1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Khả Năng Thay Thế Bột Cá Bằng Bột Đậu Nành Có Bổ Sung Acid Amin Làm Thức Ăn Cho Cá Tra

49 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mức thay thế bột cá bằng bột đậu nành có bổ sung thêm acid amin làm thức ăn cho cá tra Pangasianodon hyphthalmus giai đoạn giống dựa trên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ THÚY AN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ BỘT CÁ BẰNG

BỘT ĐẬU NÀNH CÓ BỔ SUNG ACID AMIN

LÀM THỨC ĂN CHO CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KHÓA 32

2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

NGUYỄN THỊ THÚY AN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THAY THẾ BỘT CÁ BẰNG

BỘT ĐẬU NÀNH CÓ BỔ SUNG ACID AMIN

LÀM THỨC ĂN CHO CÁ TRA

(Pangasianodon hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN KHÓA 32

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS TRẦN THỊ THANH HIỀN

KS NGUYỄN HOÀNG ĐỨC TRUNG

2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn cô Trần Thị Thanh Hiền, anh Nguyễn Hoàng Đức Trung và anh Lê Quốc Phong đã hướng dẫn nhiệt tình và tận tâm đóng góp nhiều ý kiến hay góp phần giúp cho đề tài của em hoàn chỉnh hơn

Em cũng gữi lời cám ơn đến các anh chị cao học khóa 14 và các bạn lớp nuôi trồng thủy sản khóa 32 khoa Thủy Sản – ĐHCT đã động viên, chia sẽ nhiều vấn đề trong suốt quá trình học tập cũng như là quá trình làm đề tài tốt nghiệp

Cuối cùng em xin gữi lời cám ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Thủy sản đặc biệt là thầy cố vấn Nguyễn Văn Kiểm và thầy Phạm Minh Thành Cám ơn quý thầy cô đã truyền đạt cho em những kiến thức và những kinh nghiệm quý báo mà em đã học được trong suốt thời gian học tập ở trường

Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, anh chị và các bạn để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mức thay thế bột cá bằng bột đậu

nành có bổ sung thêm acid amin làm thức ăn cho cá tra (Pangasianodon hyphthalmus) giai đoạn giống dựa trên kết quả tăng trưởng, hiệu quả sử dụng

thức ăn và thành phần hóa học của cá Cá tra giống có khối lượng ban đầu là 4,2 g/con được nuôi trong bể 60 lít có hệ thống nước chảy tràn và sục khí với mật độ 30 con/bể Cá được cho ăn thức ăn có hàm lượng protein bột cá sẽ thay thế bởi hàm lượng protein của bột đậu nành và bổ sung thêm Lysine (20,3 g/kg thức ăn tương ứng 53,5 g/kg protein) và Methionin (10,1 g/kg thức ăn tương ứng 26,7 g/kg protein) còn thiếu trong bột đậu nành so với nhu cầu của

cá tra Tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành lần lượt là 60%, 70%, 80%, 90%, 100% và một nghiệm thức đối chứng sử dụng hoàn toàn bột cá làm thức

ăn cho cá tra Sau 6 tuần thí nghiệm, tỷ lệ sống của cá đều đạt 100% ở các nghiệm thức, nghiệm thức thay thế 70% bột đậu nành cho tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra tốt nhất Thành phần hóa học của cá sau thí nghiệm không bị ảnh hưởng bởi tỷ lệ thay thế bột cá bằng bột đậu nành, ngoại trừ hàm lượng tro giảm dần cùng với việc tăng tỷ lệ bột đậu nành trong thức

ăn Hệ số HIS không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p>0,05)

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN I 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dụng đề tài 2

1.4 Thời gian thực hiện 2

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 3

2.1.1 Đặc điểm phân loại 3

2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng 3

2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.2 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn 4

2.2.1 Nhu cầu Protein 4

2.2.2 Nhu cầu acid amin 6

2.2.3 Nhu cầu Lipid 8

2.2.4 Nhu cầu cacbohydrat 9

2.2.5 Nhu cầu Vitamin và khoáng 9

2.3 Tình hình nghiên cứu khả năng sử dụng bột đậu nành làm thức ăn cho cá 11

2.3.1 Khả năng sử dụng nguồn protein bột đậu nành làm thức ăn cho cá 11

2.3.2 Những nghiên cứu bổ sung acid amin (Methionine và Lysine) vào thức ăn cho cá 12

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Vật liệu nghiên cứu 14

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 14

3.2.1 Hệ thống thí nghiệm 14

3.2.2 Thức ăn thí nghiệm 14

3.2.3 Bố trí thí nghiệm 15

3.2.4 Chăm sóc và quản lý 15

3.2.5 Phương pháp thu và phân tích mẫu: 16

3.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá 16

3.3 Xử lý số liệu 17

Trang 6

PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

3.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học thức ăn thí nghiệm 18

4.2 Các yếu tố môi trường thí nghiệm 18

4.3 Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm 19

4.3 Sự sinh trưởng của cá Tra 20

4.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn 24

4.5 Thành phần hóa học của cá tra 28

4.6 Hệ số HSI (Hepatic Somatic Index) 29

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31

5.1 Kết Luận 31

5.2 Đề Xuất 31

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH VÀ BẢNG

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng đặc biệt của cá qua 6 tuần thí nghiệm………….25

Hình 2: Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá tra……… 29

Bảng 1: Nhu cầu protein của cá tra theo giai đoạn phát triển……… 7

Bảng 2: Nhu cầu acid amin (% protein) của một số loài cá………8

Bảng 3: Thành phần hóa học của thức ăn………21

Bảng 4: các chỉ tiêu sinh trưởng của cá tra……… 24

Bảng 5: Hệ số chuyển hóa thức ăn của cá tra……… 28

Bảng 6: Thành phần hóa học của cá trước và sau thí nghiệm……….31

Bảng 7: Hệ số HIS của cá tra thí nghiệm………33

Trang 8

DANH SÁCH PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Các yếu tố môi trường thí nghiệm 36

Phụ lục 2: Các chỉ tiêu sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau 37

