1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo Sát Sự Biến Động Một Số Yếu Tố Chất Lượng Nước Trong Ao Nuôi Cá Sặc Rằn Tại Ấp Mỹ Phụng

81 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH SÁCH BẢNG Bảng 2.1: Hàm lượng NH3 cho phép trong thủy vực Bảng 2.2: Tỉ lệ phần trăm của H2S\Tổng sulfide theo pH và nhiệt độ Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phân tích và phương pháp thu, bảo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

PHÊ DUYỆT LUẬN VĂN Cần Thơ, 5/2010

Trang 2

Luận văn kèm theo đây, với tựa đề là “Khảo sát biến động một số yếu tố chất lượng nước trong ao nuôi cá Sặc rằn ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ”, do Lê Minh Tấn thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua

Cán bộ hướng dẫn Cán bộ phản biện Cán bộ phản biện

TS Nguyễn Văn Công ThS Lê Anh Kha ThS Nguyễn Thị Như Ngọc

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Văn Công và anh Trần Sỹ Nam

đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt khoá học Đặc biệt, quý thầy cô trong bộ môn Khoa Học Môi trường - Trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình chú Nguyễn Văn Sáu và Lê Văn Năm

ở ấp Mỹ Phụng – xã Mỹ Khánh – huyện Phong Điền - Thành Phố Cần Thơ đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin cảm ơn các bạn lớp Môi trường khoá 32 đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên tôi trong suốt quá trình học và góp phần vào sự thành công của đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Lê Minh Tấn

Trang 4

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Hình 2.2 Cá Sặc rằn

Hình 3.1: Sơ đồ thu mẫu

Hình 4.1: Biến động nhiệt độ theo thời gian

Hình 4.2: Biến động pH theo thời gian

Hình 4.3: Biến động DO theo thời gian

Hình 4.4: Biến động NH4+ theo thời gian

Hình 4.5: Biến động NH3 theo thời gian

Hình 4.6: Biến động hàm lƣợng NO2- theo thời gian

Hình 4.7: Biến động hàm lƣợng NO3- theo thời gian

Hình 4.8: Biến động hàm lƣợng H2S theo thời gian

Hình 4.9: Biến động hàm lƣợng PO43- theo thời gian

Hình 4.10: Biến động độ trong theo ngày thu mẫu

Hình 4.1: Biến động nhiệt độ theo ngày thu mẫu

Hình 4.12: Biến động pH theo ngày thu mẫu

Hình 4.13: Biến động DO theo ngày thu mẫu

Hình 4.14: Biến động hàm lƣợng NH4+ theo ngày thu mẫu

Hình 4.15: Biến động hàm lƣợng NH3 theo ngày thu mẫu

Hình 4.16: Biến động hàm lƣợng NO2- theo ngày thu mẫu

Hình 4.17: Biến động hàm lƣợng NO3- theo ngày thu mẫu

Hình 4.18: Biến động hàm lƣợng H2S theo ngày thu mẫu

Hình 4.19 Biến động hàm lƣợng PO43- theo ngày thu mẫu

Trang 5

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Hàm lượng NH3 cho phép trong thủy vực

Bảng 2.2: Tỉ lệ phần trăm của H2S\Tổng sulfide theo pH và nhiệt độ Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phân tích và phương pháp thu, bảo quản mẫu nước Bảng 4.1: Đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu khảo sát cho mục đích nuôi cá

Trang 6

Chương 1

MỞ ĐẦU

n Thơ sản lượng năm 2008 đạt 181.743 tấn (Tổng cục thống kê, 2009)

qui mô gia

Mỹ Phụng là một trong những ấp nghèo của xã Mỹ –

trường và tài nguyên thiên nhiên – Đại học Cần Thơ thực hiện mô hình phát triển

lượng nước trong ao nuôi cá Sặc rằn ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ” đã được

Trang 7

Theo dõi biến động nhiệt độ, độ trong, pH, DO, NH3, NH4+, NO2-, H2S,

PO43- và NO3- trong ao nuôi cá Sặc rằn theo chu kỳ thay nước

Theo dõi biến động nhiệt độ, pH, DO, NH3, NH4+, NO2-, H2S, PO43- và

NO3-trong ao nuôi cá Sặc rằn theo chu kỳ ngày đêm

Trang 8

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về điều kiện kinh tế - xã hội ấp Mỹ Phụng

Ấp Mỹ Phụng thuộc xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ, đựoc tách ra từ ấp Mỹ Long vào đầu năm 2008 Ranh giới Mỹ Phụng (Hình 2.1) bao gồm:

- Phía Đông giáp Rạch Sắn

- Phía Tây giáp Rạch Cùng

- Phía Nam giáp kinh Sáu Sáng

- Phía Bắc giáp Rạch Ngã Cái

Hình 2.1: Bản đồ ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành

phố Cần Thơ

Ấp Mỹ Phụng có tổng diện tích đất tự nhiên là 160 ha Trong đó, đất vườn chiếm 71%, đất ruộng chiếm 21% và đất sử dụng cho mục đích khác chiếm 8% tổng diện tích đất Toàn ấp có 272 hộ với 1.137 nhân khẩu Trong đó, hộ vừa có vườn và ruộng chiếm 19%, hộ chỉ có vườn chiếm 74% và hộ không có đất sản xuất chiếm 7% tổng số hộ

N

Trang 9

nghèo chiếm 8% trong tổng số hộ dân của ấp (Báo cáo của UBMTTQVN xã Mỹ Khánh ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng, 2008 ) Các hoạt động sinh kế chủ yếu của các nông hộ ở ấp Mỹ Phụng gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và dịch

vụ buôn bán nhỏ

Đặc điểm ao nuôi thuỷ sản ở Mỹ Phụng:

 Hình dạng ao: có thể thiết kế ao với nhiều hình dạng khác nhau, vì hình dạng ao không phải là yếu tố quyết định đến đời sống của cá Tuy nhiên, ao nuôi thường có hình chữ nhật là thích hợp cho quá trình thi công, quản lý và đánh bắt

Ao hình chữ nhật thường chọn chiều dài lớn 4 - 6 lần chiều ngang

 Diện tích và độ sâu: tuỳ vào mục đích sủ dụng, chi phí xây dựng và đối tượng nuôi mà ao có độ sâu và diện tích thích hợp Ao có diện tích nhỏ nhất là 10

m2 và lớn nhất 2800 m2 Thôn thường ao nuôi cá ở Mỹ Phụng có diện tích từ 100 – 500 m2

và độ sâu dao động 1- 3 m (Trần Hồng Điệp, 2009)

 Bờ ao: có nhiệm vụ là giữ nước, giữ cá và dễ dàng lưu thôn để quản lý

Do đó bờ ao phải vững chắc, không sụp lỡ Tuỳ vào cá nuôi và nhiệm vụ của bờ

ao mà có bề rộng, độ dốc và cao thích hợp Ao nuôi cá ở Mỹ Phụng có bờ ao dao động từ 0,5 – 10 m (Phan Trung Hiếu, 2009) nên hạn chế sụp lỡ trong mùa mưa,

lũ và đi lại thuận tiện

Mặc dù Mỹ Phụng là vùng ven thành phố Cần Thơ nhưng rất gần với nhiều trung tâm khoa học kỹ thuật quan trọng như Trường Đại Học Cần Thơ, Đại Học Tây Đô, các Sở và Trung Tâm Chuyển Giao Khoa Học Kỹ Thuật cấp Thành Phố…nhưng công tác khuyến nông chưa được triển khai đến người dân nhiều Đây là vấn đề mà các cấp chính quyền địa phương cần phải quan tâm nhằm giúp nông hộ tiếp cận và ứng dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất (Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009)

2.2 ột số yếu tố lý - hóa nuôi thủy sản 2.2.1 Độ trong

Độ trong của nước là khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nước (Trương Quốc Phú, 2008) Độ trong của nước là một trong những yếu tố quan trọng có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của thực vật phù du Khi độ trong thấp, lượng ánh sáng xâm nhập vào thủy vực ít, cường độ quang hợp của thực vật phù

du giảm Theo Trương Quốc Phú (2008), khi độ trong thấp cá khó hô hấp cường

độ bắt mồi giảm nhưng độ trong quá cao, nước nghèo dinh dưỡng, sinh vật phù

du phát triển kém, hạn chế thành phần thức ăn tự nhiên của cá, năng suất cá nuôi giảm Do đó độ trong là chỉ tiêu để đánh giá sơ bộ mức độ dinh dưỡng của thuỷ vực, đặc biệt là thủy vực nuôi những loài cá ăn thức ăn tự nhiên là chủ yếu

Trang 10

Độ trong thích hợp cho cá nuôi là từ 20 - 30cm (Trương Quốc Phú, 2008)

2.2.2 Nhiệt độ

Nhiệt độ trong các thủy vực được sinh ra chủ yếu từ nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời Ngoài ra, còn sinh ra trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơ

và vô cơ trong nước và nền đáy của thủy vực nhưng năng lượng này không đáng

kể so với năng lượng mặt trời (Trương Quốc Phú, 2008)

Nhiệt độ trong thủy vực thay đổi theo vị trí địa lý, theo mùa, theo thời tiết

và chu kỳ ngày đêm Cường độ chiếu sáng càng lớn thì nhiệt độ trong nước càng cao Nhiệt độ trong thủy vực thấp nhất vào buổi sáng lúc 2 – 5 giờ, cao nhất vào buổi chiều 14 – 16 giờ Sự gia tăng nhiệt độ trong nước sẽ đẩy mạnh tiến trình phân hủy các chất hữu cơ và các chất ô nhiễm khác (Lê Văn Khoa, 1995)

