Để phân biệt sơn mài của làng nghề và sơn mài ƯD của các HS sáng tác một cách rõ ràng hơn trên phương diện lý luận, nghiên cứu sinh NCS chọn đề tài nghiên cứu Nghệ thuật sơn mài của các
Trang 1Nguyễn Thanh Giang
NGHỆ THUẬT SƠN MÀI ỨNG DỤNG
CỦA CÁC HỌA SỸ Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2020
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Nguyễn Lan Hương Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Nguyễn Văn Dương
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sản phẩm (SP) chất liệu sơn từ bao thế kỷ trước đã được sử dụng trong sinh hoạt đời sống, sơn được dùng trên các vật dụng và trong tín ngưỡng, tôn giáo, là những đồ thờ, tượng Phật, hoành phi, câu đối, cửa võng
Qua thời gian, lịch sử đã chứng minh đồ sơn gần gũi, gắn bó trong không gian đời sống, văn hóa của người Việt Cho đến thế kỷ XX, đồ sơn tiếp tục phát triển đa dạng hơn, gắn bó với xã hội, con người Việt Nam dưới hình thức là SP trang trí trong mỹ thuật ứng dụng (MTƯD)
và được xác định vai trò, vị trí, giá trị, đồng thời góp một phần không nhỏ để tạo nên nền tảng văn hóa truyền thống Giai đoạn đầu thế kỷ XX, chất sơn ta (sơn Phú Thọ) được phát triển, mở rộng để thành chất liệu mới trong hội họa tạo hình và các SP đồ sơn truyền thống chuyển sang hình thức mới với tên gọi là sơn mài ứng dụng (ƯD) Đặc trưng kế thừa của nghệ thuật sơn mài ƯD là một dòng chảy từ truyền thống, không đứt đoạn, chỉ chuyển khái niệm từ hàng hóa mỹ nghệ sang MTƯD, gắn bó trong đời sống và có yếu tố thẩm mỹ Nghệ thuật sơn mài ƯD ở Hà Nội được xác định là những SP sáng tạo bởi các HS được đào tạo chính quy
về mỹ thuật và MTƯD Đó là các SP sơn mài nghệ thuật, vừa là biểu tượng hàng hóa và cũng là biểu tượng văn hóa Hai chức năng này song hành phát triển để hình thành hai khuynh hướng sáng tạo của HS: SP được sáng tác đơn chiếc và SP là mẫu cho sản xuất
Trên thực tế, chúng ta được tiếp cận nhiều nhất là các SP thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu của làng nghề sơn mài Hạ Thái, Cát Đằng, Bối Khê… qua các hội chợ thủ công mỹ nghệ hoặc các gian hàng trưng bày
và ít có cơ hội tìm hiểu sơn mài qua bàn tay của các HS, bên cạnh các tác phẩm nghệ thuật đang có là tranh hội họa sơn mài Giữa người làm
Trang 4nghề và nghệ sĩ tạo hình sơn mài có sự giống và khác nhau, thường dễ
có sự nhầm lẫn, bởi vậy, cần có những phân định rõ SP sơn mài nghệ thuật với SP sơn mài là hàng hóa mỹ nghệ thông thường Để phân biệt sơn mài của làng nghề và sơn mài ƯD của các HS sáng tác một cách rõ ràng hơn trên phương diện lý luận, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài
nghiên cứu Nghệ thuật sơn mài của các họa sỹ ở Hà Nội là cần thiết
trong bối cảnh hiện nay
Cho đến nay, có nhiều học giả đã nghiên cứu về chất liệu sơn mài, sơn mài mỹ nghệ, tranh sơn mài hội họa, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, sâu rộng về nghệ thuật sơn mài được các