Phụ lục 3: Các hệ số chuyển hóa thức ăn của cá 38

Phụ lục 4: Hệ số HIS của cá 39

Phụ lục 5: Thành phần hóa học của cá sau thí nghiệm 40

Phụ lục 6: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 40

Trang 9

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Giới thiệu

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng thủy

sản được nuôi phổ biến nhất ở các tỉnh ĐBSCL như An giang, Đồng tháp, Cần thơ, Vĩnh long, do có giá trị kinh tế cao và được thị trường nước ngoài ưa chuộng nên nó góp phần đáng kể trong việc tăng kim ngạch xuất khẩu cho nước ta Trong những năm qua, nghề nuôi cá tra phát triển rầm rộ làm cho sản lượng cá tra tăng nhanh một cách đột biến Theo ước tính của bộ nông nghiệp

và phát triển nông thôn tháng 7 năm 2008 (Đề án – Cá tra, 2008) sản lượng cá tra năm 2004 đạt 272 nghìn tấn nhưng đến năm 2007 đạt tới 1 triệu tấn và sản phẩm cá tra xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD chiếm 27% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành thủy sản của cả nước Bên cạnh việc phát triển đột biến, hai năm gần đây nghề nuôi cá tra đã và đang thể hiện sự thiếu bền vững do nhiều nguyên nhân như cung vượt quá cầu, nuôi theo phong trào, chi phí đầu tư cao thêm vào đó lãi xuất ngân hàng ngày càng tăng Do đó, để tối ưu hóa năng suất và lợi nhuận, phát triển bền vững nghề nuôi cá tra cần phải cải tiến kỹ thuật nuôi cũng như nghiên cứu về đối tượng này kĩ hơn Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2008) chi phí đầu tư nuôi cá tra rất lớn, trung bình là 4,5 tỉ đồng/ha, trong đó chi phí đầu tư cho thức ăn chiếm tỉ lệ cao khoảng 60-70% tổng chi phí sản xuất Chính vì thế, nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn cho cá tra trong tình hình hiện nay là rất cần thiết do thức ăn

là một trong những nhân tố quyết định năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh

tế của nghề nuôi

Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật nên trong khẩu phần ăn của cá tra nguồn protein động vật thường chiếm tỷ lệ rất cao hơn 50% lượng thức ăn Nguồn protein phổ biến nhất sử dụng chế biến thức ăn thủy sản là bột cá bởi đây là nguồn nguyên liệu giàu protein, vitamin và có đầy đủ các acid amin thiết yếu Tuy nhiên sản lượng bột cá ngày càng trở nên khang hiếm và giá thành tăng cao làm tăng chi phí đầu tư sản xuất của người nuôi, trong khi giá cá tra lại thường xuyên lại ở mức thấp làm cho lợi nhuận của người nuôi rất hạn chế, có khi bị lỗ Để giảm giá thành thức ăn có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm thay thế protein bột cá bằng các loại protein thực vật Trong số các loại protein thực vật, bột đậu nành là nguồn protein tốt nhất thay thế cho protein bột cá trong thức ăn ĐVTS do có nhiều protein, khoáng, vitamin, acid amin giá thành lại rẻ và nguồn cung ổn định (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

Trang 10

Tuy nhiên, trong protein thực vật thường thiếu hai acid amin thiết yếu là Methionin và Lysine Do đó, để sử dụng hiệu quả bột đậu nành đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc thay thế protein bột cá bằng protein bột đậu nành có bổ sung thêm acid amin trên cá rô phi (Polat, 1999), cá trơn Nam Phi (Boua và ctv, 2008), Đối với nhóm cá da trơn thuộc giống Pangasianodon hiện chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu khả năng thay thế thay thế bột cá bằng bột đậu nành có bổ sung thêm acid amin

(Lysin và Methionine) cho cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đoạn

giống” là rất cần thiết

1.2 Mục tiêu đề tài

Mục tiêu lâu dài: Xây dựng tiêu chuẩn công thức thức ăn cho cá tra đảm bảo thành phần dinh dưỡng nhằm tối ưu hóa năng suất và lợi nhuận cho người nuôi

Mục tiêu cụ thể: Xác định mức thay thế bột cá bằng bột đậu nành khi có bổ sung acid amin vào thức ăn cho cá tra nhằm tăng hiệu quả sử dụng bột đậu nành, giảm giá thành thức ăn và tăng lợi nhuận

1.3 Nội dụng đề tài

- Xác định tốc độ tăng trưởng của cá khi sử dụng thức ăn có bổ sung acid amin với lượng protein bột cá được thay thế bằng protein bột đậu nành theo tỷ lệ khác nhau

- Hiệu quả sử dụng thức ăn của cá khi sử dụng bột đậu nành có bổ sung acid amin

- Thành phần hóa học của cá trước và sau thí nghiệm

1.4 Thời gian thực hiện

Từ tháng 08/2009 đến tháng 05/2010

Trang 11

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra

2.1.1 Đặc điểm phân loại

Hiện nay có 11 loài trong họ Pangasiidae được tìm thấy ở Việt Nam, trong đó

có hai loài nuôi rất phổ biến là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá basa (Pagasius bocourti) Hệ thống phân loại của cá tra được xác định như sau

Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)

Cá tra có đầu rộng dẹp bằng, miệng rộng, dãy răng hàm trên hoàn toàn bị che khuất bởi hàm dưới khi miệng khép lại Có 2 đôi râu ( râu hàm tên và hàm dưới) Thân thon dài, phần thân dẹp bên Đường bên hoàn toàn và bắt đầu phân nhánh từ mép trên của lỗ mang đến điểm giữa gốc đuôi

Về màu sắc, thân có màu xám hơi xanh trên lưng, hai bên hông hơi sáng, bụng

có màu trắng bạc, dưới vây bụng hới vàng Vây lưng và vây đuôi có màu xám đen, cuối vây đuôi màu hơi đỏ

2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có khả năng sống rất tốt trong điều kiện ao tù nước động, nhiều bùn bã hữu cơ, có hàm lượng oxy hòa tan thấp và có thể nuôi ở mật độ rất cao Cá có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài Cá ương trong ao 2 tháng đạt chiều dài 10 - 12 cm (14 – 15 g) Trong ao nuôi, sau

6 tháng cá có thể đạt trọng lượng 1 - 1,2 kg/con và những năm sau cá lớn nhanh hơn, có thể đạt 2 - 3 kg/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của cá tra phụ thuộc vào điều kiện môi trường, mật độ thả nuôi, đặc biệt là số lượng và chất lượng của thức ăn sử dụng (Dương Nhựt Long, 2003)

