Quyền bí mật đời tư là một trong các quyền nhân thân quan trọng, bất khả xâm phạm của cá nhân, đây là quyền hiến định nhưng đồng thời cũng là quyền nhân thân cơ bản được ghi nhận trong c
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI 7
1.4 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 9
1.7 KẾT CẤU BÁO CÁO NGHIÊN CỨU 10
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 11
2.1.1 Khái niệm quyền bí mật đời tư 11
2.1.2 Đặc điểm của quyền bí mật đời tư 14
2.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư 21
2.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 22
2.2.1 Cá nhân có quyền đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của mình 22
2.3.2 Cá nhân có quyền bí mật đối vói thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân 23
2.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 25
2.4 QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 29
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ VÀ THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 32
3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 32
3.1.1 Thực trạng quy định pháp luật dân sự về quyền bí mật đời tư 32
Trang 23.1.2 Các nhóm hành vi xâm phạm bí mật đời tư thông qua các văn bản pháp luật chuyên ngành 36 3.1.3 Các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư 45
3.2 THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM 51
3.2.1 Việc cung cấp các thông tin liên quan đến bản thân, gia đình cho cơ quan
sử dụng lao động 52 3.2.2 Về việc liệu có tồn tại bí mật đời tư trong đời sống hôn nhân? 53 3.2.3 Tiết lộ, rao bán thông tin khách hàng 55
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 57 4.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN` THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 57 4.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ 60
4.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền bí mật đời tư 60 4.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền bí mật đời
tư 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 41
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM
1.1 TÍNH CẤP THIẾT NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Con người là vốn quý của xã hội, một xã hội càng tiến bộ, quyền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu Kèm theo
đó các quyền nhân thân cũng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng cùng với các biện pháp bảo vệ ngày càng hiệu quả hơn Quyền bí mật đời tư là một trong các quyền nhân thân quan trọng, bất khả xâm phạm của cá nhân, đây là quyền hiến định nhưng đồng thời cũng là quyền nhân thân cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp luật
về dân sự…
Trong bối cảnh phát triển công nghệ thông tin hiện đại, sự phổ biến của internet khiến hình ảnh xâm phạm đời sống riêng tư, bí mật của cá nhân ai đó sẽ bị lan truyền, phát tán với tốc độ cực nhanh chỉ sau một cú nhấp chuột, không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới Việc ngăn chặn và truy tìm thủ phạm càng trở nên khó khăn hơn Từ những vụ việc mang tính chất điển hình như vụ ca sỹ Hồ Ngọc Hà
có đơn khiếu nại Báo Pháp luật và Cuộc sống về việc thông tin sai sự thật và xâm phạm đời tư bất hợp pháp trong bài viết “Chuyện Hồ Ngọc Hà cưới chồng năm 2001
ở khách sạn Daewoo, Hà Nội” đăng ngày 12/5/2012 cho đến vụ việc bị báo chí xâm hại đời tư liên quan tới scandal sex của MC Đan Lê, Đài Truyền hình KTS VTC Ngày 21/3/2008, trên các trang web, blog đen xuất hiện một vài đoạn phim đồi trụy, được lén lút phát tán, truyền tay nhau, MC Đan Lê bị gán ghép là nhân vật trong đoạn phim
đó và một tờ báo điện tử đã cố tình xuyên tạc, khai thác thông tin trên gây hiểu lầm cho độc giả Sau nhiều tháng theo đuổi vụ kiện, MC Đan Lê đã buộc được tờ báo nọ cải chính, xin lỗi, bồi thường thiệt hại vật chất cũng như tinh thần Hoặc vụ tranh cãi lùm xùm xung quanh việc VTV chương trình “Chuyển động 24h“ tự ý thu thập và công bố về thông tin đời tư của cầu thủ Công Phượng Ngoài ra, những hành vi như bóc mở thư tín trái phép, gây thất lạc thư tín của công dân, sử dụng thiết bị, phần mềm nghe trộm, nghe lén điện thoại nhằm theo dõi để kiểm soát, khai thác bí mật đời tư người khác, gây tâm lý bất an cho mọi người, hành vi phát tán trái phép những hình ảnh nhạy cảm riêng tư của cá nhân, công bố chuyện riêng tư, những thông tin sai sự
Trang 52
thật gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, hành vi chụp và đăng ảnh của người khác lên mạng khi chưa được phép, đăng hồ sơ cá nhân của người khác lên mạng, những hành vi này đều tiềm ẩn rất nhiều hệ lụy
Có thể nói chưa bao giờ nguy cơ xâm phạm về quyền bí mật đời tư lại cao như hiện nay, bởi lẽ bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân bị xâm phạm đời sống riêng
tư và bí mật cá nhân, bí mật gia đình, hệ quả là gây ra những thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống, công việc, danh dự, nhân phẩm của người trong cuộc, một số vụ đã được khởi kiện ra tòa Đã đến lúc chúng ta cần lấp các “lỗ hổng”, hoàn thiện các quy định pháp luật để bảo vệ sự riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 đã có những quy định về quyền bí mật đời tư, nhưng việc hiểu và áp dụng các quy định đó trong thực tế còn nhiều bất cập, vướng mắc như: xác định thế nào là quyền bí mật đời tư; biểu hiện cụ thể của các hành vi xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân; cơ chế giải quyết tranh chấp; mức độ bồi thường khi bị xâm phạm đời tư được xác định như thế nào; các hình thức áp dụng để hạn chế và bảo vệ quyền này ra sao;… Trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng có đề cập rất nhiều đến bí mật đời tư cũng như quyền bí mật đời tư, sở dĩ vấn đề này được bàn luận sôi nổi bởi xuất hiện một loạt tình huống trong thực tế dẫn tới tranh chấp, nhiều vụ việc được đưa ra Tòa án
để giải quyết nhưng ngay cả khi giải quyết tại Toà, các cán bộ Toà án cũng có những lúng túng nhất định xung quanh việc xác định hành vi đó có bị coi là xâm phạm bí mật đời tư hay không? Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2005 vẫn bỏ ngỏ khái niệm này, dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình xét xử cho cơ quan xét xử Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ 01/011/2017) thuật ngữ “quyền
bí mật đời tư” được sửa đổi thành “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” (Điều 38) cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 Tuy nhiên, nội dung các quy định về quyền bí mật đời tư hầu như được giữ nguyên, trong đó có các cụm từ “trừ trường hợp luật có quy định khác”, “chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định” Về các luật liên quan, ngoài một vài quy định của Bộ luật Hình sự và BLTTHS thì khó có thể tìm thấy hoặc làm rõ luật nào “có quy định khác”, “trường hợp luật định” là các trường hợp nào
Trang 63
Về nguyên tắc, quyền bí mật đời tư được bảo vệ chủ yếu bởi các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự Thực tế cho thấy chỉ khi có “thiệt hại” của cá nhân bị xâm hại (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), người vi phạm mới phải chịu các chế tài vật chất Ngoài việc thiếu vắng các chế tài hành chính có thể áp dụng với cả những trường hợp không có thiệt hại xảy ra nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của cá nhân cũng như mang tính giáo dục chung, ngăn ngừa vi phạm, cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào giải thích cụ thể hơn về bí mật đời tư của cá nhân
Những người quan tâm đặt ra nhiều câu hỏi: Các dạng thông tin cụ thể nào được coi là bí mật cá nhân? Phạm vi đời sống riêng tư của một cá nhân thế nào? Có sự khác nhau giữa “dân thường” và quan chức, người nổi tiếng hay không? Đối với người bị tạm giữ, khởi tố về hình sự và người đã bị kết án, quyền của họ ra sao? Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công bố thông tin riêng, nhận dạng cá nhân được thực hiện thế nào,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành, xử lý với từng trường hợp vi phạm ra sao? Những câu hỏi này đều là các vấn đề có thể gây tranh cãi khó đi đến hồi kết, nếu không được luật hóa bằng các quy định cụ thể
Như vậy, nếu không làm rõ được khái niệm bí mật đời tư hay “đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân”, nếu không chỉ rõ được ranh giới giữa an toàn và vi phạm, thì
“đời sống riêng tư”, “bí mật cá nhân” khó được bảo đảm an toàn, dẫn tới cách hiểu khác nhau và sự tùy tiện trong áp dụng, thực hiện pháp luật nhất là khi chính hoạt động của cơ quan nhà nước (cơ quan điều tra, Tòa án) và của báo chí rất dễ trở thành “chủ thể” của hành vi xâm phạm bí mật đời tư Do đó, việc quy định các quyền này trong
Bộ luật Dân sự 2005 như hiện nay và kể cả như trong Bộ luật Dân sự 2015 chưa mang lại ý nghĩa thiết thực
Xuất phát từ yêu cầu có tính thời sự và cấp thiết đó, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm đề
tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của mình Qua nghiên cứu, tác giả muốn làm rõ những quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư, xác định vai trò quan trọng của quyền nhân thân nói chung cũng như quyền bí mật đời tư nói riêng trong pháp luật dân
sự Việt Nam Đồng thời, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cũng như nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời
tư của cá nhân ở nước ta hiện nay
Trang 74
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA
ĐỀ TÀI
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân bất khả xâm phạm được pháp luật các quốc gia bảo vệ chặt chẽ Ở các nước phát triển trên thế giới, vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và quyền bí mật đời tư nói riêng được pháp điển hóa một cách cụ thể BLDS Pháp ghi nhận mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư của mình và quyền riêng tư này được pháp luật bảo vệ bằng nhiều hình thức khác nhau Tòa án tối cao Pháp đã có phán quyết giải thích về phạm vi của quyền riêng tư, theo đó thì đời