HS sáng tạo, đặc biệt là ở khu vực Hà Nội Một số những công trình nghiên cứu về nghề sơn, các đồ sơn trang trí, sơn mài ở các làng nghề truyền thống đã được đề cập trong các cuốn sách, kỷ yếu hội thảo cùng một số bài báo trong các tạp chí mỹ thuật, song sơn mài được sáng tác nhằm mục đích phục vụ cho đời sống, xã hội, vừa có vẻ đẹp nghệ thuật vừa hữu dụng của những HS được đào tạo ở các ngôi trường chính quy
về nghệ thuật và MTƯD vẫn còn là một khoảng trống còn ít được đề cập đến Vì vậy, dưới góc độ chuyên môn của ngành sơn mài, nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở khu vực Hà Nội cần được nghiên cứu
trên bình diện rộng và sâu Với việc chọn đề tài Nghệ thuật sơn mài ứng
dụng của các họa sỹ ở Hà Nội để làm luận án tiến sĩ, NCS mong muốn
bước đầu đưa ra cơ sở khoa học để nhìn nhận, đánh giá về hình thức, giá trị biểu hiện cũng như phong cách tạo hình và nghệ thuật sử dụng màu sắc, chất liệu của các HS ở Hà Nội Bên cạnh đó, với sự đa dạng của SP sơn mài trong các sáng tác nghệ thuật, trong MTƯD từ trước tới nay, cần thiết phải thấy được một bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển, các giai đoạn sáng tác, các tác giả có tên tuổi và những đóng góp nghệ thuật của họ ở từng thời điểm lịch sử Nghiên cứu là cần thiết để
Trang 5khẳng định giá trị SP sơn mài nghệ thuật của các HS ở Hà Nội trong một giai đoạn dài của lịch sử, từ năm 1930 đến năm 2015 Trên phương diện lý luận nghệ thuật, NSC mong muốn được đóng góp những nghiên cứu của mình trong lĩnh vực MTƯD nói chung và nghệ thuật sơn mài
ƯD ở Việt Nam nói riêng
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
mỹ, giá trị sử dụng của SP sơn mài được sáng tạo bởi các HS ở Hà Nội
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những tác giả và tác phẩm, SP sơn mài được sáng tác bởi các HS ở Hà Nội trong từng giai đoạn, bao gồm HS trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, HS được đào tạo tại trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp (MTCN) ở các thời kỳ và chứng minh những đặc điểm của ngôn ngữ trang trí, tạo dáng SP sơn mài giai đoạn từ năm
1930 đến trước năm 1985 và sau năm 1985 đến năm 2015
- Phân tích những loại hình SP, chức năng ƯD ở từng giai đoạn cũng như đặc điểm nghệ thuật được biểu hiện và những yếu tố khác có liên quan như khuynh hướng sáng tạo, kỹ thuật thể hiện và màu sắc chất liệu ở mỗi SP sơn mài của HS ở khu vực Hà Nội
- So sánh sự tương đồng và khác biệt giữa sáng tạo của các HS ở
Hà Nội với các SP làng nghề để nghiên cứu những đặc điểm chung và riêng biệt Từ đó, khái quát tính chất và khẳng định nghệ thuật sơn mài
ƯD là một dòng SP có thẩm mỹ và có giá trị trong dòng chảy của MTƯD Việt Nam
Trang 6- Chứng minh quá trình vận động, phát triển từ ngôn ngữ trang trí truyền thống đến các ƯD mới ở từng SP sơn mài của HS trong quá trình được đào tạo chuyên môn về mỹ thuật và MTƯD ở các trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và MTCN từng thời kỳ
