xuyên, gồm: thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ; thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; thu tiền bảo hiểm được bồi thường; thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kì trước; khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập; thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại; các khoản thu khác
Nhận thức rõ bản chất của doanh thu và xác định đúng đắn phạm vi, thời điểm, cơ sở ghi nhận doanh thu ảnh hưởng có tính chất quyết định đến tính khách quan, trung thực của chỉ tiêu doanh thu, kết quả trong báo cáo tài chính để từ đó có các quyết định kinh doanh hợp lý
1.1.1.2 Phân loại doanh thu
Phân loại doanh thu theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh của DN
Doanh thu nội bộ: Là doanh thu của khối lượng hàng bán trong nội bộ hay doanh thu từ các hoạt động tài chính thu được từ hệ thống tổ chức kinh doanh của
DN như các giao dịch giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty,
Trang 17 Doanh thu từ bên ngoài: Là toàn bộ doanh thu của khối lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra thực tế của DN cho khách hàng, hay doanh thu từ các hoạt động đầu
tư tài chính thu được ngoài hệ thống tổ chức kinh doanh của DN
Cách phân loại này vừa giúp cho việc xác định chính xác KQKD thực tế của
DN trong kì, vừa phục vụ cho việc lập báo cáo kinh doanh hợp nhất; từ đó đưa ra những quyết định chính xác trong việc lựa chọn các phương án kinh doanh
Phân loại doanh thu theo mối quan hệ với khu vực địa lý
Doanh thu trong nước: là các khoản thu được từ bán hàng và cung cấp dịch
vụ phát sinh trong nước
Doanh thu ngoài nước: là các khoản thu được từ bán hàng và cung cấp dịch
vụ phát sinh tại nước ngoài
Cách phân loại này giúp nhà quản trị đánh giá được mức độ hoạt động theo khu vực địa lý; là cơ sở để kế toán mở ra các TK và các sổ chi tiết doanh thu tương ứng; là căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong kinh doanh của từng khu vực, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính bộ phận của DN theo khu vực địa
lý
Phân loại doanh thu theo hoạt động kinh doanh
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ của DN trong kỳ, bao gồm:
+ Doanh thu bán buôn: Là doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa, bán cho các cơ quan, đơn vị khác, nhằm mục đích để tiếp tục chuyển bán hoặc gia công, sản xuất
+ Doanh thu bán lẻ: Là doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa, bán cho các cơ quan, đơn vị khác, nhằm mục đích để tiêu dùng
+ Doanh thu gửi bán đại lý: Là doanh thu của khối lượng hàng gửi bán đại lý theo hợp đồng ký kết
Doanh thu hoạt động tài chính: Là toàn bộ doanh thu phát sinh từ hoạt động tài chính như tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
Trang 18Phân loại doanh thu theo loại này giúp nhà quản trị DN xác định được tỉ trọng của từng loại doanh thu nói chung, doanh thu bán hàng nói riêng, trên cơ sở
đó xác định được tổng mức lưu chuyển hàng hóa theo từng loại, từ đó hoạch định được mức luân chuyển hàng hóa, xây dựng mức dự trữ hàng hóa cần thiết, tránh được tình trạng ứ đọng hoặc thiếu hàng gây ảnh hưởng không tốt cho quá trình hoạt động kinh doanh của DN
Phân loại theo phương thức thanh toán tiền hàng
Doanh thu hoạt động kinh doanh được chia thành doanh thu thu tiền ngay, doanh thu trả chậm, doanh thu nhận trước
Cách phân loại này giúp DN lập dự toán số tiền thu được trong kỳ, là cơ sở
để xây dựng dự toán về thanh toán các khoản công nợ và chi phí trong kỳ của DN Ngoài ra, cách phân loại này giúp cho việc phân tích, đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng, là căn cứ quan trọng để xác định mức dự phòng phải thu khó đòi
Phân loại theo mối quan hệ với điểm hòa vốn
Doanh thu hòa vốn: Là doanh thu của khối lượng bán ở điểm hòa vốn
Doanh thu an toàn: Là phần chênh lệch của doanh thu thực hiện được với doanh thu hòa vốn
Cách phân loại này giúp nhà quản trị nhận thức được những vấn đề cơ bản và trực quan về tình hình KQKD nói chung và của nhóm, mặt hàng, bộ phận nói riêng; xác định được phạm vi lời, lỗ cũng như đo lường được mức độ an toàn hay tính rủi
ro trong kinh doanh của từng nhóm, mặt hàng hay bộ phận kinh doanh
Trên thực tế có rất nhiều cách phân loại doanh thu để thuận tiện và phù hợp cho công tác quản lý và kế toán doanh thu thực tế của đơn vị Phân loại doanh thu theo hoạt động kinh doanh là một trong những cách phân loại được nhiều DN sản xuất lựa chọn Khi xác định được doanh thu của từng loại hoạt động, DN sẽ xác định được đâu là hoạt động mũi nhọn, trên cơ sở đó DN sẽ đưa ra phương án kinh doanh tối ưu nhất Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu kế toán quản trị, các DN cũng nên lựa chọn cách phân loại doanh thu theo mối quan hệ với điểm hòa vốn để DN
Trang 19có đầy đủ thông tin đưa ra lựa chọn chính xác phương án kinh doanh hiệu quả nhất cho DN của mình
1.1.2 Khái niệm và phân loại chi phí
1.1.2.1 Khái niệm chi phí
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, DN cần tiêu hao các nguồn lực (tài sản, nhân công ) Quá trình tiêu dùng các nguồn lực đồng thời là quá trình phát sinh các chi phí
