1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phương pháp học tiếng anh “học qua dự án” (project based learning) để tăng cường hiệu quả tự học tiếng anh cho sinh viên đại học thương mại

57 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khoa học này tổng hợp lý thuyết liên quan đến phương pháp học qua dự án và kỹ năng tự học, sau đó áp dụng thí điểm cho sinh viên khối không chuyên tiếng Anh trong học phần tiế

Trang 1

TÓM LƯỢC

Khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Việt Nam từ trước đến nay luôn

bị coi là yếu so với sinh viên các nước trong khu vực và trên thế giới Gần đây, các trường đại học đang dần chuyển từ hình thức đào tạo theo niên chế sang hình thức tín chỉ để khắc phục nhược điểm này, giúp cho sinh viên chủ động hơn trong quá trình đặt mục tiêu và thực hiện mục tiêu cũng như buộc họ phải tìm kiếm thông tin phục vụ yêu cầu bắt buộc trong học theo tín chỉ là thảo luận cuối mỗi học phần Tuy nhiên, kết quả tự học của sinh viên vẫn còn rất nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có phương pháp giảng dạy vẫn theo lối đọc chép truyền thống Qua rất nhiều đổi mới trong phương pháp giảng dạy môn tiếng Anh trên thế giới, phương pháp học qua dự án đã và đang thu hút được sự quan tâm lớn nhờ đặc điểm giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu của nó Nghiên cứu khoa học này tổng hợp lý thuyết liên quan đến phương pháp học qua dự án và kỹ năng tự học, sau

đó áp dụng thí điểm cho sinh viên khối không chuyên tiếng Anh trong học phần tiếng Anh 4, Đại học Thương mại để nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên Điều tra về thực trạng tự học cũng như những thay đổi sau khi áp dụng học qua dự án được tiến hành dựa trên ba công cụ nghiên cứu là phiếu điều tra, phỏng vấn và quan sát thực tế Sau khi phân tích kết quả điều tra về thực trạng và kết quả ứng dụng phương pháp học qua dự án trong học phần tiếng Anh 4, một số đề xuất được đưa ra nhằm áp dụng thành công phương pháp này giúp sinh viên cải thiện các kỹ năng tự học

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1: Mô hình tự học của Tassinari 12 Hình 2: Kỹ năng lập kế hoạch 26 Bảng 1: Những khó khăn sinh viên gặp trong quá trình tự học tiếng Anh 28 Hình 3: Thay đổi về nhận thức của sinh viên về tự học và vai trò của việc tự học 28 Hình 4: So sánh các kỹ năng tự học trước và sau khi áp dụng HQDA 31

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

“Học đi đôi với hành” là triết lý giáo dục đã có từ lâu, tuy nhiên ở nước ta chưa có nhiều chương trình giáo dục tuân thủ triết lý này cho dù sau rất nhiều cải cách Học qua dự án (HQDA) là một trong những đường hướng giúp người học được thực hành các kỹ năng mềm vô cùng cần thiết trong môi trường làm việc hiện đại, đáp ứng nhu cầu thực tiễn Ở nước ta, chương trình HQDA của Intel được khởi động từ năm 2003 tại một số tỉnh thành trong cả nước và dần dần được nhân rộng trong những năm gần đây Qua chương trình này, giáo viên Việt Nam được tiếp cận với phương pháp HQDA nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn trong triển khai áp dụng vào thực tế Với phương pháp dạy học này, cả giáo viên lẫn sinh viên phải thay đổi vai trò và nhiệm vụ của mình so với phương pháp dạy học truyền thống Vì vậy, họ đã gặp rất nhiều thách thức; có thể do thói quen học tập thụ động, điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn (công nghệ), sức ỳ cá nhân lớn Vấn đề đặt ra là để áp dụng có hiệu quả HQDA, giáo viên và sinh viên phải thích nghi với vai trò và nhiệm vụ mới, đồng thời biết cách vượt qua những thách thức

do phương pháp dạy học này mang lại cũng như vượt qua điều kiện giáo dục khách quan ở Việt Nam

Trong bối cảnh đó, thực trạng dạy và học tiếng Anh ở Đại học Thương mại (ĐHTM) đối với sinh viên không chuyên tiếng Anh còn rất nhiều hạn chế: phương pháp giảng dạy hầu như vẫn theo lối truyền thống, sinh viên học tương đối thụ động, chương trình giảng dạy vẫn còn nặng về lý thuyết, ít thực hành… Vì vậy, tiếng Anh của sinh viên không chuyên trường Đại học Thương mại còn yếu so với sinh viên khối ngành kinh tế của các trường đại học khác – điều này luôn là vấn đề trăn trở của lãnh đạo nhà trường cũng như đội ngũ giảng viên khoa Tiếng Anh trong nhiều năm qua Một số nghiên cứu khoa học gần đây của giảng viên khoa tiếng Anh

đã chỉ rõ nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng như vậy là do ý thức tự học của sinh viên còn rất thấp, sinh viên thiếu các kỹ năng tự học Vai trò của việc tự học có ý nghĩa rất lớn, kết quả học tập của người học được chứng minh là tỉ lệ thuận với năng lực tự học của người học Ngoài việc nâng cao kết quả học tập, tự học còn tạo