sống riêng tư của một người bao gồm: Đời sống tình cảm, bạn bè, gia đình, sinh hoạt
hằng ngày, quan điểm chính trị, công việc làm ăn hay tư tưởng tôn giáo và tình trạng sức khỏe Có thể thấy rằng theo BLDS Pháp thì quyền riêng tư của mọi cá nhân là như
nhau Đồng thời phạm vi bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân là rất rộng, bao gồm các thông tin được đưa ra cả tại nơi công cộng lẫn nơi riêng tư của cá nhân
Hiến pháp Nhật Bản ghi nhận rằng công dân có quyền sống, tự do và theo đuổi hạnh phúc và được tôn trọng với tư cách là một công dân Đây là quy định làm nền tảng cho những quy định của pháp luật chuyên ngành về quyền bí mật đời tư như: Công dân không được phép xây nhà có thể nhìn vào nhà của người khác, nghiêm cấm nhìn ngó nơi cư ngụ của người khác hay đọc thư cá nhân của người khác Năm 2003, Nhật Bản ban hành Luật Bảo vệ những thông tin cá nhân Đồng thời, tòa án Nhật Bản
đã giải thích quyền về bí mật đời tư của cá nhân, bao gồm: i) Quyền không bị công bố thông tin cá nhân nếu không có lý do chính đáng; ii) Quyền quyết định đối với thông tin cá nhân Cũng theo Tòa án Nhật Bản, để xác định có sự vi phạm về quyền bí mật đời tư hay không phải đảm bảo các yêu cầu sau: i) Có liên quan đến đời sống riêng tư của cá nhân ii) Cá nhân đó có mong muốn giữ bí mật iii) Không phải là thông tin, hiểu biết công cộng iv) Gây ảnh hưởng nặng nề đối với cá nhân nếu bị xâm phạm
Bên cạnh đó, Hội đồng Calcutt ở Vương quốc Anh cho rằng: “không nơi nào chúng ta
có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư” Nhưng Hội
đồng này đã hài lòng với định nghĩa sau: Quyền riêng tư là các quyền của cá nhân được bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình (hoặc những người trong gia đình) bằng các phương tiện vật lý trực tiếp hoặc bằng cách công bố thông tin
Trang 85
Như vậy, nhìn chung có thể thấy rằng pháp luật các quốc gia trên thế giới đều rất
quan tâm tới việc bảo vệ “quyền bí mật đời tư” của cá nhân
Không những thế, quyền bí mật đời tư cũng là chủ đề được các nhà nghiên cứu khoa học tập trung khai thác dưới nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể đến như Luận
văn thạc sỹ “Antitrust Investigations and the Right to Privacy” của tác giả Mar’yana
Yarmolenko, Faculty of Law, University of Lund, 2003 Luận văn đã nghiên cứu các vấn đề cơ bản về quyền riêng tư của cá nhân, đồng thời đưa ra các giải pháp thiết thực
để bảo vệ quyền con người nói chung và quyền riêng tư nói riêng
Hay bài viết “Privacy law' may need rewriting due to modern technology, says
senior judge” By David Barrett, Home Affairs Correspondent, bài viết đã đưa ra quan
điểm thay đổi hành lang pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư cho phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại, khi mà vấn đề xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhân diễn ra khá phổ biến
Hay bài nghiên cứu “The Right to Privacy” của hai tác giả: Warren and
Brandeis, Harvard Law Review, 1890; bài viết cũng đã tập trung phân tích các vấn đề
lý luận và thực tiễn về quyền bí mật riêng tư
Nói tóm lại, quyền bí mật đời tư là quyền con người cơ bản được pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới bảo vệ thông qua việc quy định khá chặt chẽ trong các văn bản pháp lý quan trọng Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề này Điều đó cho thấy việc nghiên cứu và bảo vệ quyền bí mật đời tư của
cá nhân là hết sức quan trọng, đây là lĩnh vực được quan tâm rất lớn trong xã hội hiện nay, khi mà quyền con người được chú trọng hơn bao giờ hết
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trước khi có Bộ luật Dân sự 1995, gần như không có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về quyền bí mật đời tư Sau khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về quyền nhân thân dưới góc độ là một quyền của con người trong lĩnh vực dân sự như
tâm Nghiên cứu quyền con người – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung cuốn sách có đề cập nhưng không chi tiết về các quyền nhân thân theo quy định của Bộ luật Dân sự, trong đó có quyền đối với bí mật đời tư
Trang 96
dân theo quy định của Bộ luật Dân sự“ – Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của
Tòa án Nhân dân Tối cao Công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc khẳng định vai trò của Tòa án Nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung chứ chưa đưa ra được phương hướng giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ở những trường hợp cụ thể - trong khi đó mỗi quyền nhân thân lại có đặc thù riêng Mãi tới sau khi Bộ luật Dân sự 2005 ra đời, thay thế Bộ luật Dân sự 1995 cũng
đã có thêm vài công trình khoa học tuy không nhiều được đăng ở một số báo, tạp chí chuyên ngành nhưng thực chất mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nêu, liệt kê một vài vụ việc tranh chấp điển hình liên quan đến xâm phạm bí mật đời tư, kèm theo những ý kiến đánh giá mang tính chủ quan, một chiều Một số bài viết trên các tạp chí khoa
học pháp lý như: “Sự phát triển của pháp luật dân sự liên quan đến các quy định về
quyền nhân thân” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 3/2007) đã khái quát được quá trình
hình thành và phát triển các quy định về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự; “Bàn
về khái niệm quyền bí mật đời tư” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 3/2007) đã phân tích
những quy định pháp lý liên quan đến khái niệm quyền bí mật đời tư, tuy nhiên mới chỉ dừng ở đó chưa chỉ ra được đặc điểm hay các nội dung của quyền bí mật đời tư,
biểu hiện cụ thể của các hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư ; “Xung quanh một vụ
kiện về việc xâm phạm bí mật đời tư” (Lê Đình Nghị, Nghề Luật, số 6/2007) đã đưa
đến cho người đọc một vụ việc điển hình, gây nhức nhối trong dư luận và những tranh cãi về hướng xử lý sau đó, đây là một trong vô số các trường hợp có biểu hiện xâm
phạm đến quyền bí mật đời tư của cá nhân; “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”
(TS Bùi Đăng Hiếu, Tạp chí Luật học, số 7/2012) đã phân tích khái niệm quyền nhân thân và phân loại các quyền nhân thân thành các nhóm quyền khác nhau Ngoài ra, quyền bí mật đời tư còn được nghiên cứu trong Luận án TS Luật học của NCS Lê
Đình Nghị năm 2007: “Quyền bí mật đời tư theo qui định của pháp luật dân sự Việt
Nam”, tuy nhiên, cũng giống như một số công trình nghiên cứu trên đây, công trình
này vì đã khá lâu – 10 năm nên thiếu tính cập nhật, hơn nữa chủ yếu nghiên cứu trong lĩnh vực dân sự chứ ít đặt trong mối tương quan tới các văn bản pháp luật chuyên ngành
Trang 107
Như vậy, có thể thấy những công trình trên hoặc là không nghiên cứu riêng; nếu
có thì vẫn còn lẻ tẻ, tản mạn chưa có tính hệ thống về quyền bí mật đời tư và bảo vệ bí mật đời tư, hoặc thời gian nghiên cứu khá xa trong bối cảnh BLDS và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đều đã có nhiều thay đổi
Trong giai đoạn gần đây, nhất là trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 và đến nay Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua nhưng vẫn chưa có hiệu lực thì bí mật đời tư, nội dung của bí mật đời tư và cơ chế bảo vệ quyền bí mật đời tư dường như vẫn còn là vấn đề khá mới, hầu như chưa có thêm bất kỳ công trình nghiên cứu toàn diện nào về vấn đề này
Nhận thức được điều đó, đề tài “Pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam –
Thực trạng và giải pháp ” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ đề tài nghiên cứu
khoa học cấp cơ sở, trên cơ sở kế thừa một số đánh giá của các công trình nghiên cứu trước, đồng thời hướng tới phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc, hệ thống về quyền bí mật đời tư, tác giả mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiện nay
1.3 XÁC LẬP VÀ TUYÊN BỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐỀ TÀI
Đề tài tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau:
Một số vấn đề lý luận trong quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư (khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền bí mật đời tư ), việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định trong BLDS 2005, 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành
Rà soát quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về quyền bí mật đời tư, nghiên cứu vấn đề bí mật đời tư theo quy định của của một số quốc gia khác và Công ước quốc tế
Trên cơ sở lý luận, đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng trong quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiện nay
Trang 118
Từ việc tìm ra những điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ bí mật đời tư, đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền bí mật đời tư
1.4 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Lựa chọn nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời tư, thực tiễn thi hành các quy định này trên thực tế, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo vệ quyền bí mật đời tư, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục đích trên, tác giả đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:
Phân tích khái niệm, đặc điểm của quyền bí mật đời tư
Phân tích quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành cũng như trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác về quyền bí mật đời tư: Nội dung pháp luật điều chỉnh,
cơ chế bảo vệ, giải quyết tranh chấp…
Khái quát quá trình phát triển trong quy định của pháp luật Việt Nam về quyền
Phân tích thực trạng pháp luật về quyền bí mật đời tư, tìm hiểu thực tiễn của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư, những thuận lợi, khó khăn…
Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền bí mật đời tư, từ đó nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế
1.5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
niệm, đặc điểm của quyền bí mật đời tư, ý nghĩa của cơ chế bảo vệ quyền bí mật đời
Trang 129
tư, nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền bí mật đời tư… Đồng thời, đề tài cũng chỉ
ra và phân tích những biểu hiện cụ thể của hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư của
cá nhân, những bất cập; hạn chế của pháp luật về quyền bí mật đời tư và bảo vệ quyền
bí mật đời tư gây khó khăn trong quá trình xử lý vi phạm trên thực tế; từ đó đưa ra cái nhìn bao quát và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực quyền bí mật đời tư của cá nhân
về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiện hành chủ yếu trong Bộ luật Dân sự, một số văn bản luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài ra đề tài còn có
sự đối chiếu với các quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư của một số nước trên thế giới
quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, đặc biệt là từ năm 2005 cho đến nay
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài “Pháp luật về quyền bí mật
đời tư ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu quyền bí mật đời tư trong mối quan hệ với điều kiện kinh tế - xã hội; trong sự tương quan với các quyền nhân thân khác
Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử để thấy rõ được quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam trong việc quy định quyền bí mật đời tư, phương pháp so sánh để thấy những điểm tiến bộ, những điểm hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước khác trên thế giới, phương pháp thống kê - phân tích nhằm cụ thể hóa và làm rõ những nội dung quan trọng của pháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam hiện nay, các phương pháp tổng hợp, đánh giá thực trạng pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp khắc phục những bất cập trong pháp luật về quyền bí mật đời tư, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế
Bên cạnh đó, phương pháp quy nạp, diễn giải… cũng được sử dụng rất nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 1310
1.7 KẾT CẤU BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Đề tài có kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài pháp luật về quyền bí mật đời tư ở Việt Nam
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về quyền bí mật đời tư
Chương 3: Thực trạng pháp luật về quyền bí mật đời tư và thực tiễn bảo vệ quyền bí mật đời tư ở Việt Nam
Chương 4: Phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về quyền bí mật đời tư
Trang 1411
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ
Quyền bí mật đời tư là một quyền nhân thân quan trọng của cá nhân và là cũng
là một quyền dân sự Đưa ra khái niệm bí mật đời tư cùng những đặc điểm của bí mật đời tư có ý nghĩa rất lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền của cá nhân trong lĩnh vực khá nhạy cảm này, đồng thời đây còn là cơ sở để Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư khi quyền đó bị xâm phạm
2.1.1 Khái niệm quyền bí mật đời tư
Cho đến nay, mặc dù “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật cũng như các văn bản áp dụng, hướng dẫn thi hành pháp luật của Nhà nước
ta như Hiến pháp, BLDS, Luật báo chí, Luật Xuất bản, Luật Viễn thông, một số văn bản của Bộ Y tế Tuy nhiên trên thực tế vẫn chưa hề có một quy định rõ ràng như thế nào là bí mật đời tư mà chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư, coi đó là quyền mà các chủ thể có liên quan, được xác định phải tôn trọng Đây cũng chính là một trong những khó khăn khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bí mật đời tư Bởi lẽ quyền bí mật đời tư được xây dựng trên khái niệm bí mật đời tư, muốn xác định được phạm vi của quyền bí mật đời tư đòi hỏi chúng ta phải xác định được khái niệm về bí mật đời tư Vậy bí mật đời
tư là gì?
Có rất nhiều lập luận, căn cứ được các nhà nghiên cứu trong nước đưa ra khi đề cập đến khái niệm bí mật đời tư, tác giả xin trích dẫn một số quan điểm xoay quanh vấn đề này như sau:
Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt thì bí mật được giải thích là “giữ kín, không
để lộ ra, không công khai.” [26, tr 155]
Một cách giải thích khác thì cho rằng: “Bí mật là thông tin cần che giấu, chỉ để
một số nhất định những người có liên quan được biết Những thông tin được xác định
là bí mật chỉ mang ý nghĩa tương đối Dưới góc độ này hay đối với một bên thì nó có thể cần phải che đậy, giữ kín, nhưng dưới góc độ khác, đối với bên khác nó có thể
Trang 1512
không cần che giấu Tính bí mật có được do những gì chứa đựng trong thông tin đó có liên quan đến một điều gì đó mà nếu để người không có nhiệm vụ biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu Bí mật thông thường được chia làm ba cấp độ, từ thấp đến cao là: Mật; Tối mật; Tuyệt mật” [2] Như vậy, theo sự
giải thích này thì bí mật được xác định bởi các yếu tố sau: 1 Bí mật là những “thông tin”; 2 Những “thông tin” này được che giấu bằng những biện pháp, cách thức khác nhau; 3 Những “thông tin” được coi là bí mật này nếu để người không có nhiệm vụ
biết thì có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho bên cần che giấu thông tin
Tuy nhiên, quan điểm này cũng cho rằng những “thông tin” được coi là bí mật cũng chỉ mang tính tương đối
Một số người làm công tác pháp luật lại cho là:
“Bí mật đời tư có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là
quyền cơ bản Đó có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mối quan hệ… gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khác biết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những người thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công bố ra ngoài cho bất kỳ ai “Bí mật đời tư”có thể hiểu là “chuyện trong nhà” của cá nhân nào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín,…” [2]
Như vậy, quan điểm này cũng chỉ ra bí mật đời tư là những thông tin gắn liền với cá nhân, chỉ có thể mình họ hoặc một số người hạn chế biết được Tuy nhiên, nếu hiểu như vậy thì cũng chưa bao quát được nội hàm của khái niệm bí mật đời tư, bởi lẽ nếu hiểu bí mật đời tư là những thông tin chưa từng công bố cho bất kỳ ai thì cũng không đúng Có trường hợp thông tin này đã được công bố nhưng bản thân người tiếp nhận thông tin phải
có nghĩa vụ bảo mật thông tin thì thông tin đó vẫn được coi là bí mật đời tư
Trong một Công trình Nghiên cứu khoa học cấp Bộ của TAND tối cao, PGS.TS Nguyễn Văn Luật đã khẳng định:
“…bí mật đời tư của cá nhân được hiểu trên hai phương diện: 1 Bí mật về đời sống tình cảm,tinh thần: Bí mật về đời sống tình cảm của cá nhân thể hiện tính chất đặc biệt riêng tư của cá nhân đó Điều luật cấm công khai cho mọi người biết các mối quan hệ thực tại hoặc mang tính chất hình tượng mà cá nhân đó vốn có 2 Bí mật về
Trang 16Có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết các các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng bí mật đời tư là những thông tin liên quan và gắn liền với chính chủ thể đó, đó là những nội dung mang tính chất thầm kín cá nhân và họ không muốn công khai cho người khác biết Đó có thể là các thông tin liên quan đến các yếu tố như tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội
Quan điểm của tác giả đồng ý với cách nhìn nhận khái niệm “bí mật đời tư” như trên Bởi lẽ, “Bí mật đời tư” là một cụm từ Hán – Việt, có nguồn gốc từ chữ Hán và được Việt hóa, do vậy để xây dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”
“Bí mật” được hiểu là giữ kín, không để lộ ra, không công khai Tính “bí mật” này có thể được xác định theo các tiêu chí cụ thể như:
bí mật có thể dựa vào bản chất của thông tin, có thể xác định theo qui định của pháp luật (thư tín, điện thoại, tình trạng bệnh tật… – những thông tin này đã có văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành xác định rõ đó là bí mật mà không được tiết lộ hoặc xâm phạm)
khoá, cài đặt mã số bảo vệ, hoặc áp dụng mọi biện pháp bảo vệ khác
thoả thuận về nghĩa vụ giữ bí mật Ví dụ: Anh A đến nhờ Văn phòng luật sư X tư vấn pháp luật liên quan đến việc ly hôn của anh Giữa A và Văn phòng luật sư X có ký hợp đồng dịch vụ trong việc tư vấn, theo hợp đồng này thì Văn phòng có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin của A khi A cung cấp cho Văn phòng luật sư X
Trang 1714
Tuy nhiên, chúng ta sẽ không coi là “bí mật” nếu những thông tin đó xâm phạm lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Ví dụ: thông tin liên quan đến hành vi phạm tội, chuẩn bị phạm tội) Trong trường hợp này việc tiết lộ thông tin sẽ không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư
Mặt khác, khái niệm “bí mật đời tư” chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi vì, cùng một nội dung vụ việc có tính chất như nhau, đối với người này có thể là bí mật nhưng đối với người khác chỉ là một thông tin bình thường, có thể công bố rộng rãi Đối với mỗi người thì việc xác định như thế nào là bí mật đời tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu
tố như: quan điểm, quan niệm, thói quen sống, làm việc, phong tục tập quán, các qui định của pháp luật có liên quan
“Đời” là đời sống, cuộc sống hàng ngày, “tư” có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng, một cách giải thích khác của cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì “Tư: Riêng, của cá nhân; trái với công (chung), đời tư, riêng tư ”
Qua phân tích các yếu tố liên quan đến bí mật đời tư, chúng ta có thể đưa ra khái niệm bí mật đời tư như sau:
“Bí mật đời tư là những thông tin về tinh thần, vật chất, quan hệ xã hội hoặc những thông tin khác liên quan đến cá nhân trong quá khứ cũng như trong hiện tại, được pháp luật bảo vệ và những thông tin đó được bảo mật bằng những biện pháp mà pháp luật thừa nhận.”
Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân bất khả xâm phạm của cá nhân Về cơ
bản có thể hiểu rằng: “Quyền bí mật đời tư của cá nhân là quyền được bảo vệ về bí
mật đời tư, nói cách khác không ai được quyền xâm phạm đến bí mật đời tư của cá nhân khi chưa được phép”
2.1.2 Đặc điểm của quyền bí mật đời tư
Là một trong những quyền nhân thân được pháp luật quy định và bảo vệ, quyền
bí mật đời tư cũng mang đầy đủ các đặc điểm của quyền nhân thân Bên cạnh đó quyền bí mật đời tư còn có những đặc điểm riêng Việc xem xét những đặc điểm này
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu và trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp tại Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác khi cần xác định như thế nào là một hành vi xâm phạm bí mật đời tư
Trang 1815
Quyền bí mật đời tư có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, quyền bí mật đời tư được pháp luật dân sự thừa nhận và bảo vệ
luôn thuộc về cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác
Dưới góc độ pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên, quan trọng và phổ biến của quan hệ dân sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là
vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân nói chung và quyền bí mật đời tư nói riêng Quyền bí mật đời tư chỉ thuộc về cá nhân trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình) Quyền bí mật đời tư là do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, do vậy, về mặt nguyên tắc, quyền bí mật đời tư không thể dịch chuyển cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền bí mật đời tư không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa cá nhân Bản thân chủ thể hưởng quyền bí mật đời tư chứ họ không thể ủy quyền cho ai đó và thông thường, không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện những quyền này trừ trường hợp pháp luật quy định
Thứ hai, mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền bí mật đời tư, tuy nhiên
vẫn có trường hợp ngoại lệ
Mọi cá nhân đều có quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư nói riêng kể
từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn giáo, địa vị xã hội, trình độ học vấn, tuổi tác Cá nhân có thể có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, mất năng lực hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, tuy nhiên quyền bí mật đời tư của họ vẫn luôn được pháp luật bảo hộ như nhau
Mặt khác, trong một số trường hợp nhất định sẽ có sự ngoại lệ đối với một số đối tượng Việc quy định những ngoại lệ này cũng không nằm ngoài mục đích công - vì lợi ích của cả cộng đồng Ví dụ, mọi cá nhân trong xã hội đều có quyền giữ bí mật về thu nhập và tài sản của mình nếu nguồn gốc của tài sản, thu nhập là họp pháp Tuy vậy, trong một số trường hợp do pháp luật quy định thì cá nhân phải công khai thu nhập cũng như tài sản của mình Chẳng hạn, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng 2005 sửa đổi bổ sung năm 2012 thì kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản là nghĩa vụ thuộc về một số cán bộ nhất định như cán bộ từ Phó trưởng phòng trở lên, một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn, người làm công tác quản lý ngân sách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân Sở dĩ pháp luật quy
Trang 1916
định như vậy nhằm phòng và chống các hành vi tham nhũng bởi công việc, chức vụ
mà những người này đảm trách thuộc lĩnh vực “nhạy cảm”, có thể vụ lợi
Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật của Việt Nam chưa có quy định cụ thể nhưng trên thực tế, những người được coi là “người của công chúng” thì vấn đề bí mật đời tư của họ cũng rất khó xác định Chẳng hạn, bí mật đời tư của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Những thông tin liên quan đến họ luôn là một trong những tâm điểm chú ý của mọi người trong xã hội Họ bị coi là ít có quyền riêng tư hơn vì họ là công bộc của dân, giữ những vị trí quan trọng mà hành động có thể tác động tới hầu hết nhân dân
Là “người của công chúng” nên công chúng có quyền khai thác các thông tin, hình ảnh của họ Nếu đối với một cá nhân bình thưòng, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân đó phải được sự đồng ý của bản thân họ, nhưng đổi với một người lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Nhà nước thì việc sử dụng hình ảnh của họ lại không bị coi là xâm phạm đến bí mật đời tư, trừ khi việc sử dụng đó nhằm những mục đích trái pháp luật
Thứ ba, về không gian quyền bí mật đời tư được bảo hộ ở một không gian rộng
Quan hệ giữa cá nhân đối với mọi người trong xã hội là cơ sở để chúng ta ghi nhận sự tồn tại của các quyền liên quan đến cá nhân đó, trong đó có quyền riêng tư, quyền đảm bảo sự bí mật đời tư Nếu xét dưới góc độ nội dung của quyền bí mật đời tư thì bí mật đời tư của cá nhân có thể là những thông tin về tình cảm gia đình, quan hệ cha mẹ - con, quan hệ vợ - chồng; những quan hệ với đồng nghiệp ở cơ quan công tác hoặc những quan hệ xã hội khác Ngoài ra bí mật đời tư cũng có thể là các vấn đề cụ thể của cá nhân như tình trạng bệnh tật, sức khoẻ thậm chí những thông tin liên quan đến thu nhập (thu nhập hợp pháp), thông tin liên quan đến các nghĩa vụ mà cá nhân thực hiện đối với Nhà nước hoặc chủ thể khác (tiền thuế mà cá nhân phải nộp, tiền điện thoại mà cá nhân phải thanh toán ) cũng được coi là thông tin mang tính bí mật Xuất phát từ những yếu tố trên đây, với ý nghĩa là bảo hộ quyền bí mật đời tư theo một không gian cụ thể, chúng ta có thể hiểu bí mật đời tư của cá nhân có thể được đảm bảo không chỉ trong cuộc sống hàng ngày của cá nhân ở nơi cư trú mà còn có thể được đảm bảo ở môi trường xung quanh, ví dụ ở cơ quan nơi cá nhân công tác, thậm chí ở bất cứ nơi nào có thể bảo vệ được Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc bí mật đời tư của cá nhân được bảo hộ ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 2017
Thứ tư, quyền bí mật đời tư được bảo hộ vô thời hạn
Quyền nhân thân nói chung, quyền bí mật đời tư nói riêng là một trong những nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân (Khoản 1, Điều 17 BLDS 2015) Quyền bí mật đời tư của cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong suốt cuộc đời của cá nhân Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, khi cá nhân không thể tự bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của mình (người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi năng lực hành vi dân sự) thì người đại diện theo pháp luật có thể thực hiện việc bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân bằng cách áp dụng các biện pháp bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thấm quyền bảo vệ
Nếu như chúng ta khẳng định “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi
người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết "(Khoản 3 Điều 16, BLDS 2015) thì
dường như đối với các quyền nhân thân của cá nhân lại là trường hợp ngoại lệ, điều đó có nghĩa là ngay kể cả sau khi cá nhân chết thì các quyền nhân thân vẫn được pháp luật bảo
vệ Khoản 2, Điều 25 BLDS 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên
quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”
Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, khi cá nhân còn sống nếu như việc công bố bí mật đời tư mà không được sự đồng ý của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt của bản thân cá nhân đó (chủ sở hữu thông tin liên quan đến bí mật đời tư) Khi cá nhân chết hoặc bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết, những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân này vẫn được pháp luật bảo vệ bởi điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của những người thân thích của họ Do đó, thu thập công bố thông tin tư liệu của cá nhân khi cá nhân đã chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì phải được cha, mẹ hoặc vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người đó đồng ý
Thứ năm, những thông tin liên quan đến đời tư được bảo hộ phải là những
thông tin mang tính bí mật, không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Trang 21Một là, tính “bí mật” của thông tin được xác định theo bản chất của thông tin đó
hoặc thông qua những hình thức chứa đựng thông tin, truyền thông tin cụ thể để chúng
ta xác định đó là bí mật
Ví dụ: cảm xúc vui buồn của cá nhân có thể được người ta bày tỏ trước một số chủ thể nhất định – trường hợp này sẽ không coi đó là bí mật Tuy nhiên, nếu cảm xúc
đó được bản thân cá nhân thể hiện thông qua một hình thức khác như ghi nhật ký (kể