Theo VAS 01 – Chuẩn mực chung, chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
IASB định nghĩa “Chi phí là sự giảm đi lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức dòng ra (hay sự suy giảm) của tài sản hoặc sự tăng lên của nợ phải trả dẫn đến sự giảm xuống của vốn chủ sở hữu mà không phải do phân phối vốn cho chủ sở hữu”
Theo Ủy ban chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) định nghĩa “Chi phí là sự suy giảm của tài sản hoặc sự phát sinh của nợ phải trả (hoặc kết hợp cả hai) từ cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong quá trình hoạt động của DN”
Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau nhưng chi phí chung nhất là sự ghi nhận trên góc độ chủ sở hữu những gì đã bỏ ra với mục đích sẽ thu được những lợi ích lớn trong tương lai Chi phí trong DN bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh, chi phí khác
Chi phí hoạt động kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của DN, như: giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản
lý DN, chi phí lãi tiền vay và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, tiền bản quyền, Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền và các khoản tương đương tiền, HTK, khấu hao máy móc, thiết bị
Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh bình thường của DN, như: chi phí về
Trang 20thanh lý, nhượng bán TSCĐ, các khoản tiền bị khách hàng phạt do vi phạm hợp đồng,
Chi phí là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định Các DN sản xuất muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì đòi hỏi phải có sự kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Hao phí của tư liệu lao động, đối tượng lao động là hao phí lao động vật hóa; hao phí về sức lao động là hao phí lao động sống Việc dùng thước đo tiền tệ để phản ánh các hao phí bên trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN sản xuất được gọi là chi phí sản xuất
Như vậy, xét trên góc độ kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những phí tổn đã phát sinh gắn liền với các hoạt động của DN bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của DN và các chi phí khác Về đặc điểm chung, chi phí là hao phí tài nguyên, vật chất, lao động; những hao phí này phải gắn liền với mục đích kinh doanh, phải định lượng được bằng tiền và được xác định trong một khoảng thời gian nhất định
Kế toán chi phí ảnh hưởng đến tính trung thực, hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính, cũng như tính đúng đắn của các quyết định trong quản trị DN Trong các DN quản lý tốt chi phí sẽ góp phần tăng lợi nhuận, nâng cao chất lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng
1.1.2.2 Phân loại chi phí
Phân loại chi phí theo tính chất, nội dung kinh tế của chi phí (theo yếu tố chi phí)
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 5 yếu tố:
Chi phí nguyên vật liệu: là toàn bộ giá trị nguyên vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chi phí nhân công: là tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản phải trả khác cho người lao động trong kỳ
Trang 21 Chi phí khấu hao TSCĐ: là phần giá trị hao mòn của TSCĐ chuyển dịch vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chi phí dịch vụ mua ngoài: các khoản tiền điện, nước, điện thoại, thuê mặt bằng,…
Chi phí khác bằng tiền: là những chi phí sản xuất kinh doanh khác chưa được phản ánh trong các chi phí trên nhưng đã chi ra bằng tiền như chi phí tiếp khách, hội nghị…
Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất kinh doanh phát sinh nếu có cùng nội dung kinh tế thì được sắp xếp vào một yếu tố bất kể nó phát sinh ở bộ phận nào, dùng để sản xuất ra sản phẩm nào Với cách phân loại này cho ta biết các loại chi phí nào được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN với từng loại chi phí đó là bao nhiêu Cách phân loại này là cơ sở để DN xây dựng các định mức chi phí cần thiết, lập dự toán chi phí, lập báo cáo chi phí theo yếu tố trong kỳ Ngoài
ra, đây cũng là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động, xây dựng kế hoạch khấu hao TSCĐ, , là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chi phí sản xuất kinh doanh
Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động kinh doanh
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí được chia thành 2 loại:
Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí liên quan đến chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong một thời kỳ nhất định Chi phí sản xuất được chia thành 3 khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là biểu hiện bằng tiền những nguyên vật
liệu chủ yếu tạo thành thực thể vật chất của sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chịu chi phí
Chi phí nhân công trực tiếp: là tiền lương chính, lương phụ, các khoản trích
theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN và các khoản trả khác cho công nhân trực tiếp sản xuất
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí để sản xuất ra sản phẩm (không kể