- Khẳng định những đóng góp của HS ở Hà Nội đối với đời sống, trong lĩnh vực MTƯD nói chung cũng như đối với sự phát triển nghệ thuật sơn mài Việt Nam nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là SP sơn mài ƯD tiêu biểu của HS ở Hà Nội, trong đó NCS tập trung chủ yếu là SP ƯD của các HS thời kỳ trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trường MTCN trong các giai đoạn đào tạo ở hệ trung cấp, cao đẳng và đại học Bên cạnh đó còn nghiên cứu một số SP tiêu biểu của các nghệ nhân đã cộng tác giảng dạy kỹ thuật sơn mài ở Hà Nội Nghiên cứu SP sơn mài được trưng bày tại bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bảo tàng trường đại học MTCN, bảo tàng trường Trung cấp dạy nghề Tổng hợp Hà Nội, SP trưng bày trong các triển lãm MTƯD toàn quốc từ năm 2004 đến năm 2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu :
Phạm vi không gian: Nghiên cứu SP sơn mài nghệ thuật của các
HS ở khu vực Hà Nội qua các giai đoạn của hai trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và MTCN Không đi sâu nghiên cứu SP sơn mài ở các khu vực khác phía Bắc, hoặc các khu vực miền Trung và miền Nam
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu SP nghệ thuật sơn mài tiêu biểu
của các HS ở Hà Nội trong giai đoạn từ năm 1930 đến 2015 Bên cạnh
đó, luận án nghiên cứu SP sơn mài trong triển lãm MTƯD toàn quốc vào các năm 2004, 2009, 2014
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điền dã, khảo sát
Khảo sát thực địa tại nơi làm việc của các HS để tìm hiểu về chất liệu và kỹ thuật sơn mài trong quá trình lao động nghệ thuật của họ
Phương pháp tổng hợp, phân tích các dữ liệu: Thu thập các thông
tin từ nguồn tư liệu hình ảnh các SP của HS đã được chọn lọc trong khu vực Hà Nội
Phương pháp thống kê phân loại: Thu thập bằng số liệu cụ thể ở
từng loại hình và thể loại SP trong nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện các cuộc phỏng vấn trực
tiếp, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến từng cá nhân HS Phỏng vấn các lớp
HS kế cận, HS trẻ mới ra trường để tiếp nhận các thông tin mới
Phương pháp so sánh: So sánh, đối chiếu giữa các SP của các HS
với các SP của làng nghề
Phương pháp phân tích mỹ thuật học: Phân tích yếu tố trang trí,
ngôn ngữ tạo hình, kỹ thuật chất liệu và màu sắc sơn mài theo các tiêu
chí của mỹ thuật học ở từng SP
Phương pháp tiếp cận liên ngành: Áp dụng phương pháp luận
nghiên cứu sử học, văn hóa học, mỹ học, nghệ thuật học Nghiên cứu sử học để làm rõ lịch sử từ sơn trang trí cho đến sự phát triển của nghệ thuật sơn mài Nghiên cứu văn hóa học trên cơ sở biến đổi và giao lưu văn hóa nhằm bổ sung các quan điểm gìn giữ những giá trị truyền thống Nghiên cứu mỹ học nhằm khẳng định vẻ đẹp của SP trên phương diện thẩm mỹ đời sống Nghiên cứu nghệ thuật học để xây dựng những tiêu chí đánh giá đặc điểm nghệ thuật của SP sơn mài
Trang 85 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
1 HS ở khu vực Hà Nội đã sáng tạo các SP sơn mài để phục vụ đời sống, những nơi đào tạo cùng sự nghiệp sáng tác của họ như thế nào? Những yếu tố làm nên đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở Hà Nội?
2 SP sơn mài của các HS ở Hà Nội có được đánh giá như một tác phẩm nghệ thuật và được gọi chung là nghệ thuật ƯD không? Điều gì tạo nên giá trị cốt lõi SP sơn mài ƯD của các HS?