Cá chịu đựng kém với sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ Thôn thường sự thay đổi nhiệt độ đột ngột khoảng 30

C – 40C sẽ gây sốc và chết sinh vật (Trương Quốc Phú, 2008) Nhiệt độ trong môi trường nước có thể làm tăng, giảm hay không ảnh hưởng đến độc tính của độc chất, tùy thuộc vào loại độc tố, loài sinh vật, tùy thuộc điều kiện cụ thể của từng trường hợp, giải thích cho ảnh hưởng của nhiệt độ lên độc tính của chất độc là do nhiệt độ làm tăng quá trình ion hoá, giải phóng độc tố dưới dạng không liên kết, dễ xâm nhập qua màng tế bào (Lê Huy

Bá, 2000) Qua đó nhiệt độ nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của cá

Nhiệt độ thích hợp cho cá Sặc rằn phát triển từ 24 - 300C, mặt khác cá còn

có thể chịu đựng được nhiệt độ 11 - 390C (Dương Nhựt Long, 2003) Nếu nhiệt

độ môi trường giảm xuống dưới 100C hoặc tăng hơn 400C thì cá sẽ chết

CO2, CO2 phản ứng với nước tạo ra H+ Ngược lại, quá trình quang hợp được thực vật hấp thu CO2 làm pH tăng dần, khi CO2 tự do hòa tan trong nước bị hấp thu hoàn toàn thì pH tăng lên 8,34 (Trương Quốc Phú, 2008) Quá trình này có thể được tóm tắt như sau:

C6H12O6 + O2 → CO2 +H2O + Q

Trang 11

H2CO3 =H+ + HCO-3 2HCO-3 → CO2 + CO3- + H2O Ban ngày có ánh sáng, thực vật quang hợp làm pH trong thủy vực tăng,

pH đạt giá trị cao nhất vào 14 – 16 giờ Ban đêm pH giảm đến mức thấp nhất là

do quá trình hô hấp làm tăng hàm lượng CO2 và pH thấp nhất vào lúc 6:00 sáng

Sự thay đổi pH trong nước có thể làm thay đổi thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, hoặc thúc đẩy hay ngăn chặn các phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước (Đặng Kim Chi, 1999)

pH là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của thuỷ sinh vật Theo Trương Quốc Phú (2008), tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước giữa cơ thể thuỷ sinh vật với môi trường ngoài và pH

có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá Do vậy, pH là một trong những nhân tố quyết định giới hạn phân bố của các loài thuỷ sinh vật

Theo Đinh Minh Tuấn, 2005 (trích dẫn Swingle 1969) thì ảnh hưởng của

pH trong môi trường nước đến cá nuôi như sau:

Cá sống trong môi trường pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu pH quá thấp cá

sẽ không đẻ hay đẻ rất ít pH còn ảnh hưởng gián tiếp qua thức ăn làm giảm năng suất nuôi (Trương Quốc Phú, 2008)

Khoảng pH thích hợp cho đa số các loài cá nuôi là 6,5 - 9 và tốt nhất là 7 Khoảng pH thích hợp cho ao nuôi cá nước ngọt là 6,5 - 8,5 (TCVN 6774 – 2000) Theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (2000), cho biết: cá Sặc rằn có thể chịu được

pH = 4,5

2.2.4 Oxy hòa tan (DO)

Oxy hòa tan trong nước chủ yếu là do khuếch tán từ không khí vào, đặc biệt là các thủy vực nước chảy Ngoài ra oxy hòa tan trong nước còn do sự quang

Trang 12

hợp của thực vật trong nước, quá trình này thường diễn ra mạnh trong các thủy vực nước tĩnh (Trương Quốc Phú, 2008)

Oxy trong môi trường nước được tiêu thụ trong quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật, quá trình oxy hoá các chất hữu cơ và vô cơ trong thuỷ vực Oxy rất cần thiết cho quá trình hô hấp của thuỷ sinh vật, oxy giảm thì các hoạt động sống trong nước cũng giảm, lượng thức ăn mà chúng sử dụng cũng giảm, nếu lượng oxy trong các thuỷ vực giảm xuống còn 0,5 ppm thì có nhiều thuỷ sinh vật chết (Dương Nhựt Long, 2003) Oxy có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của cá Hàm lượng oxy hoà tan phụ thuộc vào lượng chất thải nạp, mật độ cá, lượng bùn lắng ở đáy ao, nhiệt độ,…

Sự hoà tan oxy vào nước chỉ đến một giới hạn nhất định gọi là độ bão hoà Mức độ bão hoà DO vào khoảng 14 – 15 mg/l trong nước sạch ở 0oC Nhiệt độ càng tăng, DO trong nước càng giảm và bằng 0 mg/l ở 100o

sáng sớm khi quá trình quang hợp của thuỷ sinh vật chưa xảy ra) (Lê Như Xuân, 1994).

Việc theo dõi hàm lượng oxy trong ao nuôi cá là điều cần thiết để góp phần nâng cao năng suất của cá nuôi Nếu biết được nồng độ oxy thích hợp cho

cá thì sẽ có các cách khắc phục những điều kiện bất lợi trong môi trường ao nuôi Theo Trương Quốc Phú (2008) thì:

 Nồng độ oxy từ 0,0 – 0,3 ppm: cá chỉ sống trong thời gian ngắn

 Nồng độ oxy từ 0,3 – 1,0 ppm: cá sẽ chết nếu thời gian kéo dài

NO2-, NO2- Các hợp chất vô cơ hòa tan này có được do quá trình phân hủy các

Trang 13

của vi sinh vật, đạm albumine sẽ biến thành đạm ammonia (NH3) và khi ammonia hòa tan vào trong nước hình thành ion ammonia (NH4+

)

NH3 + H2O ↔ NH4+

+ OHHàm lượng NH4+ phụ thuộc vào pH và nhiệt độ, khi pH và nhiệt độ giảm thì hàm lượng NH4+ tăng và ngược lại.Hàm lượng NH4+ cũng biến động theo chu

-kỳ ngày đêm Hàm lượng NH4+

đạt giá trị cực đại vào lúc 14 – 16 giờ và thấp nhất lúc 6 giờ sáng

NH4+ thường không bền dưới tác dụng nhiệt hoặc trong môi trường bazơ

dễ bị biến thành NH3 gây độc cho thuỷ sinh vật và mùi hôi cho nước Khả năng chịu đựng hàm lượng ammonia của thuỷ sinh vật tuỳ theo từng loài, điều kiện sinh lý và các yếu tố môi trường Theo Trương Quốc Phú, 2008 (trích dẫn Dowing và Marking, 1975), NH3 là khí độc, còn NH4+ không độc Theo Dương Nhựt Long (2004), hàm lượng NH4+ thích hợp cho nuôi cá thâm canh trong ao đất là nhỏ hơn 5,14 mg/L

Theo FAO thì:

 NH4+

< 0,2 mg/l thích hợp cho cá Samonid  NH4+ < 0,8 mg/l thích hợp cho cá Cyprinid

Khi chỉ có mặt NH4+ mà không có nitrite chứng tỏ nguồn nước mới vừa bị

ô nhiễm (Nguyễn Thị Diệp Chi, 2009)

Hàm lượng NH3 phụ thuộc vào pH và nhiệt độ nên nó cũng biến động theo chu kỳ ngày đêm Vào ban ngày cường độ ánh sáng mặt trời tăng làm nhiệt độ tăng dần, cường độ quang hợp của thực vật trong nước cũng tăng theo Đồng thời

sự khuếch tán oxy vào trong nước cũng tăng dẫn đến pH tăng nên hàm lượng

NH3 tăng và đạt cực đại vào lúc 14 – 16 giờ và giảm thấp nhất vào sáng sớm 6 giờ

Ảnh hưởng của NH3 đối với cá là khi hàm lượng NH3 trong nước cao, cá khó bài tiết NH3 từ máu ra môi trường ngoài, dẫn đến rối loạn các phản ứng xúc

Trang 14

tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào (Trương Quốc Phú, 2008) NH3cao cũng làm tăng tiêu hao oxy của mô, làm tổn thương mang và làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu (Boyd, 1990)

Theo Trương Quốc Phú (2008), thì hàm lượng NH3 dưới mức gây chết cũng có ảnh hưởng xấu đến thuỷ sinh vật như làm tăng tính mẩn cảm của động vật đối với những điều kiện không thuận lợi của môi trường như sự dao động của nhiệt độ, thiếu oxy, làm ức chế sự sinh trưởng bình thường, làm giảm khả năng sinh sản, giảm khả năng chống bệnh Theo Lương Đức Thẩm (2002), ở nồng độ 0,2 – 0,5 mg/L đã gây độc cấp tính Nồng độ NH3 được coi là an toàn cho ao nuôi khi nó phải luôn ở mức thấp hơn 0,13 mg/L (Trương Quốc Phú, 2008) Do đó, việc theo dõi hàm lượng NH3 trong ao nuôi là rất cần thiết để tăng năng suất thủy sản nuôi

Theo tiêu chuẩn 6774 – 2000 về chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống thủy sinh quy định hàm lượng NH3 theo giá trị pH và nhiệt độ được quy định ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Hàm lượng NH3 cho phép trong thủy vực