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp)
Trang 22 Chi phí ngoài sản xuất: là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm và quản lý chung toàn DN Chi phí ngoài sản xuất bao gồm hai khoản mục chính là:
Chi phí bán hàng: là toàn bộ những chi phí phát sinh cần thiết để tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa
Chi phí quản lý DN: là toàn bộ những chi phí chi ra cho việc tổ chức và quản
lý trong toàn DN, đó là những chi phí hành chính, kế toán, quản lý chung,…
Cách phân loại này nhằm quản lý chi phí theo từng loại hoạt động của DN, giúp DN có thể xác định đƣợc lợi nhuận gộp của từng loại hoạt động
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định KQKD
Theo cách phân loại này CP đƣợc chia làm 2 loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Chi phí sản phẩm: là những chi phí liên quan trực tiếp đến việc mua hàng hóa hoặc sản xuất sản phẩm, gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và đƣợc tính hết vào phí tổn trong kỳ để xác định KQKD, bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý DN Khi sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đƣợc tiêu thụ trong kỳ, chi phí sản phẩm đƣợc chuyển thành chi phí thời kỳ, DN sử dụng doanh thu thu đƣợc trong kỳ
Trang 23 Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, do đó nó được phân bổ vào các đối tượng có liên quan theo tiêu thức nhất định
Cách phân loại này giúp kế toán tập hợp chi phí một cách rõ ràng chính xác cho từng đối tượng chịu chi phí Các chi phí trực tiếp sẽ được tập hợp theo phương pháp tập hợp trực tiếp, chi phí gián tiếp sẽ được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí theo các tiêu thức phân bổ phù hợp
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Theo cách phân loại này chi phí được chia làm 3 loại: biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
Biến phí (chi phí khả biến): là chi phí mà tổng số của nó sẽ biến động khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động sản xuất kinh doanh
Định phí (chi phí bất biến): Là những chi chí mà tổng số của nó không thay đổi hoặc rất ít thay đổi trong một phạm vi phù hợp
Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà thành phần bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến
Cách phân loại này giúp DN có thể biết được cách ứng xử của từng loại chi phí khi thay đổi mức độ hoạt động trong DN Phương pháp này giúp DN xây dựng được định mức chi phí, xây dựng các dự toán chi phí, lợi nhuận
Trang 24doanh của mình hoạt động thực sự có hiệu quả không Thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh do kế toán cung cấp sẽ giúp cho các nhà quản lý có những biện pháp hữu hiệu nhằm mang lại lợi nhuận ngày càng cao cho DN Với ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, thông tin về KQKD cần được phản ánh một cách chính xác và khoa học, đầy đủ và kịp thời, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, từ đó giúp nhà quản trị DN có thể nhanh chóng đưa ra các quyết định đúng đắn, thúc đẩy DN phát triển
Trong DN thương mại và dịch vụ có 3 loại hoạt động kinh doanh:
Hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là hoạt động chính trong DN, thực hiện chức năng tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ
Hoạt động tài chính: Là hoạt động đầu tư tài chính ra bên ngoài DN với mục đích hưởng lợi nhuận
Hoạt động khác: Là hoạt động không xảy ra thường xuyên liên tục trong
DN như nhượng bán thanh lý TSCĐ, xử lý các nghiệp vụ đặc thù của DN
Tương ứng với các hoạt động trên, DN thường phân chia KQKD thành 2 loại là: Kết quả từ hoạt động kinh doanh và kết quả khác
Cuối kỳ, kế toán tổng hợp số liệu xác định KQKD trước thuế TNDN:
KQKD trước thuế TNDN = Kết quả hoạt động
kinh doanh + Kết quả khác KQKD được xác định theo công thức sau:
KQKD sau thuế
Kết quả các hoạt động trước thuế TNDN
-
Chi phí thuế TNDN hiện hành
(+)
-Chi phí thuế TNDN hoãn lại Trong đó:
Chi phí thuế TNDN hiện hành: Là số thuế TNDN phải nộp tính trên thu nhập chịu thuế trong năm và thuế suất thuế TNDN hiện hành
Thuế TNDN hoãn lại: Là loại thuế phát sinh khi cơ sở tính thuế khác giá trị ghi sổ của tài sản và công nợ Thuế TNDN hoãn lại có thể là chi phí thuế hoặc thu nhập thuế
Trang 25Như vậy, KQKD trong các DN được tạo ra từ việc so sánh doanh thu, thu nhập của DN với các chi phí tương ứng mà DN phải bỏ ra cho hoạt động kinh doanh trong kỳ
1.1.3.2 Phân loại KQKD
Tương ứng với hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính, hoạt động khác, DN thường phân chia KQKD thành 2 loại là: Kết quả từ hoạt động kinh doanh và kết quả khác
Kết quả hoạt động kinh doanh: Là kết quả từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính của DN; trong DN sản xuất là kết quả từ hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, trong các DN còn có các nghiệp vụ khác như cho vay, góp vốn liên doanh, cũng góp phần tạo nên kết quả hoạt động kinh doanh Phương pháp chung xác định kết quả hoạt động kinh doanh của các DN được tính bằng công thức sau:
+
Doanh thu hoạt động tài chính
-
Chi phí tài chính
-
Chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN
và cung cấp dịch vụ
-
Chiết khấu thương mại
-
Doanh thu hàng bán
bị trả lại
-
Giảm giá hàng bán
-
Thuế TTĐB, thuế XK (nếu có)
Kết quả khác: Là kết quả từ các nghiệp vụ phát sinh không thường xuyên
hoặc DN không dự kiến trước được như: thanh lý, nhượng bán TSCĐ, tài sản tổn thất, Phương pháp xác định kết quả khác như sau:
Kết quả khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Trang 26Trong đó:
Thu nhập khác là khoản thu nhập khác, các khoản doanh thu ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN
Chi phí khác là những khoản chi phí phát sinh do các sự kiện hay các nghiệp
vụ riêng biệt với hoạt động thông thường của các DN
1.2 Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán doanh thu, chi phí và KQKD
Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD là một trong những phần hành quan trọng của DN Trên thực tế quản lý doanh thu, chi phí và KQKD là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa
ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn của công ty Thường xuyên đánh giá tính hợp pháp, hợp lý, sự biến động của doanh thu, chi phí và KQKD đã ghi nhận ở DN sẽ góp phần quản lý tài sản, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh Để thông tin kế toán doanh thu, chi phí và KQKD là công cụ tốt trong điều hành và quản lý quá trình kinh doanh của DN và phục vụ cho nhu cầu khác của các đối tượng khác ngoài DN thì đòi hỏi mỗi DN phải tổ chức công tác quản lý doanh thu, chi phí và KQKD sao cho phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Cụ thể:
Kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán DN, cung cấp thông tin về toàn bộ tình hình doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của DN Thông tin về doanh thu hoạt động kinh doanh được xem
là một trong những dòng thông tin quan trọng nhất để người sử dụng thông tin phân tích, đánh giá tình hình và KQKD của DN nói chung và của từng loại hoạt động, sản phẩm, hàng hóa, bộ phận nói riêng Qua đó đánh giá được khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của DN và đạt được những mục tiêu mà DN đã đưa ra Do vậy, kế toán doanh thu trong hoạt động kinh doanh trong DN có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán nói riêng và công tác quản lý nói chung
Để thực hiện được yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin cho người sử dụng, phát huy vai trò của kế toán doanh thu hoạt động kinh doanh trong DN phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Trang 27 Xác định đúng đắn phạm vi và thời điểm ghi nhận doanh thu, đảm bảo yếu
tố đúng kỳ của doanh thu, trên cơ sở đó đảm bảo yếu tố đúng kỳ của lợi nhuận
Tổ chức hạch toán ban đầu theo đúng quy định của chế độ kế toán hiện hành, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu quản lý doanh thu của DN Tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời
Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình doanh thu bán hàng của DN trong kỳ Ngoài việc phản ánh doanh thu trên sổ kế toán tổng hợp, kế toán doanh thu bán hàng cần phải theo dõi ghi chép chi tiết về số lượng và giá trị hàng bán trên tổng số và theo từng nhóm mặt hàng, địa điểm bán hàng, phương thức bán hàng,
Xác định chính xác giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ, đồng thời phân bổ chi phí thu mua cho hàng đã bán nhằm xác định kết quả của hoạt động bán hàng
Thường xuyên kiểm tra công việc và tình hình thực hiện hợp đồng bán hàng, đôn đốc thanh toán tiền bán hàng Đối với doanh thu bán hàng trả chậm, kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi theo từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình trả nợ
Tổ chức lập báo cáo doanh thu theo yêu cầu quản lý của DN, tổ chức phân tích báo cáo, lập dự toán doanh thu, tư vấn cho chủ DN và giám đốc lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả,
Kế toán chi phí hoạt động kinh doanh là một bộ phận cấu thành của hệ thống
kế toán DN, cung cấp thông tin về toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến các hoạt động tiêu thụ hàng hóa sản phẩm, dịch vụ diễn ra thường xuyên trong DN Do vậy,
kế toán chi phí trong hoạt động kinh doanh trong DN có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống kế toán nói riêng và công tác quản lý nói chung Chi phí hoạt động kinh doanh phát sinh trong các DN bao gồm nhiều loại với tính chất kinh tế, mục đích, công dụng và yêu cầu quản lý khác nhau Để thực hiện được yêu cầu quản lý
và cung cấp thông tin cho người sử dụng, phát huy vai trò của kế toán chi phí hoạt động kinh doanh trong DN phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Trang 28 Phân loại chi phí hoạt động kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau nhằm hạch toán đúng đắn chi phí hoạt động kinh doanh và đáp ứng yêu cầu quản lý Phải quản lý chi phí theo từng hoạt động, từng bộ phận kinh doanh sẽ xác định được những hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả thấp cũng như những hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận cao; từ đó có những phương án thúc đẩy những hoạt động kinh doanh đem lại hiệu quả cao, khắc phục hoặc thay đổi những phương án kinh doanh đem lại hiệu quả thấp