Trang 6

điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo điều kiện và cơ hội học tập suốt đời Hơn thế nữa, tự học là một năng lực cần có của mọi người trong thời đại ngày nay, do đó mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường không phải trang bị cho người học tri thức mà là phương pháp tự học

Để giải quyết vấn đề này trước hết cần phải xem xét các phương pháp giáo dục có nhiều ưu việt trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đối chiếu phương pháp HQDA và các ưu điểm của nó với các điểm yếu cần khắc phục trong dạy và học tiếng Anh ở ĐHTM, trong đó ưu điểm nổi bật là cải thiện khả năng tự học của sinh viên, tác giả nhận thấy HQDA dường như câu trả lời chính xác, là chìa khóa để mở cánh cửa thành công cho việc dạy và học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại ĐHTM

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu và áp dụng phương pháp học qua dự án trong học phần Tiếng Anh 4, nhằm nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài này nghiên cứu về việc áp dụng phương pháp học qua dự án trong học phần tiếng Anh 4 đối với sinh viên không chuyên tiếng Anh nhằm mục đích cải thiện kỹ năng tự học của họ Sở dĩ đối tượng này được chọn là do họ là đối tượng chính trong trường ĐHTM song hiện nay điều kiện học tập còn nhiều khó khăn (lớp đông, trình độ không đồng đều), sinh viên chưa được tiếp cận với những phương pháp mới trong khi nhu cầu tiếng Anh đối với sinh viên ra trường ngày càng trở nên cấp bách - đổi mới phương pháp giảng dạy là điều bắt buộc mới có thể khắc phục tình trạng này Học phần Tiếng Anh 4 được chọn để áp dụng là vì học phần này do tác giả trực tiếp giảng dạy qua 8 năm kinh nghiệm

4 Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, về điều kiện giảng dạy tiếng Anh dành cho sinh viên khối không chuyên như đã đề cập ở trên, nghiên cứu khoa học này áp dụng một phương pháp mới nhằm cải thiện khả năng tự học cho

Trang 7

sinh viên có ý nghĩa vô cùng to lớn Đối với sinh viên không chuyên tiếng Anh, đây

là lần đầu tiên họ “rơi” vào tình huống buộc phải làm việc cật lực trong suốt học phần, trong các dự án, phải làm việc nhóm, phải tìm tài liệu, nhờ vậy, kỹ năng tự học Tiếng Anh và các kỹ năng mềm khác cũng được cải thiện Những kỹ năng này ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với môi trường làm việc hiện đại, năng động

mà các em chuẩn bị bước vào

Ngoài ra, nghiên cứu khoa học này cũng có ý nghĩa rất lớn đối với giảng viên tiếng Anh ĐHTM Trước hết, giảng viên được củng cố thêm về tầm quan trọng của việc hướng dẫn sinh viên tự học, sau đó, giảng viên có thêm các kỹ năng như thiết

kế dự án, quản lý, đánh giá, điều chỉnh nội dung giảng dạy… Đây là những nhận thức và kỹ năng hết sức quan trọng để thúc đẩy việc tự học cho sinh viên, giúp đổi mới phương pháp giảng dạy đáp ứng nhu cầu xã hội

5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Trên thế giới, việc đưa dự án vào chương trình dạy học đã có từ rất lâu, được

áp dụng trong nhiều môn học và cho đối tượng học sinh phổ thông cũng như sinh viên đại học Dự án ở đây được hiểu là những nhiệm vụ phức tạp từ các câu hỏi hay vấn đề mang tính chất kích thích người học tìm hiểu, khám phá (Jones, Rasmussen

& Moffitt, 1997) Tuy nhiên, trong thập kỷ vừa qua, việc triển khai dự án đã phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học Dạy học theo dự án đã chiếm được

vị thế đáng nể do các lợi ích vượt trội mà nó mang lại, thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và giáo dục Một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến

là “Tổng quan Học qua dự án”, do Thomas, J.W (1998) Novato, CA: Viện Giáo dục Buck thực hiện; “Sử dụng công nghệ trong HHTDA”, tác giả Moursund, D (1999), Eugene, OR: International Society for Technology in Education; “Cơ sở lý luận cho nghiên cứu về phương pháp học qua dự án (do Tiến sỹ John W Thomas tiến hành) được công bố trên trang web và nhà xuất bản Autodesk Foundation

Ở nước ta, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này khá gần gũi với dạy học theo dự án Tuy vậy, trong lĩnh vực lý luận dạy học, phương pháp này chưa được quan tâm một cách thích đáng nên hiệu quả sử dụng chưa cao Gần đây, có một số nghiên cứu về

Trang 8

phương pháp học qua dự án đã tóm lược tổng quan về phương pháp này, chẳng hạn

như: “Dạy học dự án – từ lí luận đến thực tiễn” - Trịnh Văn Biều và nhiều tác giả

http://www.vjol.info/index.php/sphcm/article/viewFile/14670/13172; Nguyễn Văn

Cường (1997), “Dạy học Project hay học qua dự án”, Thông báo khoa học Trường

Đại học Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Nhiệm vụ, thách thức của giáo

viên, học sinh Việt Nam trong dạy học theo dự án” (Phan Đồng Châu Thủy)…

Tuy nhiên, các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở mức độ tổng quan chứ chưa

có nghiên cứu từng trường hợp, đặc biệt là trong môn Tiếng Anh Hiện nay, mới chỉ

có một bài viết của tác giả Nguyễn Đức Chính, Trường ĐH Ngoại ngữ, ĐH Đà Nẵng về phương pháp này (Ðổi mới phương pháp dạy-học các môn văn hóa Anh