Thôn số chất lượng Đơn vị Mức thôn số Ghi chú

NH4+ + 3/2 O2 → NO2- + 2H+ + H2O + 76kcal Trong điều kiện không có oxy, nhiều loài vi sinh vật có thể sử dụng nitrate hoặc một dạng oxy hóa khác của nitrogen (thay vì oxy) như một chất nhận điện

Trang 15

ammonia hay khí N2 Quá trình này còn được gọi là quá trình phản nitrate hóa, các hợp chất trung gian trong quá trình chuyển hóa thường là những dạng độc nên không có lợi cho thủy sinh vật (Trương Quốc Phú, 2008)

Nitrit là chất trung gian trong chu trình nitrơ, có thể có mặt trong nước do

sự phân huỷ sinh học các chất protein Sự có mặt của Nitrit trong nước được xem

là dấu hiệu của ô nhiễm chất hữu cơ (Nguyễn Khắc Cường, 2002) Trong thủy

vực, sau khi thâm nhập vào cơ thể cá, nitrite liên kết với hemoglobin và làm giảm khả năng chuyên chở oxy của máu để nuôi cơ thể (Trương Quốc Phú, 2008)

2.2.8 Nitrate (NO 3 - )

Theo Trương Quốc Phú (2008), ammonia giải phóng vào nước ao bởi quá trình phân hủy có thể được thực vật sử dụng hoặc nó bị nitrate hóa thành nitrate nhờ vi khuẩn hóa tự dưỡng Sự oxy hóa ammonium thành nitrite nhóm vi khuẩn

Nitrosomonas là bước đầu tiên của quá trình nitrate hóa:

NH4+ + 3/2O2 = NO2- + 2H+ + H2O + 76 kcal Bước thứ hai là nitrite bị oxy hóa thành nitrate:

NO2 + 1/2 O2 = NO3- + 24 kcal

Quá trình nitrate hóa chỉ xảy ra khi có mặt của oxy (kể cả nồng độ rất thấp), nghĩa là trong môi trường thoáng khí Trong môi trường yếm khí với sự có mặt của hydrat carbon sẽ xảy ra quá trình ngược lại với quá trình nitrate hóa đó là quá trình phản nitrate hóa Quá trình này khử nitrate qua nitrite NO, N2O,

NH2OH, NH3 và N2 (Trương Quốc Phú, 2008)

NO3- trong thuỷ vực là sản phẩm của quá trình nitrate hoá hay được cung cấp từ nước mưa khi có sấm chớp và tia lửa điện (Lê Như Xuân, 1994) NO3- là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thụ dễ dàng nhất, không độc hại đối với thuỷ sinh vật Khi hàm lượng NO3-

trong nước thấp (nhỏ hơn 1 ppm) thì tảo lam phát triển mạnh, khi hàm lượng NO3- trong nước cao (lớn hơn 2 ppm) thì tảo lục và tảo khuê phát triển mạnh Nồng độ thích hợp trong ao nuôi cá là từ 2 -3 ppm Trong nước thiên nhiên thường có hàm lượng nitrate thấp Do đó việc bón nitrate cho ao nuôi cá là cần thiết (Lê Như Xuân, 1994)

Nếu hàm lượng nitrate cao sẽ gây nên tác động dây chuyền đặc biệt trong các hệ sinh thái nước Trước tiên, chúng tăng cường sự phát triển, sinh trưởng của thực vật và tăng sức sản xuất sơ cấp Sau khi chết, chúng làm tăng lượng chấy hữu cơ và quần thể vi sinh vật phong phú phát triển trên các chất hữu cơ này và trong qua trình hô hấp, hầu như tất cả Oxy hoà tan được sử dụng Sự thiếu Oxy này gây nên quá trình lên men, thối rửa, làm cá chết và ô nhiễm nước trầm trọng Theo Đặng Kim Chi (1999), nếu nước chứa chủ yếu hợp chất Nitơ ở dạng

Trang 16

NO3- chứng tỏ quá trình oxy hoá đã kết thúc Tuy vậy các NO3- chỉ bền ở điện kiện hiếu khí Nitrat chỉ bền ở đều kiện hiếu khí, trong điều kiện yếm khí chúng nhanh chóng bị khử thành nitơ tự do tách ra khỏi nước

Khi hàm lượng nitrat trong nước khá cao có thể gây độc hại với người, vì khi vào cơ thể trong đều kiện thích hợp ở hệ tiêu hóa chúng sẽ chuyển hóa thành nitrit kết hợp với hồng cầu, làm giảm khả năng không vận chuyển oxy của máu, gây bệnh xanh xao thiếu máu (Phan Trung Hiếu, 2009 trích dẫn từ Đặng Kim Chi, 2001) Khi nồng độ nitrat trong nước cao là môi trường dinh dưỡng tốt cho rong, tảo phát triển, ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt và thủy sản (Phan Trung Hiếu, 2009 trích dẫn từ Nguyễn Văn Nô, 2004)

Hàm lượng thích hợp cho các ao nuôi cá là 0,1 – 10 mg/L Hàm lượng nitrate cao không gây độc cho cá nhưng có thể làm thực vật phù du nở hoa gây những biến đổi chất lượng nước không có lợi cho tôm cá nuôi (Trương Quốc Phú, 2008)

Tỉ lệ H2S\Tổng sulfide phụ thuộc vào nhiệt độ và pH (Bảng 2.2) Khi pH

và nhiệt độ tăng thì tỉ lệ này giảm (Trương Quốc Phú, 2008)

Bảng 2.2 Tỉ lệ phần trăm của H2S\Tổng sulfide theo pH và nhiệt độ

Trang 17

với cá Nheo Mỹ giai đoạn bột (giai đoạn mới nở) là 1 ppm đối với cá tiền trưởng thành là 1,3 ppm đối với cá trưởng thành là 1.4ppm Ở nồng độ H2S <0,8 ppm sẽ không gây độc trực tiếp đối với cá mà chỉ tiêu hao nhiều oxy của môi trường Để oxy hóa hoàn toàn 1mg khí H2S thành SO42- phải tiêu tốn 1,3 ml oxy của môi trường (Lê Như Xuân, 1994) H2S rất độc đối với cá Theo Boyd (1990) nồng độ

H2S từ 0,01 - 0,05 mg/l có thể gây chết thuỷ sinh vật Tính độc của H2S cũng biến động theo chu kỳ ngày đêm, giá trị pH thấp nhất là lúc tính độc của H2S cao nhất và ngược lại Theo Trương Quốc Phú (2008), khi pH = 5,0 thì tỉ lệ

H2S/Tổng sulfide là 99,1% và khi pH có tính kiềm cao (>9) thì tỉ lệ này dưới 1 Mặt khác, trong ao nuôi cá thì sự tích luỹ của H2S ở đáy ao gây ra hiện tượng thiếu oxy và có thể dẫn đến chết cá

Theo Dương Nhựt Long (2004), hàm lượng H2S thích hơp cho nuôi cá thâm canh trong ao đất là nhỏ hơn 1 mg/L

2.2.10 Phosphate (PO 4 3- )

Giống như đạm, lân là một trong những yếu tố cần thiết cho đời sống của thuỷ sinh vật, sức sản xuất của thuỷ sinh vật Năng suất của cá nuôi phụ thuộc vào hàm lượng lân rất lớn vì nó có mặt trong nhiều chất, đóng vai trò quan trọng của chất nguyên sinh, muối lân cần thiết cho sự phát triển của động vật trong quá trình tạo thành các sản phẩm sinh dục Quá trình tổng hợp Protid chỉ tiến hành khi có mặt của H3PO4, sự thiếu hụt phosphor trong nước sẽ hạn chế sự phát triển của vi sinh vật phân huỷ các hợp chất hữu cơ

H3PO4 = H+ + H2PO4-

H2PO4- = H+ + HPO42- HPO42- = H+ + PO43- Trong nuôi trồng thủy sản, các nhà nghiên cứu và người nuôi cá thường không quan tâm nhiều đến các dạng ion của orthophosphate mà chỉ quan tâm đến tổng hàm lượng orthophosphate (bao gồm các ion phân ly từ acid phosphoric) (Trương Quốc Phú, 2008)

Lân được thực vật hấp thu cùng với đạm, tham gia vào thành phần đạm thực vật, đạm này được động vật sử dụng Đối với động vật lân có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh trưởng, tăng cường quá trình phân giải các protein động vật có trong thành phần thức ăn và phát triển các cơ quan sinh dục Do đó, việc gia tăng nồng độ nguyên tố này trong ao nuôi cá thường đưa đến gia tăng năng suất cá nuôi

Trong các thuỷ vực, hàm lượng các muối hoà tan của lân trong nước thường rất thấp, ít khi nào hàm lượng P-PO43- vượt quá 1ppm ngay cả trong các

Trang 18

thuỷ vực giàu dinh dưỡng Theo Trương Quốc Phú (2008), thì hàm lượng P-PO4

3-thích hợp cho các ao nuôi cá là từ 5 - 200 μg/l, nếu hàm lượng P-PO4

nhỏ hơn 5μg/l thì thực vật không phát triển nhưng nếu hàm lượng P-PO43- vượt quá

Cá Sặc rằn có tên khoa học là Trichogaster pectoralis Regan

Đầu nhỏ dẹp bên, mõm ngắn, nhọn, miệng trên nhỏ Răng nhỏ mịn mọc hai bên hàm, lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn trên trục giữa thân và phần chóp mõm hơn một điểm cuối xương nắp mang