Kế toán cần phải phản ánh đúng, đủ, kịp thời vào sổ sách, chứng từ kế toán tránh tình trạng thâm hụt, chi tiêu không có cơ sở
Tổ chức hạch toán ban đầu theo đúng quy định của chế độ kế toán hiện hành, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí của DN Tổ chức luân chuyển chứng từ khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời
Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác chi phí DN nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác cho các nhà quản trị Việc xác định kịp thời, đầy đủ, chính xác chi phí sẽ quyết định sự sống còn của DN
Lập dự toán chi phí, phân tích thông tin nhằm xây dựng mục tiêu đạt được trong tương lai và phương án để thực hiện kế hoạch đó
Sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh các DN phải xác định KQKD của từng hoạt động KQKD phải được xác định một cách đúng đắn cho mỗi hoạt động của DN theo đúng quy định tài chính, kế toán hiện hành Trên cơ sở yêu cầu đó kế toán xác định KQKD phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Phản ánh, ghi chép đầy đủ, kịp thời, đúng đắn các khoản doanh thu, thu nhập, chi phí của từng hoạt động trong DN
Tính toán, xác định chính xác chi phí thuế TNDN và giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước
Xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của DN
Cung cấp thông tin phục vụ lập báo cáo tài chính và phân tích kinh tế trong
DN
Trang 29Có thể nói, kế toán doanh thu, chi phí và KQKD trong các DN sản xuất giữ một vai trò then chốt trong việc tạo dựng hệ thống thông tin kinh tế tài chính cung cấp cho quản lý Chất lượng thông tin của kế toán doanh thu, chi phí và KQKD được coi là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đảm bảo sự an toàn và khả năng mang lại thắng lợi cho các quyết định kinh doanh
1.3 Kế toán doanh thu, chi phí và KQKD
1.3.1.1 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí theo VAS 01
VAS 01 – Chuẩn mực chung (Ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002/QĐ-BTC) Mục đích của chuẩn mực quy định
và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của DN Kế toán doanh thu, chi phí và xác định KQKD tuân thủ các nguyên tắc chính yếu sau:
Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của DN liên quan
đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ
kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực
tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của DN trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Doanh thu, thu nhập và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm tiền nhận được Kế toán theo cơ sở dồn tích không quan tâm tiền đã thu được hay chưa, mà thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định là thời điểm phát sinh giao dịch cụ thể Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hưởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của DN trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xác định lợi nhuận của DN Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí; từ đó, BCTC nói chung và báo cáo KQKD nói riêng được lập trên cơ sở dồn tích phản ánh đầy đủ các giao dịch kế toán trong kỳ và từ đó, cho phép tình trạng tài sản, nguồn vốn của một DN được phản ánh một cách đầy đủ, hợp lý Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thu vào và doanh thu trong kỳ và tồn tại
Trang 30chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiền chi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ
sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéo dài qua các kỳ khác nhau, như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng,
Nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
Với nguyên tắc này, bất cứ khi nào kế toán ghi nhận doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng với việc tạo ra doanh thu đó, như vậy phải xác định được chi phí tương ứng với việc tạo ra doanh thu trong kỳ Khi doanh thu hay chi phí phát sinh cho nhiều kỳ thì cần phân bổ cho nhiều kỳ, chỉ đưa vào doanh thu, chi phí phần giá trị phát sinh tương ứng với kỳ hạch toán
Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán DN đã chọn
phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm
Việc ghi nhận doanh thu, chi phí có liên quan trực tiếp đến việc xác định KQKD của đơn vị, do đó, nếu không quy định chặt chẽ, nhà quản lý có thể sử dụng
để điều chỉnh lợi nhuận của DN mình theo ý muốn chủ quan Ví dụ, DN có thể sử dụng hai phương pháp tính giá xuất kho của hàng tồn kho khác nhau trong cùng kỳ
kế toán năm để điều chỉnh lợi nhuận trong kỳ theo ý muốn của mình Điều này làm cho thông tin cung cấp sẽ không thể đảm bảo tính so sánh được và cũng không còn đảm bảo tính trung thực hợp lý của số liệu Tuy nhiên, “Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong thuyết minh báo cáo tài chính” Một chính sách hay một phương pháp kế toán thay đổi có thể ảnh hưởng đến một hoặc rất nhiều các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính, từ đó ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin
Do đó, nếu có sự thay đổi, cần thiết phải được giải trình rõ ràng để đảm bảo sự trung thực và hợp lý của thông tin
Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần
Trang 31thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập; không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
Nguyên tắc thận trọng giúp DN không đánh giá cao khả năng của DN mình Nguyên tắc thận trọng giúp kế toán có thể cân bằng nguyên tắc cơ sở dồn tích và nguyên tắc phù hợp Nguyên tắc cơ sở dồn tích yêu cầu ghi nhận doanh thu tại thời điểm phát sinh, thì nguyên tắc thận trọng bổ sung thêm yêu cầu cần có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai Với nguyên tắc phù hợp, chi phí ghi nhận phải tương ứng với doanh thu có liên quan Tuy nhiên, những khoản chi phí không phục vụ lợi ích cho các kỳ kế toán sau thì cần phải được hạch toán ngay vào sổ sách kế toán khi có bằng chứng về khả năng phát sinh của chi phí
đó Như vậy, nguyên tắc thận trọng sẽ giúp DN không đề cao quá khả năng của đơn
vị mình, và giúp thông tin cung cấp phản ánh được xác đáng nhất tình hình kinh doanh và thực trạng tài chính của đơn vị
Nhìn chung, các nguyên tắc kế toán được ban hành xuất phát từ nhu cầu cung cấp thông tin trung thực và hợp lý cho các đối tượng sử dụng Riêng đối với việc ghi nhận doanh thu, thu nhập, chi phí, vì đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định KQKD trong kỳ của đơn vị, là chỉ tiêu đa số người sử dụng quan tâm nên càng cần thiết phải được phản ánh trung thực, hợp lý
Theo VAS 01 thì lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của
DN Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Doanh thu, thu nhập khác, chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của DN
1.3.1.2 Nguyên tắc ghi nhận chi phí hàng tồn kho theo VAS 02
VAS 02 – Hàng tồn kho (Ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001), mục đích của chuẩn mực là quy
Trang 32định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho, gồm: Xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho vào chi phí; ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
Chi phí sản xuất được tính vào giá gốc hàng tồn kho bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại
Giá vốn hàng bán được xác định theo 3 phương pháp sau: Phương pháp đích danh, phương pháp bình quân gia quyền, phương pháp nhập trước xuất trước
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi nhận Tất cả các khoản chênh lệch giữa khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho, sau khi trừ (-) phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra, và chi phí sản xuất chung không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong
kỳ Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối niên độ kế toán năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối niên độ
kế toán năm trước, thì số chênh lệch lớn hơn phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh
Ghi nhận giá trị hàng tồn kho đã bán vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu
Trường hợp một số loại hàng tồn kho được sử dụng để sản xuất ra tài sản cố định hoặc sử dụng như nhà xưởng, máy móc, thiết bị tự sản xuất thì giá gốc hàng tồn kho này được hạch toán vào giá trị tài sản cố định
1.3.1.3 Nguyên tắc xác định và ghi nhận doanh thu theo VAS 14
VAS 14 được ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng BTC Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu
Trang 33nhập khác, gồm: Các loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
Xác định và ghi nhận doanh thu bán hàng
Kế toán doanh thu được quy định ở VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác, một trong những nội dung quan trọng của chuẩn mực này là đưa ra quy định kế toán
về xác định doanh thu và thời điểm ghi nhận doanh thu
Về xác định doanh thu, doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại Tuy nhiên tùy thuộc vào từng phương thức và hình thức thanh toán tiền hàng mà doanh thu bán hàng được xác định cụ thể như sau:
Đối với trường hợp bán hàng trả góp, doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản tiền hoặc tương đương tiền sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
Đối với trường hợp hàng đổi hàng:
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu
Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu
Trang 34được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
Về thời điểm ghi nhận doanh thu, doanh thu được ghi nhận khi DN có khả năng tương đối chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và lợi ích kinh
tế đó có thể được tính toán một cách đáng tin cậy Điều đó được cụ thể hóa thành năm điều kiện và chỉ ghi nhận doanh thu khi cả năm điều kiện đó được thỏa mãn,
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Doanh thu phải được theo dõi chi tiết theo từng loại doanh thu như doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền và lợi nhuận được chia Trong từng loại doanh thu lại được chi tiết thành từng khoản doanh thu như doanh thu bán hàng có thể chi tiết thành doanh thu bán hàng hóa, doanh thu bán thành phẩm,… nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ, chính xác KQKD theo yêu cầu quản lý và lập báo cáo KQKD của DN