Mỹ và giao thoa văn hóa thông qua phương pháp dự án) Bài viết cũng chỉ vắt tắt trong phạm vi bốn trang nên chỉ có thể đưa ra những khái niệm và gợi ý sơ lược Như vậy, rõ ràng là vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về phương pháp dạy theo dự án, đặc biệt là trong môn tiếng Anh dành cho sinh viên không chuyên

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC QUA DỰ ÁN

1.1.1 Định nghĩa về phương pháp học qua dự án

HQDA có nguồn gốc từ châu Âu từ kỉ 16 (ở Ý, Pháp), đến kỉ 20, ba nhà sư phạm Mĩ gồm John Dewey (Dewey, 1966) và William H Kilpatrick (Kilpatrick, 1918) xây dựng cơ sở lí luận cho HQDA nhằm thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống xoay quanh vai trò chủ đạo của giáo viên Lúc ban đầu, HQDA chỉ được áp dụng vào giảng dạy các môn kỹ thuật, sau được mở rộng sang hầu hết các môn học khác, kể

cả các môn khoa học xã hội Hiện nay, HQDA được vận dụng rộng rãi ở các nước

có nền giáo dục phát triển trên thế giới

K.Frey định nghĩa “HQDA là một hình thức của hoạt động học tập trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được”

Theo Thomas, Mergendoller và Michaelson (1999), “HQDA là một mô hình

tổ chức học tập xung quanh dự án Các dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi sinh viên phải thiết kế, giải quyết vấn đề hoặc tiến hành các hoạt động điều tra Nó cung cấp cho người học cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian mở và kết quả cuối cùng là tạo

ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học”

Moursund, D (1999) phát biểu “HQDA là phương pháp tổ chức cho giáo viên

và sinh viên cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về mặt thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính tổng hợp, tạo điều kiện cho sinh viên cùng và tự quyết định trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định”

Tác giả J W Thomas et al (1999) cho rằng HQDA có những đặc điểm như sau:

Trang 10

1 Tập trung vào phương pháp rèn luyện

2 Giúp người học trải nghiệm với các dự án thực tế, phức tạp, qua đó phát triển

kỹ năng và áp dụng kiến thức

3 Phương pháp này buộc người học phải sàng lọc nhiều nguồn thông tin,

nguyên tắc khác nhau để giải quyết vấn đề

4 Kết quả khóa học được xác định từ trước nhưng kết quả học tập của người học thì không dễ đoán

5 Qua các trải nghiệm trong quá trình thực hiện dự án, người học học được cách quản lý và phân bổ các nguồn lực như thời gian và tài liệu

Như vậy có thể thấy mặc dù được diễn giải theo các hình thức khác nhau nhưng tựu trung lại, HQDA là mô hình dạy học lấy sinh viên làm trung tâm dựa trên quan điểm việc học nên được thực hiện bằng cách làm (learning by doing), thay vì bằng cách lắng nghe như trong sư phạm truyền thống

1.1.2 Các đặc điểm của HQDA

Theo mô tả của Jones, Rasmussen và Moffitt (1997), HQDA là mô hình mà ở

đó việc học được thực hiện xoay quanh dự án Người học được tổ chức thành các nhóm với nhiệm vụ tiến hành các dự án theo phân công của giáo viên – lúc này chỉ đóng vai trò của người hướng dẫn và và giám sát Dự án được giao thường là các nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi và vấn đề có tính thách thức; sinh viên sẽ phải lập kế hoạch, bàn bạc, phân tích, giải quyết vấn đề, đưa ra quyết định Quá trình này diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định cho trước (thường khá dài – tối thiểu vài tuần cho đến cả kỳ học), kết thúc quá trình, nhóm sinh viên sẽ phải tạo

ra kết quả có tích thực tiễn

Một điểm nổi bật khác của HQDA là việc sử dụng các tình huống thực, liên quan đến những vấn đề mang tính thực tiễn, câu hỏi dẫn dắt phải có tính thách thức, thông thường đòi hỏi nhóm thực hiện sử dụng các công cụ có tính trực quan và công nghệ thông tin (Krajcik, Blumenfeld, Marx, & Soloway, 1994)

