Những giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 152 KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 9380101.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2019
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trịnh Thị Yến
Trang 4
môc lôc
Trang
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.3
1.4
Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.1 Khái niệm và những đặc điểm trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
37
2.2 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định về trách nhiệm hình sự đối
với người chưa thành niên phạm tội
48
2.3 Nội dung của trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành
niên phạm tội
54
2.4 Mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự với miễn trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
65
Chương 3: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
69
3.1 Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
69
3.2 Pháp luật quốc tế liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
103
3.3 Pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới về trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
108
Chương 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI NHỮNG
120
Trang 5
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
4.1 Thực tiễn áp dụng những quy định về trách nhiệm hình sự đối
với người chưa thành niên phạm tội
120
4.2 Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện những quy định của ộ luật
hình sự Việt Nam n m 2015 về trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
142
4.3 Giải pháp hoàn thiện những quy định về trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội của ộ luật hình sự
Việt Nam hiện nay
146
4.4 Những giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội
152
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: ộ luật hình sự BLDS: ộ Luật dân sự PLHS: Pháp luật hình sự CSHS: Chính sách hình sự TNHS: Trách nhiệm hình sự NCTN: Người chưa thành niên NCTNPT: Người chưa thành niên phạm tội TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao LHQ: Liên hợp quốc
CƯQTE: Công ước quốc tế
Trang 7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 4.1: Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội phạm NCTN
trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
120
Bảng 4.2: Tỷ lệ tổng số vụ và tổng số bị cáo đã đưa ra xét xử trên
tổng số vụ và tổng số bị cáo là NCTN bị đưa ra xét xử trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
122
Bảng 4.3: Thống kê số vụ án và số bị cáo là NCTN được xét xử sơ
thẩm trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
126
Bảng 4.4: Hình phạt cảnh cáo áp dụng đối với các bị cáo là NCTN
trong giai đoạn 10 n m ((2009-2018)
126
Bảng 4.5: Hình phạt tiền áp dụng đối với các bị cáo là NCTN trong
giai đoạn 10 n m (2009-2018)
127
Bảng 4.6: Hình phạt cải tạo không giam giữ áp dụng đối với các bị
cáo là NCTN trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
128
Bảng 4.7: Hình phạt tù có thời hạn và án treo được áp dụng đối với
các bị cáo là NCTN trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
130
Bảng 4.8: Việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là
NCTN trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
133
Bảng 4.9: Miễn TNHS, miễn hình phạt đối với các bị cáo là NCTN
trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
124
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Người chưa thành niên (viết tắt là NCTN) là người chưa phát triển đầy
đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống còn hạn chế, dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm nhưng cũng dễ thay đổi, thích nghi với hoàn cảnh mới, dễ giáo dục cải tạo, cho thấy ý thức phạm tội của NCTN chưa được hình thành một cách
rõ nét nên dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục Trên cơ sở này Nhà nước ta đã xây dựng chính sách hình sự người chưa thành niên phạm tội (viết tắt là NCTNPT), cụ thể được thể hiện qua quy định của LHS đối với NCTNPT như quy định về nguyên tắc xử lý đối với NCTN; quy định về hình phạt; biện pháp tư pháp áp dụng đối với NCTN; miễn hình phạt; miễn trách nhiệm hình
sự (viết tắt là TNHS) đối với NCTN … Những quy định này đã tạo ra cơ sở
pháp lí cho việc xử lý TNHS đối với NCTNPT Khi NCTN vi phạm pháp
luật, phạm tội thì việc áp dụng trách nhiệm pháp lí và trách nhiệm hình sự phải c n cứ vào đặc điểm tâm – sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm
sống của NCTN và chính sách xử lý đối với NCTNPT của Nhà nước ta
Trong những n m gần đây, do nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau, tình hình tội phạm NCTN diễn biến ngày một phức tạp Theo số liệu của Cục Thống kê tội phạm - Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Báo cáo thống
kê liên ngành n m 2018, số NCTN bị khởi tố mới mỗi n m chiếm khoảng 7% đến 8% trong tổng số bị can và có chiều hướng gia t ng Độ tuổi thực hiện hành vi tội phạm cao nhất từ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm khoảng 80% đến 90% dao động theo từng n m Khi áp dụng TNHS đối với NCTNPT, trong thực tiễn xét xử đã đạt được những thành tích đáng kể trong việc đấu tranh, giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm NCTN Trung bình mỗi n m có khoảng
3.846 bị cáo là NCTN bị đưa ra xét xử (Vụ tổng hợp, TANDTC, năm 2018 ) Tuy nhiên, đây mới chỉ là con số thống kê những vụ án đã được đưa ra xét xử còn số lượng tội phạm ẩn không được đưa ra xử lý do nhiều nguyên nhân khác nhau là tảng b ng chìm lớn của thực trạng tội phạm NCTN
Trang 9áp dụng vào thực tiễn còn bộc lộ những nhược điểm, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của xu thế hội nhập cũng như yêu cầu đấu tranh có hiệu quả đối với tình trạng tội phạm NCTN, chưa đáp ứng yêu cầu của các chuẩn mực pháp lý quốc tế hoặc chưa tương thích với quy định của Hiến pháp n m 2013
và các đạo luật khác của Việt Nam Unicef Việt Nam khi đánh giá khó kh n, vướng mắc trong thực tiễn xét xử các vụ án có bị cáo là NCTN để đưa ra sự cần thiết phải thành lập Tòa án chuyên trách đối với NCTN ở Việt Nam đã nhận định: “Một trong những nguyên nhân làm người chưa thành niên phạm tội tái phạm chính là vì luật còn thiếu cơ chế hỗ trợ, giúp người chưa thành niên phạm tội nhận thức được lỗi lầm của mình để khắc phục được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội của mình Các chế tài không tước tự do hạn chế về giáo dục và giá trị phục hồi thấp nên đã khiến các Tòa án ngần ngại áp dụng trong thực tiễn” [65, tr.39] Với việc khắc phục nhiều hạn chế của LHS n m 1999, LHS n m 2015 đã có nhiều điểm nổi bật trong quy định về TNHS đối với NCTNPT như: mục đích chủ yếu của việc xử lý là phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, thu hẹp phạm vi chịu TNHS của NCTN trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp NCTN được miễn TNHS Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện như: Trong khoản 2 Điều 14 chưa nói rõ người chuẩn bị phạm tội theo khoản này phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên; khoản 2 Điều 91 lồng ghép nội dung các trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự là chưa khoa học và hợp lý; Điều 101 dùng từ “điều luật” mà không chỉ rõ khung hình phạt
áp dụng dễ gây hiểu nhầm và vận dụng không thống nhất; chưa có điều luật quy định riêng trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn hình phạt
Trang 103
Đặc biệt, LHS n m 2015 chính thức có hiệu lực từ 01/01/2018 và việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn xét xử là một “mảnh đất mới” để nghiên cứu sinh có thể khai thác nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn quy định, qua đó làm rõ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xử cũng như những nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc, bất cập đó
để kiến nghị hoàn thiện BLHS và đưa ra giải pháp bảo đảm thực thi những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT
Những đòi hỏi về mặt lý luận, thực tiễn quy định và áp dụng pháp luật hình sự về TNHS đối với NCTNPT cho thấy việc nghiên cứu các quy định này trong Luật hình sự Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và cấp bách trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam Xuất phát từ lý do
trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam (Những vấn đề cơ bản của Phần chung)” để thực hiện luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thiện PLHS về TNHS đối với NCTNPT và các giải pháp thực thi pháp luật đúng đắn khi áp dụng TNHS đối với NCTNPT nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, Đề tài giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận về TNHS đối với NCTNPT, trong đó làm sáng
tỏ những vấn đề cơ bản như: khái niệm, đặc điểm TNHS đối với NCTNPT; cơ
sở của việc quy định về TNHS đối với NCTNPT; nội dung của trách nhiệm
hình sự đối với NCTNPT;
- Phân tích những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như
PLHS một số nước trên thế giới về TNHS đối với NCTNPT dưới góc độ luật học so sánh để khẳng định những kế thừa và những kinh nghiệm có thể tiếp
thu khi hoàn thiện PLHS trong tương lai về TNHS đối với NCTNPT;
Trang 114
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của những quy phạm PLHS
Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT từ giai đoạn Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay;
- Phân tích thực tiễn áp dụng những quy định của PLHS Việt Nam về
TNHS đối với NCTNPT;
- Xác định phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp
bảo đảm thực thi những quy định của LHS về TNHS đối với NCTNPT
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về TNHS đối với NCTNPT; những quy định của PLHS Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT; thực tiễn áp dụng những quy định PLHS về TNHS đối với NCTNPT ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” được đề cập đến trong luận
án đồng nhất với thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” (quy định trong
LHS n m 2015) Mặc dù tên gọi khác nhau nhưng bản chất nhằm chỉ cùng một đối tượng là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm Vì vậy, trong phạm
vi nghiên cứu của luận án, nghiên cứu sinh thống nhất sử dụng thuật ngữ NCTNPT khi nghiên cứu về đối tượng người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm
Do tính chất đa dạng, rộng lớn và phức tạp của chế định TNHS đối với
NCTNPT nên trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ đề cập đến
những vấn đề cơ bản của Phần chung pháp luật hình sự về TNHS đối với NCTNPT đúng như tên gọi của Đề tài luận án tiến sỹ luật học, mà không nghiên
cứu cấu thành các tội phạm cụ thể liên quan đến NCTNPT (Phần các tội phạm)
Nghiên cứu quy định pháp luật quốc tế, pháp luật hình sự của một số quốc gia và pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT
Thực tiễn áp dụng TNHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam trong giai đoạn 10 n m (2009-2018)
Trang 124.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm: phương pháp lịch sử, phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, điều tra án điển hình của khoa học luật hình sự và tội phạm học
để luận chứng các vấn đề khoa học được nghiên cứu
Phương pháp lịch sử được sử dụng để khảo cứu các tài liệu và các nguồn
sử liệu khác nhau về nhà nước và pháp luật liên quan đến TNHS đối với NCTNPT trong Luật hình sự Việt Nam (Chương 1, 3);
Phương pháp so sánh luật học, được sử dụng để so sánh, từ đó chỉ ra
những điểm tương đồng và khác biệt về các quy phạm pháp luật tương ứng có liên quan đến TNHS đối với NCTNPT ở Việt Nam với một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm, đưa ra đề xuất hoàn thiện PLHS Việt Nam
về TNHS đối với NCTNPT (Chương 2);
Phương pháp phân tích để làm rõ nội hàm những quy phạm pháp luật
hình sự về TNHS đối với NCTNPT Đồng thời, phương pháp này còn được
sử dụng để phân tích thực trạng áp dụng những quy phạm PLHS về TNHS đối với NCTNPT ở Việt Nam, chỉ ra những mặt được và còn hạn chế của Tòa án trong việc đưa ra các phán quyết về TNHS đối với NCTNPT (Chương 3,4);
Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp và xử lý số liệu liên
quan đến thực tiễn áp dụng TNHS đối với NCTNPT, phản ánh tính khách quan của thực trạng này, làm cơ sở cho việc đánh giá cũng như đưa ra những giải pháp định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật liên quan đến TNHS đối với NCTNPT (Chương 4);
Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng để nghiên cứu các bản
án trong thực tiễn xét xử NCTNPT, làm cơ sở cho việc đánh giá thực tiễn áp dụng TNHS đối với NCTNPT (Chương 4);
Trang 136
Phương pháp tổng hợp để khái quát hóa những quan điểm khoa học về
TNHS đối với NCTNPT, chỉ ra những đặc điểm có tính quy luật của pháp luật thực định cũng như thực tiễn áp dụng TNHS đối với NCTNPT (Chương 1,2)
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án sau khi bảo vệ thành công sẽ là công trình khoa khọc pháp lý đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu một cách toàn diện và
chuyên sâu đối với đề tài: Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam (Những vấn đề cơ bản của Phần chung) Luận án giải quyết những vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn
liên quan đến TNHS đối với NCTNPT (Phần chung) trong luật hình sự Việt Nam với những đóng góp dưới đây:
1) Hệ thống hóa và đánh giá tổng quan về sự thể hiện, phát triển của những quan điểm về vấn đề TNHS đối với NCTNPT trong khoa học luật hình
sự trong và ngoài nước;
2) Hình thành cơ sở lí luận, khung lí thuyết về TNHS đối với NCTNPT, trong đó làm sáng tỏ những nhận thức lý luận về TNHS đối với NCTNPT;
3) Đánh giá một cách toàn diện, sâu sắc những khía cạnh thể hiện nội dung TNHS đối với NCTNPT trong PLHS Việt Nam trên cơ sở phân tích những quy phạm pháp luật thực định, đối chiếu lịch sử, so sánh pháp luật; đánh giá sát thực thực tiễn áp dụng những quy định về TNHS đối với NCTNPT trong LHS và xác định nguyên nhân của những hạn chế trong áp dụng những quy định này
4) Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu kể trên, luận án đạt được kết quả quan trọng nhất là: kiến nghị hoàn thiện LHS n m 2015 về TNHS đối với NCTNPT và đưa ra giải pháp bảo đảm thực thi những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về vấn đề TNHS đối với NCTNPT (Phần chung) ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học Trong quá trình thực hiện luận án, tác
Trang 147
giả đã công bố một số công trình khoa học trên một số sách báo pháp lý nhằm đóng góp trong khoa học luật hình sự Việt Nam những tri thức lý luận, thực tiễn về TNHS đối với NCTNPT
Về mặt thực tiễn: những phát hiện của luận án trong đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng những quy định về TNHS đối với NCTNPT trong luật hình sự Việt Nam; những kiến nghị của luận án về giải pháp hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định này có thể phục vụ đắc lực cho công tác lập pháp cũng như áp dụng pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đấu tranh phòng, ngừa tội phạm nói chung và tội phạm NCTN nói riêng
Ngoài ra, luận án còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cho những nhà khoa học - luật gia, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự trong những cơ sở đào tạo đại học, sau đại học tại Việt Nam
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được cơ cấu thành 04 chương, cụ thể:
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Chương 2 Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội
- Chương 3: Những quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội
- Chương 4: Thực tiễn áp dụng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 158
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
NCTNPT và vấn đề xử lý NCTNPT là đề tài luôn được quan tâm nghiên cứu xuất phát từ những lí do sau: việc nghiên cứu trước hết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn xét xử những vụ án tội phạm NCTN mà kết quả là Tòa án phải
ra quyết định áp dụng những chế tài hình sự phù hợp để xử lý NCTNPT tương xứng với độ tuổi, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đồng thời, quá trình nghiên cứu cũng định hình, đặt nền móng cho khoa học pháp lý hình sự Việt Nam về TNHS đối với NCTNPT
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình, tác giả chủ yếu đi sâu
nghiên cứu TNHS đối với NCTNPT với các hướng tiếp cận: thứ nhất, các
công trình nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến TNHS đối với
NCTNPT; thứ hai, các công trình nghiên cứu chính sách hình sự đối với NCTNPT; thứ ba, các công trình nghiên cứu các biện pháp xử lý đối với NCTNPT; thứ tư, các công trình nghiên cứu khác (tâm lý học, xã hội học, tội
phạm học) mà NCTN là đối tượng nghiên cứu cũng là những tài liệu mà chúng tôi đề cập đến và sử dụng trong luận án
1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Trong khoa học Luật hình sự, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TNHS, song đại đa số đều thống nhất nội hàm khái niệm TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc thực hiện tội phạm [7, tr.122], [44, tr.14], [61, tr.41] Ngoài quan điểm này, còn có quan điểm khác đã đồng nhất TNHS với hình phạt, coi TNHS
phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội: “Trách nhiệm hình
sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội” [28, tr.59]
Trang 169
Trong nghiên cứu chuyên sâu về TNHS, tác giả Phạm Mạnh Hùng đã đưa
ra định nghĩa: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu
quả bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình
sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định” [29, tr.46]
GS.TSKH Lê V n Cảm cho rằng: theo nghĩa tích cực, “TNHS là trách
nhiệm phải xử sự hợp pháp của một người trong việc ý thức được nghĩa vụ của mình là không được thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm” (đây là cách hiểu không truyền thống, không có tính chất phổ biến), còn
theo nghĩa tiêu cực, “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một trình tự tố tụng riêng”
[10, tr.610] (cách hiểu theo quan điểm truyền thống, có tính chất phổ biến)
TNHS đối với NCTNPT là dạng đặc biệt của TNHS TNHS đối với NCTNPT là hậu quả pháp lý bất lợi mà NCTN phải chịu khi thực hiện tội phạm Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, c n cứ vào các quy định của
ộ luật Hình sự ( LHS) hiện hành, thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm do NCTN thực hiện trong nhiều n m, cũng như các đặc điểm liên quan đến tâm – sinh lý, điều kiện kinh tế, v n hóa, chính trị, xã hội, lịch sử, truyền thống của nước ta, về cơ bản các nhà khoa học – luật gia đều thống nhất khái niệm NCTNPT trong luật hình sự Trên cơ sở khảo sát về tâm lý, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như c n cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước đối với NCTN, đặc biệt là kết quả thống nhất và đầy đủ của nhiều công trình nghiên cứu [29, tr.133], [38, tr.27], [40, tr.520], [44, tr.343], [56, tr.459]
Tác giả Trần V n Dũng đã đưa ra khát quát về TNHS đối với NCTNPT
là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người từ một độ tuổi nhất
Trang 1710
định đến dưới 18 tuổi, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình
sự quy định là tội phạm TNHS của NCTNPT là TNHS giảm nhẹ bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS theo một trình
tự, thủ tục đặc biệt, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và chịu mang án tích [15, tr.15]
Nghiên cứu các công trình liên quan đến vấn đề cơ sở của TNHS trước đây và hiện nay trong khoa học luật hình sự còn tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau Chẳng hạn, GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng, cơ sở của TNHS là: “sự
hiện diện của tất cả những dấu hiệu do luật định về tội phạm”; PGS.TS Trần
V n Độ quan niệm, cơ sở của TNHS là: “tội phạm – hành vi nguy hiểm cho
xã hội chứa đựng các yếu tố cấu thành tội phạm ” [22, tr.182], hay PGS.TS
Nguyễn Mạnh Kháng cho rằng: “Suy cho cùng, thì cơ sở của trách nhiệm
hình sự là cấu thành tội phạm và chỉ dấu hiệu đó mới là cơ sở của trách nhiệm hình sự” [31, tr.113]
Trong khi đó, tiếp cận theo một hệ thống đầy đủ, logic và chặt chẽ, GS.TSKH Lê V n Cảm đã chỉ ra ba cách tiếp cận khác nhau về cơ sở của
TNHS tương ứng với ba bình diện: về mặt nội dung hay vật chất (khách quan);
về mặt hình thức (bên ngoài) và về mặt quy phạm (pháp lý) [10, tr.627-632]
Luật hình sự Việt Nam đã quy định khái niệm người chưa thành niên
phạm tội: Người chưa thành niên phạm tội chỉ bao gồm những người từ đủ 14
tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự quy định là tội phạm
ên cạnh đó trong khoa học luật hình sự còn có thuật ngữ “các hình thức
của trách nhiệm hình sự” Nghiên cứu vấn đề này tác giả nhận thấy trong khoa
học luật hình sự cho đến thời điểm hiện tại chỉ có công trình của GS.TSKH Lê
V n Cảm đề cập đến việc nêu khái niệm “hình thức thực hiện trách nhiệm hình
sự”, cụ thể: “hình thức thực hiện TNHS là việc thể hiện nội dung TNHS của người phạm tội trong bản án có hiệu lực của Tòa án” và tác giả đã đưa ra các
hình thức thực hiện TNHS, đồng thời đưa ra các dạng bản án thể hiện nội dung
Trang 1811
của TNHS: “1) Thực hiện TNHS có kèm theo việc quyết định hình phạt và; 2)
Thực hiện TNHS không kèm theo quyết định hình phạt” [10, tr.617-620]
Hiện nay ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu chung liên quan đến
TNHS đối với NCTNPT như: Mô hình lí luận về Bộ luật hình sự Việt Nam
(Phần chung) của GS.TS Đào trí Úc (chủ biên); Các nghiên cứu chuyên khảo
về phần chung luật hình sự, tập III và sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung) của GS.TSKH Lê
V n Cảm; LATS: Chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam của
TS Phạm Mạnh Hùng; sách chuyên khảo: Người chưa thành niên phạm tội –
đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý của TS Đặng Thanh Nga và TS Trương
Quang Vinh; LVTh.S: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm
tội trong Luật hình sự Việt Nam của tác giả Trần V n Dũng; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của các nhà khoa học viết sách liên quan đến
TNHS đối với NCTNPT như: GS.TS Đỗ Ngọc Quang, PGS.TS Trịnh Quốc Toản, TS Võ Khánh Vinh Các kết quả nghiên cứu nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TNHS đối với NCTNPT như thừa nhận khái niệm TNHS, cơ sở và các dạng của TNHS làm nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu TNHS đối với NCTNPT; thừa nhận NCTN là người dưới 18 tuổi – chưa phát triển một cách đầy đủ về thể chất và tinh thần, khả
n ng nhận thức và khả n ng kiểm soát hành vi của NCTN còn có phần hạn chế,
dễ bị tác động từ các điều kiện bên ngoài và dễ bị kích động Thống nhất trong nhận thức chung về việc xử lý NCTNPT nhằm giúp họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội Việc quy định TNHS đối với NCTNPT là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan Tuy nhiên, các công trình mới chú
ý vào những khía cạnh cụ thể hay từng vấn đề liên quan đến TNHS đối với NCTNPT Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có
hệ thống các quy định của Phần chung về TNHS đối với NCTN trong luật hình
sự Việt Nam dưới cấp độ luận án tiến sĩ luật học Có những công trình đã đề cập đến TNHS đối với NCTNPT nghiên cứu từ khá lâu, nhiều vấn đề lý luận đã
có quan điểm thay đổi, được lý giải sâu sắc hơn, chính xác hơn
Trang 19vệ chế độ Nhà nước, bảo vệ “nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như lợi ích của xã hội và lợi ích của Nhà nước ” [10, tr.43] Do đó việc nghiên cứu chính sách hình sự nói chung và chính sách hình sự đối với NCTNPT nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật và phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm NCTN nói riêng
Chính sách hình sự đối với NCTN (người dưới 18 tuổi) trong LHS
n m 2015 với việc thể chế hóa các chủ chương của Đảng và Nhà nước và đảm bảo sự phù hợp, tính tương thích với các điều ước quốc tế về tư pháp NCTN
mà Việt Nam là thành viên, qua đó “t ng cường sự bảo vệ, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng ” [76, tr.79-89]
Trong luận án “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm
tội ở Việt Nam hiện nay” (bảo vệ n m 2016), tác giả Hoàng Minh Đức đã đưa
ra khái niệm, đặc điểm về chính sách hình sự đối với NCTNPT, từ đó đi sâu phân tích chính sách hình sự đối với NCTNPT, cũng như tình hình thực hiện chính sách hình sự đối với NCTNPT ở Việt Nam hiện nay và đưa ra giải pháp hoàn thiện chính sách hình sự đối với NCTNPT ở Việt Nam, cụ thể: Chính
Trang 2013
sách hình sự đối với NCTNPT là hệ thống các quan điểm, phương hướng có tính chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự đối với NCTNPT, trong việc sử dụng hệ thống pháp luật hình sự đó vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm cho NCTN thực hiện, nhằm phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật các loại tội phạm do NCTN thực hiện [23, tr.40-42]
Và đặc điểm chính sách hình sự đối với NCTNPT bao gồm: chính sách hình sự đối với NCTNPT là một phần của chính sách xã hội nói chung và là chính sách pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự đối với NCTNPT nói riêng của một Nhà nước; chính sách hình sự đối với NCTNPT góp phần tạo thành hệ thống chính sách xã hội nói chung, là động lực, đường hướng chỉ đạo sự vận động và phát triển của xã hội, nó có thể tạo ra sự tương tác thuận chiều thúc đẩy sự phát triển của xã hội, phát huy và bảo đảm các giá trị, quyền cơ bản của con người trong xã hội, ngược lại nó cũng có thể trở thành xung lực kìm hãm sự phát triển của xã hội và việc bảo vệ các giá trị cơ bản của con người; chính sách hình sự đối với NCTNPT là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm do NCTN thực hiện [23, tr.136- 147]
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Cao Thị Oanh với đề tài “Nguyên tắc
phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam” (bảo vệ n m 2007),
cũng đề cập đến nguyên tắc phân hóa TNHS đối với NCTNPT Tuy nhiên, đây mới chỉ là một nội dung nằm trong một tiểu mục nhỏ của luận án Theo tác giả,
về nguyên tắc, trong những trường hợp tương đương, TNHS đối với những người phạm tội phụ thuộc một phần vào độ tuổi của họ Theo đó, TNHS của những NCTNPT phải nhẹ hơn so với những người đã thành niên phạm tội; trong phạm vi những NCTNPT, TNHS của những người có độ tuổi lớn hơn phải nặng hơn so với những người có độ tuổi nhỏ hơn Yêu cầu này đòi hỏi đường lối xử lý NCTNPT phải thể hiện tính giáo dục cao nhằm giúp họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu lại cuộc sống ở mức thuận lợi nhất có thể Đường lối xử lý này cần được thể hiện một cách thống nhất trong tất cả các quy
Trang 2114
định có liên quan đến TNHS của NCTNPT nhằm đảm bảo trong mọi trường hợp TNHS được xác định đối với NCTNPT cụ thể phải phù hợp với các yếu tố riêng biệt của những người trong độ tuổi này [42, tr.90]
ên cạnh đó còn có một số bài viết đề cập đến chính sách hình sự đối với
NCTNPT, như: bài viết “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội” của tác giả Vũ Thị Thu Quyên [47, tr.18]; bài viết “Những điểm mới
về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong ộ luật hình sự n m 1999 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong ộ luật tố tụng hình sự cho phù hợp” của tác giả Trần V n Luyện [34, tr.5-12] Các bài viết này đã khắc họa rõ nét chính sách hình sự - Chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với NCTNPT chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội
Về cơ bản, chính sách hình sự đối với NCTNPT “cho thấy rõ bản chất nhân đạo và tính nhân v n” [11, tr.59] được thể hiện cụ thể trong mục đích xử
lý NCTNPT không mang tính trừng phạt mà chủ yếu mang tính giáo dục Hầu hết các nhà nghiên cứu luật học đều thống nhất về chính sách hình sự đối với NCTNPT Tuy nhiên, vẫn còn một số quan điểm khác nhau, cụ thể:
Quan điểm thứ nhất, NCTN cần được áp dụng các biện pháp thay thế,
biện pháp hành chính là phù hợp, không tán thành mở rộng phạm vi xử lý hình sự và cho rằng “nếu quy định xử lý hình sự quá rộng là sớm đưa các em vào vòng tố tụng thì đây không phải là phương án tốt nhất để giáo dục các em trở thành người có ích cho xã hội” do vậy nên xây dựng chính sách hình sự đối với NCTNPT theo hướng giảm nhẹ hơn nữa như: nên thu hẹp phạm vi chịu TNHS đối với NCTN [21, tr.20-25]; nên miễn hình phạt cho NCTNPT khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 LHS
n m 1999 và không có tình tiết t ng nặng TNHS nào quy định tại khoản 1
Điều 48 LHS n m 1999 [6, tr.20-26]
Quan điểm thứ hai, về cơ bản nhất trí xây dựng chính sách hình sự
mang tính khoan hồng, hướng thiện cho NCTN nhưng thực trạng NCTN vi phạm pháp luật ngày càng nhiều và các biện pháp xử lý phi hình sự đối với
Trang 2215
một số hành vi trong thời gian dài không còn hiệu quả nên cần xây dựng chính sách hình sự theo hướng t ng cường ng n chặn, phòng ngừa trẻ em phạm tội trên cơ sở hạ thấp độ tuổi chịu TNHS, mở rộng phạm vi chịu TNHS của NCTN nhưng đồng thời hoàn thiện, mở rộng hơn nữa các biện pháp xử lý NCTNPT, xây dựng và hoàn thiện hệ thống tư pháp thân thiện cho NCTN GS.TS Võ Khánh Vinh nhận định: quan điểm giảm nhẹ TNHS đối với NCTNPT tuy đã được thừa nhận và thể hiện một cách nhất quán trong LHS hiện hành, song không phải không còn gặp phải những ý kiến đối lập, như: trong xu thế trẻ hóa đội ngũ lao động quốc gia và việc phát triển sớm khả
n ng nhận thức, tâm lý ở NCTN, thì cần hạ độ tuổi chịu TNHS đối với họ, bằng cách này sẽ xuất hiện xu hướng hình sự hóa một loạt các hành vi phạm tội của NCTN; có nên cho NCTNPT cùng lúc được hưởng quá nhiều ân huệ của pháp luật hay chỉ cần giảm nhẹ hình phạt là đủ Những ý kiến nêu trên tuy
đã được đặt ra, nhưng đã không thuyết phục được quan điểm chính thống của các nhà làm luật và như chúng ta thấy LHS hiện hành đã đưa ra một loạt quy phạm hợp lý và tiến bộ, thể hiện được chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đối với NCTNPT Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh Điều 69 LHS n m
1999 ghi nhận những định hướng quan trọng cho cả quá trình truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội [79, tr.520]
Ngoài ra cũng có một số đề tài khoa học các cấp triển khai nghiên cứu nhằm cải thiện khung pháp luật, chính sách về NCTN vi phạm pháp luật, nâng cao nhận thức và t ng cường n ng lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức làm việc với các đối tượng; t ng cường ch m sóc về tâm lý xã hội cho NCTN vi phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay nhằm góp phần hoàn thiện chính sách, pháp
luật về đối tượng này như đề tài khoa học: “Nghiên cứu, đánh giá, phân tích
tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và hệ thống xử lý tại Việt Nam” của Viện nghiên cứu pháp lý – ộ tư pháp (2003) ên cạnh đó có dự
án “Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt
Nam” của Viện khoa học pháp lý – ộ tư pháp (2000) C n cứ vào quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp, vận dụng
Trang 2316
quan niệm có tính chất hướng dẫn của LHQ trong quy tắc ắc kinh, dự án này
đã tập trung phân tích, đối chiếu các chuẩn mực quốc tế về tư pháp đối với NCTN trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia với thực tiễn lập pháp và thi hành pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này Trên cơ sở đó dự
án đã đưa ra đánh giá tổng hợp về sự hài hòa giữa luật pháp quốc gia và pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp NCTN; những ưu điểm và hạn chế của hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam Đồng thời, dự án đã đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống tư pháp NCTN ở Việt Nam Dự án chỉ rõ, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật của nhà nước ta đối với NCTN vi phạm pháp luật tập trung chủ yếu vào việc hoàn thiện ba yếu tố,
đó là hệ thống các v n bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp và đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp, đảm bảo sự vận hành đúng đắn của từng mắt xích và những phương thức phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả trong cả hệ thống mắt xích đó
1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
Chính sách hình sự đối với NCTNPT ở Việt Nam được thể hiện rõ trong mục đích xử lý hình sự nhóm đối tượng này không phải mang tính trừng phạt
mà hướng đến giáo dục, phòng ngừa và mục tiêu phục hồi và tư pháp phục hồi của NCTN [5, tr.63], [43] Cũng chính bởi đặc điểm của NCTN với mức
độ trưởng thành chưa đầy đủ nên “họ không phải chịu hoàn toàn trách nhiệm
về hành vi của mình và họ là những con người có thể cải tạo, giáo dục được” [43, tr.17] Việc xử lý NCTNPT nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội [35, tr.225], [42, tr.89], [50, tr.8] Đánh giá các quy định đối với NCTNPT trong LHS n m 1999, UNICEF Việt Nam đã nhận định “các quy định của LHS thực sự đã phản ánh hướng tiếp cận không mang tính trừng phạt trong hoạt động tư pháp với NCTN so với người đã thành niên” [62, tr.28]
Trong luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Mạnh Hùng với đề tài
“Chế định trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam” (bảo vệ n m
Trang 2417
2004), cũng đã đề cập đến TNHS đối với NCTNPT Tuy nhiên, đây chỉ là một
tiểu mục nhỏ nằm trong phần trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt Trong tiểu mục này, tác giả đã trình bày sơ lược một số nội dung liên quan đến NCTNPT như: độ tuổi chịu TNHS; nguyên tắc xử lý NCTNPT; các chế tài áp dụng đối với NCTNPT [29, tr.133-147]
Cuốn sách chuyên khảo “Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
trên địa bàn HN – Thực trạng và giải pháp” [57, tr.2] do PGS.TS Trịnh
Quốc Toản chủ biên cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận về TNHS đối với NCTNPT, trong đó đã nêu lên vấn đề TNHS của NCTNPT trong luật hình
sự Việt Nam bao gồm những nội dung như: khái niệm và những đặc điểm tâm sinh lý của NCTNPT; đường lối xử lý NCTNPT; các chế tài áp dụng đối với NCTNPT Tuy nhiên, trong cuốn sách này, tác giả mới chỉ phân tích sơ lược nội dung các quy định của pháp luật hiện hành đối với NCTNPT
ên cạnh đó cuốn sách chuyên khảo “Hoàn thiện các quy định của Phần chung ộ luật hình sự trước yêu cầu đổi mới của đất nước” của TS Trịnh Tiến Việt đã đi sâu phân tích và chỉ ra tồn tại, hạn chế của những quy định đối với NCTNPT như: nguyên tắc xử lý đối với NCTNPT; các biện pháp tư pháp áp dụng đối với NCTNPT; các hình phạt áp dụng đối với NCTNPT, từ đó đưa ra hướng hoàn thiện các quy định của LHS liên quan đến NCTNPT [71, tr.285-356]
TS Dương Tuyết Miên cho rằng, quá trình vận dụng Điều 74 vào thực tiễn còn gặp vướng mắc, cụ thể: xét về kỹ thuật lập pháp, Điều 74 vẫn còn
hạn chế khi quy định “ nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt tù
chung thân hoặc tử hình ” hoặc “ không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định” hoặc “ không quá ½ mức phạt tù mà điều luật quy định” ởi vì
điều luật quy định về tội phạm cụ thể có thể có một hoặc nhiều khung hình phạt trong khi đó Điều 74 chỉ dùng từ chung chung là “điều luật” mà không chỉ rõ khung hình phạt áp dụng Mặt khác, cần hiểu rằng, nhà làm luật quy định giảm nhẹ hình phạt cho NCTNPT so với người đã thành niên là so với trong cùng một khung hình phạt (trong điều kiện các tình tiết tương đương)
Do đó, quy định chung chung như trên sẽ dễ gây hiểu nhầm và vận dụng
Trang 2518
không thống nhất Từ sự phân tích trên, tác giả cho rằng để việc quyết định hình phạt đối với NCTNPT được chặt chẽ cũng như hình phạt đã tuyên phù hợp với lứa tuổi của NCTN, phù hợp với khả n ng cải tạo giáo dục của họ, Điều 74 nên sửa lại cho phù hợp [35, tr.233-234]
Ngoài ra, giáo trình cũng là ấn phẩm đáng kể đề cập đến nội dung liên quan đến các biện pháp xử lý đối với NCTNPT như: đường lối xử lý NCTNPT; hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với NCTNPT được nêu
trong chương, mục giáo trình Chẳng hạn: “Chương XVIII – Những đặc thù về
trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”, trong sách:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) do GS.TSKH Lê Cảm làm
chủ biên (Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003); “Chương XXIII – Trách
nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội”, trong sách: Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của GS.TS Võ Khánh Vinh (Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 2014; “Bài 17 – Trách nhiệm hình sự đối với người chưa
thành niên phạm tội”, trong sách: Luật hình sự Việt Nam – Quyển 1 (Phần
chung) của TS Phạm V n eo (Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự Thật, Hà Nội,
2013); “Chương XVI – Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm
tội” trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam do GS.TS Nguyễn Ngọc
Hòa làm chủ biên (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2015)
Cũng tiếp cận vấn đề một cách tổng quát về các biện pháp xử lý đối với NCTNPT nhưng ở góc độ bình luận khoa học luật hình sự hoặc hướng dẫn áp dụng những quy định đối với NCTNPT, cuốn ình luận khoa học ộ luật hình sự (Phần chung) của tác giả Đinh V n Quế [46, tr.313-324] và cuốn ình luận khoa học ộ luật hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung) do GS.TS Trần Minh Hưởng (chủ biên) [30], hay cuốn ình luận khoa học ộ luật hình sự
n m 2015 do TS Lê Đ ng Doanh và PGS.TS Cao Thị Oanh (chủ biên) [13]
đã phân tích và làm sáng tỏ các nội dung theo thứ tự từng điều luật được quy định trong LHS Việc phân tích và giải thích các điều luật kết hợp với những
ví dụ từ thực tiễn sinh động đã giúp cho việc vận dụng những quy định này dễ dàng hơn Song các tác giả lại chủ yếu tập trung giải thích khoa học đối với
Trang 2619
từng điều luật cụ thể chứ không tiếp cận vấn đề dưới góc độ lý luận về TNHS đối với NCTNPT
Trong bài viết “Hoàn thiện những quy định về trách nhiệm hình sự của
người chưa thành niên phạm tội” của tác giả Cao Thị Oanh đã chỉ ra rằng về
cơ bản đường lối xử lý NCTNPT đã thể hiện các yêu cầu của nguyên tắc phân hóa TNHS Tuy nhiên, sự thể hiện đó vẫn chưa triệt để, cụ thể: (1) Quy định hình phạt tù có thời hạn đối với NCTNPT mới chỉ dừng lại ở mức khống chế mức hình phạt tối đa mà chưa xác định cụ thể mức hình phạt tối thiểu; (2) LHS hiện hành không có những quy định thể hiện đường lối xử lý phân hóa giữa những trường hợp NCTNPT ở những giai đoạn phạm tội khác nhau; (3) Trong quy định về NCTNPT không có quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của ộ luật [41, tr.37] Để khắc phục hạn chế thứ nhất và hạn chế thứ hai nói trên trong LHS n m 1999 có quan điểm cho rằng: “ LHS nên sửa theo hướng quy định rõ: trong trường hợp họ áp dụng hình phạt tù, sau khi quyết định hình phạt cho bị cáo theo Điều 74, nếu hành vi của bị cáo thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, tòa án sẽ giảm tiếp một phần hai của mức hình phạt nói trên mức hình phạt đã được xác định theo Điều 74 hoặc nếu hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, tòa án sẽ giảm tiếp một phần tư của mức hình phạt nói trên trường hợp này bị cáo chỉ phải chấp hành ba phần tư mức hình phạt áp dụng” [35, tr.235-236] Quan điểm khác cho rằng cần sửa lời v n tại Điều 74 LHS từ “mức hình phạt cao nhất được áp dụng” thành “mức hình phạt được áp dụng” để thể hiện nội dung tiết giảm của bộ khung hình phạt theo tỷ lệ luật định Đồng thời, bổ sung vào cuối Điều 68 LHS nội dung: “Người phạm tội là người chưa thành niên được giảm nhẹ đặc biệt về TNHS” [74, tr.53, 60]
PGS.TS Cao Thị Oanh cho rằng: xuất phát từ cơ sở khung hình phạt được quy định đối với các tội phạm cụ thể là chuẩn mực được sử dụng để xác định các mức giảm nhẹ theo tiêu chí khác nhau nên cần quy định mang tính phân hóa về khung hình phạt, cụ thể là, tại Điều 69 LHS trong các quy định
về nguyên tắc xử lý NCTNPT, nhà làm luật cần bổ sung quy định về khung
Trang 2720
hình phạt đối với NCTNPT Khung hình phạt được áp dụng đối với NCTNPT được xác định trên cơ sở khung hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm cụ thể [41, tr.37]
Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với NCTNPT ài viết “Các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” của tác giả Phạm Anh Tuyên [53, tr.20-23] hay bài viết “Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với NCTN
vi phạm pháp luật” của tác giả Đỗ Thúy Vân [68, tr.13-17] Các bài viết này
đã phân tích bản chất, tính ưu việt của việc xử lý chuyển hướng và các yêu cầu của chuẩn mực quốc tế và khẳng định, việc áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTN vi phạm pháp luật có những ưu điểm nổi trội so với việc áp dụng các chế tài chính thức trong quy định của pháp luật Tác giả cũng chỉ ra thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng xử lý chuyển hướng đối với NCTN
vi phạm pháp luật ở nước ta Trên cơ sở đó đã đánh giá và đưa ra một số kiến nghị trong việc thực hiện xử lý chuyển hướng đối với NCTN vi phạm pháp luật ở Việt Nam, cụ thể tác giả Phạm Anh Tuyên đề xuất bổ sung các quy định về biện pháp thay thế xử lý hình sự: (1) Sửa đổi chế định miễn trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 69 theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; (2) ổ sung vào khoản 3 Điều 69 LHS nguyên tắc xem xét áp dụng biện pháp thay thế xử lý hình sự, theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý hình sự trước khi quyết định việc truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên; (3) ổ sung các quy định về việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý hình sự như: nhắc nhở; hòa giải tại cộng đồng; giám sát, giáo dục tại gia đình hoặc giám sát, giáo dục tại cơ quan tổ chức
ên cạnh đó, còn có một số tài liệu tập huấn của Ủy ban Dân số, Gia
đình và Trẻ em, UNICEF (2005), cụ thể: tài liệu tập huấn “Sự phát triển của
trẻ em và hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên” đã cung cấp
thông tin về sự phát triển của NCTN, một số đặc điểm phát triển sinh lý, thể chất và đặc điểm tâm lý khác biệt với người đã thành niên và chỉ ra rằng trong
Trang 2821
những n m gần đây có một số lượng đáng kể các nghiên cứu đã được tiến hành nhằm hiểu rõ hơn những yếu tố tác động đến tình trạng phạm pháp của NCTN, những giải pháp có hiệu quả nhất giúp ng n chặn tình trạng phạm pháp của NCTN, và những hoạt động cụ thể để phòng ngừa NCTN đã có hành vi vi phạm pháp luật không tiếp tục vi phạm pháp luật nữa; tài liệu tập
huấn: “Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt Nam” đã
chỉ ra tính chất, mức độ nghiêm trọng của loại hành vi vi phạm cũng như các biện pháp xử lý đối với NCTN vi phạm pháp luật, xác định được các yếu tố
nguy cơ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật ở NCTN; tài liệu tập huấn: “Tư
pháp phục hồi và xử lý theo hướng không giam giữ”, nghiên cứu khái niệm tư
pháp phục hồi và xử lý theo hướng không giam giữ, trên cơ sở các nguyên tắc
và các quyền được quy định trong Công ước quyền trẻ em Tư pháp phục hồi
là biện pháp phản ứng hiệu quả nhất đối với NCTN vi phạm pháp luật nhằm buộc họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, theo cách thức tạo điều kiện cho các em tái hòa nhập cộng đồng một cách thuận lợi, đồng thời làm cho NCTN không có cảm giác bị cô lập và miệt thị “Xử lý theo hướng không giam giữ” là một thủ tục thay thế để xử lý NCTN phạm pháp theo cách không chính thức, ngoài hệ thống tư pháp chính thống Tài liệu này còn đề cập đến việc chuyển hoặc đưa NCTN ra khỏi hệ thống tư pháp chính thức, theo nghĩa đen, để xử lý một thủ tục thay thế, dựa vào cộng đồng Trong quá trình này, xử lý theo hướng không giam giữ có thể lôi kéo sự tham gia của một số thành tố tư pháp phục hồi, tùy thuộc vào tính chất của việc xử lý theo
hướng không giam giữ; tài liệu tập huấn: “Một số thuật ngữ và nguyên tắc cơ
bản về tư pháp người chưa thành niên” là tài liệu cung cấp các thuật ngữ cơ
bản về tư pháp đối với NCTN được sử dụng trong pháp luật quốc tế và quốc gia Các thuật ngữ, khái niệm được biên soạn dựa theo pháp luật Việt Nam
Trong bài viết “Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm
tội – Một số vấn đề cần được nghiên cứu” của TS Lê Đ ng Doanh, đưa ra các
vấn đề: (1) Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì TNHS được áp dụng như thế nào đối với NCTNPT; (2) Vấn đề quyết định hình phạt đối với
Trang 2922
NCTNPT đã hợp lý hay chưa Theo tác giả, cần quy định cụ thể trong BLHS đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS về hành vi chuẩn bị phạm tội; người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có hành vi chuẩn bị phạm tội thì cần thiết phải truy cứu TNHS Đối với NCTNPT chưa đạt, hiện nay cũng chưa có quy định cụ thể về quyết định hình phạt đối với NCTNPT chưa đạt Vì vậy, việc quyết định hình phạt đối với NCTNPT trong những trườn hợp trên vẫn còn vướng mắc Tác giả đưa ra kiến nghị, trong các quy định về NCTNPT, cần có quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt; quy định về quyết định hình phạt đối với NCTNPT trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt nhằm cụ thể hóa nguyên tắc cho NCTN được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội khi có các tình tiết
vụ án tương đương TS Lê Đ ng Doanh cho rằng, đối với NCTNPT cũng cần
có sự phân hóa mức độ hình phạt như quy định đối với người đã thành niên phạm tội Trường hợp phạm nhiều tội phải có mức hình phạt cao hơn Theo nguyên tắc này, người dưới 16 tuổi phạm nhiều tội thì tổng hợp hình phạt không quá 16 n m (một tội không quá 12 n m) Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì không quá 24 n m (một tội không quá 18 n m) Như vậy, với kiến nghị này, Điều 74 LHS cũng cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng chỉ áp dụng cho trường hợp NCTN phạm một tội [14, tr.25-29]
ài viết “Tổng hợp hình phạt trong các trường hợp có án treo và người chưa thành niên phạm tội” của tác giả Phạm V n Thiệu đã đi sâu phân tích những bất cập, chưa hợp lý tại Điều 75 LHS n m 1999, từ đó đưa ra kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 75 theo hướng: (1) Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện trong khi đủ 18 tuổi trở lên thì hai mức tổng hợp hình phạt là khác nhau; (2) Trong trường hợp các tội đều được thực hiện khi người phạm tội chưa đủ 18 tuổi được chia thành hai mức đó là nếu các tội hoặc tội nặng nhất được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và nếu các tội hoặc tội nặng nhất được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì mức hình phạt áp dụng là khác nhau [50, tr.10-12]
Trang 3023
Tác giả khác đưa ra kiến nghị, trên tinh thần quy định của pháp luật hình
sự về tổng hợp hình phạt tù đối với người đã thành niên phạm tội tác giả kiến nghị tổng hợp hình phạt tù đối với NCTN phạm nhiều tội trong độ tuổi từ đủ
16 đến dưới 18 tuổi không quá ba phần tư mức hình phạt đối với người đã thành niên phạm nhiều tội và trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không quá một phần hai mức hình phạt đối với người đã thành niên phạm nhiều tội Tác giả đưa ra kiến giải lập pháp sửa đổi, bổ sung Điều 75 LHS thành 04 khoản quy định cụ thể về tổng hợp hình phạt trong trường hợp NCTN phạm nhiều tội: các tội đều được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; các tội đều được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi từ
đủ 16 đến dưới 18 tuổi; các tội đều được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi dưới 18 tuổi trong đó có tội được thực hiện khi người phạm tội ở độ tuổi
từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, có tội được thực hiện khi người phạm tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi; có tội phạm trước khi đủ 18 tuổi, có tội phạm sau khi đủ 18 tuổi [80, tr.74-75]
1.1.4 Nhóm các công trình nghiên cứu khác liên quan đến người chưa thành niên phạm tội (tâm lý học, xã hội học, tội phạm học)
1.1.4.1 Tiếp cận trên phương diện tội phạm học
(1) Luận án tiến sĩ luật học với tên gọi: “Phòng ngừa và đấu tranh với tội
phạm của người chưa thành niên trong điều kiện ngày nay ở Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Xuân Thủy (bảo vệ n m 1997) là một trong những công trình đầu tiên đánh giá tội phạm do NCTN thực hiện trong giai đoạn đất nước có nhiều biến đổi quan trọng về kinh tế xã hội trong giai đoạn 10 n m đầu của sự nghiệp đổi mới (1986-1996), kéo theo sự gia t ng nhanh chóng của số lượng tội phạm, trong đó
có tội phạm do NCTN thực hiện Tác giả đã đưa ra các quan điểm và giải pháp quan trọng để phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm là NCTN [53, tr.2]
(2) Luận án tiến sĩ: “Nguồn gốc xã hội của việc vi phạm pháp luật ở người
chưa thành niên hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại ba trường giáo dưỡng người chưa thành đang bị áp dụng các biện pháp xử lý đưa vào các trường giáo dưỡng) của tác giả Hồ Diệu Thúy (bảo vệ n m 2002) đã đánh giá tình trạng vi
Trang 3124
phạm pháp luật của NCTN như một hiện tượng khách quan của xã hội và chỉ ra các nguyên nhân xã hội của hiện tượng này Tác giả cho rằng, xã hội phải chịu trách nhiệm nhất định của tình trạng NCTN vi phạm pháp luật, phải có chính sách hình sự theo hướng nhân đạo hơn, thiên về tính giáo dục, cải tạo sâu hơn và
xã hội cũng phải có trách nhiệm cao hơn trong quá trình xử lý NCTNPT so với quá trình xử lý các trường hợp phạm tội của người đã thành niên [52]
1.1.4.2 Tiếp cận trên góc độ tâm lý học
Luận án tiến sĩ với đề tài: “Đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên
có hành vi phạm tội” của tác giả Đặng Thanh Nga (bảo vệ n m 2007) đã cung
cấp nhiều tri thức về tâm lý học tư pháp đối với đối tượng NCTN có hành vi phạm tội qua các khảo sát về tâm lý NCTN trước, trong và sau khi phạm tội Tác giả đã kiến giải các vấn đề: tại sao NCTN có nguy cơ cao bị lôi kéo, xúi giục phạm tội; tại sao NCTN có nguy cơ cao bị tổn thương bởi các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự và tại sao có khả n ng thành công cao trong việc giáo dục, cải tạo NCTNPT Đồng thời trong luận án cũng đã đưa ra một số khái niệm như: người chưa thành niên; người chưa thành niên phạm tội và đưa ra một số đặc điểm tâm lý của người chưa thành niên phạm tội [37, tr.2]
1.1.4.2 Tiếp cận ở khía cạnh quyền của người chưa thành niên
Luận án tiến sĩ luật học với tên gọi: “Pháp luật về quyền của người chưa
thành niên phạm tội ở Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Thu Quyên (bảo vệ n m
2015) đã làm rõ các vấn đề sau đây: cơ sở lý luận của pháp luật về quyền của NCTNPT; quá trình phát triển và thực trạng pháp luật về quyền của NCTNPT
ở Việt Nam; quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của NCTNPT ở Việt Nam [48, tr.2]
Như vậy, trong các luận án nêu trên liên quan đến TNHS đối với NCTNPT, các tác giả đã đưa ra các khái niệm NCTN, NCTNPT, đặc điểm tâm lý của NCTN Cũng như đi sâu phân tích quyền của NCTNPT; phân tích chính sách hình sự, tình hình thực hiện chính sách hình sự đối với NCTNPT Trong khoa học pháp lí Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu quan trọng về vấn đề tội phạm do NCTN thực hiện và phòng ngừa NCTNPT từ những n m
Trang 3225
đầu đổi mới Các tác giả Vũ Đức Khiển, ùi Hữu Tùng, Phạm Xuân Chiến,
Đỗ V n Hãn, Trần Phàn, ngay từ n m 1987 trong cuốn chuyên khảo “Phòng
ngừa người chưa thành niên phạm tội” được cho là một trong những nghiên
cứu ban đầu ở Việt Nam về vấn đề NCTNPT, đánh giá tác động của môi trường gia đình, nhà trường và xã hội với hiện tượng xã hội tiêu cực này Kết quả nghiên cứu cho thấy quan điểm đúng đắn của C.Mác: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” - Trong trường hợp NCTNPT, môi trường xã hội chính là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới quá trình phạm tội của NCTN Trên
cơ sở các nghiên cứu này, nhóm tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng ngừa tình trạng NCTNPT [32]
Cuốn sách chuyên khảo: “Những khía cạnh tâm lý – xã hội về tình trạng
phạm tội của người chưa thành niên” của A.I.Đôgôva do Lục Thanh Hải dịch
đã khái quát tình trạng phạm tội và những khía cạnh tâm lý – xã hội của tình trạng phạm tội của NCTN, cũng như môi trường xã hội, đặc điểm về ý thức hoạt động của NCTNPT [1]
Bên cạnh đó có cuốn sách chuyên khảo: “Người chưa thành niên phạm
tội – Đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý” [38] của TS Đặng Thanh Nga và TS
Trương Quang Vinh, tập trung làm sáng tỏ các vấn liên quan đến NCTNPT, như đưa ra một số khái niệm và nguyên tắc cơ bản về tư pháp NCTN; đặc điểm tâm
lý của NCTNPT; các biện pháp xử lý hình sự đối với NCTNPT
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Qua nghiên cứu, khảo sát các công trình nghiên cứu trực tiếp về TNHS đối với NCTNPT trong luật hình sự Việt Nam ở ngoài nước nghiên cứu sinh nhận
thấy là chưa có công trình nào Tuy nhiên, ở một mức độ gián tiếp cũng có một
số công trình, sách chuyên khảo đề cập đến một hoặc một số chế định tương tự như các chế định được quy định trong LHS n m 2015 (Chương XII)
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Cuốn sách chuyên khảo “Criminal Law” (luật hình sự) của Kent Roach
(Published and bound in Canada by Love Printing Service Ltd, 1996) đã đưa
Trang 3326
ra khái niệm rất mới về TNHS Theo Kent Roach TNHS là sự phản ứng hay
sự lên án của Nhà nước (và xã hội) đối với người thực hiện hành vi phạm tội
và thể hiện ở bản án mà trong đó họ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tước bỏ hay hạn chế các quyền và lợi ích nhất định Điểm mới trong quan điểm này chỉ ra rằng, TNHS là sự phản ứng hay sự lên án của Nhà nước (hay
và xã hội) đối với người thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, sự lên án của Nhà nước cũng phản ánh sự phản ứng của xã hội đối với người thực hiện tội phạm Đặc biệt, sự lên án của Nhà nước được thể hiện trong bản án mà trong
đó người phạm tội bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tước bỏ hoặc hạn chế các quyền hay lợi ích nhất định [88, tr.7-29]
Từ thế kỷ thứ XVI và thế kỷ thứ XVII hai thẩm phán người Anh là Hale và William lackstone đã đặt ra vấn đề bảo đảm quyền cho NCTNPT bằng quy định của pháp luật về độ tuổi chịu TNHS Nếu như Hale mới đặt vấn đề phân hóa các mức trong độ tuổi NCTN thì lackstone đã đặt ra khái niệm “a defect of understanding” nghĩa là thiếu khả n ng hiểu biết Ông cho rằng khả n ng chịu TNHS không chỉ dựa vào độ tuổi mà còn c n cứ vào cả yếu tố nhận thức và
n ng lực phán đoán của NCTN [89, tr.9] Thế kỷ XVIII một số nhà tư pháp cấp tiến đã đặt vấn đề NCTNPT phải được xử lý phù hợp mà không chỉ là trừng trị đối với NCTN Tính cấp tiến thể hiện ở chỗ họ đã đưa ra những tư tưởng vượt thời gian về việc hình thành một thể chế tư pháp hình sự đối với NCTN, đặt ra vấn đề về thành lập một tòa án chuyên biệt xét xử tội phạm là NCTN, đặt ra thuyết “parens patrie” với sự thay thế vai trò gia đình của Nhà nước trong những phạm vi nhất định để giáo dục và xử lý NCTN, tạo cơ sở cho sự ra đời của các
cơ sở ch m sóc, giáo dục trẻ em của Nhà nước [89 tr.192]
Trong quá trình nghiên cứu các công trình nước ngoài cho thấy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tôn trọng các quy chuẩn quốc tế về độ tuổi tối thiểu chịu TNHS Thực trạng NCTNPT tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới và
vì vậy giữa các quốc gia có một điểm tương đồng là đều quy định độ tuổi bắt đầu chịu TNHS Việc xác định độ tuổi phải chịu TNHS là vấn đề quan trọng trong việc xác định NCTN có phải chịu TNHS hay không, “dựa trên mối quan
Trang 3427
hệ giữa độ tuổi và khả n ng chịu TNHS” [88, tr.128] mỗi quốc gia sẽ đưa ra
độ tuổi phải chịu TNHS của quốc gia mình trong phạm vi khuyến cáo của Liên hợp quốc Hiện nay, các quốc gia đang phải đối mặt với thực trạng khó kiểm soát tình hình gia t ng tội phạm NCTN Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu luật học đều thừa nhận rằng cần có những quy định giảm nhẹ hơn đối với NCTNPT với những chủ thể khác ởi lý do bắt nguồn từ đặc điểm tâm sinh
lý của NCTN và các điều kiện khác NCTN không phải phải chịu TNHS về mọi tội phạm mà chỉ chịu TNHS đối với một số loại tội phạm nhất định NCTN thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có xu hướng trẻ hóa Vì vậy các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “chúng ta không nên có ý định giảm độ tuổi tối thiểu chịu TNHS và t ng cường các biện pháp xử lý hình sự mà thay vào đó cần t ng cường các biện pháp xử lý phi hình sự” [86, tr.215]
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
Mỗi quốc gia trên thế giới đều xây dựng hệ thống các biện pháp xử lý hình sự đối với NCTN có những điểm tương đồng và khác biệt Tuy nhiên đều có cùng chung quan điểm biện pháp xử lý đối với NCTNPT nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội Các quốc gia đều thống nhất không áp dụng hình phạt tử hình đối với NCTNPT dù đó là tội đặc biệt nghiêm trọng Tuy nhiên, hình phạt tù chung thân có áp dụng đối với NCTNPT hay không thì hiện nay vẫn tồn tại hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất, cho rằng không nên áp dụng hình phạt tù chung
thân đối với NCTNPT trong mọi trường hợp “để việc giáo dục, phục hồi có thể được hiệu quả nhất” [86, tr.206]
Quan điểm thứ hai, cho rằng nên áp dụng hình phạt tù chung thân đối
với NCTNPT nếu hệ thống hình phạt có hình phạt tử hình nhưng hình phạt tử hình không được áp dụng đối với NCTNPT Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này cho rằng, nếu tội phạm mà họ thực hiện quy định là hình phạt tử hình, dựa theo nguyên tắc giảm nhẹ TNHS đối với NCTN, thì việc thay bằng không áp dụng hình phạt tử hình mà áp dụng hình phạt tù chung thân thì vẫn
Trang 3528
thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc giảm nhẹ cho NCTN, còn nếu áp dụng một hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù chung thân thì vô hình đã tạo ra “yêu cầu luật định khoan hồng cho NCTN sẽ được áp dụng hai lần và điều này không công bằng cho NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hơn” [86, tr.216] đồng thời các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực tế có tồn tại một số trường hợp tội phạm do những NCTN thực hiện có đặc điểm gần như giống người đã trưởng thành thực hiện Trong những tội phạm đó, mang tính chất tàn nhẫn và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Trong hoàn cảnh như vậy, “để bảo vệ lợi ích của xã hội và nạn nhân, để phản ánh chức n ng trừng phạt trong việc ng n chặn tội phạm thì việc áp dụng hình phạt tù chung thân là hoàn toàn cần thiết
và hợp lý ” [81, tr.8]
ên cạnh các biện pháp hình sự truyền thống là hình phạt, ngày nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới đang thử nghiệm các cách tiếp cận mới, đó là giải quyết các vụ việc liên quan đến pháp luật gắn với cộng đồng, giải quyết các điều kiện cơ bản gây ra tội phạm và đưa họ tích cực tham gia cộng đồng Mục đích của việc xử lý chuyển hướng là để đảm bảo NCTN không phải chịu các thủ tục tố tụng chính thức của Tòa án Vì vậy, khi áp dụng xử lý chuyển hướng phù hợp sẽ là công cụ có giá trị và đạt hiệu quả cao, giúp đưa những người phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng ra khỏi tòa án và áp dụng các biện pháp giám sát” [81, tr 8] Các quốc gia trên thế giới có rất nhiều kinh nghiệm khác nhau trong xây dựng hệ thống các chương trình xử lý chuyển hướng đối
với NCTNPT Chẳng hạn, chương trình kỹ năng sống cung cấp cho những
NCTNPT các khoản trợ giúp có giá trị giúp ng n chặn hành vi tiêu cực (kinh nghiệm của Nam Phi, Ethiopia); dịch vụ cộng đồng đòi hỏi NCTNPT phải hoàn thành một số giờ dịch vụ mà không được thanh toán tiền công (kinh nghiệm của Nam phi, Namibia)
Cuốn sách “Juvenile Justice: A Guide to Theory, Policy, and Practice”
(Tư pháp vị thành niên: Chính sách, lý luận và thực tiễn) của tác giả Steven
M Cox, Jennifer M Allen, Robert D Hanser, John J Conrad (xuất bản bởi
SAGE publications, 2013) Cuốn sách này đề cập đến vấn đề tư pháp vị thành
Trang 3629
niên bao gồm các nội dung chủ yếu như: lịch sử hình thành của hệ thống; các cách thức thực hiện tội phạm; các lý thuyết nhân quả tội phạm; tiến trình tư pháp vị thành niên, vấn đề TNHS đối với NCTNPT, các biện pháp xử lý dựa vào cộng đồng, cách thức xử phạt và cải tạo, các b ng nhóm và tội phạm vị thành niên có tính chất quốc tế Cuốn sách này tái bản lần thứ 8 giúp cho độc giả có một cách nhìn toàn diện về mối tương quan giữa lý luận, chính sách và thế giới thực tiễn của tư pháp vị thành niên hiện nay [90]
Cuốn sách “American juvenle Justice” (Tư pháp NCTN của Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ) của tác giả Franklin E.Jimring được Oxford University xuất bản
n m 2005 Tác giả đã đề cập đến các giai đoạn phát triển của tư pháp NCTN, đặc biệt là đã đi sâu phân tích các quan điểm khác nhau về tư pháp NCTN, nhất
là những quan điểm đối lập Trên cơ sở các quan điểm, tác giả đi lý giải về sự cần thiết thiết lập tòa án NCTN, xử lý chuyển hướng đối với tội phạm NCTN Trên cơ sở này tác giả đã xem xét vấn đề tư pháp NCTN trên góc nhìn đối chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn, từ đó đặt ra những đòi hỏi phải hoàn thiện tư pháp NCTN trên cơ sở cân bằng lợi ích của xã hội, người giám hộ và NCTN
Cuốn sách “Justice for children: Detention as a Last Resort” Innovative
Initiatives in the East Asia and Pacific Region, UNICEF at Sweden (Tư pháp cho trẻ em: Giam giữ là biện pháp cuối cùng– Các sáng kiến ở khu vực Châu
Á – Thái ình Dương) đã khảo sát hệ thống tư pháp với NCTN ở 04 quốc gia (Philipin, Thái Lan, Campuchia, New Zealand) và quần đảo Palau và đưa ra kết luận, trong hoạt động tư pháp đối với NCTN, việc giam giữ trẻ chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và mục tiêu của hệ thống này của một quốc gia không chỉ nhằm vào việc trực tiếp ng n ngừa hành vi phạm tội mà còn giải quyết những vấn đề gốc rễ đẩy trẻ em đến hoàn cảnh phạm tội [91]
1.2.3 Các công trình nghiên cứu khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Trong cuốn sách chuyên khảo Identily: Youth and Crisis ( ản sắc: Thanh thiếu niên và khủng hoảng) của tác giả Erikson E H đã phân tích sâu sắc những đặc điểm tâm sinh lý của thanh thiếu niên mà xuất phát từ cuộc vận
Trang 3730
lộn nội tâm đi tìm bản sắc ở độ tuổi mới lớn Chính trong cuộc vận lộn đó, có những lúc thanh thiếu niên có tâm trạng “nổi loạn”, muốn phá bỏ, vượt qua những quy tắc đạo đức và pháp lý trong xã hội Điều này giải thích cho tỷ lệ phạm pháp cao trong nhóm xã hội này và là một yếu tố mà các nhà nước không thể bỏ qua khi xây dựng và thực thi pháp luật với NCTN [84]
Cuốn sách “International Handbook on Juvenile Justice” (Sổ tay quốc
tế về công lý đối với người chưa thành niên) của tác giả Donald J Shoemaker (xuất bản bởi Greenwood Publishing Group, 1996) Cuốn sách này là tài liệu tham khảo quan trọng đầu tiên so sánh các hệ thống tư pháp về vị thành niên tại 19 quốc gia trên thế giới là đại diện cho các nguyên tắc, các chính sách, phong tục tập quán, các thể chế và các quy tắc pháp luật cũng như hoàn cảnh thực tiễn khác nhau ở các nước công nghiệp và nước đang phát triển Một nhóm nghiêm cứu liên ngành gồm các học giả và các chuyên gia pháp lý đã tiến hành một cuộc điều tra “cắt ngang” của các yếu tố khu vực, kinh tế, chính trị và xã hội Một số chuyên gia cũng mô tả tác động của môi trường xã hội khác nhau lên quy định về TNHS, quy trình thủ tục xử lý và cải tạo các tội phạm vị thành niên và xác định những ảnh hưởng khác nhau của một số quốc gia này đối với những quốc gia khác Cuộc khảo sát này thực sự có giá trị và mang tính so sánh cao bởi nó được xây dựng dựa trên những phân tích về quá trình phát triển, các chính sách, các vấn đề nổi lên trong thời gian đó cũng như những bất cập, xu hướng và triển vọng tương lai của các quốc gia (có những tương đồng ở một số góc độ nhất định) Về vấn đề tội phạm vị thành niên và cách thức xử lý với những hành vi phạm tội do vị thành niên gây ra cũng được đề cập cụ thể trong cuốn tài liệu này [83]
ên cạnh đó, cuốn sách “Juvenile Justice: International Perspectives
Models and Trends”(Vấn đề công lý người chưa thành niên: Các quan điểm
quốc tế, các mô hình và xu hướng) của tác giả John A.Winterdyk (được xuất bản bởi CRC Press, 2014) Cuốn sách bắt đầu với một cái nhìn tổng quan toàn diện về các chủ đề và các tiêu chuẩn quốc tế khác nhau cũng như hướng dẫn
để làm rõ thực trạng của công lý NCTN Tiếp sau phần giới thiệu là các
Trang 3831
chương về từng quốc gia độc lập được viết bởi các chuyên gia người bản địa, cho phép độc giả đánh giá một loạt các so sánh và phê bình phản ánh giá trị tương đối của các mô hình khác nhau Chủ đề này được trình bày trong mỗi chương bao gồm: (1) quá trình phát triển của công lý NCTN tại mỗi đất nước; (2) bản chất và thực trạng của việc vi phạm pháp luật; (3) các quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến NCTNPT; (4) các quy phạm pháp luật tương thích với các quy định về chuẩn mực tối thiểu đối với vấn đề công lý NCTN của LHQ; (5) các mô hình tư pháp đối với NCTN; (6) giới hạn độ tuổi chịu TNHS đối với NCTNPT (nam và nữ); (7) các vấn đề xã hội và pháp lý để giải quyết vấn đề NCTNPT Cuốn sách này trình bày tổng quan hoàn chỉnh các
mô hình và thực trạng công lý NCTN trên toàn thế giới Từ đó giúp người đọc
so sánh ưu điểm và nhược điểm của các mô hình/ hệ thống công lý vị thành niên khác nhau và đánh giá quy định của tất cả các quốc gia trên thế giới trong xử lý NCTN phạm pháp [87]
Trong cuốn sách “Juvenile Criminal Responsibility: Can Malice supply the Want of Years ?” (Trách nhiệm hình sự đối với người vị thành niên: Có phải ác tâm luôn dẫn tới ham muốn ?), của tác giả Craig S Lerner Theo thông luật, NCTN thường được coi là không đủ n ng lực về hành vi hình sự, nhưng phải chịu TNHS trên cơ sở cá nhân, mức độ tội ác được chứng minh sẽ quyết định số n m tù giam Trong Graham V Florida, Tòa
án Tối cao Hoa Kỳ bác bỏ nguyên tắc này, và cho rằng người trong tuổi vị thành niên không thể bị kết án chung thân mà không được xét tha nếu phạm các tội không phải tội giết người Cuốn sách này tập trung chủ yếu vào các
sự kiện trong một số vụ án Tội của bị cáo không thể được đánh giá nếu không có sự xem xét một cách chính xác những gì họ đã làm [82, tr.2]
Các công trình nghiên cứu hiện có, đặc biệt là các công trình ở nước ngoài, đã cung cấp một góc nhìn khá toàn diện về hoạt động tư pháp đối với NCTNPT ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Pháp luật của hầu hết các nước với mức độ và cách thức khác nhau, đều đã có những quy định riêng về TNHS đối với NCTN Điểm nổi bật là các quy định về TNHS đối với
Trang 39dù, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể, chi tiết về TNHS đối với NCTNPT nhưng các công trình nghiên cứu nêu trên thực sự là cơ sở để nghiên cứu sinh triển khai đề tài của mình
1.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các vấn đề liên quan đến đề tài: Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:
1.3.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu liên quan đến TNHS đối với
NCTNPT đã và đang diễn ra ở các nước theo các truyền thống pháp luật khác nhau theo hướng xích lại gần nhau, tiếp thu những yếu tố tích cực và phù hợp trên nền tảng các giá trị phổ biến của nhân loại Đặc biệt những nghiên cứu đó
có vai trò quan trọng và đóng góp tích cực của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia với các công trình khoa học và những luận điểm tiêu biểu
Thứ hai, ở Việt Nam các kết quả nghiên cứu liên quan đến TNHS đối
với NCTNPT đã góp phần quan trọng trong việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TNHS đối với NCTNPT như thừa nhận khái niệm TNHS, cơ sở và các dạng của TNHS làm nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu TNHS đối với NCTNPT; thừa nhận NCTN là người dưới 18 tuổi – chưa phát triển một cách đầy đủ về thể chất và tinh thần, khả n ng nhận thức và khả n ng kiểm soát hành vi của NCTN còn có phần hạn chế, dễ bị tác động từ các điều kiện bên ngoài và dễ bị kích động Thống nhất trong nhận thức chung về việc xử lý NCTNPT nhằm giúp họ sửa chữa sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã
Trang 4033
hội Việc quy định TNHS đối với NCTNPT là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan Tuy nhiên, các công trình mới chú ý vào những khía cạnh cụ thể hay từng vấn đề liên quan đến TNHS đối với NCTNPT Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các quy định của Phần chung về TNHS đối với NCTN trong luật hình sự Việt Nam dưới cấp độ luận án tiến sĩ luật học Có những công trình đã đề cập đến TNHS đối với NCTNPT nghiên cứu từ khá lâu, nhiều vấn đề lý luận đã có quan điểm thay đổi, được lý giải sâu sắc hơn, chính xác hơn Thực tiễn xét xử NCTN chưa được đánh giá, phân tích sâu, mới dừng lại ở mức độ khảo sát, điều tra hoặc các bản bản báo cáo, tổng kết n m
Thứ ba, qua nghiên cứu các công trình nước ngoài có liên quan đến
TNHS đối với NCTNPT đã cung cấp một góc nhìn khá toàn diện về hoạt động
tư pháp đối với NCTNPT ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Nhiều quan điểm khoa học có giá trị, cần được tiếp thu trong nghiên cứu các vấn đề tương ứng ở Việt Nam
1.3.2 Cơ sở lý luận của các công trình nghiên cứu nêu trên
Cơ sở lý luận của các công trình nghiên cứu là các thành tựu của các ngành khoa học pháp lý, trong đó chủ yếu và cơ bản là khoa học pháp lý về tư pháp hình sự, cũng như các luận điểm khoa học tương ứng trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, đề tài khoa học, các bài hội thảo, bài báo được đ ng trên các tạp chí Ngoài ra để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, các tác giả đã sử dụng số lượng lớn các v n bản pháp luật và các hướng dẫn, chỉ đạo thống nhất áp dụng pháp luật của các cơ quan Tòa án và cơ quan bảo vệ pháp luật, tương ứng với mỗi vấn đề đặt ra nghiên cứu
1.3.3 Phương pháp luận của các công trình nghiên cứu nêu trên
Những cơ sở phương pháp luận của các công trình nghiên cứu về TNHS đối với NCTNPT là phép biện chứng duy vật, tương ứng với các quan điểm về bảo vệ quyền trẻ em, quyền của NCTN, cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, tính tối thượng của pháp luật ên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu các vấn đề được đặt ra trong công trình khoa học của mình,