Nếu trong kỳ phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại thì phải hạch toán riêng biệt Các khoản giảm trừ doanh thu được tính trừ vào ghi nhận doanh thu ban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ xác định KQKD của kỳ
kế toán
Xác định và ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ
Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung
Trang 35cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn điều kiện sau: Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán; Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành
Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là DN nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi
Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ: Đánh giá phần công việc đã hoàn thành; So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành; Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng
Khi kết quả của một giao dịch về cung cấp dịch vụ không thể xác định được chắc chắn thì doanh thu được ghi nhận tương ứng với chi phí đã ghi nhận và có thể thu hồi
Xác định và ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính
Trang 36Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của DN được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận trên cơ sở: Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ; Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng; Cổ tức
và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp vốn
Lãi suất thực tế là tỷ lệ lãi dùng để quy đổi các khoản tiền nhận được trong tương lai trong suốt thời gian cho bên khác sử dụng tài sản về giá trị ghi nhận ban đầu tại thời điểm chuyển giao tài sản cho bên sử dụng Doanh thu tiền lãi bao gồm
số phân bổ các khoản chiết khấu, phụ trội, các khoản lãi nhận trước hoặc các khoản chênh lệch giữa giá trị ghi sổ ban đầu của công cụ nợ và giá trị của nó khi đáo hạn
Khi tiền lãi chưa thu của một khoản đầu tư đã được dồn tích trước khi DN mua lại khoản đầu tư đó, thì khi thu được tiền lãi từ khoản đầu tư, DN phải phân bổ vào cả các kỳ trước khi nó được mua Chỉ có phần tiền lãi của các kỳ sau khi khoản đầu tư được mua mới được ghi nhận là doanh thu của DN Phần tiền lãi của các kỳ trước khi khoản đầu tư được mua được hạch toán giảm giá trị của chính khoản đầu
tư đó
Doanh thu được ghi nhận khi đảm bảo là DN nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu thì khoản có khả năng không thu hồi được hoặc không chắc chắn thu hồi được đó phải hạch toán vào chi phí phát sinh trong kỳ, không ghi giảm doanh thu
Trang 37- Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí kỳ trước;
- Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi tăng thu nhập;
- Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn lại;
- Các khoản thu khác
Khoản thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ là tổng số tiền đã thu và sẽ thu được của người mua từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ Các chi phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ được ghi nhận là chi phí để xác định KQKD trong kỳ
Thu được các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi phí của kỳ trước là khoản nợ phải thu khó đòi, xác định là không thu hồi được, đã được xử lý xóa sổ và tính vào chi phí để xác định KQKD trong các kỳ trước nay thu hồi được
Khoản nợ phải trả nay mất chủ là khoản nợ phải trả không xác định được chủ
nợ hoặc chủ nợ không còn tồn tại
Việc xác định đúng doanh thu và thời điểm ghi nhận doanh thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định yếu tố đúng kỳ của doanh thu và là cơ sở để xác định chính xác lợi nhuận thực hiện trong kỳ của DN
1.3.1.4 Nguyên tắc ghi nhận Chi phí thuế TNDN theo VAS 17
VAS 17 – Thuế TNDN (Ban hành và công bố theo quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng BTC) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán thuế TNDN
Về nguyên tắc, khi ghi nhận một tài sản hay nợ phải trả trong báo cáo tài chính thì DN phải dự tính khoản thu hồi hay thanh toán giá trị ghi sổ của tài sản hay khoản nợ phải trả đó Khoản thu hồi hay thanh toán dự tính thường làm cho số thuế TNDN phải trả trong tương lai lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với số thuế TNDN phải nộp trong năm hiện hành mặc dù khoản thu hồi hoặc thanh toán này không có ảnh hưởng đến tổng số thuế TNDN Chuẩn mực này yêu cầu DN phải ghi nhận khoản thuế thu nhập hoãn lại phải trả hoặc tài sản thuế thu nhập hoãn lại, ngoại trừ một số trường hợp nhất định
Về chi phí thuế TNDN hiện hành:
Trang 38 Hàng quý, kế toán xác định và ghi nhận số chi phí thuế TNDN tạm nộp trong quý Thuế thu nhập tạm nộp trong quý được tính vào chi phí thuế TNDN hiện hành của quý đó
Cuối năm tài chính, kế toán phải xác định số và ghi nhận thuế TNDN thực
tế phải nộp trong năm trên cơ sở tổng TNDN thực tế phải nộp trên cơ sở tổng thu nhập chịu thuế cả năm và thuế suất thuế thu nhập hiện hành