Thân ngắn dẹp bên, vây lược nhỏ phủ khắp thân và đầu, có nhiều vẩy nhỏ phủ lên gốc vi hậu môn, vi lưng và vi đuôi

Cá có màu xanh đen ở mặt lưng, nhạt dần xuống hai bên hông và bụng Trên cơ thể có hai chấm đen tròn, một ở giữa thân, một ở giữa đuôi Ở một số con còn có thể có nhiều vạch đen mờ nằm xéo ngang thân, trên vi hậu môn, vi lưng, vi đuôi có nhiều chấm nhỏ li ti màu cam Vào mùa sinh sản con đực có màu đen, vi đuôi đỏ cam, con cái màu nâu nhạt không sặc

2.3.2 Sự thích nghi với điều kiện môi trường

Cá có khả năng chịu đựng được với điều kiện môi trường nước bẩn, hàm lượng hữu cơ cao cũng như môi trường có

độ pH thấp (pH = 4 – 4,5)

0

Trang 19

Cá có cơ quan hô hấp phụ, cơ quan này mằn ở mặt lưng của cung mang thứ nhất và hình thành khi cá được 23 ngày tuổi Với đặc điểm này người ta có thể nuôi với mật độ cao và vận chuyển cá dễ dàng (Lê Như Xuân, 1994)

2.3.3 Đặc điểm sinh trưởng của cá Sặc rằn

Trứng ở điều kiện nhiệt độ 28 - 300C sẽ nở thành cá con sau 24 - 26 giờ

sau khi nở, cá con dinh dưỡng bằng noãn hoàn trong thời gian 2 - 3 ngày, lúc này cá nổi lên mặt nước Sau khi tiêu hết noãn hoàn cá con di chuyển đến lớp nước dưới bắt đầu kiếm thức ăn

Giai đoạn cá 7 ngày tuổi dài 6 mm sẽ xuất hiện vi lưng như một màng mỏng

Giai đoạn 15 ngày tuổi dài 10 - 14,3 mm trên thân có nhiều sắc tố đen chạy từ sau mắt đến cuốn đuôi nhưng chưa rõ và chấm dứt bằng một đám sắc tố đen tròn Ống tiêu hóa giống cá trưởng thành bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột, hệ thống hô hấp bằng mang hoàn chỉnh

Cá 35 ngày tuổi dài 23 – 27 mm, lưng màu đen, thân phủ vẩy, vi đuôi, vi lưng hậu môn hoàn chỉnh

Theo Lê Như Xuân (1994), chiều dài tối đa của cá khoảng 25 cm, trong điều kiện nhiệt độ thích hợp 25 - 350

C trọng lượng cá đạt khoảng 140 g/con Ở Việt Nam khi nuôi cá cỡ 0,2 g/con với mật độ nuôi 20 - 25 con/m2 cho ăn phân heo tươi 3kg/100m2

/ ngày cá sẽ đạt năng suất 6,7 - 7,2 tấn/ ha

2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng và tính ăn của cá Sặc rằn

Sau giai đoạn dinh dưỡng bằng noãn hoàn trong thời gian 2 - 3 ngày tuổi

cá chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài

Thức ăn ở thời kì đầu gồm nhiều loại như phiêu sinh động vật, phiêu sinh thực vật và các chất hữu cơ lơ lững

Ở tuổi trưởng thành cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá thể hiện là loài ăn tạp Những loại thức ăn tự nhiên chiếm khối lượng lớn trong ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, phiêu sinh động vật, phiêu sinh thực vật cũng như các loại thực vật thủy sinh mềm trong nước

Ngoài ra cá còn sử dụng tốt các phụ phẩm nông nghiệp như bột ngũ cốc, các loại động vật kích thước nhỏ, khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của nó (Lê Như Xuân, 1993)

2.3.5 Đặc điểm sinh sản của cá Sặc rằn

Cá Sặc rằn thường đẻ vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Tuy nhiên trong điều kiện nuôi trong ao, có cho ăn, cá đẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là những tháng mùa mưa Cá thành thục sinh dục khoảng 7 tháng tuổi: Cá đực có vây lưng dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ Ngược lại cá cái có vây lưng

Trang 20

tròn và ngắn, thường không vượt quá cuống vây đuôi Bụng cá lúc mang trứng căng tròn nhìn thẳng vuông góc với vị trí đầu, bụng cá có hình chữ U

Cá Sặc rằn có sức sinh sản cao, 1 kg cá cái thường để 100.000 – 200.000 trứng có khi lên tới 300.000 trứng Bãi để của cá Sặc rằn ngoài tự nhiên là những nơi nước cạn ven bờ có nhiều cây cỏ thủy sinh, cá có thể để ở nơi có mực nước cạn 7 - 10 cm Khi sinh sản trứng thụ tinh và nổi trên mặt nước, cá đực,cá cái gom trứng vào miệng rồi nhả lại mặt nước dưới dạng bọt Những tổ bọt này có đường kính khoảng 5 cm, bên trong có chứa đầy trứng Sau khi đẻ cá đực, cá cái thay nhau bảo vệ tổ

Trang 21

Chương 3 VẬT TƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Đề tài được thực hiện từ 01/2010 – 04/2010

Địa điểm:

 Tại ao nuôi cá Sặc rằn của hai hộ dân Nguyễn Văn Sáu và Lê Văn Năm

ở tổ 47, ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ

 Mẫu sau khi thu được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Môi Trường & TNTN, khu II, ĐHCT

3.2 Vật tư và thiết bị nghiên cứu

 Các dụng cụ thu và bảo quản mẫu

 Máy HANNA, Ý, model HI 8314 để đo giá trị pH

 Máy HANNA, Rumani, model HI 9146 đo DO nước

 Máy U-2800, Hitachi - Nhật, dùng để so màu các chỉ tiêu NH4+, NO2-,

NO3- và PO43-

 Nhiệt kế rượu dùng đo nhiệt độ nước

 Một số dụng cụ khác: ống nghiệm, ống đong, cốc thủy tinh, bình định mức, bình tam giác …

3.3 Hoá chất sử dụng trong nghiên cứu

 Sodium salicylate (Trung Quốc), Trisodium citrate (Trung Quốc), Sodium nitroprusside (Merck – Đức), Sodium hidroxide (Trung Quốc), Sodium dichloroisocyanurate (Merck) dùng để phân tích (TAN)

 Ammonium molybdate (Trung Quốc), Potassium antinomyltartrate (Trung Quốc), acid Phosphoric (Trung Quốc), và acid Asrobic (Trung Quốc) để phân tích PO43-

 Sodium salicylate (Trung Quốc), Sodium hidroxide (Trung Quốc), Potassium sodium tartrate tetrahydrate (Trung Quốc), acid Phosphoric (Trung Quốc) dùng để xác định hàm lượng NO-3

 Acid Phosphoric (Trung Quốc), Sulfanilamin (Merck), thyleneediamine đihyrochloride (Merck) dùng để xác định đạm NO2-

N-(1-naphthyl)-

 CdCl2 (Trung Quốc), HCl (Trung Quốc), KI (Trung Quốc), I2 (Merck),

Na2S2O3 (Việt Nam) dùng để cố định và xác định hàm lượng H2S trong nước

Trang 22

3.4 Chọn hộ nghiên cứu

Mẫu nước được thu tại 4 ao nuôi cá Sặc rằn kết hợp với nuôi heo của hai

hộ dân Nguyễn Văn Sáu và Lê Văn Năm ở tổ 47, ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ

Ao 1, 2 và 3 có diện tích lần lượt là 40, 80 và 52 m2 Cả 3 ao này nhận nước thải gián tiếp từ 5 con heo nuôi (120kg/con và 4 con có khối lượng là 80kg/con) thông qua túi ủ biogas (chiều dài 10 m), mặt khác ao 1 còn nhận thêm nước thải từ vệ sinh chuồng nuôi, ao 2 nhận nước thải sinh hoạt của gia đình (2 người) ở kế nhà chủ hộ và ao 3 chỉ nhận nước thải từ biogas Tuy nhiên 3 ao nuôi này lưu thông với nhau (ao 1 thông với ao 2 bằng ống nhựa PVC có đường kính

15 cm và ao 2 thông với ao 3 bằng mương nhỏ, chiều rộng 1,2 m) Mật độ thả cho cả 3 ao là 30 con/m2 và thả nuôi được 4 tháng tuổi Thức ăn hiện tại là bột cám và thức ăn viên, tần suất cho ăn 2 lần/ngày, khối lượng thức ăn trung bình 1 kg/lần Mực nước trong 3 ao là 1,2 m

Ao 4 có diện tích 200 m2 nhận chất thải trực tiếp từ 2 con heo nuôi (30kg/con) Mật độ cá trong ao là 50 con/m2 và được 2 tháng tuổi Thức ăn cung cấp thêm cho cá là cám và bột cá viên 3 lần/ngày Khối lượng thức ăn trung bình

từ 1,2 kg/3lần

Cả 4 ao nuôi cá Sặc rằn được lấy nước trực tiếp hoặc gián tiếp từ sông Ngã cái và ao nuôi được thay nước định kỳ 2 lần/tháng, chủ yếu thay nước dựa vào triều cường (nước ròng xả ra, nước lớn cho vào) và thay 2/3 mực nước trong

ao

Mẫu nước được thu tại 3 vị trí khác nhau trong ao (Hình 3.1)