cả trong trường hợp nhật ký đã được viết dưới dạng ký hiệu, mật mã và không có bất
kỳ biện pháp nào để bảo vệ thông tin) thì những thông tin được thể hiện trong nhật ký vẫn được coi là bí mật riêng tư, nếu ai đó tự ý công bố cuốn nhật ký này mà không được phép của chủ sở hữu sẽ bị coi là xâm phạm bí mật đời tư
Ngoài ra trong một số trường hợp, hình thức của việc truyền tải thông tin cũng thể hiện được bí mật của thông tin đang truyền tải Ví dụ những cuộc điện thoại, những tin nhắn qua lại, gửi thư cho nhau (thư tay or thư điện tử) thì mặc nhiên chúng
ta phải hiểu nội dung trao đổi trong những cuộc trò chuyện đó là mang tính bí mật
Hai là, tính bí mật của thông tin còn có thể được xác định theo quy định của pháp luật
Tất nhiên, tính bí mật được xác định theo quy định của pháp luật đối với thông tin ở đây là những thông tin liên quan đến bản thân cá nhân, không áp dụng đối với bí mật Nhà nước Pháp luật không thể dự liệu và liệt kê được toàn bộ những thông tin liên quan đến cá nhân mà chỉ có thể có sự khái quát và cụ thể hoá trong một số trường hợp cụ thể Chẳng hạn, trong một số văn bản pháp luật của Nhà nước ta, chúng ta có
Trang 22sự đồng ý của họ - đây chính là hành vi xâm phạm bí mật đời tư của chủ sở hữu thông tin Tuy nhiên, bản thân họ phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho quá trình bảo mật thông tin của mình
Bốn là, tính bí mật của thông tin còn có thể được xác định thông qua quan hệ
nghĩa vụ giữa chủ sở hữu thông tin với chủ thể khác
Theo những quan hệ này, giữa chủ sở hữu thông tin và những người biết được thông tin đó đã có sự thoả thuận, theo đó những người biết được thông tin do chủ sở hữu cung cấp phải có nghĩa vụ “bảo mật” - tức là giữ bí mật các thông tin mà mình đã biết Ví dụ: trong quan hệ hợp đồng dịch vụ, giữa các bên tham gia giao kết thoả thuận theo đó bên cung ứng dịch vụ phải giữ bí mật thông tin mà bên thuê dịch vụ cung cấp thì bên cung ứng dịch vụ phải có nghĩa vụ này Điều 517 của BLDS 2015 khi quy định
về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ có quy định, bên cung ứng dịch vụ phải “ 5 Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu
có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; ”
Trang 23Nếu thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thì việc công bố thông tin mặc dù không được phép của chủ sở hữu thông tin cũng không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư như việc công khai các hành vi vi phạm pháp luật Ví dụ: A và B chơi thân với nhau, A đến nhà người yêu chơi, do cãi vã nên lỡ tay giết người yêu nhưng không bị phát hiện Để bớt mặc cảm tội lỗi A đã nói điều này với B và yêu cầu B giữ kín thông tin đó Sau đó, chính B là người đã công khai thông tin và hành vi giết người của A bị xử lý theo quy định của pháp luật Mặc dù B là người đã công khai “thông tin bí mật” mà A đã cung cấp cho mình nhưng việc cung cấp thông tin đó không bị coi là xâm phạm bí mật đời tư Thậm chí, hành vi không bộc lộ thông tin, cố tình che giấu thông tin trong trường hợp này lại bị coi là hành vi phạm tội
Khi xác định những thông tin không trái pháp luật, chúng ta căn cứ vào các quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc xác định thông tin như thế nào là trái đạo đức xã hội thì còn khó khăn, bởi đạo đức xã hội là vấn đề thuộc về ý thức xã hội - đó là sự đánh giá của mọi ngưòi trong xã hội về một hành vi và xử sự cụ thể Hơn nữa, vấn đề đạo đức xã hội lại có thể thay đổi theo thời gian, không gian và phụ thuộc vào phong tục, tập quán
Thứ sáu, việc công bố những thông tin thuộc về bí mật đời tư sẽ tạo ra sự bất
lợi đối với chủ sở hữu thông tin
Đối với bí mật đời tư của cá nhân, vì nhiều lý do khác nhau mà bản thân cá nhân không muốn công khai cho người khác biết bởi nếu công bố công khai thì có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, tình cảm, công việc của bản thân họ hoặc của những người có liên quan Chẳng hạn, khi một người bị nhiễm vi rút HIV, cuộc sống
Trang 2421
của họ sẽ trở lên khó khăn hơn nếu như nhiều người trong cộng đồng biết được điều
đó, họ có thể bị xa lánh, bị từ chối tiếp xúc, bị buộc thôi việc Trong nhiều trường hợp, hậu quả bất lợi không chỉ do bản thân người này gánh chịu mà những người thân thích của họ cũng có thể gặp phải tình trạng tương tự Trong khi chúng ta tuyên truyền vận động để xã hội có cái nhìn cảm thông hơn thì việc giữ bí mật các thông tin liên quan đến người nhiễm HIV vẫn là biện pháp khả thi để người nhiễm HIV vẫn có thể hoà nhập vào cộng đồng
Sự bất lợi của chủ sở hữu bí mật đời tư khi bí mật đời tư của họ được công bố có thể được hiểu trên nhiều phương diện:
Bất lợi về mặt kinh tế: Cá nhân có thể phải mất những chi phí để cải chính các thông tin, hoặc phải gánh chịu những thiệt hại khác do không thu được những lợi ích
về mặt kinh tế nếu như bí mật đời tư bị tiết lộ
Bất lợi trong sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày: Bản thân người bị xâm phạm bí mật đời tư phải gánh chịu những “búa rìu” của dư luận, gặp phải sự dè bỉu, bình luận, chê cười của những người xung quanh
Bất lợi trong công việc: Vì hành vi xâm phạm bí mật đời tư mà bản thân người
bị xâm phạm có thể bị mất việc làm hoặc gặp rất nhiều khó khăn trong công việc
Bất lợi trong quan hệ với đồng nghiệp, những người xung quanh khác
2.1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền bí mật đời tư
Quyền bí mật đời tư nói riêng, quyền nhân thân nói chung được pháp luật quy
định, bảo vệ và pháp luật luôn có các cơ chế pháp lý để đảm bảo cho các quyền này được thực hiện trên thực tế Các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư đa dạng với sự phối kết hợp đồng bộ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ là sự đảm bảo tích cực cho quyền bí mật đời tư của cá nhân được phát huy tác dụng
Bảo vệ quyền bí mật đời tư có ý nghĩa rất quan trọng, được thể hiện trên những phương diện sau đây:
Bảo vệ quyền bí mật đời tư chính là sự đảm bảo cho quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư được Nhà nước ghi nhận cho cá nhân trở thành hiện thực
Tăng cường sự tôn trọng các quyền của con người, trong đó có quyền đối với giá trị tinh thần được Nhà nước thừa nhận
Trang 2522
Góp phần hạn chế các hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhân
Tạo điều kiện cho các cá nhân có thể lựa chọn các biện pháp phù hợp nhất khi
có hành vi xâm phạm (bởi lẽ, các biện pháp bảo vệ quyền bí mật đời tư đa dạng)
Giúp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình lựa chọn cơ sở pháp lý cũng như các biện pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến bí mật đời tư
2.2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ
Hiện nay trong BLDS chưa có quy định cụ thể như thế nào là bí mật đời tư của
cá nhân mà chỉ khẳng định: “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất
khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.” – Điều 38 BLDS 2015 Chính từ quy định
còn mang tính chung chung này nên rất khó có thể xác định được nội dung của quyền
bí mật đời tư của cá nhân, vốn được hiểu là phạm vi các quyền liên quan đến bí mật đời tư được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ cho cá nhân Việc xem xét nội dung quyền
bí mật đời tư để làm cơ sở cho cá nhân hưởng quyền này và để xác định, xử lý các hành vi xâm phạm – là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng
Theo quy định tại Điều 38 BLDS 2015 có thể xác định quyền bí mật đời tư như sau:
2.2.1 Cá nhân có quyền đối với các thông tin liên quan đến đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân, bí mật gia đình của mình
Bí mật cá nhân, bí mật gia đình là những thông tin, tư liệu về cá nhân, về gia đình được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật Đời sống riêng tư tuy không phải là các bí mật nhưng cũng là các quyền nhân thân cần thiết được bảo vệ Điều 38 BLDS 2015 đã nhấn mạnh về các quyền nhân thân này (đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình), yêu cầu sự tuyệt đối tôn trọng (bất khả xâm phạm) và được pháp luật bảo vệ Khi có hành vi xâm phạm, cá nhân có quyền áp dụng các phương thức do pháp luật quy định để bảo vệ quyền lợi của mình
Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa
“Thông tin” là “Tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”[26,
tr.1756] Phạm vi các thông tin thuộc về cá nhân là rất rộng lớn Đó có thể là những thông tin liên quan đến cuộc đời của cá nhân được thể hiện ở nhiều hình thức chứa
Trang 2623
đựng thông tin khác nhau như một câu chuyện, hình ảnh, những trang nhật ký, những