3 Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển cuộc sống hiện đại, sơn mài ƯD sẽ tiếp tục được duy trì như thế nào trong sự biến đổi
về kỹ thuật và chất liệu cũng như những yếu tố tác động trực tiếp đối với nghề sơn hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu
1 SP sơn mài của các HS ở khu vực Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 2015 là nghệ thuật sáng tạo thẩm mỹ và phục vụ đời sống SP của các HS là một dòng riêng không lẫn với các
SP làng nghề đang có trên thị trường Nghệ thuật sơn mài ƯD của các
HS ở Hà Nội có đặc trưng riêng ở tạo dáng, trang trí, màu sắc, kỹ thuật chất liệu kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, mang phong cách sáng tạo cá nhân Đó chính là những yếu tố làm nên đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài MTƯD
2 Các HS ở Hà Nội với khả năng sử dụng chất liệu sơn mài truyền thống đã tạo nên ngôn ngữ đặc trưng riêng, đóng góp cho sự phát triển của MTƯD ở Việt Nam Phong cách cá nhân được biểu hiện và SP sơn mài của các HS ở Hà Nội được đánh giá như một tác phẩm nghệ thuật, tạo nên dòng SP - nghệ thuật ƯD có phân khúc riêng Giá trị cốt lõi SP
Trang 9là chức năng ƯD trong đời sống ở mỗi thể loại, được biểu hiện trong ngôn ngữ điển hình theo tư duy thẩm mỹ của từng HS
3 Để duy trì và phát triển nghệ thuật sơn mài ƯD, các HS cần tiếp nhận các kỹ thuật và vật liệu mới song hành với bảo tồn kỹ thuật sơn mài truyền thống, được định hướng trên nền tảng kế thừa và phát triển những tinh hoa của các lớp HS đi trước trong nghệ thuật sử dụng chất liệu, trong các sáng tạo mới tùy theo từng không gian ƯD đòi hỏi SP có khả năng đáp ứng và mô hình sản xuất trực tiếp cần sự hỗ trợ của các mẫu TK hiện đại và mới mẻ
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp về lý luận
Luận án có sự kế thừa, phát triển những nghiên cứu lý luận của các tác giả đi trước về sơn mài Việt Nam nói chung, đồng thời đã đóng góp một khía cạnh khác là nghiên cứu sâu hơn những đặc điểm và giá trị SP sơn mài ƯD trong sự kế thừa và tiếp biến ngôn ngữ nghệ thuật trang trí truyền thống Đây là một sợi chỉ xuyên suốt giúp chỉ ra được những yếu tố điển hình nghệ thuật sơn mài ƯD dưới góc nhìn lý luận và lịch sử mỹ thuật
6.2 Đóng góp về thực tiễn
Là một giảng viên trực tiếp giảng dạy tại chuyên ngành sơn mài, trường đại học MTCN, NCS mong muốn nghiên cứu của mình là nguồn kiến thức đến với các lớp sinh viên, HS trẻ được đào tạo về thiết kế (TK) sơn mài, giúp tiếp cận và nắm bắt những khuynh hướng sáng tạo sơn mài MTƯD để đem đến giá trị nghệ thuật cùng sự kế thừa và phát huy những thành tựu mà các thế hệ HS đi trước đã tạo nên
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu (09 trang), Kết luận (05 trang), Tài liệu tham khảo (07 trang) và Phụ lục (68 trang), nội dung chính của luận án được
bố cục thành 03 chương
Trang 10Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát chung về nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở Hà Nội
(49 trang); Chương 2: Biểu hiện nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở Hà Nội (58 trang); Chương 3: Bàn luận về nghệ thuật sơn mài ứng dụng của các họa sỹ ở Hà Nội (41 trang)