Chuồng

Ao 4

Trang 23

Hình 3.1: Sơ đồ thu mẫu điểm thu mẫu

3.5 Chu kỳ thu mẫu

Thu mẫu theo chu kỳ thay nước: mẫu nước được thu trước khi thay nước

ao 02 ngày và sau đó cách 03 ngày thu mẫu một lần cho đến đợt thay nước tiếp theo Thời gian thu mẫu trong ngày vào thời điểm từ 6 - 7 giờ

Thu mẫu theo chu kỳ ngày đêm: mẫu được thu 4 giờ/lần và thu trong 24 giờ Các thời điểm thu cụ thể là 06 giờ, 10 giờ, 14 giờ, 18 giờ, 22 giờ và 02 giờ ngày hôm sau

Số mẫu thu:

 Thu mẫu theo chế độ thay nước: 3 điểm/ao * 4 ao * 6 lần = 72 mẫu

 Thu mẫu theo chu kỳ ngày đêm: 3 điểm/ao * 4 ao * 6 lần = 72 mẫu

3.6 Phương pháp thu mẫu và bảo quản

3.6.1 Phương pháp thu mẫu

Chai được rửa sạch trước khi mang đi thu mẫu Trước khi thu mẫu tráng chai lọ bằng nước tại hiện trường Mẫu được thu cách mặt nước khoảng 20-30cm Sau khi thu mẫu xong đậy kín miệng chai lại và ghi chú điển thu mẫu lên chai

Đối với các chỉ tiêu như: NO2-, NO3-, PO4-, NH4+ tiến hành thu mẫu bằng chai nhựa 1 lít đã sạch và tráng mẫu bằng nước tại hiện trường trước khi bắt đầu thu mẫu Mỗi ao được thu 3 mẫu, ở 3 vị trí khác nhau trong ao (Hình 3.1)

Riêng chỉ tiêu H2S được thu bằng chai nút mài 125 ml đã được tráng mẫu bằng nước tại hiện trường trước khi thu mẫu và sau đó cố định mẫu bằng 1ml CdCl2 2%

Ao 01

Ao 02

Chuồng

Ao 03

Trang 24

3.6.2 Bảo quản mẫu

Mẫu được trữ lạnh ở 4oC trong thùng trữ mẫu trước khi đem về trữ lạnh ở phòng thí nghiệm

Bảng 3.1: Phương pháp thu và bảo quản mẫu nước

Chỉ tiêu phân

tích

Loại bình chứa Kỹ thuật bảo quản

Thời gian bảo quản tối đa

NH4+ P hoặc G Axit hóa tới pH<3, làm lạnh

3.7 Thời gian phân tích

Thời điểm phân tích: sau khi thu, mẫu được trữ lạnh (bằng nước đá) sau

đó chuyển về phòng thí nghiệm Ở phòng thí nghiệm mẫu được trữ trong tủ mát ở

Trang 25

Các chỉ tiêu NH4+, NO2-, NO3-, H2S được phân tích tại phòng thí nghiệm

bộ môn Khoa học môi trường, khoa Môi trường & TNTN, trường đại học Cần Thơ theo phương pháp:

 NH4+: Phương pháp so màu Indophenol blue (Sử dụng máy so màu U2800-Hitachi (Nhật) và đo ở bước sóng 660 nm)

 NO2-: Phương pháp so màu Diazonium (Sử dụng máy so màu Hitachi (Nhật) và đo ở bước sóng 543 nm)

 NO3-: Phương pháp so màu Salicylate (Sử dụng máy so màu Hitachi (Nhật) và đo ở bước sóng 410 nm)

 H2S: Phương pháp chuẩn độ Iodine

 PO4-: Theo phương pháp acid ascorbic (Sử dụng máy so màu Hitachi (Nhật) và đo ở bước sóng 880 nm)

 NH3: dựa vào mối tương quan giữa NH3 và NH4+

3.9 Tính toán kết quả và xử lý số liệu

3.9.1 Tính toán kết quả

a Công thức tính hàm lượng NH3 trong nước từ NH4+

Hàm lượng NH3 trong nước phụ thuộc vào pH và nhiệt độ Theo Ip et al

(2001) NH3 được tính theo công thức sau:

H NH

K d

d K

pK log

kelvin amm

T

pK 0 , 09018 2729,9

amm

amm pK pH anti

Tot NH

log 1

4

b Công thức tính H2S

100017125

2

N V V L mg S

Trang 27

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Biến động một số yếu tố môi trường theo chu kỳ ngày đêm trong

ao nuôi cá Sặc rằn tại Mỹ Phụng

4.1.1 Nhiệt độ

Kết quả khảo sát nhiệt độ nước (Hình 4.1) của các ao nuôi cá Sặc rằn cho thấy nhiệt độ nước ở 4 ao đều tăng từ 6 giờ sáng và đạt cực đại lúc 14 giờ (ở 4 ao nhiệt độ tăng tại thời điểm 14 giờ đều có ý nghĩa thống kê (P<0,05), sau đó đều

có xu hướng giảm dần và ít biến động vào ban đêm (từ sau 18 giờ đến 6 giờ sáng) (Hình 4.1) Vào thời điểm 6 giờ sáng nhiệt độ nước ở các ao 1, 2, 3, và 4 lần lượt là 26,0; 26,0; 26,7 và 28,60C Ở thời điểm 10 giờ, nhiệt độ nước tăng ở các ao 1, 2, 3, và 4 là 28,0; 28,0; 27,8 và 29,80C Nhiệt độ nước đạt mức cao nhất là: 30,3; 30,3; 30,3 và 32,00C tại 14 giờ tương ứng ở ao 1, 2, 3, và 4 Sau đó nhiệt

độ giảm xuống còn 26,3; 26,7; 26,7 và 30,20

C ở các ao tương ứng 1, 2, 3, và 4 vào thời điểm 18 giờ Sau thời điểm này, nhiệt độ ở các ao đều ít biến động và khác biệt không có ý nghĩa so với các thời điểm 22, 02 và 06 giờ (P>0,05)

Thoi gian trong ngay (gio)

C C B

b b b

B B B

B

a a a

d

c c B

B B c c

c B

B B

d cd

c B B B

Hình 4.1: Biến động nhiệt độ theo thời gian

hững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Trang 28

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê

(P>0,05)

Nhiệt độ trong các thủy vực được sinh ra chủ yếu từ nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời Ngoài ra, còn có thể do năng lượng sinh ra trong quá trình oxy hóa các chất hữu cơ, vô cơ trong nước và nền đáy của thủy vực Sự biến động nhiệt độ ở 4 ao nuôi theo thời gian trong ngày chủ yếu do ảnh hưởng của cường

độ chiếu sáng từ mặt trời

Ao 1, 2 và 3 có độ sâu giống nhau (1,2 m), chịu tác động chiếu sáng như nhau nên nhiệt độ ít khác biệt (Hình 4.1) Riêng ao 4, nhiệt độ cao hơn 3 ao còn lại (P<0,05), do ao này nhận chất thải trực triếp từ heo (phân heo có hàm lượng dinh dưỡng cao) nên quá trình phân giải tỏa nhiều nhiệt, mặt khác còn do tính chất của thời tiết

Thông thường sự thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột khoảng 30C – 40C

sẽ gây sốc và chết sinh vật (Boyd, 1990 trích bởi Trương Quốc Phú, 2008) Qua kết quả khảo sát (Hình 4.1), cho thấy nhiệt độ ở 4 ao nuôi cá Sặc rằn thay đổi theo chiều hướng tăng dần vào ban ngày và sau đó giảm từ từ trong 4 giờ nên sẽ không ảnh hưởng lớn đến cá nuôi Mặt khác, cá Sặc rằn còn chịu đựng được nhiệt độ dao động từ 110C – 390C (Dương Nhựt Long, 2003) Nhìn chung, nhiệt

độ qua các lần khảo sát trong chu kỳ ngày đêm vẫn nằm trong khoảng mà cá nuôi chịu đựng được

Ở ao 1, ao 2 và ao 3 pH lúc 6 giờ lần lượt là 7,02; 7,05 và 7,09 sau đó tăng dần và đạt giá trị cao nhất lúc 14 giờ (P<0,05) ở các ao 1, 2 và 3 có giá trị lần lượt là 8,14; 8,45; 7,86 Giá trị pH của các ao đạt giá trị thấp nhất vào lúc 6 giờ (ao 1 và 3 có giá trị là 7,02 và 7,1) và 7,03 tại 22 giờ đối với ao 2 Nhìn chung pH

Trang 29

giữa các thời điểm này khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với thời điểm 10 và 18 giờ

Tại ao 4, giá trị pH biến động từ 6,9 – 7,3 pH đạt giá trị thấp tại thời điểm

6 giờ, sau đó có xu hướng tăng dần và đạt cực đại tại 18 giờ (Hình 4.2) Sự khác biệt của giá trị pH tại các thời điểm trong ao 4 đều không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Đối với ao 4, giá trị pH thấp hơn các ao 1, 2 và 3 (P<0,05) (trừ thời điểm 22 giờ), do vật nuôi (heo và cá) còn nhỏ, ao sâu (3 m) và diện tích rộng (200 m2) nên chất hữu cơ thấp