kỷ vật .Các thông tin đó có thể có từ khi cá nhân mới sinh ra, thông tin trong suốt cuộc đời của cá nhân và thậm chí ngay kể cả khi cá nhân đã chết
Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng
tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý Quy định này hướng tới việc tôn trọng đời sống riêng tư của mỗi cá nhân trong xã hội, trước thực tế hiện nay, rất nhiều chủ thể, đặc biệt là những người nổi tiếng thường bị xâm phạm nghiêm trọng về đời sống riêng tư của mình bởi sự hiếu kỳ, quan tâm thái quá của người hâm mộ Như vậy cá nhân có quyền công bố hoặc không công bố các thông tin này, khi cá nhân không công bố - điều đó có nghĩa là các thông tin này được coi là “bí mật” Bất cứ hành vi nào tiết lộ các thông tin mà không được phép của chủ sở hữu thông tin sẽ bị coi là xâm phạm quyền của cá nhân đối với bí mật đời tư (nếu chủ sở hữu thông tin chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nếu chủ sở hữu thông tin đã chết, hoặc bị tuyên bố đã chết, đã mất tích cần phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc vợ chồng hoặc con đã thành niên theo quy định của pháp luật)
Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đó là một quy định rất mới trong BLDS, bởi có những thông tin không phải là bí mật riêng tư hoặc thuộc đời sống riêng tư không chỉ của riêng một cá nhân mà là của chung các thành viên trong cùng gia đình Do đó, nếu chỉ bảo vệ quyền riêng tư cá nhân thì sẽ dẫn đến quyền riêng tư của gia đình bị bỏ ngỏ
Bên cạnh đó, BLDS còn quy định việc đảm bảo bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có những chủ thể khác được quyền tiếp cận do gắn liền với các hợp đồng Thông thường, ở đây tồn tại một cam kết giữ bí mật giữa hai bên, bên được cung cấp thông tin cần phải giữ kín những thông tin tiếp nhận được từ chủ sở hữu thông tin trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng
2.3.2 Cá nhân có quyền bí mật đối vói thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân
Khoản 2, Điều 21 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền bí mật thư
tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai
Trang 2724
được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 38 BLDS
2015 cũng quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình
thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”
Khi xã hội ngày càng phát triển, việc trao đổi thông tin được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, phổ biến nhất là sử dụng điện thoại di động, thư tín điện tử Vì vậy, thư tín, điện thoại, điện tín và nói chung là những phương tiện liên lạc cá nhân là những “kênh” thông tin rất quan trọng, trong đó có chứa nhiều thông tin thuộc bí mật đời tư của cá nhân, những thông tin được chuyển tải có thể là những lời hỏi thăm mang tính chất tình cảm, công việc hoặc bất kỳ nội dung nào khác, tuy nhiên dù thế nào cũng không thể bị người khác tự tiện xâm phạm Đó là quyền tự do dân chủ chính đáng của
mọi công dân, bảo đảm cho sinh hoạt xã hội an toàn một cách cần thiết
Pháp luật về bưu chính viễn thông của Nhà nước ta cũng đã đưa nguyên tắc bảo mật là một trong những nguyên tắc trong hoạt động bưu chính, viễn thông Điều 4 Luật Bưu chính 2010 quy định một trong các nguyên tắc của hoạt động bưu chính đó
là: “Bảo đảm bí mật thư theo quy định của pháp luật” Điều 6 Luật Viễn thông 2009 ghi nhận vấn đề bảo đảm bí mật thông tin như sau: “Thông tin riêng chuyển qua mạng
viễn thông công cộng của mọi tổ chức, cá nhân được bảo đảm bí mật; Doanh nghiệp viễn thông không được tiết lộ thông tin riêng liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm tên, địa chỉ, số máy gọi, số máy được gọi, vị trí máy gọi, vị trí máy được gọi, thời gian gọi và thông tin riêng khác mà người sử dụng đã cung cấp khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp ” Bên cạnh đó Điều 12 Luật Viễn thông 2009 còn
nghiêm cấm hành vi: “Thu trộm, nghe trộm, xem trộm thông tin trên mạng viễn thông;
trộm cắp, sử dụng trái phép tài nguyên viễn thông, mật khẩu, khóa mật mã và thông tin riêng của tổ chức, cá nhân khác” Luật pháp cũng có những chế tài nhằm ngăn
chặn những trường hợp xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác trong những điều luật cụ thể Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác là hành vi chiếm đoạt thư, điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng phương tiện viễn thông và vi tính, hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác Hành vi vi phạm các quy định trên đây có thể bị xử lý vi phạm hành chính
Trang 2825
hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh xâm phạm bí mật hoặc an
toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác Như vậy, các quy định của pháp luật
Việt Nam không chỉ ghi nhận và thể hiện sự tôn trọng các quyền bí mật thư tín, bí mật
đời tư mà còn đề ra các biện pháp để bảo vệ những quyền này
Tuy nhiên, bí mật đối với thư tín, điện thoại, điện tín và cơ sở dữ liệu điện tử và
các hình thức thông tin điện tử khác cũng phải chịu những giới hạn nhất định theo quy
định của pháp luật Việc kiểm soát thư tín, điện tín cũng như các hình thức thông tin
điện tử khác nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, giữ gìn an ninh, trật tự - hay nói cách
khác ỉà nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của quốc gia Hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều có sự kiểm soát này, kể cả Hoa Kỳ - một trong những quốc gia vẫn được coi là tôn
trọng bí mật riêng tư một cách chặt chẽ nhất Mặc dù có thể có sự can thiệp vào thư
tín, điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác nhưng phải tuân theo một trình tự,
thủ tục nhất định Điều 6 Luật Viễn thông 2009 quy định: “Việc kiểm soát thông tin
trên mạng viễn thông do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của
pháp luật “
Trong trường hợp người có điện thoại, điện tín, thư tín (bao gồm cả người nhận
và người gửi) đang liên quan đến vụ án hình sự, nếu thấy cần thiết, cơ quan điều tra có
thể áp dụng các biện pháp kiểm soát, thu giữ điện thoại, điện tín, thư tín để phục vụ
cho hoạt động điều tra, nhưng việc áp dụng các biện pháp này phải theo đúng quy định
của BLTTHS 2015 về thẩm quyền, trình tự, thủ tục Xét về hành vi thì đây là những hành vi can thiệp vào bí mật đời tư của cá nhân,
tuy vậy điều này là hết sức cần thiết Nhiều vụ án đã được phá, nhiều âm mưu phản
động chống phá chính quyền cũng như gây thiệt hại cho Nhà nước, cho nhân dân đã
được ngăn chặn thông qua việc kiểm soát thư tín, điện tín và các hình thức thông tin
điện tử khác
2.3 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ
Quyền bí mật đời tư là một trong những quyền nhân thân có lịch sử hình thành
từ rất sớm Tuy mới chính thức được ghi nhận trong BLDS 1995 nhưng một số quy
định cụ thể liên quan đến nội dung của quyền bí mật đời tư cũng đã được đề cập rải rác
Trang 2926
trong một số văn bản trước đó Có thể chia quá trình phát triển của pháp luật nước ta trong quy định về quyền bí mật đời tư thành các giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1946 – 1959: Đây là giai đoạn chuyển biến mạnh mẽ về chất của hệ
thống chính trị, Việt Nam đã chính thức là một quốc gia độc lập Ngay sau đó, Nhà nước ta cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp 1946 đặt nền móng cho việc ban hành các văn bản có hiệu lực sau Hiến pháp, trong đó có các văn bản pháp luật về
dân sự Điều 11 của Hiến pháp 1946 quy định: “… Nhà ở và thư tín của công dân Việt
Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” Như vậy, sau bao nhiêu năm
dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến, các quyền của con người đã được thừa nhận và một trong những quyền đó có liên quan đến bí mật đời tư của công dân, trước đó bất cứ lúc nào sự riêng tư của con người cũng có thể bị xâm phạm một cách thô bạo Do đó, bằng quy định này của bản Hiến pháp 1946 chúng ta thấy có một sự tiến bộ vượt bậc của pháp luật nước nhà trong việc khẳng định các quyền của công dân
Giai đoạn sau năm 1959 – 1980: Điểm mốc của giai đoạn này được đánh dấu
bằng bản Hiến pháp 1959 thay cho Hiến pháp 1946, trong hoàn cảnh lịch sử mới: chúng ta tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Liên quan đến quyền bí mật đời tư, Điều 28 Hiến pháp 1959
ghi nhận: “Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
không bị xâm phạm, thư tín được giữ bí mật…” Do hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn này
chúng ta cũng chưa có những văn bản pháp luật quy định cụ thể hoá quyền bí mật đời
tư của cá nhân
Giai đoạn sau năm 1980 – 1992: Đây là giai đoạn đất nước thống nhất và cả
nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta đã cho ra đời bản Hiến pháp mới – Hiến pháp 1980, thể chế hóa đường lối đổi mới của Đảng ta trong giai đoạn mới Liên quan tới quyền bí mật đời tư , Điều 71 Hiến pháp 1980 quy định:
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp luật Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm Quyền tự do đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật”
Trang 3027
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1980, một loạt các văn bản có hiệu lực sau
Hiến pháp đã cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền liên quan đến “bất khả xâm phạm về chỗ ở”, quyền được giữ bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín như: Thông tư liên ngành số 249 – HK/BĐ ngày 20/3/1981 của Tổng cục hàng không – Tổng cục bưu điện về việc tổ chức vận chuyển túi, gói bưu phẩm, bưu kiện qua đường hàng không, BLTTHS 1988, Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng số 384 – HĐBT ngày 5/11/1990 về tăng cường quản lý công tác báo chí, xuất bản, Luật Báo chí
1990, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989… Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức
độ quy định của pháp luật chuyên ngành chứ chưa có một văn bản pháp luật cụ thể điều chỉnh quyền bí mật đời tư
Giai đoạn sau năm 1992 – 1995: Đây là giai đoạn có sự chuyển biến mạnh mẽ
của hệ thống pháp luật nước ta Hiến pháp 1992 ra đời, thay thế cho Hiến pháp 1980 Làm cơ sở cho các văn bản pháp luật có hiệu lực sau này cụ thể hóa quyền của cá nhân
đối với bí mật đời tư, Điều 73 Hiến pháp 1992 quy định: “ Công dân có quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” Sau khi Hiến pháp 1992 được ban hành, một loạt các văn bản
pháp luật ra đời đã đề cập đến việc bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân như Quyết định số 259/QĐ – NH6 ngày 22/10/1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Quy chế về nhận bảo quản tài sản quý hiếm, Nghị định số 133 – HĐBT ngày 20/4/1992 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật Xuất bản năm 1993… Các văn bản này cũng đã đưa ra được những hành vi bị cấm như cấm tiết lộ bí mật đời
tư của cá nhân liên quan như tiền gửi, cấm tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân trong các xuất bản phẩm…
Một trong những dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của pháp luật dân sự là sự ra đời của BLDS 1995, được đánh giá có vị trí thứ 2 sau Hiến pháp Lần đầu tiên, BLDS đã quy định về quyền đối với bí mật đời tư với tư cách một quyền nhân thân của cá nhân tại Điều 34, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan Nhà
Trang 3128
nước có thẩm quyền xác định các hành vi xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân và cơ chế bảo vệ thích hợp
Giai đoạn sau năm 1995 – 2013: BLDS 1995 đã phát huy vai trò to lớn trong
việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tuy nhiên qua thời gian áp dụng vào thực tiễn đời sống cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần được sửa đổi, bổ sung Đây chính là lý do để BLDS 2005 ra đời Quy định về quyền bí mật đời tư của cá nhân
có sự thay đổi nhỏ, theo đó tên điều luật được quy định là “Quyền bí mật đời tư” thay
vì “Quyền đối với bí mật đời tư” như trước đây
Một loạt các văn bản pháp luật ra đời trong giai đoạn này đã đề cập đến quyền bí mật đời tư của cá nhân theo các quy định dưới dạng cấm tiết lộ như Pháp lệnh Quảng cáo, Luật Quảng cáo 2012, Luật Báo chí, Luật Xuất bản 2004 và 2012, Pháp lệnh giám định tư pháp 2004 và 2012, Pháp lệnh Bưu chính viễn thông 2002, Luật Bưu chính 2010 (có nguyên tắc bảo mật, nghiêm cấm hành vi thu, nghe trộm thông tin, tiết
lộ nội dung thư, bưu phẩm…), Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012 (nghiêm cấm tiết lộ thông tin khách hàng), Luật quản lý thuế (giữ bí mật thông tin của người nộp thuế), Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 (nghiêm cấm tiết lộ thông tin, bí mật về người hiến và người được ghép)… Bên cạnh đó, còn có các văn bản dưới luật được ban hành, trong đó có những nội dung liên quan đến quy định và bảo vệ quyền bí mật đời tư, như Nghị định số 97/2008/NĐ – CP ngày 28/8/2008 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet…
Giai đoạn sau 2013 đến nay: Trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được Quốc hội
thông qua ngày 28/11/2013, vấn đề quyền con người, quyền công dân được quy định trong Chương II với nhiều điểm mới và tiến bộ, mở rộng một cách toàn diện phạm vi quy định quyền được bảo vệ bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Điều 21 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “1 Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn 2 Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của
Trang 3229
người khác” Trên cơ sở những quy định nhằm đảm bảo quyền riêng tư trong Hiến
pháp mới, BLDS 2015 ra đời đã sửa đổi một số điểm trong BLDS 2005 cho phù hợp
với Hiến pháp 2013, điều luật “Quyền bí mật đời tư” được sửa thành “Quyền về đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”
Ngoài ra, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có những quy định tương đối
cụ thể nhằm bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân như Luật an toàn thông tin mạng 2015, Luật giao dịch điện tử, Luật báo chí 2016
Tóm lại, nếu như trước đây quyền bí mật đời tư của cá nhân mới chỉ được quy định trong Hiến pháp thì hiện nay, quyền bí mật đời tư của cá nhân đã được cụ thể hóa trong rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau Đó cũng chính là biểu hiện của sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật nước ta
2.4 QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT
SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
Nghiên cứu so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, có thể thấy
rằng quyền bí mật đời tư được hầu hết các nước thừa nhận với tên gọi và phạm vi khác nhau Một số quốc gia đã ban hành luật về quyền riêng tư như Anh, Mỹ, Nga, Úc hoặc ban hành văn bản pháp luật liên quan đến quyền bí mật đời tư như Luật bảo vệ thông tin cá nhân của Nhật Bản Không những thế, trong các công ước quốc tế được các quốc gia trên thế giới ký kết cũng đã đề cập đến quyền này
Trong Công ước châu Âu về Nhân quyền được soạn thảo và thông qua bởi Hội đồng Châu Âu vào năm 1950, nhằm bảo vệ quyền tôn trọng cuộc sống riêng tư, Điều 8
quy định: “Mọi người đều có quyền tôn trọng cuộc sống riêng tư và gia đình của
mình, nhà của mình và thư từ của cá nhân” Ngoài ra Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế
Nhân quyền (UDHR) ghi nhận: "Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện
vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy” Tại Điều 17 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và
Chính trị: “Không ai bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống
riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy” Những qui định trên là một sự tôn trọng tuyệt đối đến quyền
Trang 33Theo quy định của pháp luật Pháp thì quyền đối với đời tư của cá nhân luôn được
tôn trọng một cách tuyệt đối: “Cá nhân có quyền được tôn trọng về đời tư Ngoài biện
pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại, thẩm phán có thể quyết định mọi biện pháp như giao tài sản cho người khác quản lý, kê biên tài sản và các biện pháp khác, nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm bí mật đời tư, trong trường hợp khẩn cấp các biện pháp này có thể được quyết định theo thủ tục khẩn cấp tạm thời” (Điều 9 -
BLDS Pháp) Bên cạnh đó án lệ Pháp đã có những bổ sung rất quan trọng đối với các hành vi bị coi là xâm phạm đời tư, theo đó, phạm vi của quyền riêng tư rất rộng, có thể
là bí mật thư tín, tình trạng sức khỏe, đời sống tình cảm, trạng thái tâm lý, hình ảnh,
chỗ ở, địa chỉ, số điện thoại, thậm chí giọng nói…
Pháp luật của Liên bang Nga lại thông qua Hiến pháp để đưa ra các nguyên tắc
chung nhằm bảo vệ quyền bí mật đời tư của cá nhân: “Mỗi cá nhân đều có quyền bí
mật về đời tư, gia đình, có quyền được bảo vệ nhân phẩm và tên tuổi của mình Mỗi người đều có quyền được bảo đảm bí mật thư tín, điện tín, điện thoại Việc hạn chế quyền này của cá nhân phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật…” (Điều 23,