Trang 12

2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tra là loài cá ăn tạp thiên về động vật Cá tra sau khi hết noãn hoàng thích

ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng có thể ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và sẽ

ăn nhau khi không cung cấp đủ thức ăn, do đó để tránh hao hụt do ăn lẫn nhau trong bể ấp cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương Ngoài ra, khi khảo sát cá vớt trên sông, thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể của cá con khác Dạ dày cá hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục, dạ dày to, ruột ngắn là những đặc điểm của cá thiên về ăn thịt Trong quá trình ương nuôi lên cá giống, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa

cỡ miệng của chúng và thức ăn nhân tạo Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy, ăn thiên về động vật, tuy nhiên chúng cũng dễ chuyển đổi thức ăn Theo Dương Nhựt Long (2003), trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi chúng có thể sử dụng các loại thức ăn như cá tạp, rau, tấm cám

2.2 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng của cá da trơn

2.2.1 Nhu cầu Protein

Protein là thành phần chất hữu cơ chính của cơ thể ĐVTS chiếm khoảng 60 – 75% trọng lượng khô của cơ thể Protein có nhiệm vụ là xây dựng nên cấu trúc

cơ thể Protein trong thức ăn cung cấp các amino acid nhờ quá trình tiêu hóa

và phân hủy Trong ống tiêu hóa, các amino acid được hấp thu vào máu và đi đến các mô, cơ quan, tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein của cơ thể, phục vụ cho quá trình sinh trưởng, sinh sản và duy trì cơ thể sinh vật

Theo Lê Đức Ngoan (2008) nhu cầu protein cho tăng trưởng của ĐVTS cao hơn động vật có vú 4 lần, gà 2 lần Nhu cầu protein của các loài cá thường dao động trong khoảng 25-55%, trung bình là 30% (Trần Thị Thanh Hiền, 2009) Nhu cầu protein của một số loài cá da trơn cho thấy nhu cầu của cá nheo Mỹ

từ 32 – 36% (cỡ 7g), cá trê trắng (Clarias batrachus) cỡ 0,1g là 30%, cá trê phi (Clarias gariepinus) cỡ 40g từ 30 - 40% Theo Trần Thị Thanh Hiền

(2004) nhu cầu protein thích hợp cho cá tra và cá basa cỡ từ 2 - 3 g/con lần lượt là 38% và 35%, cỡ 5 - 6 g/con lần lượt là 32,2% và 27,8% Còn đối với cá basa cỡ nhỏ từ 6 - 17 g/con và cỡ lớn hơn 75 - 81 g/con thì nhu cầu protein cho sinh trưởng tối đa tương ứng là 36,7% và 34,9% (Nguyễn Thanh Phương

và ctv., 1998)

Nhu cầu protein của cá giảm cùng với sự tăng kích cỡ và độ tuổi của cá Cá ở giai đoạn nhỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh nên nhu cầu protein cao hơn so với

Trang 13

cá lớn Nhu cầu protein của cá tra giống là 34 - 36%, trong khi cá tra >500g là

24 - 26% Thêm vào đó, nghiên cứu trên cá tra giai đoạn 150g sử dụng thức ăn

có hàm lượng đạm 35% cho sinh trưởng tốt nhất

Bảng 1: Nhu cầu protein của cá tra theo giai đoạn phát triển

* Nguồn Glencross et al.,2007; trích bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2009

Đối với cá tra giống cỡ nhỏ 2g/con thì nhu cầu protein cho tăng trưởng tối đa

là 40.5% khoảng thích hợp cho cá sinh trưởng tốt, giảm giá thành sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế là 29 - 33% (Trần Thị Thanh Hiền, 2003) Theo Dương Nhựt Long (2003), thức ăn có hàm lượng protein thích hợp cho giai đoạn nuôi cá tra thịt dao động từ 18 - 28%

Theo Halver và Ronald (2002) nhu cầu protein của cá cũng giảm theo kích cỡ

và độ tuổi Người ta đã thực nghiệm trên cá trơn Mỹ nhu cầu protein giảm khi

độ tuổi tăng, như cá vừa ăn thức ăn bên ngoài nhu cầu protein là 58%, cá đạt 0,2 g nhu cầu 55%, cá 1.7 g nhu cầu 54%, cá cỡ 3 – 5 g nhu cầu 46 – 50 g, cá

14 – 100 g là 35%, 500 g là 25% Và mức protein tối ưu cho cá hồi giống là 40%, cá trưởng thành 1 tuổi là 35% ( Hardy, 1989 trích dẫn bởi Thái Thị Thanh Thúy, 2009)

Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009), khi động vật thủy sản sử dụng thức ăn không có protein thì cơ thể sẽ giảm khối lượng, bởi vì chúng sẽ sử dụng protein của cơ thể để duy trì các chức năng hoạt động tối thiểu của cơ thể để tồn tại Ngược lại, nếu thức ăn được cung cấp quá nhiều protein thì protein dư không được cơ thể hấp thu để tổng hợp protein mới, mà sử dụng để chuyển hóa thành năng lượng hoặc thải ra ngoài Thêm vào đó, cơ thể còn phải tốn năng lượng cho quá trình tiêu hóa protein dư thừa, vì thế sinh trưởng của cơ thể giảm Do đó, trong công thức thức ăn có hàm lượng protein cao vượt quá nhu cầu, sẽ làm tăng giá thành thức ăn và lãng phí protein không cần thiết Năng lượng và protein có một tác động qua lại ảnh hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng protein Tác động tương hỗ giữa protein và năng lượng trên tăng trưởng do tác động chia sẽ nhu cầu protein của năng lượng thức ăn Cá trơn Mỹ tăng trưởng nhanh nhất khi thức ăn chứa 36 - 40% protein với mức

Trang 14

năng lượng (14,7 – 17,1 MJ/kg) và tỉ lệ P/E thay đổi từ 19 - 23 Theo Page và Andress (1973) (trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008) cũng ghi nhận trên cá trơn

Mỹ, cá có kích thước lớn thì nhu cầu protein thấp và nhu cầu về năng lượng cao Do đó, tỷ lệ P/E sẽ thay đổi theo tuổi cá, cá càng lớn thì tỉ lệ P/E có khuynh hướng nhỏ đi Riêng cá basa, tỉ lệ P/E trong khoảng 14 – 15 rất thấp là trường hợp đặc biệt Điều này cho thấy cá basa có một cơ chế đặc biệt sử dụng năng lượng thức ăn rất cao do loài cá này có một lượng lipid dự trữ rất lớn