Thoi gian trong ngay (gio)

c a

A A

c A c A

c

c A A

Hình 4.2: Biến động pH theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa

biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Giá trị pH tăng quá cao hay giảm quá thấp mới ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, sinh sản và bắt mồi của cá Tác động chủ yếu của pH làm thay đổi tính thẩm thấu của màng tế bào, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể và môi trường ngoài (Trương Quốc Phú, 2008) Trong nghiên cứu này, pH theo chu kỳ ngày đêm ở 4 ao dao động trong khoảng 6,90 – 8,45 Theo tiêu chuẩn 6774 – 2000 về chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống của thủy sinh vật thì giá trị pH cho phép nằm trong khoảng 6,5 – 8,5 Mặt khác cá Sặc rằn có khả năng chịu đựng được môi trường có độ pH thấp pH= 4,0 - 4,5 (Dương Nhựt Long, 2003) Như vậy giá trị pH khảo sát tại 4 ao trong chu kỳ ngày đêm đều nằm trong khoảng sinh trưởng bình thường của cá Sặc rằn

Trang 30

4.1.3 Hàm lượng oxy hoà tan (DO)

Qua khảo sát chu kỳ ngày đêm (Hình 4.3), hàm lượng oxy hòa tan tại ao 1 biến động từ 1,14 – 7,67 mg/L; ao 2 từ 0,68 – 7,93 mg/L và ao 3 biến động từ 0,66 – 8,01 mg/L Nhìn chung hàm lượng oxy hòa tan ở các ao đều tăng và đạt cực đại lúc 14 giờ (P<0,05) có giá trị lần lượt là 7,67; 7,93 và 8,01 mg/L, sau đó bắt đầu giảm dần từ 18 giờ và đạt thấp nhất lúc 6 giờ sáng (1,14; 0,68 và 0,66 mg/L tương ứng ở ao 1; 2 và 3) Vào ban ngày phiêu sinh thực vật quang hợp mạnh làm hàm lượng oxy tăng DO thấp tại thời điểm 06 giờ ở ao 2 và 3 khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với thời điểm 02 giờ (P>0,05)

Tại ao 4, hàm lượng oxy cũng biến động như các ao trên, đạt giá trị cao nhất vào thời điểm 14 giờ (6,07 mg/L) và giảm vào ban đêm, đặc biệt lúc 6 giờ sáng DO rất thấp (0 mg/L) Giá trị DO giảm qua từng thời điểm từ 22, 02, 06 và tại 10 giờ đều khác biệt có ý nghĩa (P<0,05), DO tăng cao ở thời điểm 14 giờ và

18 giờ khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05) và có khác biệt có ý nghĩa (P<0,05)

so với các thời điểm còn lại Ban đêm, quá trình hô hấp của thủy sinh vật tiêu thụ nhiều oxy cùng với sự phân hủy các chất hữu cơ trong thủy vực đã làm hàm lượng oxy hòa tan giảm dần và có mức thấp nhất vào sáng sớm (Hình 4.3)

Thoi gian trong ngay (gio)

C

C

B c

Hình 4.3: Biến động DO theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt

Ao 01

Ao 02

Ao 03

Ao 04

Trang 31

Qua kết quả hình 4.3 cho thấy, hàm lượng oxy hoà tan ở ao 4 thấp hơn ao 1; 2 và 3 (tại thời điểm 18 giờ và 22 giờ khác biệt không có ý nghĩa với ao 2 và 3 (P<0,05)) Ao 4 nhận chất thải trực tiếp từ heo nên quá trình phân giải cần nhiều oxy, mặt khác ao 4 có nhiều cây lớn xung quanh nên hạn chế ánh sáng chiếu vào

ao, làm cường độ quang hợp của tảo giảm

Theo tiêu chuẩn Việt Nam 6774 – 2000 về chất lượng nước ngọt bảo vệ đời sống của thủy sinh vật thì giá trị DO quy định là lớn hơn 5 ppm Hàm lượng oxy vào ban đêm từ 2 giờ và 6 giờ ở tất cả các ao khảo sát đều thấp hơn mức cho phép Đáng chú ý là ở ao 4 lúc 6 giờ sáng DO là 0 mg/L – đây là lúc cá cần nhiều

oxy để hô hấp Theo Lê Như Xuân và ctv (1994), hàm lượng oxy hoà tan nhỏ hơn

2 ppm sẽ làm cho cá nổi đầu (qua khảo sát cho thấy thì thường xảy ra vào sáng sớm khi quá trình quang hợp của thực vật thuỷ sinh chưa xảy ra) Khi oxy hoà tan thấp thường xuyên sẽ ít ăn, chậm lớn và giảm năng suất nuôi

Theo Dương Nhựt Long (2003), cá Sặc rằn có cơ quan hô hấp khí trời nên

cá có thể sống được trong điều kiện thiếu oxy hoặc không có oxy Mặc dù, hàm lượng oxy thấp vào sáng sớm nhưng xảy ra trong thời gian ngắn và không thường xuyên giảm đến mức thấp nhất Do đó cá vẫn có thể chịu được và không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng Tuy nhiên để đạt năng suất cao, cần hạn chế hàm lượng hữu cơ, cho cá ăn vào sáng sớm và nên thay nước để cải thiện DO trong ao nuôi, giúp cá nuôi phát triển tốt hơn

4.1.4 Amonium (NH 4 + )

Qua kết quả khảo sát cho thấy, hàm lượng NH4+ ở ao 1 biến động 2,51 – 4,56 mg/L và ao 2 từ 3,61 – 5,27 mg/L (Hình 4.4) Ao 1 và 2 đạt giá trị cao nhất tại thời điểm 18 giờ và thấp nhất lúc 14 giờ Sự khác nhau có thể do ảnh hưởng của việc cho ăn (lúc 17 giờ) và lượng thức ăn thừa trong ao nên tạo điều kiện cho

quá trình amon hoá xảy ra nhờ các vi sinh vật kỵ khí (như: B mesentricus, B mycoide,…)

NH3 được hình thành từ quá trình amon hoá sẽ hoà tan vào trong nước tạo thành ion NH4+ Ngoài ra, tỷ lệ NH4+: NH3 phụ thuộc vào pH và nhiệt độ nước, khi nhiệt độ và pH giảm thì tỷ lệ này tăng và ngược lại Kết quả nhiệt độ (Hình 4.1) và pH (Hình 4.2) đều giảm tại thời điểm 18 giờ Theo Trương Quốc Phú (2008), nhiệt độ tối ưu cho sự amon hoá là 25 – 300C Như vậy ở ao 1 và 2 hàm lượng NH4+ đạt cực đại lúc 18 giờ do quá trình amon hoá có điều kiện xảy ra thuận lợi (pH 7,24 và 7,46; nhiệt độ 26,30C và 26,70C ở ao 1 và 2) Ban ngày do hàm lượng oxy hoà tan cao nên các quá trình nitrate hoá diễn ra rất nhanh dẫn đến NH4+

có giá trị thấp lúc 14 giờ Hàm lượng NH4+ ở ao 1 và 2 thấp tại 14 giờ

Trang 32

(P<0,05), sau đó tăng cao tại thời điểm 18 và 22 giờ (P>0,05) khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với các thời điểm còn lại

Thoi gian trong ngay (gio)

BC C

A

A

B B

B B A

A

AB

BC

C

Hình 4.4: Biến động NH4+ theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Ở ao 3, NH4+

biến động từ 1,99 – 2,68 mg/L NH4+ có giá trị thấp nhất lúc

10 giờ (P<0,05), sau đó có xu hướng tăng dần từ 14 giờ và đạt giá trị cao nhất lúc 2 giờ (P>0,05) Chênh lệch giữa thời điểm thấp và cao nhất trong ao là 0,7 mg/L Điều này cho thấy ban đêm nhiệt độ và pH rất thích hợp cho quá trình amon hoá xảy ra nhờ các vi khuẩn kỵ khí

Tại ao 4, hàm lượng NH4+ biến động từ 1,40 - 2,03 mg/L Ban ngày NH4+

có xu hướng giảm dần, đạt giá trị thấp nhất lúc 14 giờ (1,40mg/L) và do các quá trình phân huỷ yếm khí xảy ra nên tỷ lệ NH3\NH4+ giảm vào ban đêm, tức là

NH4+ tăng và đạt cực đại lúc 6 giờ sáng (2,03 mg/L) (P<0,05) Hàm lượng NH4+

ở các thời điểm 10, 22 và 02 giờ (P>0,05) khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với

14 giờ và 18 giờ Qua hình 3.4 cho thấy, hàm lượng NH4+ ở ao 4 thấp hơn 3 ao còn lại (P<0,05) (trừ thời điểm 10, 18 và 02 giờ khác biệt không có ý nghĩa đối với ao 3) có thể do cá nuôi ở ao 4 còn nhỏ, lượng thức ăn cung cấp ít

Trang 33

nuôi Theo Dương Nhựt Long (2004), hàm lượng NH4+ thích hợp cho nuôi cá thâm canh trong ao đất là nhỏ hơn 5,14 mg/L Qua kết quả (hình 4.4) cho thấy, tại 18 giờ ở ao 2, NH4+ cao hơn mức cho phép, tuy nhiên với hàm lượng đó sẽ không làm tảo nở hoa và tất cả các thời điểm còn lại trong 4 ao đều nằm trong khoảng cho phép

4.1.5 Ammonia (NH 3 )

Kết quả khảo sát cho thấy, hàm lượng NH3 trong 3 ao (ao 1, 2 và 3) nuôi

cá Sặc rằn đều có sự biến động NH3 theo các thời điểm trong ngày (Hình 4.5) Hàm lượng NH3 ở 3 ao đều có xu hướng tăng từ 10 giờ và đạt cực đại tại thời điểm 14 giờ Sau đó có xu hướng giảm dần và ít biến động sau 18 giờ và 2 giờ Hàm lượng NH3 đạt mức thấp nhất lúc 6 giờ sáng (0,0 2mg/L ở ao 1, 0,03 mg/L

