1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá các quy định về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010

17 234 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 306,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá các quy định về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 ...................................................................................................................................................

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi và điều kiện nuôi con nuôi 2

1 Khái niệm nuôi con nuôi và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi 2

2 Khái niệm về điều kiện nuôi con nuôi 4

II Đánh giá các quy định về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 4

1) Đánh giá những diểm tiến bộ trong quy định về điều kiện đối với người được nhận nuôi con nuôi 4

2) Đánh giá những diểm tiến bộ trong quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi 7

3 Đánh giá những diểm tiến bộ trong điều kiện về ý chí của các bên chủ thể .10

III Một số vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng điều kiện nuôi con nuôi và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi .13

1) Một số vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng điều kiện nuôi con nuôi 13

2) Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi .14

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

2

MỞ ĐẦU

Một trong những quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật quy định, bảo vệ là quyền được sống, được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình Tuy nhiên không phải tất cả trẻ em sinh ra đều có cha mẹ, đều may mắn được sống trong môi trường gia đình Trong xã hội còn nhiều trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, khuyết tật, sinh ra trong gia đình khó khăn không có điều kiện nuôi dưỡng Một trong những giải pháp

để bảo đảm cho trẻ em có một gia đình thay thế là cho trẻ em làm con nuôi Sự ra

đời của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 nói chung và việc quy định các điều kiện

nuôi con nuôi nói riêng đã tạo điều kiện cho các cá nhân, gia đình có nhu cầu muốn nhận nuôi con nuôi, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các em có hoàn cảnh đặc biệt được sống và được chăm sóc dưới mái ấm gia đình Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng các điều kiện nuôi con nuôi vào thực tế còn gặp những vướng mắc, bất cập Vì vậy,

để đảm bảo được mục đích và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi thì các điều kiện của người nhận nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi cần được quy định chặt chẽ, được nghiên cứu và hoàn thiện để giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh khi áp dụng các quy định này vào thực tế, Đây cũng là lý do em chọn đề số 13:

“Đánh giá các quy định về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010” làm đề tài nghiên cứu của mình

NỘI DUNG

I Những vấn đề lý luận về nuôi con nuôi và điều kiện nuôi con nuôi

1) Khái niệm nuôi con nuôi và ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

a) Khái niệm nuôi con nuôi

Nuôi con nuôi là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội và xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người, thể hiện mối quan

hệ gắn bó của con người với nhau

Trang 3

3

Khái niệm nuôi con nuôi có thể được xem xét dưới hai góc độ: góc độ xã hội và góc độ pháp lý

• Dưới góc độ xã hội

Dưới góc độ xã hội việc nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ

và con trên thực tế giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi nhằm đáp ứng những nhu cầu về tình cảm và lợi ích giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi mà không có sự công nhận của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

• Dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi có thể được hiểu: là sự kiện pháp

lý hoặc là quan hệ pháp luật Trong phạm vi bài tiểu luận này, nuôi con nuôi được hiểu dưới góc độ là sự kiện pháp lý

Với tư cách là một sự kiện pháp lý, điều kiện nuôi con nuôi bao gồm các điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức Hai điều kiện này có mối quan hệ với nhau và tạo ra hiệu lực pháp lý của quan hệ nuôi con nuôi Như vậy, dưới góc độ là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu

là việc một người hoặc hai người là vợ chồng nhận nuôi một người khác không do họ sinh ra, nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật

b) Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi

− Việc ban hành Luật nuôi con nuôi cũng như quy định mục đích của việc nuôi con nuôi đã thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tình yêu thương, tinh thần trách nhiệm, mối quan hệ tương thân tương ai giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người

− Việc nhận nuôi con nuôi góp phần làm giảm gánh nặng của nhà nước trước tình trạng trẻ em lang thang, không nơi nương tựa, không nguồn nuôi dưỡng,