Trang 11

Để tóm lược những đặc điểm chính của HQDA và từ đó dễ dàng phân biệt được các dự án nào không thuộc phương pháp này, Synteta (2001) đã tổng hợp lại

lý luận của Reginald & Laferrière, 1999; W J Thomas, 2000b và liệt kê như sau:

 nội dung chính của HQDA là hoạt động

 dài hạn (vài ngày hoặc cả học kỳ)

 liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật,

 các hoạt động mang tính xây dựng, có tính thách thức,

 lấy sinh viên làm trung tâm,

 dự án không phải trọng tâm của chương trình mà chỉ là hoạt động bổ sung,

 dự án không có mục tiêu khó về mặt trí tuệ,

 dự án có thể tiến hành với kiến thức và kỹ năng đã có,

 dự án theo kịch bản có sẵn (P Dillenbourg, 2002),

 dự án có mục tiêu thiếu thực tế

Từ các đặc điểm nêu trên của HQDA có thể thấy phương pháp dạy này mang lại nhiều lợi ích cho người học Về tổng quan, HQDA giúp nâng cao tinh thần tự chủ của người học – điểm yếu cố hữu của sinh viên Việt nam - xuất pháp từ phương pháp dạy học truyền thống lấy người dạy làm trung tâm Trong HQDA, người học được ‘trao quyền’ quyết định mọi công việc trong quá trình thực hiện dự án, người

Trang 12

dạy chỉ giữ vai trò tư vấn, hướng dẫn và giám sát, qua đó rèn luyện cho người học khả năng làm việc độc lập, tự chủ Bên cạnh đó, bằng việc tổ chức người học thành nhóm để giao đề tài, HQDA tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm thông qua việc trao đổi ý kiến, hợp tác để hoàn thành nhiệm vụ Kỹ năng giải quyết vấn đề, quản lý thời gian cũng được nâng cao bởi các nhiệm vụ được giáo viên giao trong HQDA thường có tính thách thức cao và phải hoàn thành trong một khoảng thời gian nhất định Yêu cầu sử dụng công cụ thông tin trong quá trình thực hiện và thuyết trình kết quả đạt được cũng là cơ hội tốt để rèn luyện kỹ năng vi tính, thuyết trình, giao tiếp cho người học Đây đều là những kỹ năng mềm có vai trò ngày càng quan trọng trong môi trường làm việc hiện đại

1.1.3 Các bước tiến hành HQDA

Có nhiều mô hình tiến hành HQDA khác nhau, hay nói cách khác, cách làm

sẽ khác nhau tùy vào từng dự án, từng giáo viên Theo Stix, A và Hrbek, F (2006),

có 9 bước tiến hành HQDA:

Bước 1 Giáo viên chuẩn bị dự án, mô tả dự án cho sinh viên

Bước 2 Sinh viên đóng vai trò nhà thiết kế dự án, có thể đưa ra hội thảo

Bước 3 Sinh viên thảo luận và tổng hợp thông tin

Bước 4 Giáo viên hướng dẫn và sinh viên đưa ra tiêu chí đánh giá dự án

Bước 5 Sinh viên tìm và tổng hợp tài liệu

Bước 6 Sinh viên tiến hành dự án

Bước 7 Sinh viên chuẩn bị trình bày dự án

Bước 8 Sinh viên trình bày dự án

Bước 9 Sinh viên rút kinh nghiệm quá trình thực hiện dự án và đánh giá dự án theo tiêu chí đã đề ra trong bước 4

Một mô hình khác do Sheppard & Stoller (1995, 1997) đề xuất:

Bước 1: Giáo viên và sinh viên thống nhất nội dung dự án

Bước 2: Xác định kết quả cuối cùng

Trang 13

Bước 3: Xây dựng khung dự án

Bước 4: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên thu thập thông tin

Bước 5: Thu thập thông tin

Bước 6: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên soạn thảo và phân tích dữ liệu

Bước 7: Soạn thảo và phân tích dữ liệu

Bước 8: Giáo viên chuẩn bị cho sinh viên về ngôn ngữ dùng để trình bày dự án Bước 9: Trình bày sản phẩm cuối cuòng

Bước 10: Đánh giá dự án

Theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương (Dạy học dự án – từ lí luận đến thực tiễn),

các bước để HQDA gồm có:

Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm

- Tìm trong chương trình học tập các nội dung cơ bản có liên quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế

- Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống Chú ý vào những vấn đề lớn mà xã hội và thế giới đang quan tâm

- Giáo viên phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất, xác định tên đề tài Đó là một dự án chứa đựng một nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với các em, trong đó có sự liên hệ nội dung học tập với hoàn cảnh thực tiễn đời sống xã hội Giáo viên cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để người học lựa chọn

Bước 2: Xây dựng đề cương dự án

- Giáo viên hướng dẫn người học xác định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành, kế hoạch thực hiện dự án; xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí…

- Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách dựa vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của bài học/chương trình, những kĩ năng tư duy bậc cao cần đạt được

- Việc xây dựng đề cương cho một dự án là công việc hết sức quan trọng vì nó mang tính định hướng hành động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả và đánh giá dự án

Trang 14

Bước 3: Thực hiện dự án

- Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên

- Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra Khi thực hiện dự án, các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau; kết quả là tạo ra sản phẩm của dự án

- Học viên thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc Như vậy, các kiến thức mà người học tích lũy được thử nghiệm qua thực tiễn

Bước 4: Thu thập kết quả

- Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng dạng ấn phẩm (bản tin, báo, áp phích, thu hoạch, báo cáo…) và có thể được trình bày trên Power Point, hoặc thiết

kế thành trang Web…

- Tất cả học viên cần được tạo điều kiện để trình bày kết quả cùng với kiến thức mới

mà họ đã tích lũy thông qua dự án (theo nhóm hoặc cá nhân)

- Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm người học, giới thiệu trước lớp, trong trường hay ngoài xã hội

Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm

- Giáo viên và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả dự án dựa trên những sản phẩm thu được, tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em

- Giáo viên hướng dẫn người học rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các

dự án tiếp theo

- Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài

Các mô hình nêu trên cho thấy dù có số lượng bước khác nhau nhưng tựu trung lại đều trải qua các bước hoạch định, thực hiện và đánh giá rút kinh nghiệm

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC

1.2.1 Định nghĩa về tự học

Trong vòng hai thập kỉ qua, khái niệm tự học đã gây được sự chú ý cho nhiều người quan tâm đến quá trình dạy học Có rất nhiều khái niệm tương đương với khái niệm khả năng tự học (learner autonomy) được các học giả sử dụng như sự tự

Trang 15

học (self-directed learning) hay tính độc lập của người học (learner independence)

Về cơ bản, các thuật ngữ trên đều có cùng ý nghĩa với nhau và đều nhấn mạnh tới đường hướng lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy học

Định nghĩa về việc tự học, Holec (1981: 3, trích trong Benson & Voller, 1997:

1) viết: “Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình” và thuật ngữ này có

5 nghĩa như sau:

là những tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó

 là nhóm kỹ năng mà người học có thể học và áp dụng cho việc học của bản thân

 là khả năng bẩm sinh có thể bị mất đi do phương pháp giáo dục

 là trách nhiệm của người học đối với việc học của bản thân

 là quyền của người học trong việc xác định phương hướng học tập

Còn David Little (Little, 1991: 4) thì cho rằng tự học là “vấn đề về mối tương quan tâm lý của người học với quá trình và nội dung học” - khả năng suy xét độc

lập, tư duy phê phán, khả năng ra quyết định và hành động độc lập

Cùng chung quan điểm như vậy, Sharle and Szabo (2000) định nghĩa tự lực

có nghĩa là người học "được tự do và có khả năng tự điều khiển việc học của mình" Hơn nữa, khả năng tự lực của người học còn được coi là một thái độ, quan điểm đối với việc học trong đó người học sẵn sàng chịu trách nhiệm cho việc học của mình Theo Little (1995,p175), "cơ sở của khả năng tự lực của người học là ở chỗ chấp nhận trách nhiệm cho việc học của mình Sự chấp nhận trách nhiệm này

có ý nghĩa rất lớn cả về mặt xã hội và nhận thức, nó dẫn tới một quan điểm tích cực trong học tập."

Trang 16

Hình 1: Mô hình tự học của Tassinari

1.2.2 Tầm quan trọng của việc tự học

Theo kết quả nghiên cứu mô hình do Trung tâm thực nghiệm về đào tạo quốc gia ĐH Miami công bố, mức độ tiếp nhận tri thức của người học qua các cách học khác nhau như sau:

- Nghe giảng (Lecture) : 5%

- Đọc (Reading) : 10%

- Nghe nhìn (Audio Visual) : 20%

- Làm thí ngiệm trươc mắt sinh viên (Demonstration) : 30%

- Thảo luận nhóm (Discussion group) : 50%

- Làm bài ở nhà (Practice by doing) : 75%

- Dạy người khác (Teach others/ immediate use of learning) : 90%

Qua mô hình trên chúng ta thấy rằng, nếu sinh viên chỉ nghe giảng không thôi thì chỉ nhớ được 5% nhưng nếu tự mình mày mò, học tập ở nhà thì có thể tiếp thu tới 75% lượng kiến thức Vì thế việc trang bị cho người học những kĩ năng tự học là

Trang 17

vô cùng quan trọng Không những thế, bản chất của việc dạy ngoại ngữ là tạo điều kiện cho người học học ngoại ngữ đó suốt đời Các nhà giáo dục có cố gắng đưa thêm kiến thức vào chương trình hay kéo dài khóa học đến đâu thì cũng không thể giải quyết được vấn đề Chỉ có tự học mới là phương thức học đúng đắn nhất, đáp ứng đầy đủ điều kiện để người học có thể học ngôn ngữ đó khi đã ra trường Hơn nữa, chính trong quá trình tiếp thu tri thức mà lòng ham học hỏi được kích thích, tính tích cực chủ động được phát huy và kết quả là sinh viên sẽ học được nhiều hơn

và kiến thức cũng sâu hơn

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta

Từ một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng: “Học bao giờ cũng gắn với tự học, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình Người dạy giỏi là người dạy cho sinh viên biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự giáo dục”

Một số tác giả khác như Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã khẳng định:

“Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học”

Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự học của sinh viên nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của tự học trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới lấy người học là trung tâm Giảng viên ở các trường đại học cũng có những nghiên cứu để giúp dần đưa việc tự học thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay

Tóm lại, việc tự học là vấn đề then chốt trong quá trình dạy học và tầm quan trọng của nó là không thể phủ nhận, nó "cung cấp thêm sức mạnh cho người học" (Pulist, 2000) và "là một phương pháp học không thể phủ nhận" (Nancy,1994)