ở ao 2 và 0,02 mg/L ở ao 3) Hàm lượng NH3 tăng cao tại thời điểm 14 giờ ở cả 3

ao đều khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với các thời điểm khác và các điểm còn lại khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Chênh lệch hàm lượng NH3giữa thời điểm cao nhất và thấp nhất ở ao 1, 2 và 3 lần lượt là 0,24 mg/L, 0,65 mg/L, 0,15 mg/L Sự biến động này có liên quan đến pH và nhiệt độ pH (Hình 4.2) và nhiệt độ (Hình 4.1) ở 3 ao trong thời gian nghiên cứu đều có xu hướng tăng từ 6 giờ sáng và đạt cực đại lúc 14 giờ Do đó sẽ kích thích các quá trình oxy các hợp chất hữu cơ tạo ra NH3, vì thế hàm lượng NH3 cũng diễn biến tương tự như pH và nhiệt độ

Thoi gian trong ngay (gio)

bc

b b a

B A B C a

c

a

a a

a

A

B B

bc b a

b AB

BC C

A

c b b a B A B C

Hình 4.5: Biến động hàm lượng NH3 theo thời gian

Trang 34

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Hàm lượng NH3 ở ao 2 cao hơn ao 1 và 3 (P<0,05) tại thời điểm 14 giờ (Hình 4.5) Ngoài nhận nước thải từ biogas, ao 2 còn nhận thêm một lượng nước thải sinh hoạt của nông hộ kế nhà chủ hộ nên hàm lượng chất thải hữu cơ tăng dẫn đến NH3 tăng, đặc biệt ở thời điểm 14 giờ cao gấp 4 lần ao 3 và gần 2,7 lần

ao 1

Hàm lượng NH3 trong ao 4 biến động từ 0,01 - 0,03 mg/L, sự biến động này khác biệt tại các thời điểm trong ngày không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Hàm lượng NH3 trong ao 4 cũng có xu hướng tăng từ 6 giờ và đạt cực đại tại thời điểm 14 giờ Ao 4 nhận ít lượng chất thải (nhận trực tiếp phân từ 2 con heo còn nhỏ) Hàm lượng NH4+ trong ao không lớn (1,42 - 2,04 mg/L, hình 4.5), nên NH3trong ao có phần thấp hơn so với ao 1, 2 và 3

Theo Boyd (1990), ao nuôi an toàn khi hàm lượng NH3 phải ở mức thấp hơn 0,13 mg/L Nồng độ của NH3 gây chết đối với cá và giáp xác vùng nhiệt đới trong 24 - 96 giờ dao động từ 0,4 đến 2 mg/L (Boyd, 1990) Ở ao 4, hàm lượng

NH3 rất thấp và chưa có dấu hiệu ảnh hưởng đến cá Các ao còn lại hàm lượng

NH3, có xu hướng tăng từ 10 – 18 giờ và cao ở thời điểm 14 giờ Do đó, việc theo dõi hàm lượng NH3 trong ao nuôi thủy sản là rất cần thiết để tăng năng suất nuôi Để đảm bảo cho cá sinh trưởng tốt thì ở ao 1, 2 và 3 cần thay nước để giảm

NH3 trong ao

4.1.6 Nitrite (NO 2 - )

Trong thuỷ vực nitrit được tạo thành từ quá trình oxy hoá ammonia và ammonium và sinh ra từ quá trình phản nitrate hóa trong điều kiện yếm khí (Trương Quốc Phú, 2008)

Kết quả phân tích cho thấy (Hình 4.6), hàm lượng NO2- trong ao 1, tại thời điểm 6 giờ là 1,48 mg/L, lúc 10 giờ có giá trị 2,72 mg/L và tại 14 giờ đạt 2,64 mg/L Sau đó có xu hướng giảm tại 18 giờ và đạt thấp nhất lúc 22 giờ (0,9 mg/L)

NO2- tại thời điểm lúc 22 giờ khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05) so với 18, 02

và 06 giờ nhưng khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) với 10 giờ và 14 giờ Chênh lệch của hàm lượng NO2- giữa cao và thấp nhất là 1,82 mg/L Ban ngày cường độ chiếu sáng làm tăng DO và nhiệt độ, dẫn đến kích thích quá trình nitrite hoá, chuyển hóa NH4+ và NH3 thành NO2- nhờ vi sinh vật tự dưỡng (Gabiel Bitton,

Trang 35

Tại ao 2 hàm lượng NO2- biến động từ 0,31 – 2,79 mg/L thấp nhất lúc 10 giờ (P<0,05), sau đó có xu hướng tăng và đạt cực đại lúc 2 giờ (hàm lượng NO2-tăng từ 14 – 02 giờ khác biệt không có ý nghĩa (P>0,05)) Chênh lệch giữa thấp nhất và cao nhất là 2,42 mg/L Theo Trương Quốc Phú (2008), trong môi trường yếm khí với sự có mặt của các Hydrat carbon sẽ xảy ra quá trình phản nitrate hoá

nhờ các vi sinh vật kỵ khí (như: Bacilus, Pseudomonas…), chúng tiến hành oxy

hoá các hợp chất hữu cơ bằng con đường khử hydro Quá trình này không có lợi

vì nó làm mất nitrơ trong thuỷ vực và tạo ra các chất độc đối với thuỷ sinh vật như NH3, NO2- Ngoài nhận chung nước thải Biogas, ao 2 còn nhận thêm chất thải sinh hoạt nên hàm lượng hydro carbon cao, với sự có mặt của các vi sinh vật

kỵ khí nên hàm lượng NO2- ở ao 2 vào ban đêm tăng qua các thời điểm 18 giờ,

22 giờ và cao nhất lúc 02 giờ (Hình 4.6) thôn qua các quá trình phản nitrate hoá trong môi trường yếm khí

Thoi gian trong ngay (gio)

ab

c

A AB AB

AB

A

B B

B bc b b

B

ab a a

a

C B A

a

ab ab

a

Hình 4.6: Biến động NO2- theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Ở ao 3 hàm lượng NO2 thấp nhất lúc 10 giờ (0,78 mg/L), sau đó có xu hướng tăng và đạt cực đại lúc 18 giờ (3,16 mg/L) Chênh lệch giữa thấp và cao nhất là 2,37 mg/L Điều này cho thấy hàm lượng NO2- biến động cũng giống như

Trang 36

ao 1, là có sự chuyển hóa NH4+ và NH3 thành NO2- Giá trị NO2- tại thời điểm 10 giờ khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với các thời điểm còn lại

Tại ao 4, hàm lượng NO2- tương đối thấp, biến động từ 0,11 – 0,19 mg/L Tại thời điểm 6 giờ sáng là 0,11 mg/L, sau đó có xu hướng tăng dần và cực đại lúc 18 giờ (0,19 mg/L) Sau thời điển này hàm lượng NO2- tiếp tục giảm và ít biến động Hàm lượng NO2- tại thời điểm 06 giờ không khác biệt (P>0,05) với 10 giờ nhưng khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với 14 giờ và các thời điểm 18, 22 và

02 giờ khác biệt không ý nghĩa (P>0,05) Chênh lệch hàm lượng NO2- giữa giá trị cao nhất và thấp nhất là 0,09 mg/L Giống như ao 1 và 2, nhiệt độ và DO ban

ngày tăng thúc đẩy hoạt động của vi khuẩn nitrite hoá (Nitrosomonas), oxi hoá

NH3 và NH4+ thành NO2-

Theo Boyd et al (1980) và Timmons et al (2002), (trích dẫn bởi Huỳnh Trường Giang và ctv, 2008), khuyến cáo hàm lượng NO2- trong ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 1mg/L Theo Colt và Armstrong (1979) (Trích dẫn bởi Trương Quốc Phú, 2008) hàm lượng NO2- gây chết 50% cá nước ngọt sau 96 giờ là 0,66

– 200 mg/L Theo Schmitou (1993), (trích dẫn bởi Huỳnh Trường Giang và ctv,

2008) khi NO2- ở nồng độ > 1 mg/L và pH < 7 thì máu cá có thể trở nên có màu nâu do NO2- kết hợp với Hemoglobine của máu cá Nếu so sánh hàm lượng NO2-trong 4 ao nuôi cá Sặc rằn với các giới hạn đề nghị trên thì chỉ có NO2- ở ao 4 không làm ảnh hưởng đến phát triển của cá nuôi Tại ao 1, 2 và 3 ở hầu hết các thời điểm đều vượt mức cho phép (83,3% vượt mức cho phép, trừ tại thời điểm

10 giờ ở ao 1 và 2, 22 giờ ở ao 3) Do đó cần có biện pháp quản lý NO2- trong ao như: hạn chế thức ăn thừa và thay nước để giảm hàm lượng NO2- trong ao nuôi

4.1.7 Nitrate (NO 3 - )

NO3- là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng, không độc hại đối với cá, nhưng có thể làm thực vật phù du nở hoa, làm biến đổi chất lượng nước và gây bất lợi cho cá nuôi (Trương Quốc Phú, 2008)