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT SƠN MÀI ỨNG DỤNG
CỦA CÁC HỌA SỸ Ở HÀ NỘI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài
Những cây sơn ở Đông Dương của tác giả người Pháp là Ch.Crevost và cuốn Sơn và dầu sơn Bắc Bộ, Trung Quốc và Nhật Bản
của Moutier, Les Arts décoratifs au Tokin/ Nghệ thuật trang trí ở Xứ
Bắc của Marcel Bernanose, Nghệ thuật xứ An Nam của Henri Gourdon,
nhà xuất bản (Nxb) Thế giới là những ấn phẩm nước ngoài có nghiên cứu về sơn và chất liệu sơn được ƯD ở Việt Nam
1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Một số công trình nghiên cứu về nghề sơn
Nghề sơn cổ truyền Việt Nam của tác giả Lê Huyên, Vietnamese Lacquerware của tác giả Nguyễn Đăng Quang; Làng nghề thủ công mỹ nghệ miền Bắc của tác giả Trương Minh Hằng; Nghề sơn truyền thống tỉnh Hà Tây của tác giả Nguyễn Xuân Nghị; Làng nghề sơn quang Cát Đằng (truyền thống và biến đổi) của tác giả Nguyễn Lan Hương là các
cuốn sách tổng hợp những nét hoạt động nghề đặc trưng tại các làng nghề ở miền Bắc, những nghiên cứu đề cập đến lịch sử, hoạt động sản xuất SP sơn mài tại các làng nghề
Trang 111.1.2.2 Công trình nghiên cứu về kỹ thuật - chất liệu sơn mài và những yếu tố liên quan đến nghề sơn
Kỹ thuật sơn mài của Phạm Đức Cường, Kỷ yếu hội thảo Sơn ta và nghề sơn truyền thống Việt Nam của Trường đại học Mỹ thuật - Viện
Mỹ thuật, với nhiều bài hội thảo và những nhận định về kỹ thuật và chất liệu sơn mài có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
1.1.2.3 Công trình nghiên cứu về các họa sỹ
Họa sỹ Nguyễn Khang, Lê Quốc Lộc, Nguyễn Văn Y, những con đường kiến tạo nghệ thuật; Mỹ thuật ứng dụng Việt Nam đương đại - Vietnamese Contemporary Applied Arts; Sơn mài Phạm Hậu của kiến
trúc sư Phạm Gia Yên là những cuốn sách nói về các hoạt động sáng tạo
và các SP sơn mài của các HS Tuy nhiên chưa có nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật sơn mài ƯD của các HS ở Hà Nội
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 h i ni m ngh thuật s n mài ứng ụng
1.2.1.1 Khái niệm về mỹ thuật ứng dụng
Mỹ thuật ứng dụng: Chức năng của MTƯD là kết hợp các yếu tố
nghệ thuật với yếu tố vật liệu và công nghệ, để hình thành những SP mang tính thẩm mỹ, tính công năng
Mỹ thuật công nghiệp: Là một thuật ngữ được hình thành từ khi
trường đại học MTCN Halle, cộng hòa dân chủ Đức cộng tác với trường Trung cấp Mỹ nghệ trong mục đích trao đổi học tập đầu những năm
1960 MTCN có thể được coi là hoạt động đào tạo về MTƯD trong lĩnh vực TK SP với chức năng phục vụ đời sống ở các thể loại và loại hình
1.2.1.2 Sơn mài ứng dụng
Sơn trang trí: Đồ sơn đặc biệt phát triển rực rỡ trong giai đoạn thế
kỷ XVII - XIX với sự đa dạng và phong phú của nhiều chủng loại Có thể gọi các SP đó là sơn trang trí truyền thống
Trang 12Sơn mài: Từ sơn trang trí truyền thống, thay đổi kỹ thuật và thêm
các vật liệu khác hỗ trợ chuyển sang tên gọi mới là sơn mài Nghệ thuật
sơn mài ƯD: Là hoạt động sáng tạo SP với chất liệu sơn mài, có thể tạo
ra tác phẩm độc lập hoặc TK mẫu cho sản xuất và xuất khẩu SP sơn
mài ƯD: các SP được thể hiện qua bàn tay và tư duy TK của các HS