Trang 18

1.2.3 Hệ thống các kỹ năng tự học

Theo các nghiên cứu trước đây, kỹ năng tự học được hình thành từ nhiều con đường, nhiều kĩ năng nhỏ lẻ khác nhau Cách phân chia và gọi tên các kỹ năng tự học cũng chưa thực sự thống nhất

Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, , đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch

và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của sinh viên nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Trần Quốc, kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

a Kỹ năng định hướng

Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ

sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch Để

có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi:

- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…

- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa

- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân

Trang 19

b Kỹ năng lập kế hoạch học tập

Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một

số điểm sau:

Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể là

kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định

được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Kỹ năng lập kế hoạch bao gồm các kỹ năng thành phần sau đây:

1 Xác định đầy đủ các công ciệc cần làm

2 Xác định yêu cầu của từng công việc

3 Phân phối thời gian hợp lý cho từng công việc

4 Sắp xếp các công việc một cách hợp lý

5 Nắm được yêu cầu của kế hoạch

c Kỹ năng thực hiện kế hoạch

Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một

số kỹ năng sau:

- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều

nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt

Trang 20

- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn

ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…

- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức

khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch…

- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri

thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức

d Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm

Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, họ sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, người học cần:

- Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục

- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè

- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau đó tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm

Những nhóm kỹ năng nêu trên tương đối đầy đủ và chi tiết để làm cơ sở cho việc đánh giá việc tự học của sinh viên ĐHTM

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA HỌC QUA DỰ ÁN VÀ TỰ HỌC

Học qua dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho người học, trong đó có tăng cường các kỹ năng tự học Theo Thomas (2000), một trong bốn lợi ích của HQDA

là “tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập”

Trang 21

Tác giả Boaler (1997) thì cho rằng “Kiến thức thu được tương đương hoặc

nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học

sinh sẽ trách nhiệm hơn trong học tập”

Trong nghiên cứu “Phát triển kỹ năng tự học thông qua dự án trong lớp học tiếng Anh chuyên ngành” (Developing Learner Autonomy Through Project Work in

an ESP Class) của tác giả Martha Isabel Díaz Ramírez, Đại học Cundinamarca, Colombia, tác giả nhận thấy khi sinh viên tương tác với nhau sẽ cải thiện khả năng

tự học của họ, do “dự án tạo cơ hội cho người học được tự do khám phá điều họ lựa chọn và được tự quyết định hoạt động nào hiệu quả hơn để hoàn thành mục tiêu chung” “Cooperative work fostered a high degree of autonomy because this type of work gives learners the freedom to explore their own preferences and to decide what activities are better for accomplishing their common goals”

Theo tiến sĩ Lưu Thu Thủy (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) HQDA là hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học hiện đại như: Định

hướng người học, định hướng hành động, tham gia vào việc đào tạo năng lực tự

học (Dạy học dự án –Trang 2)

Trong đề tài tiến sĩ “Tổ chức dạy học theo dự án sinh học 10 PTTH góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh”, tác giả Hà Thị Thúy đã chỉ ra mối tương quan giữa HQDA và năng lực tự học như sau:

Mối tương quan giữa dạy học dự án và năng lực tự học

Tổ chức hoạt động học tập

(Thu thập thông tin, xử lí thông

tin, tổng hợp thông tin, thực

Trang 22

2

hiện đúng nội qui, quản lí được

thời gian học tập, sử dụng công

nghệ thông tin trong quá trình

thực hiện hoạt động học tập, biết

phối hợp các bên có liên quan)

Kiên trì lắng nghe, quan sát và phản biện đúng thời điểm, thiết lập các mối quan hệ

để thúc đẩy hoạt động học tập

3 Vận dụng kiến thức liên môn,

kinh nghiệm của bản thân để

giải quyết vấn đề thực tiễn

- Kĩ năng giải quyết vấn đề

Đối chiếu các nguồn thông tin, suy đoán vấn đề để phân tích định tính sự vật hiện tượng đề ra giải pháp thực hiện và thực hiện thành công

4 Tạo ra được sản phẩm học tập

có ý nghĩa thực tiễn và chứa

đựng một phần nội dung tri thức

trong chương trình giáo dục

- Đánh giá

6 Môi trường học tập đa dạng - Kĩ năng thực hành

Được thử đúng sai nhiều lần, nhiều môi trường khác nhau

- Khả năng sáng tạo

Có cơ hội để thể hiện ý tưởng

Trang 23

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu phương pháp HQDA, đặc điểm và các bước tiến hành của phương pháp này cũng như vấn đề tự học và các kỹ năng tự học để áp dụng giảng dạy học phần Tiếng Anh 4 cho sinh viên khối không chuyên ĐHTM

2.1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu như đã nêu ở phần trên, các câu hỏi được đặt ra như sau:

1 Thực trạng tự học tiếng Anh của sinh viên khối không chuyên như thế nào?

2 Sau khi áp dụng HQDA trong học phần tiếng Anh 4 (2 tín chỉ) , việc tự học của họ thay đổi ra sao?

3 Qua phương pháp HQDA, cần phải làm những gì để giúp sinh viên không chuyên ĐHTM cải thiện khả năng tự học tiếng Anh?

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu

Một số phương pháp nghiên cứu (bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn) đã được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu, lý luận về phương pháp HQDA và kỹ năng tự học nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hành động