Trang 4

4

hạn chế trẻ em có thể có hành vi vi phạm pháp luật hy mắc các tệ nạn xã hội

do thiếu sự quan tâm, giáo dục… Đây là cơ sở để đảm bảo sự ổn định, phát triển của đất nước, đồng thời cũng giúp giảm đi gánh nặng của ngân sách nhà nước vì không phải đưa các em vào các cơ sở bảo trợ xã hội

− Việc nhận nuôi con nuôi đem lại cho đứa trẻ một gia đình, ở đó đứa trẻ được hưởng sự yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng như những đứa trẻ khác

− Việc nhận nuôi con nuôi sẽ đáp ứng một cách hài hòa lợi ích của cả hai bên người nhận nuôi và người được nhận nuôi

2) Khái niệm về điều kiện nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi được xác lập trên cơ sở ý chí, tình cảm của các bên mà không gắn với quan hệ tự nhiên thuần túy về mặt sinh học huyết thống nên việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi phải gắn liền với các điều kiện cụ thể để tạo môi trường sống lành mạnh, an toàn cho trẻ Các điều kiện này được quy định bởi các quy phạm pháp luật mà người nhận nuôi con nuôi và con nuôi phải đáp ứng Từ lý luận trên ta có thể định nghĩa điều kiện nuôi con nuôi như sau:

Dưới góc độ pháp lý, điều kiện nuôi con nuôi là sự thể hiện ý chí của nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật quy định các điều kiện cần có đối với các chủ thể có liên quan trong việc cho – nhận con nuôi phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi và trên cơ sở đó việc nuô icon nuôi được công nhận là hợp pháp

II Đánh giá các quy định về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010

1) Đánh giá những diểm tiến bộ trong quy định về điều kiện đối với người được nhận nuôi con nuôi

Theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì điều kiện đối

với người được nhận làm con nuôi được quy định như sau:

1.1 Người được nhận làm con nuôi là “trẻ em dưới 16 tuổi”

Trang 5

5

Việc quy định tuổi như vậy đối với người được nhận nuôi theo Khoản 1 Điều

8 Luật Nuôi con nuôi là phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi và phù hợp

với các văn bản khác về độ tuổi của trẻ em Điều này thể hiện ở chỗ:

− Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi là người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ Việc thiết lập quan hệ nuôi con nuôi sẽ đảm bảo cho người con nuôi có sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ nuôi Gia đình vừa tạo cho các em một mái

ấm tình thương, vừa thuận lợi cho việc nuôi dưỡng, phát triển tình cảm gắn

bó giữa cha mẹ nuôi và con nuôi

− Thứ hai, theo quy định của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì “trẻ

em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi trở xuống” Do đó, Luật nuôi con nuôi

đã quy định tuổi của người được nhận làm con nuôi thành “trẻ em dưới 16 tuổi”, là cần thiết và hợp lý, tạo cơ hội cho trẻ em từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi

được nhận làm con nuôi

− Thứ ba, mục đích của việc nuôi con nuôi hướng tới mục tiêu chủ yếu là trẻ

em, tạo điều kiện cho trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình Quy định người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới

16 tuổi tạo điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có cơ hội được nhận làm con nuôi, được sống trong môi trường gia đình với sự bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi

1.2 “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được cho làm con nuôi nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi”

Quy định theo khoản 2 Điều 8 Luật nuôi con nuôi này đảm bảo việc nuôi con

nuôi phù hợp với nguyên tắc trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc của mình, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong gia đình có mối quan hệ huyết thống

Trang 6

6

hoặc gia đình có quan hệ họ hàng với trẻ Như vậy, trừ trường hợp ngoại lệ được

quy định tại Khoản 2 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi thì đối tượng của việc nuôi con

nuôi là trẻ em Quy định này vừa bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước, đồng thời vẫn bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh cam kết quốc tế khi nước

ta gia nhập Công ước Lahay 1993 về bảo vệ quyền trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực

nuôi con nuôi quốc tế

1.3 Người được nhận làm con nuôi chỉ được làm con nuôi trong trường hợp: “của một người độc thân hoặc của cả 2 người là vợ chồng”

Như vậy, Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010 Luật Nuôi con nuôi năm