TK SP với chất liệu sơn mài được nhận định: nhằm tạo nên những SP
với sự đa dạng, phong phú về kiểu dáng và hình thức trang trí, vừa có giá trị nghệ thuật và có tính hữu dụng
1.2.2 Lý thuyết p ụng
1.2.2.1 Thuyết Ích mỹ: Để giải thích cái đẹp của kiến trúc, tác giả
Uông Chính Chương trong Cuốn Mỹ học kiến trúc, Nxb Xây dựng, năm
2002 có đưa ra các loại giải thích, trong đó có thuyết “Ích mỹ” với ý nghĩa đẹp và có ích lợi hiệu quả Thuyết “Ích mỹ” cần vận dụng để chứng minh sự kết hợp giữa vẻ đẹp của đồ vật và lợi ích sử dụng, liên
hệ với lý luận nghệ thuật sơn mài ƯD đây là một cơ sở lý thuyết phù hợp
1.2.2.2 Hệ thống lý luận về Lịch sử, Phương pháp luận Design:
Cơ sở phương pháp luận design của Lê Huy Văn giúp bổ trợ cho tạo hình với ý nghĩa là tạo dáng công nghiệp, biểu hiện cụ thể phương diện của MTƯD và vấn đề này được khoa học hóa để trở thành những
nguyên lý cơ bản trong quan điểm về TK SP
1.2.2.3 Các quan điểm Hình thái học nghệ thuật: Giúp khẳng định
khái niệm sơn mài ƯD là các SP trang trí trong không gian, là nghệ thuật tĩnh, bao gồm các vật thể có thể tích, tạo nên những biểu cảm, mang ngôn ngữ trang trí của đường nét và màu sắc Từ khái niệm đó sẽ giúp chứng minh đặc trưng, tính chất của SP sơn mài
1.2.3 Một số lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.3.1 Những điểm tương đ ng và khác biệt giữa mỹ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng
Trang 13Có thể so sánh giữa nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật ƯD trên cả
ba phương diện: Nguyên lý sáng tạo, phương thức thể hiện và giá trị SP
để thấy rõ những sự tương đồng và khác biệt Mỹ thuật tạo hình xây dựng cá tính của nghệ sỹ, MTƯD cần sáng tạo của nghệ sỹ để làm phong phú cuộc sống trên mọi vật liệu và chất liệu
1.2.3.2 Về hình thức trang trí nói chung
Dựa trên quan điểm Hình thái học nghệ thuật, sơn mài ƯD được
định nghĩa với có tính chất tạo nên các SP không gian, là nghệ thuật tĩnh, bao gồm các vật thể có thể tích, tạo nên những biểu cảm, mang ngôn ngữ trang trí của đường nét và màu sắc là những đồ vật trong không gian, thoát ly với nghệ thuật miêu tả mới thích hợp với ngôn ngữ chất liệu sơn, với tạo dáng và màu sắc của sơn mài
1.2.3.3 Sự tương đ ng và khác biệt sản phẩm sơn mài ở các làng nghề và sơn mài ứng dụng của các họa sỹ Hà Nội
Sự tương đ ng: Hai dòng SP đều bao gồm các thể loại: khay, hộp,
lọ, đĩa, bát, tranh trang trí, chân đèn, bình phong… theo các chức năng
ƯD riêng
Sự khác biệt: SP xuất khẩu của các làng nghề có chất lượng không
đồng đều, một vài SP với thẩm mỹ chưa cao Sự khác nhau trên phương diện mẫu mã SP cũng tạo nên sự khác biệt khá rõ nét SP sơn mài MTƯD của các HS luôn đề cao ý tưởng sáng tạo, kiểu dáng và hình thức trang trí
1.3 Khái quát về sản phẩm sơn mài ứng dụng của các họa sỹ
từ năm 1930 đến năm 2015
1.3.1 Giai đoạn t năm 1930 đến trước năm 1945
Tiêu biểu trong giai đoạn từ năm 1930 đến trước năm 1945 phải kể đến sơn mài Phạm Hậu Phạm Hậu là một người đầu tiên tổ chức sản xuất SP sơn mài theo hợp đồng được nhận từ thầy Tardieu Ông Tardieu
đã tìm đến Đông Ngạc để chuyển cho Phạm Hậu hợp đồng của hãng