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn mà tác giả sử dụng gồm có phương pháp sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp và quan sát thực tế

Phiếu phiếu điều tra được sử dụng để tìm hiểu về hoạt động tự học của sinh viên, các kỹ năng tự học cũng như những khó khăn sinh viên gặp phải trong quá trình tự học (Cả trước và sau khi áp dụng phương pháp dự án) Phiếu điều tra được

Trang 24

phát cho 104 sinh viên thuộc hai lớp học phần 16115NTI2411 (gồm sinh viên khoa Tài chính Ngân hàng và khoa Kinh tế - Luật) và 16106ENTI2411 (sinh viên khoa

Kế toán Kiểm toán) Cả hai lớp này đều do tác giả giảng dạy vào học kỳ 1 năm học

2015 – 2016 và đã hoàn thành 3 học phần tiếng Anh trước đó Toàn bộ sinh viên đã học tiếng Anh ít nhất là 5 năm, với 0,96% sinh viên đạt kết quả A ở học phần trước, 33,6% loại B và 31,7% loại C và 23,7% loại D và F Nội dung phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi liên quan đến thái độ và mức độ nhận thức của sinh viên đối với tự học, thói quen tự học, các kỹ năng tự học nhằm tìm hiểu thực trạng tự học của sinh viên Phiếu điều tra thứ hai – phát ra sau khi kết thúc khóa học – có thêm nội dung

về các thay đổi của sinh viên trong kỹ năng tự học và các đề xuất của sinh viên Phương pháp phỏng vấn được thực hiện với 15 sinh viên từ hai lớp (10 sinh viên khá giỏi – có điểm tổng kết học phần loại A và/hoặc điểm thảo luận 9, 10 và 05 sinh viên kém tiếng Anh – điểm thảo luận dưới 5) Nội dung phỏng vấn là về tình hình tự học của họ trước và sau khi áp dụng phương pháp dự án; những khó khăn

họ gặp phải, lý do dẫn đến những thay đổi (nếu có) và các ưu nhược điểm của phương pháp HQDA đã triển khai cũng như mong muốn của họ đối với quá trình giảng dạy để kết quả học tập được tốt hơn Hình thức phỏng vấn được thực hiện theo thảo luận nhóm tập trung

Phương pháp quan sát thực tế được tiến hành liên tục trong quá trình giảng dạy – trước, trong và sau khi đổi mới phương pháp giảng dạy tại hai lớp học phần 16115NTI2411 và 16106ENTI2411 nhằm nhận ra thái độ yêu thích hay thờ ơ của sinh viên trước các nhiệm vụ dự án được giao Đồng thời, quan sát còn giúp tác giả nhận biết những kỹ năng nào của sinh viên còn yếu và thiếu, những vướng mắc nào nảy sinh trong quá trình học tập và cuối cùng là những thay đổi trong kỹ năng mà phương pháp HQDA mang lại.Trong quá trình quan sát, tác giả có ghi chép lại các đặc điểm chính để phục vụ nghiên cứu

2.1.4 Mô tả các bước tiến hành HQDA

Trong nghiên cứu này, các bước trong mô hình của Stix, A và Hrbek, F (2006) được áp dụng, do chúng cụ thể và rõ ràng

Trang 25

Tuần 1 Giảng viên chuẩn bị dự án, mô tả dự án cho sinh viên Trong bước này, giảng viên lưu ý đến thái độ học tập, năng lực và mối quan tâm của sinh viên khi xây dựng dự án cũng như thiết kế các hoạt động dự án Thách thức của giảng viên là phải chọn lọc nội dung kiến thức bài học để xây dựng được dự án có sức hấp dẫn và sinh viên sau khi thực hiện dự án sẽ thu nhận được kiến thức đó

Bài đầu tiên trong học phần là bài “The world of work”, trong đó có phần nói

về những hy sinh cho sự nghiệp và cách viết CV Hai dự án được đưa ra cho sinh viên lựa chọn:

Dự án 1: Phỏng vấn 10 người thành công trong sự nghiệp, tìm ra những hy sinh của họ cho sự nghiệp, thống kê và trình bày

Dự án 2: Xin việc làm thêm bán thời gian, miêu tả lại quá trình xin việc, nêu kết quả và lý do thành công/thất bại

Sinh viên chọn một trong hai đề tài, sau đó thảo luận nhóm để thiết kế dự án, cách thức tiến hành, phân chia công việc giữa các thành viên Giảng viên hướng dẫn

và đưa ra tiêu chí đánh giá dự án

Sinh viên tìm và tổng hợp tài liệu, viết kịch bản phỏng vấn (đề tài 1) hoặc viết CV/đơn xin việc (đề tài 2)

Tuần 2: Sinh viên tiến hành dự án Giảng viên hỗ trợ nếu sinh viên có vướng mắc Nhận diện các tình huống và điều chỉnh kịp thời để đem lại sự thành công cho

dự án Trong khi đó, giảng viên phải quan sát, theo dõi, ghi chép các hoạt động của sinh viên để phục vụ khâu đánh giá, rút kinh nghiệm cho các lần tiếp theo