Trường hợp số thuế TNDN tạm phải nộp trong năm lớn hơn số thuế phải nộp cho năm đó, thì số chênh lệch giữa số thuế tạm phải nộp lớn hơn số thuế phải nộp được ghi giảm chi phí thuế TNDN hiện hành và ghi giảm trừ vào số thuế TNDN phải nộp
Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liên quan đến khoản thuế TNDN phải nộp của các năm trước, DN được hạch toán tăng hoặc giảm số thuế TNDN phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành của năm phát hiện sai sót
Tài sản thuế thu nhập hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại cũng như thuế thu nhập hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại phải trả thường được tính theo thuế suất thuế TNDN đã ban hành
Kế toán đối với ảnh hưởng về thuế thu nhập hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại của một giao dịch hay sự kiện khác được ghi nhận nhất quán với việc ghi nhận
cho chính giao dịch hay sự kiện đó
1.3.1.5 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí và KQKD theo các chuẩn mực kế toán khác có liên quan
VAS 03 – TSCĐ hữu hình và VAS 04 – TSCĐ vô hình
VAS 03 – TSCĐ hữu hình và VAS 04 – TSCĐ vô hình (Ban hành và công
bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình, gồm: Tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình và TSCĐ
vô hình, thời điểm ghi nhận, xác định giá trị ban đầu, chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu, khấu hao, thanh lý TSCĐ hữu
Trang 39hình và TSCĐ vô hình và một số quy định khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá
Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình được ghi tăng nguyên giá của tài sản nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó Các chi phí phát sinh không thỏa mãn điều kiện trên phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ
Sau khi ghi nhận ban đầu, trong quá trình sử dụng, TSCĐ hữu hình và TSCĐ
vô hình được xác định theo nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại Trường hợp TSCĐ hữu hình được đánh giá lại theo quy định của Nhà nước thì nguyên giá, khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại phải được điều chỉnh theo kết quả đánh giá lại Chênh lệch do đánh giá lại TSCĐ hữu hình được xử lý và kế toán theo quy định của Nhà nước
Phương pháp khấu hao do DN xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình
và TSCĐ vô hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng TSCĐ hữu hình hoặc khi có sự thay đổi đáng kể cách thức thu hồi lợi ích kinh tế của DN của TSCĐ vô hình DN không được tiếp tục tính khấu hao đối với những TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn
sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
Lãi hay lỗ phát sinh do thanh lý, nhượng bán TSCĐ hữu hình (TSCĐ vô hình) được xác định bằng số chênh lệch giữa thu nhập với chi phí thanh lý, nhượng bán cộng (+) giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình (TSCĐ vô hình) Số lãi, lỗ này được ghi nhận là một khoản thu nhập hay chi phí trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
VAS 16 – Chi phí đi vay
VAS 16 – Chi phí đi vay (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán đối với chi phí đi vay, gồm: ghi
Trang 40nhận chi phí đi vay vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ; vốn hoá chi phí đi vay khi các chi phí này liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
Chi phí đi vay phải được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi phát sinh trừ khi được vốn hóa theo quy định
Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến sản xuất tài sản dở dang khi có đủ điều kiện vốn hóa:
Trường hợp khoản vốn vay riêng biệt chỉ sử dụng cho mục đích sản xuất một tài sản dở dang thì chi phí đi vay có đủ điều kiện vốn hoá cho tài sản dở dang
đó sẽ được xác định là chi phí đi vay thực tế phát sinh từ các khoản vay trừ (-) đi các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đầu tư tạm thời của các khoản vay này
Trường hợp khoản vốn vay chung, chi phí đi vay được vốn hóa là toàn bộ chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến tài sản dở dang được tính vào chi phi sản xuất sản phẩm mà không phải điều chỉnh các khoản thu nhập phát sinh do đầu tư tạm thời
1.3.2.1 Kế toán doanh thu
Chứng từ kế toán sử dụng
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các chứng từ sử dụng bao gồm:
Hoá đơn GTGT (Mẫu 01 – GTGT – 3LL): dùng cho các DN nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ Khi bán hàng, phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định trên hoá đơn như: giá bán chưa có thuế GTGT, các khoản phụ thu và thuế tính ngoài giá bán (nếu có), thuế GTGT và tổng giá thanh toán
Hoá đơn bán hàng (Mẫu 02- GTGT): dùng trong các DN nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hoặc thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT Trên hoá đơn phải ghi đầy đủ các yếu tố như giá bán, các khoản phụ thu và tổng giá thanh toán (đã có thuế GTGT)
Các chứng từ kèm theo như phiếu xuất kho, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, hợp đồng kinh tế, phiếu thu tiền mặt, giấy báo Có…