2010 quy định trẻ em được cho làm con nuôi trong hai trường hợp: làm con nuôi của

một người độc thân hoặc làm con nuôi của vợ chồng

− Trường hợp trẻ em làm con nuôi của một người độc thân, người con nuôi sẽ trở thành con riêng của người đó Người con nuôi sẽ được yêu thương, chăm sóc của người cha hoặc người mẹ nuôi của mình

− Trường hợp thứ hai, trẻ em làm con nuôi của vợ chồng (vợ chồng phải có hôn nhân hợp pháp), người con nuôi đó sẽ trở thành con chung của cả hai vợ chồng Luật không cho phép người đang có vợ hoặc có chồng nhận con nuôi riêng, vợ chồng chỉ có thể nhận nuôi con nuôi chung và có sự thống nhất của

cả hai vợ chồng

Quy định này nhằm đảm bảo cho trẻ được cho làm cho nuôi có một môi trường gia đình trọn vẹn, có sự yêu thương đầy đủ của tất cả các thành viên trong gia đình, đảm bảo cho người con nuôi về nơi ăn chốn ở, về sự hòa hợp và sự ổn định thống nhất trong cách sống, cách chăm sóc giáo dục con nuôi Quy định này cũng phù hợp với pháp luật các nước trên thế giới là không được phép làm con nuôi 2 lần

1.4 “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”

Trang 7

7

Quy định tại Khoản 4 Điều 8 Luạt Nuôi con nuôi 2010 đã khẳng định tính nhân

đạo của việc nuôi con nuôi Bởi những trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt rất cần sự quan tâm nuôi dưỡng của cha, mẹ của một gia đình mà bản thân những trẻ em đó đã thiếu hoặc chính sách của Nhà nước không thể đảm bảo cho các

em được hưởng đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em

2) Đánh giá những diểm tiến bộ trong quy định về điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi

2.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi được quy định tại Khoản

1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

a) Người nhận nuôi con phải “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”

Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, người có

năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đáp ứng đủ hai điều kiện: đủ 18 tuổi trở lên; không phải là người mất năng lực hành vi dân sự và không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Quy định người nhận con nuôi là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là cần thiết, đảm bảo sự thể hiện ý chí tự nguyện của người nhận nuôi, cũng như khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi của cha mẹ nuôi

b) Độ tuổi người nhận nuôi con nuôi phải “hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”

Điểm b Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 đã kế thừa quy định này

từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Đây là điều kiện cần thiết để cha mẹ nuôi

có thể đảm đương các nghĩa vụ đối với con nuôi Giữa người nhận nuôi và con nuôi phải tuân theo những điều kiện nhất định về độ tuổi để đảm bảo có sự chênh lệnh và khoảng cách giữa hai thế hệ Có như vậy, việc nuôi con nuôi mới đảm bảo được mục đích là: xác lập quan hệ cha mẹ và con, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi

Trang 8

8

được trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Hơn nữa, về mặt sinh học giữa hai thế hệ kề cận luôn có khoảng cách tuổi tác mới đảm bảo bảo được

sự tôn trọng và khả năng nuôi dưỡng giáo dục con cái Đồng thời, quy định này cũng nhằm tránh trường hợp người nhận nuôi con nuôi có mục đích khác như lạm dụng tình dục với người con nuôi Nếu một người là con nuôi của cả hai vợ chồng thì cả

cha nuôi, mẹ nuôi đều phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Tuy nhiên, theo Khoản

3 Điều 14 thì không áp dụng khoảng cách về độ tuổi để đảm bảo trẻ em được sống

trong môi trường gia đình, họ hàng thân thích với cha hoặc mẹ đẻ hoặc cô, dì, chú, bác ruột thịt của mình

c) Người nhận nuôi con nuôi phải “có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ

ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi”

Điểm c Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi có nghĩa là người muốn nhận

nuôi con nuôi phải chứng minh được mình có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ

ở ổn định Đây là một điều kiện có ý nghĩa quan trọng Người nhận nuôi con nuôi

có sức khỏe thì mới có thể chăm sóc tốt cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi Nếu gia đình nhận nuôi không có điều kiện kinh tế thì cuộc sống của trẻ không được đảm bảo, việc nuôi con nuôi cũng không có ý nghĩa, mục đích của việc nuôi con nuôi không đạt được

Trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi hoặc cô, dì, chú, bác, cậu ruột nhận cháu làm con nuôi thì điều kiện kinh tế, sức khỏe không cần đặt ra Quy định này đã tạo điều kiện cho trẻ em được sống cùng cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc ra đình họ hàng mở rộng, đảm bảo quyền được sống trong gia đình huyết thống của trẻ Điều này cũng phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống đạo đức của dân tộc, vừa phù hợp với các văn bản pháp lý quốc tế về nuôi con nuôi

2.2 Quy định những người không được nhận nuôi con nuôi là theo Khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi

Trang 9

9

“a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em”

Quy định này là đúng đắn bởi theo pháp luật thì những người này thướng có lối sống buông thả, nhận thức lệch lạc về giá trị đạo đức dẫn đến có những hành vi vi phạm đạo đức hoặc nghiện các chất kích thích như thuốc lá, ma túy…gây hủy hoại trí tuệ, sức khỏe con người nên đang bị xử lý hành chính tại các cơ sở giáo dưỡng,

cơ sở chữa bệnh Khi một đứa trẻ chưa có khả năng nhận thức ổn định sống với những cha mẹ nuôi đó dễ bị ảnh hưởng bởi lối sống thiếu lành mạnh, do đó đứa trẻ

đó sau này có nguy cơ phạm tội cao hơn Vì vậy, xét về tư cách đạo đức những người này không đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi

2.3 Quy định về các điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi có yếu

tố nước ngoài theo Điều 29 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Điều kiện của người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phân biệt thành hai trường hợp:

− Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú

ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện

theo quy định cầu pháp luật nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi;

Trang 10

10

− Đối với công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ

điều kiện theo quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi và pháp luật cả nước

nơi người được nhận làm con nuôi thường trú

Như vậy, Luật Nuôi con nuôi đã áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú cùa người nhận nuôi là nơi pháp luật có hiệu lực đối với việc nuôi con nuôi Việc áp dụng pháp luật nơi thường trú của người nước ngoài xin nhận con nuôi là hoàn toàn phù hợp, bởi nước nơi cha mẹ nuôi thường trú chính là nơi con nuôi sinh sống Pháp luật nơi cha

mẹ nuôi thường trú điều chỉnh sẽ đảm bảo được quyền lợi của trẻ được nhận nuôi trong việc theo dõi, giám sát việc nuôi con nuôi

3) Đánh giá những diểm tiến bộ trong điều kiện về ý chí của các bên chủ thể

Sự thể hiện ý chí của các bên chủ thể có liên quan là yếu tố thiết yếu cần thiết, tạo cơ sở để giải quyết việc nuôi con nuôi Chỉ khi việc nuôi con nuôi là sự thể hiện đúng ý chí tự nguyện của các bên chủ thể thì việc nuôi con nuôi mới thực sự bền vững, mới tạo cho trẻ em một mái ấm mà ở đó trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất

3.1 Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi

Ý chí của người nhận nuôi con nuôi phải trên cơ sở tự nguyện, có suy nghĩ

kỹ càng trước khi quyết định nhận nuôi con nuôi (khoản 3 Điều 21 Luật Nuôi

con nuôi) Nếu việc nhận nuôi con nuôi xuất phát từ những động cơ, mục đích

trái pháp luật, trái đạo đức sẽ không được công nhận có giá trị pháp lí

Ý chí của người nhận nuôi con nuôi được thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi Trong đơn người nhận nuôi con nuôi bày tỏ mong muốn nhận một đứa trẻ làm con nuôi với những đặc điểm cụ thể Nguyện vọng đó của người nhận nuôi về nguyên tắc được cơ quan có thẩm quyền tôn trọng và đáp ứng nếu có đối

Ngày đăng: 09/11/2020, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w