2.2.2 Nhu cầu acid amin

Trong thức ăn thủy sản, người ta không chỉ quan tâm đến hàm lượng protein

mà còn đặc biệt chú ý đến các acid amin tham gia cấu tạo nên protein (đặc biệt

là thành phần và tỷ lệ các acid amin thiết yếu trong protein) Nhu cầu về acid amin thiết yếu được nghiên cứu rất nhiều và đến nay nhu cầu các acid amin thiết yếu đã được xác định trên một số loài cá như hai loài cá chép Ấn độ, cá nheo mỹ, hai loài cá hồi (Chinook và Chum), cá chình nhật và cá rô phi Bảng 2: Nhu cầu acid amin (% protein) của một số loài cá

Acid amin thiết yếu Cá nheo Mỹ Cá chình Nhật Cá rô phi Cá chép

٭ Nguồn Guillaume et al., 2001 trích bởi Trần Thị Thanh Hiền (2009)

Những nghiên cứu về acid amin thiết yếu cho thấy, trong nguồn thức ăn cung cấp thường thiếu Methionine, Phenylanin, Trytophan và một số protein thực vật thì lại thiếu Lysine Trong các acid amin thiết yếu, Methionine và Phenylanin có quan hệ mật thiết với acid amin không thiết yếu tương ứng là Cystine và Tyrosine Trong thức ăn thủy sản, Cystine có thể thay ½ nhu cầu Methionine (Cystine và Methionine là 2 acid amin có cùng S) Ở cá nheo mỹ, Cystine có thể thay thế 60% Methionine Tyrosine có khả năng thay thế 30%

Trang 15

nhu cầu của Phenylanin ( 2 acid này có cung gốc phenyl ) (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

Hai acid amin thường được xem là thiết yếu giới hạn là Lysine và Methionine Methionine là một acid amin thiết yếu thường thiếu trong tất cả các loại thức

ăn ngoại trừ bột cá Lysine là một acid amin thiết yếu khó được tiêu hóa, đặc biệt là Lysine thực vật khó tiêu trên cá chép, cá hồi Trong quá trình chế biến thức ăn, khâu gia nhiệt tạo phản ứng Millard giữa gốc amin của Lysine và Aldehyt của nhóm cacbohydrat tạo một phức hệ khó bị phân hủy bởi enzyme tiêu hóa

Nhu cầu Lysine xuất hiện trong phạm vi từ 40 đến 55 g/kg protein và đã được xác định trên 15 loài cá (Halver et al, 2002) Chẳng hạn như nhu cầu Lysine của cá chẽm 45g/kg protein (Murillo-Gurrea et al, 2001) và nhu cầu Lysine của cá freshwater catfish là 34,7 g/kg protein cho hiệu quả tăng trưởng, hiệu quả thức ăn tốt (Tantikitti & Chimsung, 2001) Nhu cầu Lysine và Arginine tối ưu cho cá sống và tăng trưởng là 20,6 g/kg thức ăn khô (45 g/kg protein) và 18,2 g/kg thức ăn khô (38,5 g/kg protein) (Murillo-Gurreal, 2001) Tuy nhiên

theo Zhou (2007) nghiên cứu trên cá bớp giống (Rachycentrong canadum) về

nhu cầu Lysine là 23,3 g/kg thức ăn khô (53 g/kg pro tein) cho sự tăng trưởng,

và chỉ số gam/ khối lượng cơ thể cũng ảnh hưởng có ý nghĩa so với mức Lysine khác nhau, nồng độ Lysine trong huyết tương tăng khi mức Lysine cho

ăn trong thức ăn tăng từ 1,15 – 2.38% Cá chép có nhu cầu mức Lysine cao hơn so với cá loại cá khác, ở mức độ là 57 g/kg protein và 62 g/kg cho cá catla

ấn độ Đối với cá hồi mức độ Lysine chiếm tới 6,1% khẩu phần protein cho cá giống, và cá trưởng thành thì mức độ Lysine giống nhau (trích bởi Thái Thị Thanh Thúy, 2009)

Acid amin tồn tại dưới 2 dạng là D và L, hầu hết các loài ĐVTS sử dụng hiệu quả acid amin dạng L, ngoại trừ Methionin thì có thể sử dụng cả 2 dạng là D

và L Ở cá hồi Rainbow trout khi thiếu Methionine cá sẽ bị bệnh đục nhân mắt (Poston et al, 1977) Người ta quan sát bệnh đục nhân ở mắt cá hồi trên thức

ăn là protein đậu nành, bệnh này đã được ngăn chặn khi bổ sung Methionine trong thức ăn (Cowey et al, 1992) Nói chung hàm lượng Methionine yêu cầu cần thiết cao để ngăn chăn mầm bệnh này với phạm vi 20-30 g/kg protein (trích bởi Thái Thị Thanh Thúy, 2009)

Theo Fagbenro (1998) nghiên cứu trên cá trê phi (Clarias griepinus), nhu cầu Methionin được đánh giá ở mức 32 g/kg protein Đối với cá chép ấn độ (Labeo rohita) nhu cầu acid amin có nguồn gốc lưu huỳnh (metionine và cystine) lần

lượt là 28,8 g/kg protein thức ăn và 32,3 g/kg protein thức ăn (Murthy và

Trang 16

Varghese, 1998) (trích bởi Thúy, 2009) Còn đối với cá chép thì nhu cầu Methionine cao hơn cá chình và đòi hỏi khoảng 31g Methionine/kg protein , 20g Cystine /kg protein (NRC, 1983)

Theo nghiên cứu của Thái Thị Thanh Thúy (2009) hàm lượng Lysine và Methionine trong thức ăn cá tra giống là 53,5g lysine/kg protein và 26,7 g Methionine /kg protein đáp ứng nhu cầu cho sự tăng trưởng của cá với hàm lượng đạm trong thức ăn là 38%

2.2.3 Nhu cầu Lipid

Lipid là một trong những thành phần sinh hóa cơ bản của động thực vật Lipid đóng vai trò quan trọng như là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng (8 - 9kcal/g) và các acid béo cần thiết trong thức ăn cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản Lipid trong thức ăn đóng vai trò như là chất vận chuyển vitamin tan trong dầu và sterols Ngoài ra, trong thành phần của lipid có phosphollipid và sterol ester tham gia vào quá trình sinh tổng hợp màng tế bào

Chất lượng của lipid được đánh giá dựa vào thành phần và hàm lượng axit béo trong thức ăn So với các thành phần khác trong thức ăn như protein và cacbohydrat, lipid trong thức ăn có độ tiêu hóa cao, trung bình 85-90%, thường được bổ sung vào thức ăn cho nhiều loài cá, đặc biệt là cá ăn động vật (NRC, 1993)

Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, yêu cầu về acid béo cần thiết, nhu cầu về phospholipid và cholesterol, đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài Theo Trần Thị Thanh Hiền (2009) đối với cá nước ngọt hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài, tuy nhiên mức đề nghị từ 6-10% Nhu cầu lipid của cá rô đồng được xác định là 6%, cá nheo mỹ

có thể sử dụng từ 7-10% Đối với cá biển đặc biệt là cá biển ôn đới, lipid trong thức ăn chiếm từ 15-20%

Ngoài ra, nhu cầu lipid còn phụ thuộc rất lớn hàn lượng và chất lượng protein, năng lượng và chất lượng cacbohydrat do chúng có tác dụng chia sẽ năng lượng với lipid Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương (1999) trên cá basa cho thấy thức ăn chứa 7,7% lipid cho cá sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhưng cá sẽ giảm tăng trưởng khi lipid tăng từ 11,3-20,8% Thêm vào đó, hàm lượng cacbohydrat và lipid trong thức ăn cho cá basa được khuyến cáo với tỉ lệ là 35,5% cacbohydrat và 7,7% lipid Đối với cá hồi, theo kết quả thí nghiệm cho thấy khi bổ sung lipid trong thức ăn tăng từ 14% lên 20%

Trang 17

2.2.4 Nhu cầu cacbohydrat

Cacbohydrate là nguồn nguyên liệu cung cấp năng lượng rẻ tiền nhất cho động vật thủy sản nên khi phối trộn vào thức ăn với tỷ lệ thích hợp sẽ tiết kiệm protein, giảm được giá thành thức ăn mà vẫn đảm bảo được sinh trưởng của

cá Cacbohydrate chiếm tỉ lệ trên 75% ở thực vật, trong khi ở động vật hiện diện với số lượng nhỏ và khi cơ thể thừa cacbohydrat thì sẽ tích lũy chúng dưới dạng glucogen Carbohydrate là một trong những thành phần cấu tạo tổ chức cơ thể như glucoprotein có trong màng tế bào Trong công nghệ chế biến thức ăn, cacbohydrat đóng vai trò là chất kết dính quan trọng

Khả năng tiêu hóa cacbohydrat biến động rất lớn giữa các loài và phụ thuộc vào thành phần của cacbohydrat trong nguyên liệu Theo NRC (1993) những loài cá ăn tạp thiên về thực vật có khả năng sử dụng cacbohydrat tốt hơn những loài cá ăn đông vật Theo nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền (2003) trên 3 loài cá: cá tra, basa, cá hú cho thấy khả năng sử dụng cacbohydrat thích hợp cho tăng trưởng như sau: cá hú (5,1 g), cá tra (2,9 g), cá basa (5,13 g) lần lượt là: 35%, 30 - 45% và 20 - 45% Cá basa có khả năng sử dụng mức cacbohydrat và lipid thích hợp nhất tương ứng là: 35,5% và 7,7% (Nguyễn Thanh Phương, 1999) Theo Lê Thanh Hùng (2008) khả năng sử dụng cacbohydrat của cá basa cao hơn cá tra và đã xác định hàm lượng cacbohydrat tối ưu trong thức ăn của cá basa là 40% trong khi cá tra chỉ 20% Tuy nhiên, hàm lượng mỡ trong cơ thể cá sẽ tăng theo mức tăng của cacbohydrat trong thức ăn

Khả năng sử dụng cacbohydrat phụ thuộc rất nhiều vào trọng lượng phân tử, cấu tạo các nối đôi của cacbohydrat Các loại đường đơn dễ tiêu hóa hơn các loại đường đôi và nhóm không đường như tinh bột, dextrin Ở cá hồi khả năng

sử dụng glucose tốt nhất trong khi ở cá chép thì hiệu quả sử dụng tinh bột lại tốt nhất (Trần Thị Thanh Hiền, 2009) Khả năng tiêu hóa cacbohydrat còn phụ

thuộc vào tính chất nguyên liệu, thực nghiệm cho thấy cá hồi (Salmon gairdneri) cho ăn tinh bột bắp với lượng thức ăn tăng dần từ 10,3-40% trọng

lượng thân thì độ tiêu hóa giảm xuống lần lượt là 36, 28, 22% (NRC, 1993) Ngoài ra, theo nghiên cứu của Lê Thành Vinh (2008) khi sử dung khoai ngọt

để thay thế nguồn cung cấp chất bột đường, các loại thức ăn có cùng mức protein là 35% trên cá tra (18,3 - 18,6 g) kết quả cho thấy khi thế 75% khoai ngọt thì sinh trưởng của cá tốt nhất

2.2.5 Nhu cầu Vitamin và khoáng

Vitamin đóng vai trò quan trọng trong thành phần dinh dưỡng của động vật thủy sản từ khi nghề nuôi thủy sản thâm canh ra đời Tuy vitamin chiếm một tỉ

Trang 18

lệ rất nhỏ từ 1 - 2% trong thức ăn nhưng có vai trò quyết định trong qua trình trao đổi chất của cơ thể và chi phí có thể lên đến 15% trong khẩu phần ăn (Trần Thị Thanh Hiền, 2009)

Động vật thủy sản không có khả năng hay khả năng tổng hợp vitamin rất ít không đủ cho nhu cầu nên việc bổ sung vitamin vào trong thức ăn là rất cần thiết Thức ăn không được cung cấp đầy đủ vitamin thì sẽ làm giảm sinh trưởng, tỷ lệ sống giảm và khả năng chịu đựng của động vật thủy sản với sự biến động của môi trường

Nhu cầu vitamin đã được nghiên cứu trên một số đối tượng như: cá hồi, cá chép, cá nheo mỹ và một số loài tôm biển (Nguồn Halver và Hardy (2002) trích bởi Trần Thị Thanh Hiền 2009) Trong các loại vitamin, vitamin C được tập trung nghiên cứu do có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất, tham gia vào quá trình sinh trưởng và phát triển của ĐVTS Vitamin C giúp tăng cường các phản ứng miễn dịch và sức đề kháng bệnh của tôm cá do việc tạo thành collagen và tổng hợp Corticosteroids Nhu cầu vitamin của cá trê phi

(Clarias gariepirus) là 45 mg/kg, khi thức ăn thiếu vitamin C sẽ gây một số

dấu hiệu bệnh: có sự rạn nức, xuất huyết ở đầu và ăn mòn vây, mõm, mang (Ega, 1996, trích bởi Trần Thị Thanh Hiền, 2009) Theo Li và Lovell (1985) hàm lượng vitamin C cần thiết cho cá Nheo mỹ dao động trong khoảng từ 500-1000 mg/kg thức ăn (trích bởi Thái Thị Thanh Thúy, 2009) Tuy nhiên, vitamin C thường tan nhanh trong nước và bị phân hủy ở nhiệt độ cao 60oC,

để hạn chế người ta dùng ethylcellulose hoặc dùng dầu để bao lấy các hạt vitamin C

Muối khoáng là những chất vô cơ rất cần thiết đối với cá, chúng có vai trò quan trọng là xây dựng nên cấu trúc bộ xương của cơ thể và giúp cân bằng áp suất thẩm thấu giữa dịch cơ thể với môi trường ngoài Đến nay, người ta đã xác định được 11 nguyên tố cần thiết cho cá da trơn, bao gồm 7 nguyên tố khoáng vi lượng (sắt, chì, đồng, mangan, iod, cobalt và selenium) và 4 nguyên

tố khoáng đa lượng (canxi, phospho, magiê, kali)

Cá có thể hấp thu một số muối khoáng trực tiếp từ môi trường nước thông qua việc hấp thu qua mang, da,… nên rất khó xác định nhu cầu chính xác về muối khoáng cho cá, đặc biệt là khoáng vi lượng Cá nheo Mỹ có thể hấp thu canxi từ môi trường nước đủ đáp ứng nhu cầu (Robinson, 1989, trích bởi Trần Thị

Thanh Hiền và ctv., 2003), hay cá biển có thể hấp thu magiê, kali, natri,

chloride… từ nước, không cần bổ sung vào thức ăn Trong điều kiện môi trường thiếu một số muối khoáng làm cho cá xuất hiện những dấu hiệu bất thường, nên cần phải bổ sung muối khoáng vào thức ăn Cá da trơn sẽ sinh trưởng chậm và tỉ

Trang 19

lệ chết cao khi môi trường thiếu Mg, nhu cầu Mg của cá trơn Mỹ là 0,04 g/kg

thức ăn, cá chình (Anguiila anguiila) là 0,14 g/kg thức ăn Trong thức ăn, canxi

và phospho thường được bổ sung vào với tỷ lệ 1:1 hoặc 2:1 Trên thực tế, để tránh hiện tượng thiếu muối khoáng, các nhà sản xuất cần bổ sung khoáng Premix từ 0,5 - 2% trong thức ăn

2.3 Tình hình nghiên cứu khả năng sử dụng bột đậu nành làm thức ăn cho cá

2.3.1 Khả năng sử dụng nguồn protein bột đậu nành làm thức ăn cho cá

Trong số các nguồn cung cấp protein thực vật, bột đậu nành là nguồn protein thực vật tốt nhất về hàm lượng protein và các acid amin thiết yếu, được xem là nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá tốt nhất trong thức ăn động vật thủy sản Bột đậu nành được sử dụng làm thức ăn cho động vật thủy sản hiện nay chủ yếu là bột đậu nành ly trích dầu có hàm lượng protein khoảng 47 – 50%, lipid không quá 2% (Trần Thị Thanh Hiền, 2009) Hơn nữa, bột đậu nành có thể kháng được với các vi sinh vật như nấm và vi khuẩn chống lại quá trình oxy hóa, hư hỏng nên rất dễ bảo quản

Các nhà nghiên cứu đã sử dụng protein bột đậu nành để thay thế protein bột cá

và đạt được những kết quả khác nhau trên nhiều loài cá Nghiên cứu trên cá

hồi cầu vòng giống (Oncorhynchus mykiss) cỡ trung bình 12 g/con cho thấy có

thể sử dụng 25% bột đậu nành ly trích dầu + 15% bột bắp thay thế cho 40% bột cá trắng trong thức ăn thì cá đạt tăng trưởng tốt nhất trong 7 tuần thí

nghiệm, nghĩa là thay thế được 63% bột cá trắng (Pongmaneerat và ctv., 1992) Đối với cá rô phi (Oreochromis niloticus) thức ăn thay thế 47% bột cá

bằng bột đậu nành cho kết quả tốt nhất về tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Solaiman, 2002) Theo Lê Thanh Hùng (2008), cá chép có tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của hai loại thức ăn là 45% bột đậu nành + 10% bột cá và 20% bột đậu nành + 22% bột cá là như nhau Đối với cá

mú chấm đen giống (Epinerphelus malabaricus) có thể thay thế đến 20% bột cá

bằng bã dầu đậu nành, tuy nhiên ở mức thay thế 16,63-17,75% cá sinh trưởng

và hiệu quả sử dụng protein là tối ưu (Lê Anh Tuấn, 2006)

Tùy theo loài và giai đoạn phát triển mà tỉ lệ bột cá sử dụng trong công thức thức ăn khác nhau Tỷ lệ bột cá hiện tại giới hạn trong mức thấp nhất là 5% cho

cá da trơn đến 60% trong thức ăn của cá biển Trong nghiên cứu về khả năng thay thế bột cá bằng bột đậu nành cho cá lóc đen cho thấy khi giảm tỉ lệ bột cá trong công thức thức ăn thì sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá giảm

có ý nghĩa (Hiền et al., 2009) Thí nghiệm của Lâm Đăng Khoa (2005) trên cá

Trang 20

rô đồng (Anabas testudineus) cho thấy có thể thay thế 40% bột cá trong công thức thức ăn Đối với cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) mức thay thế

protein bột cá bằng protein bột đậu nành trong công thức thức ăn là 80% (Huỳnh Nguyễn Bình khang, 2008)