Tuần 3 Sinh viên chuẩn bị trình bày dự án, trình bày dự án, rút kinh nghiệm quá trình thực hiện dự án và đánh giá dự án theo tiêu chí đã đề ra Giảng viên đưa ra nhận xét ưu và nhược điểm trong quá trình thực hiện và đánh giá tổng thể sau khi kết thúc dự án, tổ chức thảo luận bộ câu hỏi định hướng của bài giảng (do giảng viên biên soạn) để củng cố nội dung bài học và rút kinh nghiệm

Chu trình thực hiện được trình bày vắn tắt trong bảng sau:

Trang 26

Giai đoạn1: Hoạt động trước giờ học (Sáng kiến về dự án và thiết kế dự án)

× Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án

× Xác định mục tiêu cần đạt khi thực hiện dự án

× Xác định các nguồn hỗ trợ dạy học Hoạt động 2: Thiết kế dự án

× Lập kế hoạch bài dạy và soạn giáo án

× Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến dự án

× Chia nhóm học sinh và phân công nhiệm vụ cho các nhóm

× Cung cấp bộ công cụ đánh giá và tài liệu hỗ trợ dự án

× Chuẩn bị trang thiết bị và cơ sở vật chất để thực hiện tốt dự

× tự nghiên cứu các nội dung bài học; thu thập các tài liệu

× Đóng góp ý tưởng và cách giải quyết nhiệm vụ Hoạt động nhóm

× Chia nhóm, bầu nhóm trưởng, thư kí nhóm

× Nhận nhiệm vụ nhóm; chia nhiệm vụ nhóm thành nhiệm vụ nhỏ hơn

× Họp nhóm, bàn bạc lên kế hoạch thực hiện dự án

Giai đoạn 2: Hoạt động trong giờ học (Thực hiện dự án, báo cáo sản phẩm và đánh

vụ đã bàn giao – Chỉ dẫn cách thực hiện và hạn định thời gian

– Họp nhóm, tập hợp lại tài liệu

– Nhóm trưởng thiết lập các vai, giao nhiệm vụ cho

Trang 27

– Kiểm tra tiến độ và hỗ trợ kịp

thời khi SV gặp vướng mắc

từng thành viên trong nhóm

và tiến hành thực hiện dự án – Hòan thiện sản phẩm; thống nhất cách thức trình bày

– GV phát Phiếu tham vấn, Phiếu

tự đánh giá – Định hướng kiến thức bài học

– Bốc thăm thứ tự trình bày – Trình diễn sản phẩm và thảo luận

– SV điền vào các phiếu – Các nhóm điều chỉnh sản phẩm nhóm

– SV tự rút ra và bổ sung kiến thức

– Căn cứ trên tiêu chí này,

SV điền vào các phiếu mà

GV

đã phát -SV phân chia điểm hợp lý trong nhóm rồi báo cáo lại cho GV

Giai đoạn3: Hoạt động sau giờ học

Dự án 1: Phỏng vấn 10 người thành công trong sự nghiệp, tìm

ra những hy sinh của họ cho sự nghiệp, thống kê và trình bày

Trang 28

Dự án 2: Xin việc làm thêm bán thời gian, miêu tả lại quá trình xin việc, nêu kết quả và lý do thành công/thất bại

Bài 2: Brands Dự án 1: Tìm một sản phẩm yêu thích và đóng vai người đại

diện bán hàng giới thiệu sản phẩm đó tại hội chợ

Dự án 2: Viết thư cho một khách hàng tiềm năng để thuyết phục người đó mua sản phẩm của mình

Bài 3: Promotions Dự án 1: Tìm ra hình thức quảng cáo, nội dung quảng cáo phù

hợp cho một sản phẩm/dịch vụ hoặc câu lạc bộ mà em thành lập

Dự án 2: Tìm và phân tích một số quảng cáo/hình thức khuyến mại mà em thấy không hiệu quả

Bài 4: Competition Dự án 1: Công ty của em đang bị cạnh tranh gay gắt do trên

thị trường có nhiều sản phẩm nhái Hãy tìm cách chiến thắng

Dự án 2: Tìm và phân tích các biện pháp cạnh tranh của một công ty trong thực tế mà em thấy hiệu quả

2.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thực trạng tự học tiếng Anh của sinh viên

Nhận thức của sinh viên về tự học và tầm quan trọng của việc tự học: Phần

lớn số sinh viên được hỏi đều nhận thấy tầm quan trọng của việc tự học, trong đó 53,8%% đánh giá vai trò của tự học đối với kết quả học tập ở mức 4/5 (5 là mức cao nhất), 25,9% cho mức 5/5 Điều này chứng tỏ rằng hầu hết sinh viên hiểu được là muốn có kết quả tốt trong học tập, họ cần phải tự học Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng của tự học không đồng nghĩa với việc hiểu được thực sự thế nào là

tự học Hầu hết sinh viên (84,6%) đều cho rằng tự học là học bài ở nhà, đọc sách tham khảo và các hoạt động trau dồi kiến thức sau giờ lên lớp và thực hiện cá nhân

ở một nơi yên tĩnh chứ không phải thái độ tích cực chủ động trong các quyết định

Ngày đăng: 10/11/2020, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w