Kết quả khảo sát cho thấy, hàm lượng NO3- có biến động theo thời gian trong ngày Ở ao 1, nitrate biến động trong khoảng 2,16 - 5,57 mg/L, giá trị cao nhất lúc 10 giờ (P<0,05), sau đó có xu hướng giảm dần và thấp nhất tại thời điểm

18 giờ Chênh lệch NO3- giữa giá trị cao nhất và thấp nhất là 3,41 mg/L Ở ao 2, nitrate dao động từ 2,94 - 4,53 mg/L Giá trị cao nhất lúc 14 giờ, sau đó có xu hướng giảm dần vào ban đêm và thấp nhất lúc 2 giờ (P<0,05) Ban ngày nhiệt độ

và hàm lượng oxy hòa tan tăng cao, các quá trình nitrite hoá rồi nitrate hóa NH3

và NH4+ tạo ra NO3- nhờ các vi sinh vật tự dưỡng (Nguyễn Thị Diệp Chi, 2009)

Trang 37

(P<0,05) và có xu hướng giảm vào ban đêm NO3

biến động từ 18 – 02 giờ khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Tại ao 4, hàm lượng NO3- bắt đầu tăng từ 6 giờ sáng đến 18 giờ (P<0,05), sau đó có xu hướng giảm dần vào ban đêm (Hình 4.7) Hàm lượng NO3- cao nhất lúc 14 giờ và 18 giờ (3,12 mg/L) và thấp nhất lúc 6 giờ (0,65 mg/L) (Hình 4.7) Giống với ao 1 và 2, do ban ngày DO và nhiệt độ tăng cao thúc đẩy các phản ứng oxy hoá NH3 và NH4+ tạo ra nhiều NO3-, ban đêm các quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ, làm thiếu hụt oxy các nitrate dễ bị khử thành N2O, NO và nitrơ phân

tử tách khỏi nước bay vào không khí (Lương Đức Phẩm, 2002)

Hàm lượng NO3- ở ao 4 thấp hơn các ao còn lại (P<0,05) (trừ thời điểm 18 giờ) Nguyên nhân do hàm lượng chất hữu cơ và chất bài tiết của cá thấp nên

c

B B A

C

B

A A

A a

a b

b

A A B

C

b

a bc a

B

AB AB A

e

b d

a

cd b cd

b B

de b cd

bc

A A A A

A A

B

Hình 4.7: Biến động hàm lượng NO3- theo thời gian

ng, những chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Theo Trương Quốc Phú (2008), hàm lượng NO3

thích hợp cho các ao nuôi cá từ 0,1 - 10 mg/L Qua khảo sát cho thấy, hàm lượng NO3- ở 4 ao đều trong ngưỡng cho phép của ao nuôi cá Do vậy, hàm lượng NO3-

không ảnh hưởng đến sự phát triển của cá Sặc rằn, nó góp phần làm tảo phát triển cung cấp thêm thức ăn cho cá sặc rằn

Trang 38

4.1.8 Hydro Sulfide (H 2 S)

Qua kết quả khảo sát (Hình 4.8), hàm lượng H2S ở ao 1 dao động 0,2 – 0,74 mg/L H2S ở thời điểm 6 giờ là 0,37 mg/L và đạt cực đại tại 10 giờ (0,74 mg/L) (P<0,05) Sau đó có xu hướng giảm và thấp nhất lúc 18 giờ (0,2 mg/L) Đối với ao 2 biến động hàm lượng H2S theo ngày đêm trong khoảng 0,12 đến 0,31 mg/L Đạt giá trị cao tại 6 giờ và thấp nhất lúc 18 giờ H2S tại các thời điểm trong ngày khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Ở ao 3, hàm lượng H2S dao động ngày đêm từ 0,1 mg/L đến 0,43 mg/L, giá trị thấp nhất tại 2 giờ và cao nhất lúc 10 giờ Sự khác biệt giữa các thời điểm tại ao 3 không có ý nghĩa (P>0,05) (trừ thời điểm 10 giờ)

Thoi gian trong ngay (gio)

0.0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7

b ab

A A A A

A A A

A

ab a ab

b

b

a ab A A

B

A b

ab

a b

a

A A

A A

Hình 4.8: Biến động H2S theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Nhìn chung, hàm lượng H2S ở 3 ao (1, 2 và 3) dao động từ 0,1 mg/L – 0,74 mg/L Hàm lượng H2S ở 3 ao đều cao tại thời điểm 6 giờ và 10 giờ, sau đó

có xu hướng giảm dần Sáng sớm oxy hoà tan thấp (Hình 4.3) và pH giảm (Hình 4.2) nên quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh sinh ra nhiều

Trang 39

đường hoá học hay sinh học tạo ra các dạng ion như S

2-, HS-…và tạo chất bền vững trong môi trường (SO42-) (Trương Quốc Phú, 2008) Mặt khác H2S trong thủy vực còn bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Khi giá trị pH và nhiệt độ tăng thì tỷ lệ

H2S/Tổng sulfide giảm (Bảng 2.2), có nghĩa là hàm lượng H2S giảm và ngược lại

Tại ao 4, hàm lượng H2S biến động từ 0,05 - 0,41 mg/L (Hình 4.8) H2S thấp nhất lúc 10 giờ và có xu hướng tăng vào ban đêm và đạt cao nhất lúc 02 giờ (P<0,05) Do cá nuôi còn nhỏ (2 tháng tuổi), diện tích ao lớn (200 m2), sâu (3m)

và lượng thức ăn cung cấp ít Ngoài ra, ao này chỉ nhận chất thải từ 2 con heo (30kg/con) nên ban ngày các quá trình phân huỷ tạo H2S thấp hơn so với các ao khác

Theo Trương Quốc Phú (2008), nồng độ H2S từ 0,01 - 0,05 mg/L có thể gây chết thủy sinh vật Qua khảo sát, bốn ao nuôi cá sặc rằn thì hàm lượng H2S đều rất cao so với giá trị tham khảo và có khả năng ảnh hưởng đến cá Do đó để đảm bảo cho cá phát triển tốt người nuôi cần hạn chế hàm lượng H2S trong ao và tạo cho ao nuôi có pH từ 7 – 8, khi đó tỉ lệ H2S/Tổng sulfide trong khoảng 9,0 – 50% và H2S sinh ra sẽ nằm trong khoảng cho phép của cá nuôi

4.1.9 Phosphate (PO 4 3- )

Qua khảo sát chu kỳ ngày đêm cho thấy (Hình 4.9), hàm lượng PO43- tại

ao 1 dao động từ 2,77 – 5,09 mg/L Tại thời điểm 6 giờ PO4

có giá trị là 3,02 mg/L Sau đó tăng dần qua các thời điểm 10 giờ, 18 giờ PO43- đạt cực đại tại thời điểm 22 giờ (5,09 mg/L) và thấp nhất lúc 02 giờ (2,77 mg/L) Biến động PO43-

vao ban ngày khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Tại ao 2, hàm lượng

PO43- dao động trong khoảng 4,35 mg/L đến 5,41 mg/L Giá trị thấp nhất phát hiện lúc 18 giờ và cao nhất lúc 22 giờ PO43- ở ao 2 tại các thời điểm trong ngày khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Ở ao 3, giá trị PO43- cao nhất phát hiện lúc 18 giờ (4,6 mg/L) và thấp lúc 22 giờ (3,84 mg/L), PO43- tại 02 giờ khác biệt có ý nghĩa so với các thời điểm khác

Trang 40

Thoi gian trong ngay (gio)

D bc

a

b

A

A A

B

B

A A

A a

abc ab

ab a a

b

A

A A

A

a a

ab c

A A

B

C

c

a b

a B

A A

B

Hình 4.9: Biến động hàm lượng PO43- theo thời gian

ững chữ cái thường giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thố

chữ cái hoa giống nhau chỉ khác biệt không ý nghĩa thống kê (P>0,05).

Đối với ao 4, hàm lượng PO4

biến động từ 1,68 - 2,16 mg/L Giá trị thấp nhất là lúc 14 giờ và cao nhất lúc 2 giờ Chênh lệch giữa thời điểm thấp nhất và cao nhất là 0,48 mg/L Hàm lượng PO43- ở ao 4 thấp so với 3 ao còn lại (P<0,05) (Hình 4.9) có thể do ao 4 nhận lượng chất hữu cơ không nhiều (2 con heo) bằng các ao còn lại (5 con heo)

Nhìn chung, hàm lượng PO43- ở 4 aocó xu hướng tăng vào ban đêm Ban ngày cường độ chiếu sáng tăng, tảo phát triển nhiều nên hấp thu lân (chủ yếu là lân ở dạng hoà tan PO43-) Ban đêm quá trình quang hợp của tảo không xảy ra và oxy hoà tan giảm tạo điều kiện cho quá trình phân huỷ yếm khí các hợp chất hữu

cơ nên hàm lượng PO4

có xu hướng tăng

Theo Dương Nhựt Long (2004), hàm lượng PO43- thích hợp cho nuôi cá thâm canh trong ao đất là từ 0,31 – 3,1 mg/L So sánh các kết quả khảo sát với giá trị tham khảo thì chỉ có ao 4 nằm trong khoảng cho phép, 3 ao còn lại (ao 1, 2

và 3) hàm lượng lân đều cao (trừ tại thời điểm 06 giờ và 02 giờ ở ao 1) Do đó cần chú ý màu nước để có kế hoạch thay nước kịp thời khi tảo phát triển quá mức

Ngày đăng: 09/11/2020, 22:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w