2.3.2 Những nghiên cứu bổ sung acid amin (Methionine và Lysine) vào thức ăn cho cá

Thay thế nhiều hàm lượng bột cá bằng Bột đậu nành rất có ý nghĩa trong việc giảm giá thành sản xuất và nâng cao lợi nhuận cho người nuôi Tuy nhiên, hàm lượng các acid amin nhóm sulfur (methionine + cystine) trong bột đậu nành thường bị giới hạn cho hầu hết các loài cá Protein bột đậu nành thiếu methionie + cystine và threonine cho cá chình, thiếu methionine + cystine cho cá rô phi

(Tilapia nilotica) Lysine là một acid amin thiết yếu khó được tiêu hóa, đặc

biệt là lysine thực vật khó tiêu trên cá chép, cá hồi Ở cá hồi Rainbow trout khi thiếu methionin cá sẽ bị bệnh đục nhân mắt (Poston et al, 1977) Người ta quan sát bệnh đục nhân ở mắt cá hồi do thức ăn là protein đậu nành, bệnh này

đã được ngăn chặn khi bổ sung methionine trong thức ăn (Cowey et al, 1992) Nói chung hàm lượng Methionine yêu cầu cần thiết cao để ngăn chặn mầm bệnh này với phạm vi 20-30 g/kg protein (trích bởi Thái Thị Thanh Thúy, 2009) Vì vậy, nhiều nghiên cứu về hiệu quả của việc bổ sung methionine và lysine vào trong thức ăn khi sử dụng bột đậu nành thay thế bột cá ở các loài thủy sản đã được nghiên cứu

Nghiên cứu của Khan (2003) trên cá Rôhu (Labeo rohita) giai đoạn giống

(4,07 g/con) với 4 nghiệm thức sử dụng các loại thức ăn khác nhau là bột cá, bột đậu phộng, bột đậu nành và bột hạt cải Kết quả cho thấy sử dụng bột đậu nành thay thế bột cá có bổ sung thêm L–Methionine tinh khiết với lượng 250 g/kg bột đậu nành cho tốt độ tăng trưởng và hiệu quả sử dung thức ăn tốt hơn Ngoài ra, có thể thay thế bột cá hoàn toàn bằng bột đậu nành nếu có bổ sung thêm Methionine và khoáng với mức độ thích hợp Đối với cá bơn Nhật

(Paralichthys olivaceus) giai đoạn giống cỡ 11g khi thay thế bột cá bằng hỗn

hợp bánh dầu bông vải và bột đậu nành trong 9 tuần Kết quả cho thấy khi bổ sung thêm acid amin (Lysine và Methionine) sẽ thay thế được 40% bột cá trong thức ăn Tuy nhiên, thay 20% protein bột cá bằng 9,4% bánh dầu bông vải và 8,7% bột đậu nành cho hiệu quả tối ưu (Pham, 2007)

Thí nghiệm của Solaiman (2002) trên cá rô phi khi bổ sung acid amin với liều lượng 0,5% có thể cải thiện được tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng protein nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với không bổ sung acid amin Khi bổ sung 0,25% và 1% L–Lysine và DL–Methionine thì không cải

Trang 21

thiện được sinh trưởng và hiệu quả sử dụng protein Ngoài ra, thí nghiệm của

Webster (2000) đối với cá nheo xanh (Ictalurus furcatus) khi sử dụng thức ăn

22% protein có bổ sung thêm methionine hoặc lysine cũng không cải thiện được

sinh trưởng Còn đối với cá nheo mỹ (I punctatus) thì tăng trưởng tốt với thức

ăn 32% đạm khi có bổ sung thêm Methionine và Lysine tinh khiết Thí nghiệm

trên cá tráp đỏ (Pagrus major) thay thế 52% bột cá bằng hỗn hợp đậu nành cô

đặc (Soy protein concentrate) có bổ sung thêm L-Lysine, DL-Methionine, và cá

2 loại acid amin này Kết quả nghiệm thức có bổ sung cá 2 loại acid amin Lysine và DL-Methionine cho tăng trưởng của cá tốt nhất Theo Polat (1999),

L-bổ sung methionine vào trong thức ăn của cá rô phi (Tilapia zilli) khi thay thế

bột cá bằng bột đậu nành trong 62 ngày với các mức là 0,5%, 1%, 1,5%, 2%

và 2,5% Methionine Kết quả cho thấy tỷ lệ tăng trưởng và hệ số biến đổi thức

ăn (FCR) của cá rô phi đạt tốt nhất khi bổ sung 0,5% methionine vào thức ăn

Việc bổ sung methionine vào trong thức ăn của cá trơn phía Nam (Silurus meridionalis) khi thay thế bột cá bằng bột đậu nành có thể cải thiện được tốc độ

tăng trưởng của cá ở mức thay thế cho bột cá là 39% (Ai và Xie, 2005)

Khả năng thay thế của bột cá cho bột đậu nành khi có bổ sung acid amin cũng tùy theo tính ăn của loài mà có thể thay thế ở các mức độ khác nhau Đối với

loài ăn tạp như cá Lóc (Channa striata) thì mức thay thế bột đậu nành cho bột

cá là 30% khi có bổ sung thêm Lysine và methionine (Phan Hồng Cương, 2009) trong khi đó mức thay thế bột đậu nành ở các loài cá ăn tạp cao hơn cá ăn động

vật Đối với cá rô phi (Oreochromis niloticus) mức bột cá trong thức ăn được

thay thế 47% bột đậu nành cho kết quả tốt nhất về tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, nếu thay thế lên mức 59% thì tốc độ tăng trưởng sẽ giảm (Solaiman, 2002) Theo Mcgoogan và Gatlin (1997) nghiên cứu trên cá Red

drum (Sciuenops ocellatus) thì bột đậu nành có thể chiếm tỷ lệ cao hơn và lên

đến 90% trong công thức thức ăn, nếu bổ sung 2% glycine thì tỷ lệ bột đậu nành có thể tăng lên 95%