24) Ngoài ra theo quy định tại Điều 150 BLDS Liên bang Nga thì tính mạng, sức khỏe, thân thể, uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật đời tư (bao gồm của cá nhân và gia đình), quyền tác giả và các quyền cá nhân khác đều được pháp luật bảo vệ Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để cá nhân thực hiện quyền của mình đối với các thông tin thuộc về bí mật đời tư Ngoài ra vì lợi ích công cộng, pháp luật cũng quy định về việc xử lý thông tin cũng như các trường hợp thuộc giới hạn xử lý thông tin của chủ thể (không được phép xử lý những thông tin thuộc loại đặc biệt, nhạy cảm như: nòi chủng, dân tộc, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, đời sống riêng tư…)
Đối với pháp luật Nhật Bản, Điều 35 - Hiến pháp Nhật Bản ghi nhận: “Nhà ở, thư từ và
các đồ vật đều được đảm bảo chống lại sự khám xét, tìm tòi và tịch thu, trừ có trát của toà án trình bày lý do, ghi chỗ khám xét, đồ vật có thể bị tịch thu theo điều kiện trong khoản 33 Mọi sự
Trang 3431
khám xét và tịch thu phải do lệnh của thẩm phán có trát riêng biệt” Còn BLDS Nhật Bản quy
định cho cá nhân có quyền năng kể từ khi sinh ra, tuy nhiên quyền đối với bí mật đời tư không được đề cập tại đây Trong bối cảnh có sự gia tăng việc sử dụng thông tin cá nhân do có sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thông tin và truyền thông, năm 2003 Nhật Bản ban hành Luật về bảo
hộ thông tin cá nhân, một trong những nội dung liên quan đến bí mật đời tư của cá nhân Những thông tin này thuộc về một cá nhân cụ thể và cá nhân có quyền đối với các thông tin đó Việc khai thác, xử lý thông tin cá nhân, cung cấp thông tin cá nhân cho người thứ ba phải tuân theo quy định của pháp luật nhưng trên tinh thần không xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thông tin Đây có thể coi là kinh nghiệm quý báu đối với nước ta khi xây dựng các văn bản pháp luật chuyên ngành trong các lĩnh vực tương ứng để bảo vệ thông tin cá nhân cũng như quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật
Ngoài ra quyền bí mật đời tư còn được ghi nhận tại nhiều quốc gia khác trên thế
giới như: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: “ Quyền lợi của các công dân được đảm bảo về
bản thân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và tịch thu vô lý, sẽ không
bị xâm phạm và sẽ không bị trát khám nhà nào được cấp nếu không phải là có lí do chắc chắn, căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận cần nhất trát đó phỉa tả rõ nơi
và chốn phải khám xét và chỉ rõ người hay vật phải bắt giữ (Điều 4 - Hiến pháp Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ) Trung Quốc: “Công dân có quyền được tự do về ngôn luận, thư
tín, báo chí, hội họp, tuần hành, biểu tình, tự do bãi công, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng và tuyên truyền chủ nghĩa vô thần Tự do cá nhân của công dân và nhà ở của họ là bất khả xâm phạm Không một công dân nào có thể bị bắt nếu không
có quyết định của toà án, chứng nhận hoặc phê chuẩn của một cơ quan an ninh "
(Điều 28 - Hiến pháp CHND Trung Hoa)
Trên đây là một số quy định pháp luật về quyền bí mật đời tư của các quốc gia tiên tiến trên thế giới, hầu hết các nước đều có những ghi nhận về việc bảo hộ quyền này trong Hiến pháp, BLDS hoặc ban hành những đạo luật liên quan để bảo vệ quyền riêng tư Từ đó có thể thấy nhu cầu con người trong xã hội mới ngày càng được nâng cao thì nhu cầu bảo vệ bí mật đời tư ngày càng được quan tâm Việc tìm hiểu quyền bí mật đời tư của một số quốc gia trên thế giới có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về quyền bí mật đời tư theo quy định pháp luật Việt Nam
Trang 3532
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ VÀ
THỰC TIỄN BẢO VỆ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ Ở VIỆT NAM
3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BÍ MẬT ĐỜI TƯ
3.1.1 Thực trạng quy định pháp luật dân sự về quyền bí mật đời tư
Quyền bí mật đời tư là một quyền cơ bản của con người, lần đầu tiên được quy định một cách chính thức trong BLDS 1995, và sau này là trong BLDS 2005, tuy nhiên trước đó đã được ghi nhận một cách rải rác trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành, thậm chí trở thành một nguyên tắc hiến định
Nhưng, có thể thấy rằng trải qua các thời kỳ phát triển các bản Hiến pháp chỉ quy định việc bảo vệ bí mật đời tư công dân đối với thư tín, điện thoại, điện tín mà thôi, tức phạm vi quyền bí mật đời tư còn tương đối hẹp Đến Hiến pháp 2013 quyền bí mật đời
tư của cá nhân đã được tiếp cận theo một cách khác, mà theo đó, như Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định đã mở rộng hơn rất nhiều đối với quyền bí mật đời tư, không chỉ bao gồm thư tín, điện thoại, điện tín mà tất cả các vấn đề về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân và bí mật gia đình đều được pháp luật bảo vệ
Tiếp thu quan điểm tiến bộ này, BLDS 2015 (có hiệu lực từ 01/01/2017) được ban hành thay thế BLDS 2005 trước đây đã sửa đổi “Quyền bí mật đời tư” thành
“Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” cho phù hợp với quy định mới trong Hiến pháp Để tiện bề so sánh, chỉ ra điểm tiến bộ, hạn chế của điều luật, xin trích đăng cả hai quy định trong BLDS 2005 và BLDS 2015 như sau:
Điều 38 – BLDS 2005:
“1 Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
2 Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
3 Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.”
Trang 3633
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
3 Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử
và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định
4 Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Điểm tiến bộ của pháp luật
Như đã chỉ ra ở trên, tên điều luật đã được sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới, theo hướng mở rộng hơn về quyền bí mật đời tư, trên cơ sở đó nội dung được quy định tại các điều khoản cũng có nhiều thay đổi
Ở BLDS 2005 quyền bí mật đời tư của cá nhân “được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”, nhưng ở BLDS 2015 thì quyền đó không chỉ là được tôn trọng mà còn là quyền “bất khả xâm phạm” – tức là yêu cầu một sự tuyệt đối tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Tính chất bảo hộ, đảm bảo thực hiện cũng đã nâng cao chặt chẽ hơn
Khoản 2 Điều 38 BLDS 2015 đã bổ sung thêm hai hành vi được coi là xâm phạm bí mật đời tư, nếu trước đây chỉ giới hạn ở việc thu thập và công bố thông tin liên quan đến bí mật đời tư thì nay luật quy định ngoài thu thập, công khai (tiết lộ thông tin) còn có lưu giữ, sử dụng thông tin mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin, điều này góp phần làm rõ, chi tiết hơn phạm vi của các hành vi xâm phạm,
Trang 3734
hỗ trợ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Tòa án trong quá trình giải quyết tranh chấp liên quan quyền bí mật đời tư
Một quy định rất mới trong BLDS đó là ghi nhận “bí mật gia đình” bên cạnh
bí mật đời tư của cá nhân, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên của gia đình đồng ý, lý do chính là bởi vì có những thông tin không phải là bí mật riêng tư hoặc thuộc đời sống riêng tư không chỉ của riêng một cá nhân mà là của chung các thành viên trong cùng gia đình, quy định như vậy rất phù hợp vì tránh được sự bỏ ngỏ về quyền riêng tư của gia đình bên cạnh quyền riêng tư của cá nhân
Tại khoản 3 Điều 38 BLDS 2015, thay thế “các hình thức thông tin điện tử khác” bằng cụm từ “cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác”, đây là quy định kịp thời, phù hợp với thực trạng của xã hội, với sự phát triển của công nghệ thông tin, đưa thêm căn cứ để Nhà nước có thể xử lý các vụ việc xâm phạm bí mật đời tư qua cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác Nhất là trong bối cảnh nhiều nguồn thông tin không có sự chọn lọc được phát tán qua các kênh mạng thông tin, rất khó để xác định nguồn phát tán bởi sự rộng lớn của mạng toàn cầu, Internet đang là mảnh đất “béo bở” cho các thành phần xâm phạm đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình
Một điểm mới đáng lưu ý tại Khoản 4 Điều 38 đó là quy định về việc đảm bảo
bí mật riêng tư của cá nhân, gia đình trong trường hợp có các bên trong hợp đồng đã biết thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đối phương trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng nhưng không được phép tiết lộ Thông thường giữa những chủ thể này đã xác lập một quan hệ hợp đồng, giao dịch với chủ sở hữu thông tin Có thể nói quy định này siết chặt hơn quy chế bảo mật thông tin của khách hàng, đối tác vẫn lỏng lẻo lâu nay của chúng ta
Từ những phân tích trên cho thấy Nhà nước đã có sự quan tâm sâu sắc hơn đến quyền bí mật đời tư của cá nhân, BLDS mới bên cạnh tính kế thừa đã có những quy định chặt chẽ, nâng cao và mở rộng hơn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình