1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong luật hình sự việt nam ( trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hà nội)

75 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 590,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong luật Hình sự Việt Nam, để đánh giá thực trạng áp dụng, xác định những khó khăn, vướng mắc để đưa ra những giải pháp nhằm áp dụng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ NHƢ QUỲNH

TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐOÀN THỊ NHƢ QUỲNH

TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)

Chuyên ngành: Luật Hình sự & Tố tụng Hình sự

Mã số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng

Hà nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đoàn Thị Như Quỳnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM 6

1.1 Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 6

1.1.1 Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 6

1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 7

1.1.3 Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng cấm với một số tội danh khác trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế 24

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm qua từng giai đoạn 30

1.2.1 Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 30

1.2.2 Quy định về tội phạm sản xuất, buôn bán hàng cấm trong BLHS năm 1985 31

1.2.3 Quy định về tội sản xuẩt, buôn bán hàng cấm trong BLHS năm 1999 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BLHS VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ CÁC YÊU CẦU, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM 38

2.1 Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trên địa bàn thành phố Hà Nội 38

2.1.1 Đặc điểm về địa lý, kinh tế - chính trị - xã hội của thành phố Hà Nội ảnh hưởng đến tình hình tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng cấm 38

2.1.2 Tổng quan diễn biến của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và kết quả xét xử tại Tòa án hai cấp thành phố Hà Nội 39

2.1.3 Những vi phạm, sai lầm trong áp dụng pháp luật và nguyên nhân 43

2.2 Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm 46

Trang 6

2.2.1 Các yêu cầu 46

2.2.2 Các giải pháp 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN 57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay, qua hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu

to lớn và quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế, văn hóa- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đời sống nhân dân từng bước ổn định và ngày một nâng cao do có sự tác động tích cực của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo bằng cơ chế quản lý kinh tế và chính sách mở cửa hội nhập quốc tế năng động trong xu thế toàn cầu hoá Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những mặt trái ảnh hưởng tiêu cực và làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, trong

đó có các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh tế; với nhiệm vụ chính là sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho xã hội phát triển, hoạt động kinh tế mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đất nước nhưng hiện nay, các loại tội phạm về kinh tế lại xuất hiện ngày càng nhiều và trở nên tinh vi hơn

Thành phố Hà Nội – Thủ đô của đất nước là một trong những thành phố lớn tập trung đông dân cư, phát triển năng động Từ vị trí địa lý đặc thù, thuận lợi, cộng với nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng, thành phố Hà Nội có những điều kiện tốt để phát triển về kinh tế Bên cạnh các yếu tố thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thì đây cũng chính là điều kiện cho một số loại tội phạm phát triển, đặc biệt là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà điển hình là tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Trong khi đó, trên thực tế hoạt động điều tra xử lý tội phạm sản xuất, buôn bán hàng cấm hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu trấn áp tội phạm cũng như những diễn biến phức tạp của tội phạm

Những năm gần đây, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trên địa bàn thành phố Hà Nội có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp Đồng thời việc xét xử tội

Trang 8

phạm này trong thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập, các quy định của pháp luật còn nhiều mâu thuẫn, không đồng bộ và chưa có văn bản hướng dẫn kịp thời

Để nhận thức đúng, áp dụng thống nhất quy định của BLHS Việt Nam và

áp dụng đúng những quy định mới của BLHS về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm phù hợp với thực tiễn thì việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là rất quan trọng Qua đó xác định được những vấn đề bất cập, những hạn chế thiếu sót trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn đang đặt ra tại thành phố

Hà Nội hiện nay

Bên cạnh đó, khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài này, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 mới được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (Sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2018 Vì lẽ đó, các văn bản hướng dẫn thi hành, các công trình nghiên cứu về đề tài này chưa nhiều

Từ những vấn đề nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn Thành phố Hà Nội)” làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật Hình sự Việt Nam, trong thời gian qua nhiều nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tội phạm nói chung và tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật Hình sự Việt Nam nói riêng Trong đó đáng chú ý là những công trình sau:

Thứ nhất, hệ thống các giáo trình, sách chuyên ngành: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, tập II, của

Trang 9

Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Bình luận khoa học Bộ Luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 – Phần các tội phạm” của TS Phạm Mạnh Hùng do NXB Lao động xuất bản năm 2019; “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017” của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên);

Thứ hai, hệ thống các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ luật học: Phòng ngừa tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm của lực lượng cảnh sát kinh tế trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, Luận án tiến sĩ của Lê Trung

Kiên năm 2015; Điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

trên địa bàn tỉnh An Giang của Lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về TTQLKT&CV, Luận văn thạc sĩ của Học viên cao học Nguyễn Nhật Trường

năm 2007; Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật

Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng), Luận văn

Thạc sĩ của Lục Thị Út năm 2014; Tội buôn bán hàng cấm theo Pháp luật Hình

sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ của Trần Bích Liên

Thứ ba, hệ thống các bài viết, đề tài khoa học: “Hoàn thiện các quy định

về hình phạt đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Bộ luật Hình sự” (Tạp chí Tòa án số 3(2015) – Tác giả: Nguyễn Chí Công; “Những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và một số vấn đề cần lưu ý” (Tạp chí Tòa án số 6 (2016) – Tác giả: Nguyễn Chí

Công); “Điều 155 Bộ luật Hình sự và kiến nghị hoàn thiện” (Tạp chí Tòa án số

3 (2014) – Tác giả: Lê Văn Sua)

Những Công trình kể trên đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận cũng như thực tiễn của tội phạm nói chung cũng như tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nói riêng Hiện nay cùng với sự phát triển của đất nước, các vấn đề xã hội luôn được chú trọng, quan tâm; đặc biệt tình hình diễn biến của tội phạm liên quan đến hàng cấm ngày càng phức tạp

Trang 10

và diễn ra trên diện rộng Do vậy, nghiên cứu tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong luật Hình sự Việt Nam, để đánh giá thực trạng áp dụng, xác định những khó khăn, vướng mắc để đưa ra những giải pháp nhằm áp dụng đúng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm củng cố ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:

* Mục đích nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận

và thực tiễn áp dụng tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trên cơ sở thực tiễn tại thành phố Hà Nội để đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng có hiệu quả quy định của Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

* Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn:

- Về mặt lý luận: Phân tích những vấn đề lý luận về tội phạm sản xuất (như lịch sử lập pháp, khái niệm, đặc điểm, các dấu hiệu cấu thành tội phạm)

về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm tại Việt Nam để người đọc có thể tiếp cận và hình dung một cách rõ nhất về tội này

- Về mặt thực tiễn: Đánh giá tình hình hoạt động của tội phạm này trên

cơ sở thực tiễn tại địa bàn thành phố Hà Nội Thông qua các bản án chỉ ra những vướng mắc trong công tác điều tra, truy tố, xét xử từ đó rút ra những kết quả, thành tựu cũng như vướng mắc tồn tại, nguyên nhân làm phát sinh loại tội phạm này

- Về giải pháp: Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của luật hình sự Việt Nam đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là tội phạm sản xuất, buôn bán hàng cấm trong luật Hình sự Việt Nam Luận văn nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các vụ án về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong khung thời gian từ 2015 đến tháng 6 năm 2018

Trang 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý đối với tội buôn bán hàng cấm

Luận văn sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của TANDTC và VKSNDTC để phân tích các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn

Luận văn phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về tội sản xuất buôn bán hàng cấm; khái quát lịch sử pháp luật về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và so sánh tội sản xuất, buôn bán hàng cấm.với một số tội phạm về vi phạm trật tự quản lý kinh tế để làm sáng tỏ tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

Đồng thời, luận văn cũng thể hiện rõ thực trạng áp dụng pháp luật, nêu những bất cập, khó khăn, vướng mắc và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 2 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật Hình sự

Việt Nam về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm

Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về tội sản xuất, buôn

bán hàng cấm trên địa bàn thành phố Hà Nội và các yêu cầu, giải pháp bảo đảm

áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG CẤM

1.1 Một số vấn đề lý luận về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

1.1.1 Khái niệm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

- Khái niệm hàng cấm:

Hàng hóa là sản phẩm do lao động tạo ra và dùng vào mục đích buôn bán trên thị trường Tuy nhiên mỗi loại hàng hóa có những đặc tính riêng Có những loại hàng hóa có tính chất đặc biệt mà việc sản xuất, lưu thông, sử dụng các loại hàng hóa đó trên thị trường gây tác động tiêu cực đến con người, môi trường và xã hội, gây thiệt hại nghiêm trọng đến an ninh quốc phòng, chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa dân tộc, môi trường và sức khỏe của người dân thì Nhà nước quy định không được sản xuất, lưu thông, kinh doanh, sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành , chưa được phép

sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam Những loại hàng hóa này được liệt kê trong danh mục cấm cá nhân, tổ chức tự do buôn bán và được gọi là “hàng cấm”

+ Theo từ điển pháp luật hình sự: Hàng cấm là hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh [73, tr 110]

+ Theo Khoản 6 Điều 3 Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại thì, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có nêu: “Hàng cấm là những mặt hàng bị cấm sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam” [17, tr 13]

Danh mục các loại hàng cấm của Việt Nam có sự thay đổi theo thời gian và thường xuyên được điều chỉnh tương thích với các đặc điểm kinh tế -

xã hội Ví dụ, trước đây, một số vật nuôi và cây trồng được phép nhập về Việt

Trang 13

Nam nhưng hiện nay thì bị cấm Hoặc trước đây pháo là mặt hàng được phép nhập khẩu nhưng ngày nay lại bị cấm

- Sản xuất hàng cấm: Được hiểu là hành vi làm ra hàng cấm bằng bất kỳ

phương pháp nào, kỹ thuật công nghệ nào

- Buôn bán hàng cấm: Được hiểu là hành vi dùng tiền, tài sản (không

phải là tiền) hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền để trao đổi, thanh toán lấy hàng cấm hoặc ngược lại

Trên cơ sơ các phân tích trên có thể đưa ra khái niệm tội sản xuất, buôn

bán hàng cấm như sau: Tội sả

n xuất, buôn bán hàng cấm là hành vi sản xuất, buôn bán những hàng hóa

mà Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh, do người có năng lực trách nhiệm hình

sự hoặc do pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong việc sản xuất, kinh doanh đối với một số mặt hàng đặc biệt

1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

Theo quan điểm của TS Phạm Mạnh Hùng trong Bình luận khoa học

Bộ Luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 – Phần các tội

phạm do NXB Lao động xuất bản năm 2019 và những nghiên cứu của bản

thân, các dấu hiệu pháp lý của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được phân tích như sau:

*Khách thể của tội phạm:

Đối tượng tác động của tội phạm là hàng cấm.Hàng cấm là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam [17]

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là tội xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong việc sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng đặc biệt Khách thể trực tiếp cuả tội này là quan hệ xã hội trong lĩnh vực sản xuất, buôn bán

Trang 14

những hàng hóa Nhà nước độc quyền quản lý Các mặt hàng này không được nhà nước cho phép san xuất, lưu hành trên thị trường Nhưng không phải tất cả đỏ đều thuộc phạm vi đối tượng của tội này Có những mặt hàng cũng bị Nhà nước cấm sản xuất, lưu hành trên thị trường nhưng đã được quy định trong những điều luật riêng: ma túy, vũ khí quân dụng, … thì không còn là đối tượng của điều luật này nữa

* Mặt khách quan của tội phạm:

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở 2 hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm

Sản xuất hàng cấm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt

động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoặt động khác làm

ra hàng cấm

Buôn bán hàng cấm: Là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt

động chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng cấm vào lưu thông

Hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng cấm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 50 kilôgam trở lên hoặc 50 lít trở lên;

- Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu 1.500 bao trở lên;

- Sản xuất, buôn bán pháo nổ 06 kilôgam trở lên;

- Sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 100.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;

Thu lợi bất chính 50.000.000 trở lên là trường hợp thu được lợi ích vật chất không chính đáng từ việc phạm tội trị giá 50.000.000 đồng trở lên

Trang 15

- Sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép

sử dụng tại Việt Nam trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên;

- Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d

và đ khoản 1 Điều 190 BLHS nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193,

194, 195, 196 và 200 của BLHS mà còn vi phạm

* Dấu hiệu về nhân thân cũng được chú ý trong điều luật:

Đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS là đã bị

xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi sau đây: sản xuất, buôn bán hàng cấm; buôn lậu; vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; sản xuất, buôn bán hàng giả; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gi thực phẩm; sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; sản xuất, buôn bán hàng giả là thức

ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; đầu cơ; trốn thuế

Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trên đây mà còn vi phạm, nếu trước đó đã bị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm

- Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d

và đ khoản 1 Điều 190 BLHS nhưng đã bị kết án về một trong các tội quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại một trong các điều 188, 189,

190, 191, 192, 193, 194, 195 và 200 của BLHS là đã bị kết án về một trong các

Trang 16

tội sau đây: tội buôn lậu (Điều 188); tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189); tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190); tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191); tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); tội đầu cơ (Điều 196); tội trốn thuế (Điều 200)

Bị coi là đã bị kết án về một trong các tội trên đây, chưa được xóa án tích

mà còn vi phạm nếu người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội đã bị Tòa án kết án về một trong các tội trên, nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của BLHS mà lại thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm

Cần lưu ý, hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh nhưng hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa đó thỏa mãn dấu hiệu của một trong các tội được quy định tại một trong các điều 232, 234,

244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 BLHS, thì người thực hiện hành vi đó không bị truy cứu TNHS về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà bị truy cứu TNHS về một trong các tội tương ứng được quy định tại các điều luật cụ thể đó của BLHS Cụ thể là, tùy từng trường hợp, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu TNHS về một trong các tội sau đây: Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Điều 232); tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234); tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246); tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội mua bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 253); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc

Trang 17

sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 254); tội chế tạo, mua bán trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304); tộ chế tạo, mua bán trái phép vật liệu nổ (Điều 305); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ,

vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự (Điều 306); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân (Điều 309); tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (Điều 311)

* Về cấu thành tăng nặng:

- Các dấu hiệu khác thuộc về mặt khách quan của CTTP không đóng vai trò định tội mà chỉ đóng vai trò là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc đóng vai trò là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS Về thủ đoạn phạm tội đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm: các đối tượng phạm tội sử dụng nhiều thủ đoạn phạm tội khác nhau, từ đơn giản đến tinh vi, với cách thức quy mô từ nhỏ lẻ, phân tán đến sản xuất hàng loạt, có tổ chức

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Lỗi cố ý được quy định tại Điều 10 BLHS 2015 Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,

và mong muốn thực hiện hành vi đó

Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, lỗi cố ý thể hiện ở chỗ: Người phạm tội hoặc người có thẩm quyền thực hiện hành vi phạm tội nhân danh pháp nhân thương mại nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó

* Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm là người đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực TNHS và

Trang 18

Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm này không có gì đặc biệt so với các tội phạm khác, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ thể của tội phạm này Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này Khoản 2 Điều 12 liệt kê về các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổ phải chịu trách nhiệm hình dự thì tội phạm này không được liệt kê, bởi vậy, người phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm khi họ trên 16 tuổi

Ngoài chủ thể là cá nhân, pháp nhân thương mại cũng là đối tượng phải chịu TNHS Đây là quy định hoàn toàn mới, mang tính đột phá của BLHS năm

2015 so với quy định của BLHS năm 1999 Pháp nhân thương mại phải chịu TNHS khi thỏa mãn một trong các điểm quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015 như sau:

“1 Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2

và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.”

2 Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.”

*Hình phạt đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và các điểm mới của BLHS 2015 so với BLHS 1999

So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng quy định 02 loại hình phạt đối với tội buôn bán hàng cấm là hình phạt

Trang 19

chính và hình phạt bổ sung Điều 190 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm

2017 quy định 03 khung hình phạt đối với cá nhân phạm tội buôn bán hàng cấm (tương đồng với BLHS năm 1999) và 04 khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì từ khung 1 đến khung 3 (từ khoản 1 đến khoản

3 Điều 190 BLHS) tương đồng nhau Trong đó khung 1 (quy định tại khoản 1) là khung cơ bản, khung 2 và khung 3 (quy định tại khoản 2 và khoản 3) lần lượt là khung tăng nặng thứ nhất và khung tăng nặng thứ hai với nhiều tình tiết định khung tăng nặng khác nhau

Hình phạt chính được áp dụng đối với cá nhân gồm hình phạt tiền và hình phạt tù có thời hạn Đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm hình phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

Hình phạt chính của tội buôn bán hàng cấm theo khung hình phạt cơ bản: Khung hình phạt cơ bản được áp dụng đối với trường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng Hình phạt chính được áp dụng đối với cá nhân phạm tội gồm hình phạt tiền và hình phạt tù có thời hạn Đối với pháp nhân thương mại phạm tội hình phạt chính chỉ là hình phạt tiền

Khung hình phạt cơ bản được quy định trong BLHS năm 2015 sửa đổi

bổ sung năm 2017 nặng hơn so với BLHS năm 1999

a) Hình phạt đối với người phạm tội

* Khung hình phạt tại khoản 1:

Người phạm tội bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan)

Hình phạt chính của tội buôn bán hàng cấm theo khung hình phạt tăng nặng thứ nhất: BLHS năm 2015 bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính vào khoản 2 của điều luật Đây là một trong những quy định thể chế hóa chính sách hình sự của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp

Trang 20

là “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý nghười phạm tội, giảm bớt các hình phạt nghiêm khắc như tử hình, tù chung thân; tăng các hình phạt không tước quyền tự do của công dân như phạt tiền, cải tạo không giam giữ” [3, tr 4]

Hình phạt chính của tội buôn bán hàng cấm theo khung hình phạt tăng nặng thứ nhất đối với cá nhân gồm hình phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng (BLHS năm 1999 không quy định hình phạt tiền trong khung tăng nặng thứ nhất) hoặc hình phạt tù có thời hạn từ 05 năm đến 10 năm (BLHS năm 1999 quy định từ 03 năm tháng đến 10 năm) Đối với pháp nhân thương mại phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng

Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều

190 BLHS, áp dụng cho những trường hợp phạm tội sau:

* Khung hình phạt tại khoản 2:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến

Trường hợp phạm tội có tổ chức mà người phạm tội là người đồng phạm cùng với những người khác thực hiện tội phạm 02 lần trở lên theo một

Trang 21

kế hoạch thống nhất trước mà những lần đó chưa bị xử lý về hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, được đưa ra truy tố xét xử cùng một lúc, thì cùng với việc bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tổ chức” người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS

- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức:

Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để phạm tội là trường hợp người làm việc trong cơ quan, tổ chức hoặc được cơ quan, tổ chức giao làm việc gì

đó đã sử dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi phạm tội

- Có tính chất chuyên nghiệp:

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS; đồng thời là tình tiết định khung hình phạt quy định tại 6/13 tội xâm phạm sở hữu thuộc chương XVI BLHS và một số tội phạm khác như: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215); Tội Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (Điều 285) …

Theo đó phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp” là phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm từ 05 lần trở lên, không phân biệt đã bị truy cứu TNHS

Trang 22

hay chưa bị truy cứu TNHS nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính

Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp đồng thời thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm, thì người phạm tội phải

bị áp dụng them tình tiết định khung hình phạt “có tổ chức”, “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, 1 khoản 2 Điều 190 BLHS

Trường hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm có tính chất chuyên nghiệp nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều

190 BLHS, thì người phạm tội phải bị truy cứu TNHS theo quy định tại các điểm tương ứng của khoản 3 Điều 190 BLHS, đồng thời bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 BLHS

- Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành,

cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới

300 lít: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là thuốc bảo vệ thực

vật có số lượng từ 100 kg đến dưới mức 300 kg hoặc từ 100 lít đến dưới mức

300 lít

- Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao: Đây là

trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là thuốc lá điệu nhập lậu có số lượng

từ 3.000 bao đến dưới mức 4.500 bao;

- Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam: Đây là trường hợp

phạm tội mà vật phạm pháp là pháo nổ có số lượng từ 40 kg đến dưới mức

Trang 23

vật phạm pháp là hàng hóa khác không thuộc các trường hợp ở trên mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng hoặc người phạm tội thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng;

- Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ

300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà vật

phạm pháp không thuộc các trường hợp nói trên mà là hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam có trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới mức 01 tỷ đồng hoặc người phạm tội thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới mức 700 triệu đồng;

- Buôn bán qua biên giới, trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu;

Buôn bán hàng cấm qua biên giới là trường hợp người phạm tội đưa hàng cấm ra khỏi biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trên không và trong long đất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc ngược lại

để trao đổi lấy tiền hoặc hàng hóa khác trái với các quy định của pháp luật Cũng được coi là buôn bán qua biên giới nếu người phạm tội đã hoàn thành các thủ tục thông quan đối với hàng cấm đó

Tuy nhiên, đối với hành vi buôn bán hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới thì không áp dụng tình tiết định khung hình phạt “buôn bán qua biên giới” theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 190 BLHS đối với người thực hiện hành vi mà tùy từng trường hợp xử lý như sau: Nếu người có hành

vi buôn bán hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu dưới 1.500 bao và không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 BLHS thì không truy cứu TNHS đối với người đó; nếu buôn bán hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao thì truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi theo điểm e khoản 2 Điều 190 BLHS; nếu buôn bán hàng hóa là thuốc

Trang 24

lá điếu nhập lậu từ 4.500 bao trở lên thì truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi theo điểm b khoản 3 Điều 190 BLHS

- Tái phạm nguy hiểm:

Điều 53 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm như sau:

“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ư.”

Như vậy, theo bộ luật h nh sự các trường hợp được coi là tái phạm nguy hiểm có thể hiểu như sau:

- Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý

- Đã tái phạm, chưa được xóa án mà lại phạm tội do cố ý Đối với trường hợp này, người phạm tội khi bị tòa án kết luận có tái phạm và đã bị kết

án, khi chưa được xóa án tích mà lại phạm tội thì sẽ bị coi là tái phạm nguy hiểm, không phân biệt tội ít nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

Khoản 3 điều 9 Bộ luật hình sự 2015 định nghĩa tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như sau:

“3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

Trang 25

4 Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do

Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Có thể thấy một trong những điều kiện quan trọng để có thể coi là tái phạm nguy hiểm đó là người phạm tội đã phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã bị kết án tái phạm mà vẫn tiếp tục phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích

Theo đó, đối với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm thì tái phạm nguy hiểm ở đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k khoản 2 Điều 190 BLHS hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại khoản 1 hoặc một trong các điểm a, b,

c, d, đ, e, g, h, I, k khoản 2 Điều 190 BLHS

Trường hợp phạm tội vừa là tái phạm nguy hiểm vừa thuộc một trong các trường hợp được quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, I, k khoản 2 Điều 190 BLHS, thì cùng với việc áp dụng tình tiết định khung hình phạt :tái phạm nguy hiểm” theo điểm 1 khoản 2 Điều 190 BLHS, người phạm tội còn phải bị áp dụng điểm tương ứng trong khoản 2 Điều 190 BlHs

Ví dụ: người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố

ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội buôn bán pháo nổ

100 kilôgam thì người phạm tội phải bị áp dụng cả 02 tình tiết định khung hình phạt tại điểm g, l khoản 2 Điều 190 BLHS

Trường hợp người phạm tội bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích

Trang 26

mà lại thực hiện hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại khoản 3 Điều 190 BLHS, thì phải áp dụng khoản 3 Điều 190 BLHS để truy cứu TNHS đối với người phạm tội; đồng thời, áp dụng tinhd tiết tăng nặng TNHS “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLhS để quyết định hình phạt đối với người phạm tội

* Khung hình phạt tại khoản 3:

Quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

- Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên;

- Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên;

- Pháo nổ 120 kilôgam trở lên;

- Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên

- Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên

* Hình phạt bổ sung tại khoản 4:

Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Trang 27

- Phạm tội thuộc thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm

a, d, đ, e, g, h, k và l khoản 2 Điều 190 BLHS, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 190 BLHS, thì

bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

- Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

* Hình phạt bổ sung:

Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm

Từ những nghiên cứu về quy định của BLHS 2015 và cấu thành của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm có thể rút ra một số vấn đề như sau: Sản xuất hàng cấm là làm ra hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau như: Chế tạo, chế biến, nhân giống, sao chép, sáng tác, dịch thuật… Nói chung, hàng cấm được sản xuất ra chủ yếu bằng phương pháp công nghiệp theo một quy trình từ nguyên liệu đến sản phẩm

Buôn bán hàng cấm là mua, xin, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nhằm bán lại cho người khác; dùng hàng cấm để trao đổi, thanh toán; dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán… lấy hàng cấm để bán lại cho người khác

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (thuộc Chương XVIII phần các tội xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế ) Người thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm là do lỗi cố

ý (cố ý trực tiếp), tức là nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm là trái pháp luật và mong muốn thực hiện hành vi đó

Động cơ, mục đích của người phạm tội tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định mục đích của người phạm

Trang 28

tội có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt, nếu vì lợi nhuận mà sản xuất, buôn bán hàng cấm, thì tính chất nguy hiểm cao hơn người phạm tội vì cảm tình, nể nang, mà sản xuất, buôn bán hàng cấm

Tội này xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản

lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ nước ta

Đối tượng của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là hàng cấm Đó là hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam.Trong các hàng cấm này

có một số được BLHS quy định là đối tượng của tội phạm khác nên không còn

là đối tượng của tội này như vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, các chất ma túy v.v…Hàng cấm thuộc phạm vi quy định của Điều 190 là hàng phạm pháp là hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối Danh mục hàng cấm theo điều luật này không

cố định mà có thể có sự thay đổi

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là hai tội đươc quy định trong cùng một điều luật là tội sản xuất và tội buôn bán hàng cấm Điều này thể hiện sự đánh giá của nhà làm luật về hai loại hành vi này có tính chất nguy hiểm như nhau và cần

xử phạt như nhau Điều luật quy định nhiều hành vi khách quan khác nhau như: sản xuất, buôn bán Vì vậy, khi định tội tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi nào thì định tội theo hành vi đó, mà không định tội hết tất cả các hành vi được liệt kê trong điều luật Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi khác nhau đối với nhiều đối tượng phạm tội khác nhau thì việc định tội có phức tạp hơn

- Hiệu lực về thời gian:

Điều 190 BLHS 2015 có hiệu lực áp dụng đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm xảy ra sau 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 (ngày BLHS 2015 có hiệu lực thi hành)

Trang 29

Riêng khoản 2 Điều 190 BLHS 2015 là quy định có lợi cho người phạm tội so với Điều 155 BLHS 1999 Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản

1 Điều 2 Nghị quyết 41//2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về thi hành BLHS 2015 thì quy định tại khoản 2 Điều 190 BLHS 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm thuộc khoản này xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm này (01 tháng 01 năm 2018) mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích

Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật: “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện” (khoản 1 Điều 7 BLHS 2015) Vì vậy, đối với hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, thì không áp dụng Điều 190 BLHS 2015 (trừ trường hợp xóa bỏ một hình phạt, quy định một hình phạt nhẹ hơn tại khoản 2 nêu trên),

mà tùy từng thời điểm xảy ra hành vi phạm tội áp dụng Điều 155 BLHS 1999 hoặc BLHS 1985 (trừ trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự)

- Hiệu lực về lãnh thổ, không gian:

Điều luật này có hiệu lực đối áp dụng đối với mọi hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam quy định Điều 5 BLHS

2015 hoặc có thể áp dụng đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm xảy ra

ở ngoài lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Điều 6 BLHS 2015

- Điểm mới:

Theo quy định tại Điều 190 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm

2017 thì khái niệm “hàng cấm” được mở rộng hơn so với quy định tại Điều

155 BLHS 1999 Khoản 1 Điều 155 BLHS 1999 quy định hàng cấm là “hàng

hóa mà nhà nước cấm kinh doanh” thì Khoản 1 Điều 190 BLHS năm 2015

sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hàng cấm là “hàng hóa mà nhà nước cấm

Trang 30

kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng; thuốc lá điếu nhập lậu; pháo nổ; thuốc bảo về thực vật mà nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam” Đồng thời, BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã định lượng

hóa giá trị hàng hóa phạm pháp khởi điểm tùy theo từng loại hàng cấm cụ thể

để cấu thành tội phạm, lượng hóa giá trị thu lợi bất chính khởi điểm để cấu thành tội phạm hoặc dưới mức khởi điểm được lượng hóa nhưng đã bị xử phạm vi phạm hành chính, đã bị kết án về một số hành vi

1.1.3 Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng cấm với một số tội danh khác trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là một tội độc lập trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nên có những dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm tội này như khách thể chính là trật tự quản lý kinh tế Tuy nhiên tội sản xuất, buôn bán hàng cấm có những đặc trưng riêng cần phân biệt với một số tội danh khác Cụ thể như sau:

*Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng cấm với tội buôn lậu:

Tội buôn lậu được quy định tại Điều 188 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Về dấu hiệu pháp lý hai tội này giống nhau về chủ thể của tội phạm (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) và mặt chủ quan của tội phạm (tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp và vì mục đích vụ lợi) Khách thể và mặt khách quan là hai yếu tố để phân biệt sự khác nhau giữa hai tội này Khách thể của tội buôn lậu là vi phạm các quy định pháp luật của Nhà nước về buôn bán hàng hóa qua biên giới hoặc buôn bán trong nước nhưng từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại từ nội địa vào khu phi thuế quan Đối tượng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là hàng cấm Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý Như vậy đối tượng tác động của tội buôn lậu rộng hơn

Trang 31

so với đối tượng tác động của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Đối tượng tác động cũng là dấu hiệu rõ ràng để phân biệt giữa hai tội này

Mặt khách quan của tội buôn lậu thể hiện ở hành vi mua bán qua biên giới từ hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc từ nội địa vào khu phi thuế quan các đối tượng nêu trên Tội buôn lậu hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi vận chuyển các đối tượng tác động nêu trên qua biên giới, qua khu phi thuế quan Trường hợp khi hàng hóa đã vào nội địa mà bị phát hiện thì vẫn cấu thành tội buôn lậu Buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hay ngược lại được hiểu là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, khu phi thuế quan để trao đổi, mua bán trái quy định pháp luật của Nhà nước về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu mà không khai báo, khai báo gian dối hoặc sử dụng giấy tờ giả hoặc lén lút vận chuyển hàng hóa qua các khu vực nói trên Các hành vi này có thể thực hiện bằng đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, đường bưu điện Có thể thấy tội Buôn lậu khong bao gồm hàng cấm Nếu buôn bán hàng cấm qua biên giới thì phải áp dụng điểm k, khoản 2 Điều

190 BLHS năm 2015 mà không áp dụng Điều 188

Hình phạt đối với tội buôn lậu nặng hơn so với hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Mức hình phạt tù có thời hạn của tội buôn lậu từ 06 tháng đến 20 năm, đối với pháp nhân phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng Trong khi đó mức hình phạt tù có thời hạn của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm từ 01 năm đến 15 năm, đối với pháp nhân thương mại phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng

* Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng cấm với tội buôn bán hàng giả:

Tội buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 192 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Về dấu hiệu pháp lý hai tội này giống nhau về chủ thể của tội phạm (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) và mặt chủ quan

Trang 32

của tội phạm (tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp và vì mục đích vụ lợi) Khách thể và mặt khách quan là hai yếu tố để phân biệt sự khác nhau giữa hai tội này

Khách thể trực tiếp của tội buôn bán hàng giả là xâm phạm các quy định của Nhà nước trong quản lý thị trường, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng, quyền được bảo hộ của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh đúng quy định pháp luật Hàng giả được hiểu là hàng hóa làm giả về nội dung, chất lượng và công dụng không đạt những tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu

so với hàng thật hoặc giả về hình thức như nhãn mác, bao bì của sản phẩm Tuy nhiên không phải tất cả các loại hàng hóa làm giả đều là đối tượng của tội này Đối với hàng hóa làm giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm; thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi do tầm quan trọng của các loại hàng hóa trên đối với đời sống xã hội nên được BLHS quy định thành những tội phạm riêng tại các Điều 193, 194, 195 BLHS

Mặt khách quan của tội buôn bán hàng giả thể hiện ở hành vi mua hàng biết rõ là hàng giả với giá rất rẻ và dùng các thủ đoạn gian dối để bán lại với giá của hàng thật Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm không quy định hậu quả là tình tiết cơ bản hoặc tình tiết định khung của tội phạm Nhưng đối với tội buôn bán hàng giả thì hậu quả xảy ra được quy định là một trong những yếu tố cấu thành cơ bản hoặc cấu thành tăng nặng của tội phạm Có thể thấy sản xuất, buôn bán hàng cấm là hàng giả (pháo giả, thuốc lá giả,…) thì phải áp dụng điều luật về buôn bán hàng giả (nếu người mua nhận thức nó là hàng giả)

Về mức hình phạt thì BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định hình phạt của tội buôn bán hàng giả nhẹ hơn so với hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Cụ thể là mức cao nhất trong từng khung hình phạt chính của tội buôn bán hàng giả và tội sản xuất, buôn bán hàng cấm tương

Trang 33

đồng nhau nhưng mức hình phạt khởi điểm quy định trong tình tiết định khung tăng nặng của tội buôn bán hàng giả là 07 năm tù (khoản 3 Điều 192 BLHS) còn của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là 08 năm tù (khoản 3 Điều

Khách thể và mặt khách quan là hai yếu tố để phân biệt sự khác nhau giữa hai tội này Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã thể hiện ở hành vi “Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép” [54, tr 203] Đối tượng tác động là “động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” [54, tr 203] hoặc “bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp hoặc của động vật hoang dã khác” [54, tr 203] Như vậy mặc dù đối tượng tác động của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã cũng là hàng cấm nhưng khi đối tượng tác động cụ thể là những động vật hoang dã nêu trên thì không xác định là tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà phải xác định có yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã

Về mức hình phạt: hình phạt của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã nhẹ hơn so với hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

Trang 34

Cụ thể là khởi điểm và mức cao nhất của từng loại hình phạt, trong từng khung hình phạt chính của tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã đều thấp hơn so với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

* Phân biệt tội sản xuất, buôn bán hàng cấm với tội mua bán trái phép chất ma túy:

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 BLHS năm 2015, thuộc chương XX - các tội phạm về ma túy Khách thể của tội mua bán trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ dộc quyền quản lý của Nhà nước

ta về các chất ma túy Mặc dù đối tượng tác động của tội mua bán trái phép chất ma túy cũng là hàng cấm nhưng khi đối tượng tác động cụ thể là ma túy (bao gồm các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng, các chất ma túy được dùng hạn chế, các chất hướng thần và các tiền chất) thì phải xác định thuộc nhóm tội phạm về ma túy

Chất ma túy được BLHS xác định là do Chính phủ quy định Hiện nay danh mục các chất ma túy được quy định tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/7/2013 ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất, gồm có 45 chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; 121 chất ma túy được dùng hạn chế; 69 chất hướng thần và 41 tiền chất

Chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy chỉ là cá nhân

Mặt khách quan và mặt chủ quan của hai tội này giống nhau Cụ thể là

có hành vi mua bán đối tượng tác động đã phân tích ở phần trên nhằm mục đích thu lợi Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp

Về hình phạt: hình phạt của tội mua bán trái phép chất ma túy nặng hơn

so với hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Cụ thể đối với tội mua bán trái phép chất ma túy không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính mà chỉ có hình phạt tù có thời hạn, chung thân hoặc tử hình là hình phạt chính Tội mua bán trái phép chất ma túy hình phạt tù khởi điểm là 02, cao nhất là tử

Trang 35

hình Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm hình phạt tù khởi điểm là 01, cao nhất

để phân biệt hai tội này Đồng thời mặt khách quan và chủ thể của hai tội này cũng khác nhau Cụ thể như sau:

Khách thể của tội phạm: Tội buôn bán hàng cấm xâm phạm trật tự quản

lý kinh tế thì tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng xâm phạm chế độ quản

lý của Nhŕ nước đối với vũ khí quân dụng Vũ khí quân dụng là đối tượng tác động đặc thù, là nguồn nguy hiểm cao đối với đời sống xã hội Việc mua bán trái phép vũ khí quân dụng có thể gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng về người, tài sản Do đó chỉ Nhà nước mới có thẩm quyền quản lý vũ khí quân dụng Vũ khí quân dụng được xác định theo Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30/6/2011 của UBTVQH khóa 12 về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ

Mặt khách quan của tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng là mua bán

vũ khí quân dụng không có giấy phép hoặc không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Chỉ cần có một trong hai hành vi mua hoặc bán vũ khí quân dụng thì đã có yếu tố cấu thành tội này Đối với tội này động cơ, mục đích cũng không phải là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm (giống tội sản xuất, buôn bán hàng cấm) nhưng Tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng thì hậu quả xảy ra được quy định là một trong những cấu thành tăng nặng của tội phạm

Chủ thể của tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng chỉ là cá nhân

Trang 36

Mặt chủ quan của hai tội này là giống nhau là tội phạm được thực hiện

do lỗi cố ý

Về hình phạt: hình phạt của tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng nặng hơn so với hình phạt của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm Mặc dù mức cao nhất của khung hình phạt cùng là 15 năm nhưng tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính mà chỉ có hình phạt tù có thời hạn, chung thân là hình phạt chính

1.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm qua từng giai đoạn

1.2.1 Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã tập trung tạo cơ sở pháp lý, trong thời gian ngắn đã có nhiều văn bản, sắc lệnh, nghị định, thông tư pháp luật được ban hành liên quan đến hoạt động đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán hàng cấm Sắc lệnh số 50 ngày 09/10/1945 về cấm xuất cảng ngũ cốc, Sắc lệnh số 160 ngày 21/8/1946 cấm nhập cảng xe hơi, phụ tùng xe hơi, các máy móc và đồ vật bằng kim khí Ngày 15/8/1951 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời số 116/TTg quy định các hình thức xử phạt những vi phạm Điều lệ về xuất nhập khẩu Ngày 22/12/1952 Chính phủ ban hành nghị định số 225 quy định tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc vận chuyển buôn bán trái phép, phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị hàng hóa

Sau khi miền Bắc được giải phóng, Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề ngăn chặn chống buôn lậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm Ngày 03/7/1966 Thủ tường Chính phủ ra Chỉ thị số 118/TTg về tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh chống đầu cơ, buôn lậu trong tình hình mới Khi đất nước được giải phóng thống nhất năm 1975, nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu, đầu cơ ngày càng them phức tạp, khó khăn

Trang 37

Ngày 30/6/1982, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh chống đầu

cơ, buôn lậu Sau đó, Hội đồng Bộ trường (nay là Chính Phủ) ban hành Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về xử lý hành chính đối với các hành vi đầu cơ buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép

Năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ra Nghị quyết số 68/HĐBT ngày 25/4/1984 về việc chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới Buôn lậu thời kỳ này được hiểu bao gồm các hành vi buôn bán hàng cấm, buôn bán trốn lậu thuế Quan điểm này được định nghĩa trong Từ điển nghiệp vụ phổ thông Công an nhân dân: “Buôn bán hàng cấm là buôn bán lén lút trái phép những hàng hóa thuộc diện Nhà nước thống nhất quản lý” [74]; Từ điển Tiếng Việt năm 1992 giải thích: “Buôn lậu là buôn bán trốn thuế hoặc hàng cấm” [73]

Như vậy, tội phạm về hàng cấm từ 1945 đến trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1985 được quy định trong tội Hàng lậu và là một tình tiết định khung của tội Buôn lậu

1.2.2 Quy định về tội phạm sản xuất, buôn bán hàng cấm trong BLHS năm 1985

Cùng với sự phát triển của đất nước, BLHS nước ta lần đầu tiên được ban hành ngày 27/6/1985 đã pháp điển hóa các văn bản pháp luât để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các cuộc đấu tranh chống tội phạm Sự ra đời của BLHS

là một bước tiến quan trọng trong hoặt động lập pháp của Nhà nước ta BLHS

đã góp phần nhận diện đúng bản chất, phân định rõ ranh giới giữa tội buôn lậu, vận chuyển hàng cấm, tạo điều kiện phát triển, phòng ngừa và đấu tranh đúng hướng, đúng đối tượng, có hiệu quả đối với các hoat động tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm quy định tại Điều 166 của BLHS năm 1985 – thuộc các tội phạm về kinh tế Cụ thể như sau:

Ngày đăng: 09/11/2020, 16:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w