Tóm lại, theo các kết quả nghiên cứu trên nhiều loài cá thì hiệu quả sử dụng protein bột đậu nành sẽ tốt hơn khi thức ăn có bổ sung thêm Lysine và Methionine do cải thiện được tốc độ tăng trưởng, hiệu quả sử dụng protein và giảm giá thành sản xuất thức ăn Chính vì vậy, việc sử dụng protein bột đậu nành có bổ sung thêm Lysine và Methionine thay thế cho bột cá trong thức ăn của cá tra là rất khả quan và có ý nghĩa rất lớn trong nghề nuôi cá tra hiện nay

Trang 22

PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) được mua tại trại sản xuất giống nhân

tạo ở Cần Thơ Cá được chọn đồng cỡ, không nhiễm bệnh, không dị tật và xây xát, có khối lượng trung bình khoảng 5g/con Cá được thuần cho quen với điều kiện thí nghiệm và được tập ăn thức ăn viên khoảng 1 tuần trước khi bố trí thí nghiệm

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Bể nhựa nuôi cá trong suốt quá trình thí nghiệm 100L

Bể composite 2m3 (1 cái)

Hệ thống máy bơm và sục khí

Máy đo oxy, pH, nhiệt kế …

Các dụng cụ, thiết bị phân tích các chỉ tiêu dinh dưỡng trong phòng thí nghiệm (tủ nung, tủ sấy, tủ đông, máy công phá đạm, ) tại khoa Thủy Sản – Đại học Cần thơ

Nguyên liệu làm thức ăn cho cá : bột cá, bột đậu nành, acid amin,… Dụng cụ và thiết bị chế biến thức ăn

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 23

g/kg protein) còn thiếu trong bột đậu nành so với nhu cầu của cá tra Nghiệm thức đối chứng (0% bột đậu nành) không bổ sung Lysine và Methionine Bảng 3 : tỷ lệ thành phần các nguyên liệu trong công thức thức ăn

Thức ăn thí nghiệm (% bột đậu nành) Nguyên liệu

(Cho 100g thức ăn) 0% 60% 70% 80% 90% 100%

Bột cá* 41,78 16,76 12,58 8,39 4,20 0,00 Bột đậu nành** 0,00 35,61 41,56 47,52 53,49 59,46 Cám sấy 15,00 15,00 15,00 15,00 15,00 15,00 Bột mì tinh 35,72 25,12 23,35 21,58 19,81 18,03

Ghi chú: (*) Bột cá: bột cá nhập khẩu từ Chilê

(**) Bột đậu nành: bột đậu nành ly trích dầu

(***) CMC (Carboxyl methyl cellulose): chất kết dính.

3.2.3 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức thức ăn có cùng mức đạm 38% CP Một nghiệm thức đối chứng sử dụng hoàn toàn là protein bột cá (FM), các nghiệm thức còn lại sẽ sử dụng hàm lượng protein bột đậu nành để thay thế hàm lượng protein bột cá trong công thức thức ăn với mức độ thay thế 60%, 70%, 80%, 90%, 100% (mỗi bước nhảy thay thế là 10%) Thêm vào đó, bổ sung lượng acid amin (Lysine và Methionin) còn thiếu trong bột đậu nành theo nhu cầu của cá Tra (53.5 g Lysine/kg protein và 26.7 g Methionine/kg protein )

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần Cỡ cá thí nghiệm trung bình khoảng 5g/con Mật độ cá thí nghiệm 30 con/bể Thời gian thí nghiệm kéo dài suốt 6 tuần

3.2.4 Chăm sóc và quản lý

Hệ thống bể thí nghiệm được bố trí với hệ thống sục khí, cấp nước chảy tràn,

vệ sinh bể khi bể dơ Hàng ngày đo nhiệt độ nước, quan sát hoạt động của cá, định kỳ vệ sinh bể 2 tuần/lần Phương pháp cho cá ăn ở các thí nghiệm đều giống nhau, cho ăn 2lần/ngày (sáng 9h và chiều là 16h), cho ăn theo nhu cầu của cá Lượng thức ăn được ghi nhận hàng ngày

Trang 24

3.2.5 Phương pháp thu và phân tích mẫu:

Các yếu tố môi trường

Nhiệt độ: đo 2 lần/ngày bằng nhiệt kế (sáng 7h và chiều 14h), đo hàng ngày

Oxy: đo bằng máy đo oxy 1 lần/tuần

pH: đo bằng máy đo pH 1 lần/tuần

Các chỉ tiêu dinh dưỡng

Xác định tăng trưởng của cá khi kết thúc thí nghiệm bằng cách cân khối lượng toàn bộ cá thí nghiệm ở mỗi bể Trước khi tiến hành thí nghiệm bắt ngẫu nhiên

20 con cá đầu vào, sau khi kết thúc thí nghiệm thu 10 - 15 con/bể để phân tích thành phần hóa học của cá Mẫu cá được bảo quản lạnh bằng tủ đông để phân tích

Phân tích thành phần hóa học của thức ăn và cơ thể cá bao gồm các chỉ tiêu:

ẩm độ, tro, lipid thô, protein thô, xơ và cacbohydrat Mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm dinh dưỡng của khoa thủy sản - ĐHCT

- Ẩm độ: được xác định theo nguyên tắc sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt

độ 1050C sau 4-5 giờ đến khi trọng lượng ổn định Sự chệch lệch trọng lượng mẫu trước và sau khi sấy chính là độ ẩm

- Tro: được xác định bằng cách đốt cháy mẫu và nung trong tủ nung ở nhiệt độ 5600C thời gian 4 giờ, các chất hữu cơ có trong mẫu sẽ bị oxy hóa thành các chất bay hơi CO2, N2 và hơi nước, phần vô cơ còn lại là tro Quá trình này hoàn tất khi mẫu có màu trắng hoặc màu xám

- Lipid thô: thủy phân trong Chlorofrom bằng hệ thống Solex

- Protein thô: xác định theo phương pháp Kjedahl

- Chất xơ: xác định bằng cách thủy phân mẫu trong dung dịch acid và bazơ loãng, xơ thô là phần còn lại trong 2 dung dịch này

- Hàm lượng cacbohydrat (NFE): được xác định theo phương pháp loại trừ:

% NFE = 100% - ( % protein + % lipid + % xơ + % tro )

3.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá

a./ Tăng trọng (Weight Gain - WG)

WG = Wt – Wo

Ngày đăng: 09/11/2020, 22:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm