Tuy nhiên, cũng giống như cả nước, sự phát triển đô thịcủa tỉnh còn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là vấn đề sử dụng đất trong các đô thị cònchưa hợp lí, gây ra nhiều tác động đến kinh tế xã
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 - 2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ
Ở TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2010 - 2018
Ngành: Địa lí học
Mã số: 8310501
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Vũ Vân Anh
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sựquan tâm, động viên giúp đỡ của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, đồng nghiệp,bạn bè và những người thân
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy côgiáo là giảng viên khoa Địa lí - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đặcbiệt là cô giáo TS Vũ Vân Anh đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và động viêntôi về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường trung học phổ thôngChuyên Thái Nguyên, Tổ Xã hội, các thầy cô giáo trong bộ môn Địa lí và các đồngnghiệp trong trường đã ủng hộ và giúp đỡ tôi về tinh thần, kiến thức và thời gian đểtôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên môi trườngtỉnh Thái Nguyên, Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên, Phòng Tài nguyên môi trườngthành phố Thái Nguyên, Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Sông Công, PhòngTài nguyên môi trường thị xã Phổ Yên Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dânphường Đồng Tiến, xã Hồng Tiến và các chủ hộ sinh sống tại đây đã tạo điều kiệngiúp đỡ tôi trong quá trình tới điều tra thực địa
Cuối cùng, cho tôi bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình tôi đã luôn động viên, chia
sẻ, chăm sóc và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới và ở Việt Nam 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Giới hạn nghiên cứu 5
5 Quan điểm nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Cấu trúc của luận văn 10
8 Đóng góp của luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Đô thị hóa 11
1.1.2 Sử dụng đất đô thị 21
1.1.3 Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở các nước đang phát triển 26
1.2.2 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Việt Nam 27
1.2.3 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Trung du miền núi Bắc Bộ 29
1.3 Vận dụng chỉ tiêu phân tích đô thị hóa và sử dụng đất đô thị cấp tỉnh 30
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 32
2.1 Nhân tố ảnh hưởng tới quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Nguyên 32
2.1.1 Lịch sử phát triển tỉnh Thái Nguyên 32
Trang 62.1.2 Vị trí địa lí 32
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 35
2.1.4 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 38
2.1.5 Đánh giá chung 39
2.2 Đô thị hóa tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 41
2.2.1 Chức năng đô thị 41
2.2.2 Kinh tế - xã hội đô thị 42
2.2.3 Cơ sở hạ tầng đô thị 51
2.2.4 Cấu trúc không gian đô thị 54
2.3 Sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 58
2.3.1 Khái quát chung về sử dụng đất 58
2.3.2 Sử dụng đất đô thị 61
2.4 Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên 68
2.4.1 Đô thị hóa và sử dụng đất 68
2.4.2 Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn ra đô thị hóa 74
2.5 Đánh giá chung 80
2.5.1 Những thuận lợi và khó khăn trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên 80
2.5.2 Những kết quả đã đạt được và những tồn tại cần khắc phục 80
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TRONG ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2030 84
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên 84
3.1.1 Cơ sở pháp lí 84
3.1.2 Thực tiễn trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tỉnh Thái Nguyên 85
3.1.3 Quy hoạch 86
3.2 Định hướng đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 87
3.2.1 Định hướng phạm vi, chức năng đô thị 87
3.2.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đô thị 87
3.2.3 Định hướng sử dụng đất đô thị 88
3.2.4 Định hướng hạ tầng kĩ thuật và môi trường đô thị 88
Trang 73.3 Giải pháp trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên đến
năm 2030 94
3.3.1 Giải pháp về đô thị hóa 94
3.3.2 Giải pháp về sử dụng đất đô thị 97
3.3.3 Giải pháp đột phá 98
Tiểu kết chương 3 100
PHẦN KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 8đoạn 2010 - 2018 36Bảng 2.2 Tổng số dân, số dân thành thị, số dân nông thôn tỉnh Thái Nguyên
giai đoạn 2010 - 2018 42Bảng 2.3 Quy mô dân số đô thị phân theo đơn vị hành chính giai đoạn 2010 -
2018 43
Bảng 2.4 Tỉ lệ dân đô thị và tốc độ tăng dân số đô thị tỉnh Thái Nguyên phân
theo đơn vị hành chính giai đoạn 2010 - 2018 47Bảng 2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn phân theo thành phần kinh tế giai
đoạn 2010 - 2018 51Bảng 2.6 Số lượng đô thị của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018, dự báo
đến năm 2035 55Bảng 2.7 Diện tích, dân số, mật độ dân số, tỉ lệ dân đô thị ở 2 khu vực năm 2018 56
Bảng 2.8 Quy mô và cơ cấu sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 59
Bảng 2.9 Biến động đất theo địa phương tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 60
Bảng 2.10 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất đô thị tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2018 62Bảng 2.11 Cơ cấu đất đô thị phân theo khu vực đô thị ở thành phố Thái Nguyên
năm 2018 64Bảng 2.12 Biến động diện tích đất đô thị thị xã Phổ Yên giai đoạn 2010 - 2018 66Bảng 2.13 Biến động diện tích đất đô thị tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 69Bảng 2.14 Cơ cấu đất đô thị phân theo các đô thị của tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2010 - 2018 70Bảng 2.15 Lí do và thời điểm thu hồi đất nông nghiệp ở phường Đồng Tiến và
xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên 75Bảng 2.16 Biến động đất nông nghiệp theo địa bàn nghiên cứu (Đơn vị: sào/hộ) 76Bảng 2.17 Tỉ lệ hộ dân sử dụng tiền đền bù theo mục đích 76
Trang 9bổ và cấp tỉnh xác định 88
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 34
Bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa và sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên 40
Bản đồ đô thị hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2010 80
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 2010 .80
Bản đồ đô thị hóa tỉnh Thái Nguyên năm 2018 80
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên năm 2018 .80
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Số dân thành thị và tỉ lệ dân thành thị tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2018 45Hình 2.2 Số lượng lao động phi nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2018 48Hình 2.3 Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2018 49Hình 2.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 50Hình 2.5 Biến động diện tích đất theo địa phương tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2010 - 2018 61Hình 2.6 Biến động diện tích đất ở thành phố Thái Nguyên qua các năm 2010 - 2018 63
Hình 2.7 Tỉ lệ dân đô thị, tỉ trọng kinh tế phi nông nghiệp và tỉ lệ đất phi nông
nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2010 và năm 2018
71
Hình 2.8 Cơ cấu đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên năm 2010 và năm 2018 72Hình 2.9 Nhà ở của người dân trước và sau thu hồi đất nông nghiệp tại địa bàn
nghiên cứu 78
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội ởmỗi quốc gia Quá trình đô thị hóa diễn ra hết sức phức tạp, lâu dài và chịu tác độngcủa nhiều nhân tố khác nhau Đô thị hóa không chỉ là một chỉ tiêu phản ánh tổnghợp sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là một nhân tố ảnh hưởng đến một số
“thành phần” kinh tế - xã hội trong mỗi đô thị như dân cư - lao động đô thị, kinh tế
đô thị và không gian đô thị Mỗi “thành phần” trên đã biến đổi theo một quy luậtriêng trong quá trình đô thị hóa Chính sự hình thành trên diện rộng với số lượnglớn, tốc độ nhanh của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới đã gópphần cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn Sử dụng đấttrong đô thị cũng không nằm ngoài quy luật đó Đất đai trong đô thị được cho làthành phần có nhiều biến đổi nhất khi đô thị phát triển
Thái Nguyên là một tỉnh tiếp giáp với thủ đô Hà Nội và là tỉnh nằm trongquy hoạch vùng thủ đô Hà Nội; có nhiều thuận lợi về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên,điều kiện kinh tế - xã hội Hiện nay, tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế khá nhanh, đặcbiệt là công nghiệp và dịch vụ Điều này khiến quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh,nhờ khai thác được những lợi thế sẵn có nên giai đoạn 2015 - 2020 tỉnh TháiNguyên đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong công nghiệp hóa và đô thị hóa
Tỉ lệ dân đô thị của tỉnh Thái Nguyên năm 2018 là 35,1 %, trong khi đó tỉ lệ dânthành thị trung bình của cả nước là 35,7 % Hệ thống đô thị phát triển nhanh, thànhphố Thái Nguyên - đô thị loại I từ năm 2010, đặc biệt năm 2015, thị xã Sông Côngđược công nhận là thành phố loại III và huyện Phổ Yên được công nhận là thị xãPhổ Yên Quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho bộ mặt đô thị của tỉnh cónhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, cũng giống như cả nước, sự phát triển đô thịcủa tỉnh còn nhiều vấn đề đặt ra, nhất là vấn đề sử dụng đất trong các đô thị cònchưa hợp lí, gây ra nhiều tác động đến kinh tế xã hội và đời sống người dân khu vựcdiễn ra đô thị hóa
Với mong muốn hiểu sâu hơn về quá trình đô thị hóa, đặc biệt là mối quan hệ
giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên, tôi chọn đề tài: Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018 làm luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Địa lí học
Trang 132 Lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới và ở Việt Nam
2.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới đã được khơi nguồn từ đầu thập kỉ
60 của thế kỉ XX Phương Tây và châu Âu nghiên cứu Địa lí đô thị và đô thị hóa hếtsức cụ thể và chi tiết, đặc biệt là các nghiên cứu thường mang tính thực tiễn cao
Quá độ đô thị, Đô thị hóa đảo ngược của Brian.T.Berry, Đô thị hóa vùng ven của
Alan Rabinowitz, Tăng trưởng đô thị của Michael Spence là những công trình đã đi
sâu nghiên cứu về những lí luận và thực tiễn trong đô thị hóa Dưới góc độ kinh tếhọc, Paul L Knox và Linda Mc.Carthy đã nhấn mạnh đô thị hóa là động lực pháttriển kinh tế ở mỗi quốc gia Đô thị hóa còn được Pierre Laborde coi đó là quá trìnhthay đổi của các kiểu không gian trong đô thị [45]
Nhà khoa học Walter Christaller nghiên cứu về thuyết “vị trí trung tâm”, chỉ
rõ nguyên nhân hình thành đô thị và dựa vào khả năng cung ứng dịch vụ của cácđiểm trung tâm đưa ra mô hình lí thuyết mạng lưới đô thị 5 cấp phân bố hợp lí trênkhông gian lục lăng Khu vực mà ông lấy ví dụ là vùng Rua của Đức, một vùng cómạng lưới đô thị hết sức dày đặc [30]
Theo nghiên cứu của WB và các nhà khoa học Đỗ Thị Minh Đức, PhanThanh Khôi thì những thay đổi về dân cư, lao động được coi là một trong nhữngthành phần tạo nên đô thị hóa
Đô thị trong thế giới toàn cầu hóa của Frannie A Lesautier đã cho rằng: đô
thị hóa là sự phát triển tất yếu của quá trình sản xuất xã hội Theo Paul L Knox vàLinda Mc.Carthy, đô thị hóa đã tác động đến vấn đề sử dụng đất và ngược lại bởi đôthị hóa chứa đựng những biến đổi về không gian, về dân cư, kinh tế - xã hội Khiđặt sử dụng đất vào mối quan hệ với đô thị hóa, các tác giả Nguyễn Ngọc Châu,Michael Spence, Patricia Clarke Annez và Robert M.Buckley cho rằng quá trìnhtăng dân số đô thị là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến không gian đô thị
mở rộng ra các vùng ngoại ô Mối quan hệ giữa đất đai và kinh tế đô thị cũng được
đề cập trong Kinh tế học đô thị của Nhiêu Hội Lâm Theo A.S Mather và Nhiêu
Hội Lâm, quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị còn thể hiện qua tỉ lệ tươngquan giữa tỉ lệ khu vực II, khu vực III trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và tỉ lệdân đô thị [11]
2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam việc nghiên cứu đô thị cũng được sự quan tâm của nhiều nhàkhoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau trong đó có Địa lí học Hàng loạt các quy
Trang 14hoạch phát triển mạng lưới đô thị, các đề tài trọng điểm về quy hoạch mạng lưới đôthị, các nghị định của chính phủ như:
- Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020tại quyết định số 10/1998/QĐTTg trong đó xác định phương hướng xây dựng vàphát triển đô thị trên địa bàn toàn quốc và các vùng đặc trưng Đây là cơ sở cho sựphát triển đô thị ở các cấp ở nước ta cho tới nay
- Điều chỉnh quy định về phân cấp và phân loại đô thị trong nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001
- Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ quy định về việcphân loại đô thị, tổ chức lập, thẩm định đề án và quyết định công nhận loại đô thị
Trong tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2/2005, tác giả
Đỗ Thị Minh Đức với bài báo “Phân tích mạng lưới đô thị Việt Nam và vấn đề phát
triển vùng” đã nhận định tình hình phân bố đô thị ở Việt Nam, ảnh hưởng của mạng
lưới đô thị đến sự phát triển vùng [7]
Trong giáo trình “Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam”, tác giả Lê Thông đã phân
tích khái niệm, đặc điểm đô thị của nước ta, quá trình đô thị hóa, sự phát triển vàphân bố đô thị của nước ta đến năm 2009 [24]
Các nhà nghiên cứu về đô thị như Đàm Trung Phường, Trương Quang Thao,Nguyễn Sĩ Quế, Đặng Thái Hoàng, và Nguyễn Quốc Thông đã đưa ra những cơ sở
lí luận, những đánh giá, phân tích về đô thị hóa trong bối cảnh của Việt Nam Tác
giả Đàm Trung Phường với cuốn sách nổi tiếng về đô thị “Đô thị Việt Nam” viết
năm 1995 đến nay đã được tái bản nhiều lần, đánh giá thực trạng mạng lưới đô thịViệt Nam về quá trình hình thành, phát triển đô thị Việt Nam, những đặc trưngchung của quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, các nguồn lực tác động đến mạng lưới
đô thị Việt Nam; và nghiên cứu những định hướng phát triển trong bối cảnh đô thịhóa của thế giới và bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thời kì đổi mới của tổquốc; mở rộng những khái niệm về đô thị học…[18]
Những chính sách đất đai ở đô thị và sử dụng đất bền vững trong đô thị cũngđược các tác giả Nguyễn Văn Sửu, Trần Ngọc Hiên, Võ Kim Cương và NguyễnĐình Hương đề cập đến
Ở Việt Nam đã có một số tác giả về vấn đề sử dụng đất trong quá trình đô thị
hóa, như “Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế - xã hội của vùng ven đô và
những vấn đề quan tâm” của Nguyễn Duy Thắng (2009); luận văn “Nghiên cứu tác động của đô thị hóa tới biến động sử dụng đất thành phố Hải Phòng” của thạc sĩ
Trang 15Vũ Đình Nhân, trường Đại học Khoa học Tự nhiên; luận án “Đô thị hóa và sử dụng
đất đô thị tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015” của tiến sĩ Ngô Thị Hải Yến,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2.3 Nghiên cứu về đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Những nghiên cứu về tỉnh Thái Nguyên đã được một số luận văn thạc sĩ đề
cập đến dưới các góc độ khác nhau, đó là: luận văn “Ảnh hưởng của đô thị hóa tới
phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” của Ngô Thị Mỹ
(2009), Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; luận
văn “Phân tích quá trình đô thị hóa Thị xã Sông Công giai đoạn 1985 - 2010” của
Phạm Thị Hồng Xuân (2011), Trường Ðại học Sư phạm - Ðại học Thái Nguyên; luận
văn “Phân tích quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010”
của Lê Thanh Nguyên (2011), Trường Ðại học Sư phạm - Ðại học Thái Nguyên; luận
văn “Sự phát triển và phân bố mạng lưới đô thị tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Trần
Ngọc Mạnh (2017), Trường Ðại học Sư phạm - Ðại học Thái Nguyên;
Sử dụng đất là vấn đề khá nổi bật ở Thái Nguyên trong quá trình đô thị hóa
nên đã có một số luận văn đã bảo vệ thành công về vấn đề này, đó là: “Nghiên cứu
biến động sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2009”
của Bùi Thị Thu Hoa (2010) - Chuyên ngành Địa lí học; “Nghiên cứu biến động sử
dụng đất huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 - 2010” của Nguyễn Thị
Thu Hà (2013) - Chuyên ngành Địa lí học; “Ảnh hưởng của xu hướng đô thị hóa đối
với kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” của Hà Thái (2008)
-Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp; “Nghiên cứu sự thay đổi các loại hình sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp tại xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2016” của Phạm Thị Mai Hương (2017) – Chuyên ngành Quản lí đất
đai; “Đánh giá tình hình biến động sử dụng đất và đề xuất giải pháp quản lý sử
dụng đất hợp lí xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” của Vũ Thị
Hường (2017) - Chuyên ngành Quản lí đất đai; “Nghiên cứu biến động sử dụng đất
tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 – 2015” của Trần Thành Nam
(2017) - Chuyên ngành Quản lí đất đai; “Nghiên cứu sự thay đổi các loại hình sử
dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái nguyên giai đoạn 2011 – 2016” của Nguyễn Minh Thắng (2017) - Chuyên ngành
Quản lí đất đai;…
Trang 16Các công trình nghiên cứu đô thị hóa của tỉnh Thái Nguyên mới chỉ đề cậptới hiện trạng phát triển và phân bố đô thị của tỉnh Nghiên cứu về đô thị hóa và sửdụng đất đô thị ở phạm vi toàn tỉnh Thái Nguyên còn là điều mới mẻ bởi quá trình
đô thị hóa của tỉnh thực sự phát triển trong những năm gần đây Có một vài đề tàinghiên cứu về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị nhưng phạm vi chỉ ở cấp thành phố,thị xã, huyện và chưa thực sự thấy rõ hiện trạng phát triển và sử dụng đất đô thị củatỉnh dưới góc độ địa lí học
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tìm hiểu, kế thừa và chọn lọc từ nhữngnghiên cứu ở trên và một số nghiên cứu khác để xây dựng cơ sở lí luận và thực hiện đề
tài “Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018”.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan những lí luận và thực tiễn về đô thị hóa và sử dụng đấttrên thế giới và Việt Nam, đề tài phân tích quá trình đô thị hóa và sử dụng đất đôthị, phân tích mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị trên địa bàn tỉnhThái Nguyên, từ đó đề xuất những giải pháp để thực hiện những định hướng đô thịhóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn đã thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị,mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị Đó là những cơ sở khoa học chonghiên cứu đặc điểm đô thị hóa và vấn đề sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2010 - 2018.Đánh giá thực trạng sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2010 -
2018 Phân tích mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển đô thị hóa và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030
4 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn về nội dung
Luận văn giới hạn nội dung nghiên cứu về đô thị hóa ở tỉnh Thái Nguyên baogồm những biến đổi về dân số, lao động, về kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng đô thị và
về cấu trúc không gian đô thị
Trang 17Luận văn giới hạn những nội dung nghiên cứu về sử dụng đất đô thị baogồm: quy mô diện tích đất đô thị, cơ cấu đất đô thị và tỉ lệ đất đô thị so với diện tíchđất tự nhiên và sự thay đổi về không gian.
Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị được đặt trong mối quan
hệ biện chứng hai chiều: Đô thị hóa với sử dụng đất đô thị và sử dụng đất đô thị vớiphát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đang diễn ra đô thị hóa
4.2 Giới hạn về thời gian
Luận văn nghiên cứu về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
từ năm 2010 đến 2018 Số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2010 - 2018 Số liệu điều tranăm 2019 - 2020
4.3 Giới hạn về không gian
Luận văn tập trung nghiên cứu sự phân bố đô thị trên toàn bộ lãnh thổ tỉnhThái Nguyên, có đi sâu tới thị trấn, huyện và thành phố, đặc biệt là thành phố TháiNguyên, thành phố Sông Công và thị xã Phổ Yên
Địa bàn điều tra của đề tài là trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cụ thể tác giả lựachọn phường Hồng Tiến và xã Đồng Tiến của thị xã Phổ Yên để khảo sát điều trathực tế
5 Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu Địa lí nói chung cũng như nghiên cứu địa lí kinh tế xã hộinói riêng, việc vận dụng quan điểm tổng hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Điều nàyxuất phát từ đặc trưng của đối tượng địa lí được nghiên cứu là mang tính tổng hợp.Nghiên cứu về đô thị hóa và sử dụng đất có liên quan đến nhiều yếu tố khác như môitrường, tự nhiên, giao thông, y tế, giáo dục, dân số thuộc các chuyên ngành khácnhau và cũng hợp thành các bộ phận khác nhau của đô thị
Biến động hiện trạng sử dụng đất đô thị chịu nhiều tác động của các yếu tốkhác nhau của quá trình đô thị hóa Khi nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóatới sự biến đổi hiện trạng sử dụng đất đô thị, cần đánh giá, phân tích tổng hợp cácnguyên nhân gây ra đô thị hóa cũng như những tác động của quá trình này tới sự thayđổi mục đích sử dụng của các loại hình sử dụng đất trong địa bàn nghiên cứu Quanđiểm nghiên cứu tổng hợp còn thể hiện ở chỗ: đánh giá những tác động tương hỗ của
Trang 18các yếu tố đô thị hóa và sử dụng đất tới sự phát triển chung của tỉnh Thái Nguyên trong một giai đoạn nhất định.
5.2 Quan điểm hệ thống
Sử dụng đất đô thị là hệ thống phức tạp, bao gồm các hợp phần cấu tạo thành,mỗi loại hình sử dụng đất đô thị chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế - xã hộitrong một chỉnh thể thống nhất Chính vì vậy, khi có những tác động vào mọi thànhphần hay một bộ phận nào đó thì các thành phần hay bộ phận khác sẽ bị thay đổi theophản ứng dây chuyền Do đó, nghiên cứu tác động của đô thị hóa tới hiện trạng sửdụng đất đô thị cần nhìn nhận và xem xét trong một hệ thống hoàn chỉnh Sự thay đổicủa một hợp phần trong hệ thống sẽ kéo theo sự thay đổi của các hợp phần khác cũngnhư toàn bộ hệ thống
5.3 Quan điểm lãnh thổ
Bất cứ đối tượng địa lí kinh tế - xã hội nào cũng gắn liền với một lãnh thổ nhấtđịnh, do đó quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của ngành Địa lí Quan điểmnày được vận dụng vào đề tài thông qua việc đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tớiquá trình đô thị hóa và sử dụng đất ở tỉnh Thái Nguyên, lợi thế so sánh và hạn chế củatỉnh trong mạng lưới đô thị của cả nước
5.4 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Quan điểm lịch sử viễn cảnh cho phép thấy toàn cảnh sự xuất hiện, sự pháttriển, diễn biến và kết thúc của các đối tượng, mặt khác giúp phát hiện quy luật tấtyếu của sự phát triển đối tượng Quan điểm yêu cầu nghiên cứu đối tượng bằngphương pháp lịch sử Tìm hiểu, phát hiện nguồn gốc phát sinh trong những thời gian,không gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm cho được quy luật tất yếucủa sự phát triển sự vật hiện tượng Vận dụng quan điểm này vào đề tài cần tìm hiểuquá trình đô thị hóa cũng như những tác động của nó tới đời sống kinh tế - xã hội ởkhu vực nghiên cứu trong những năm gần đây
5.5 Quan điểm phát triển bền vững
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, phát triển đô thị và đô thịhóa bền vững cần thể hiện một cách suy nghĩ và một hướng giải quyết về đô thị hoá
mà trong đó việc xây dựng các đô thị sẽ được tiến hành một cách toàn diện cân đối
và vững chắc trên cơ sở phát triển kinh tế, duy trì và phát huy những hiểu biết vềvăn hoá xã hội, có ý thức tiết kiệm đối với việc sử dụng nguồn tài nguyên thiênnhiên và có thái độ đúng đắn hữu hiệu với công tác quản lí bảo vệ môi trường Phát
Trang 19triển đô thị cần phát huy những tiến bộ khoa học kỹ thuật, cần phối hợp đa ngành,
đa cấp và cần được xây dựng dựa trên các kế hoạch phát triển đô thị ngắn và dài hạn
mà quy hoạch xây dựng đô thị được duyệt đã quy định
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu
Những tài liệu sơ cấp và thứ cấp được tác giải thu thập từ nhiều nguồn khácnhau Số liệu sơ cấp là số liệu tác giả có được thông qua quá trình điều tra xã hộihọc tại phường Đồng Tiến và xã Hồng Tiến (thị xã Phổ Yên) Số liệu thứ cấp lànhững cuốn sách, những công trình nghiên cứu, luận án, đề án quy hoạch, bài viết
về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Thái Nguyên được công bố trên các tạp chítrong và ngoài nước Hệ thống tài liệu là cơ sở quan trọng giúp cho việc hình thành
và hoàn thiện cơ sở lí luận cũng như những nghiên cứu, phân tích cụ thể về lịch sửphát triển, sự biến đổi và phát triển của đô thị, biến đổi sử dụng đất đô thị TháiNguyên theo thời gian Hệ thống tài liệu được tiến hành thu thập tại các cơ quannghiên cứu khoa học như: Khoa Địa lí, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên; Sở
kế hoạch và đầu tư Thái Nguyên; Sở Khoa học và Công nghệ Thái Nguyên; Sở Tàinguyên và Môi trường Thái Nguyên và nhiều cơ quan chuyên ngành khác Ngoài
ra, các niên giám thống kê của tỉnh Thái Nguyên là những tài liệu thứ cấp được tácgiả sử dụng trong đề tài
6.2 Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh
Trên cơ sở những số liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành tổng hợp, phântích quá trình đô thị hóa tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2018, so sánh với giaiđoạn trước; tổng hợp vấn đề sử dụng đất đô thị giai đoạn 2010 - 2018 và so sánh vớitrước năm 2010; từ đó phân tích mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ởtỉnh Thái Nguyên
6.3 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành trao đổi thông tin, tham khảo ýkiến của các nhà khoa học trong các lĩnh vực địa lí, công nghiệp nông thôn, lịch sử,văn hóa - xã hội, môi trường… và một số lãnh đạo cấp tỉnh, cấp thành phố, cấp thị
xã, cấp huyện,
6.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Trong quá trình nghiên cứu phân tích số liệu, cần phải điều tra nhằm bổ sungchính xác thông tin thực tế Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra xã hội học
Trang 20nhằm xác định lại các thông tin đã thu thập Trên cơ sở xây dựng bảng hỏi có nộidung hợp lí, tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của nhân dân tại một số phường và xãtrên địa bàn nghiên cứu Bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin định lượngchung về sự biến đổi mức sống, thu nhập, cơ cấu lao động nghề nghiệp…ở một sốđịa bàn tại khu vực.
Tác giả lựa chọn 2 địa bàn nghiên cứu là phường Đồng Tiến và xã Hồng Tiếncủa thị xã Phổ Yên - bởi đây là 2 địa bàn bị thu hồi đất nông nghiệp với diện tíchlớn nhưng mục đích thu hồi đất và thời gian thu hồi đất khác nhau Tác giả xâydựng nội dung, lựa chọn thời gian và phương pháp điều tra cụ thể như sau:
Nội dung điều tra: Tác giả đã điều tra 90 phiếu ở phường Đồng Tiến và xãHồng Tiến thuộc thị xã Phổ Yên với các nội dung chính được nêu ở phần Phụ lục
Thời gian điều tra: Tác giả tiến hành điều tra vào tháng 12 năm 2019
Đối tượng điều tra: 90 hộ bị thu hồi đất nông nghiệp để chuyển đổi mục đích
sử dụng sang đất phi nông nghiệp
Phương pháp điều tra: Ngoài những câu hỏi trong bảng hỏi, tác giả tròchuyện, phỏng vấn sâu với các chủ hộ và các thành viên trong các hộ được điều tra
Số mẫu điều tra: 01 mẫu cho 2 địa bàn nghiên cứu, mỗi địa bàn 45 phiếu.Sau khi đã thu thập được số liệu điều tra, tác giả đã xử lí số liệu để khai thác,phân tích những số liệu thực tế, từ đó rút ra những nhận xét kết luận khoa học,khách quan về vấn đề nghiên cứu; bằng những phương pháp đơn giản như lập bảngthống kê, xử lí số liệu đơn giản, vẽ biểu đồ qua phần mềm Microsoft Excel
6.5 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê được sử dụng trong quá trình nghiên cứu nhằm xử línhững số liệu thống kê đã thu thập được để phân tích đặc điểm của quá trình đô thịhóa khu vực nghiên cứu Trên cơ sở đó, đưa ra những tác động của quá trình đô thịhóa tới sự biến động của hiện trạng sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên
6.6 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Các số liệu sơ cấp và thứ cấp đã được tác giả xử lí trên phần mềm Excel đểđưa ra kết quả nghiên cứu sơ bộ Từ đó thông qua phần mềm Mapinfor tác giả thànhlập, xây dựng hệ thống bảng, biểu đồ, bản đồ chuyên đề để thể hiện kết quả nghiêncứu một cách cụ thể, chính xác, khoa học
Trang 217 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị
Chương 2: Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Định hướng và giải pháp trong đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ởtỉnh Thái Nguyên đến năm 2030
8 Đóng góp của luận văn
- Phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn về đô thị hóa, về sử dụng đất đô thị, mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị để vận dụng vào nghiên cứu ở tỉnh Thái Nguyên
- Làm rõ ảnh hưởng của các nhân tố (lịch sử phát triển, vị trí địa lí, kinh tế -
xã hội, tự nhiên) đến quá trình đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
- Trình bày được đặc điểm đô thị hóa thông qua những biến đổi về dân cư,lao động, kinh tế - xã hội theo thời gian, theo không gian và những biến đổi trong sửdụng đất trong các đô thị ở tỉnh Thái Nguyên
- Phân tích mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Thái
Nguyên
trong giai đoạn 2010 - 2018 thông qua điều tra xã hội học
- Đề xuất được các giải pháp để thực hiện những định hướng về đô thị hóa và sửdụng đất đô thị ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2030 theo hướng phát triển bền vững
Trang 22PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đô thị hóa
1.1.1.1 Khái niệm đô thị, đô thị hóa
* Khái niệm đô thị
Trong quá trình hình thành và phát triển không ngừng của xã hội, phương thứcsản xuất và kiểu quần cư của con người luôn có sự thay đổi, chất lượng cuộc sống củacon người luôn được cải thiện Từng hình thái kinh tế - xã hội cụ thể sẽ xuất hiện vàphát triển kiểu quần cư khác nhau liên quan mật thiết với các nhân tố kinh tế - xã hội,các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, tập quá cư trú của cácdân tộc Có hai loại hình quần cư chủ yếu: nông thôn và đô thị Việc phân loại nàygắn với sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, mà trước hết là tách công nghiệp
ra khỏi nông nghiệp, dân tới tách thành thị khỏi nông thôn Như vậy, có thể hiểu đôthị là không gian sống và một hình thức cư trú của con người Có rất nhiều thuật ngữ
để chỉ đô thị Trên thế giới, các thuật ngữ chỉ đô thị như city, town (tiếng Anh),urbanized area, urban cluster (trong tiếng Mỹ), unité urbaine (“đơn vị thành phố”trong tiếng Pháp) Ở Việt Nam, các thuật ngữ chỉ đô thị hay được sử dụng là thànhphố, thị xã, thị trấn
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học có những nghiên cứu và quanđiểm khác nhau về đô thị [21]:
Theo Ratzel (1960), quan niệm đô thị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ởcủa họ, chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn Nếu dân sốchưa đầy 2.000 người thì điểm dân cư đó mất tính chất đô thị
Theo Richtofen (1968) lại định nghĩa: “đô thị là một nhóm tập hợp những
người có cuộc sống không phụ thuộc vào nông nghiệp, mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng “người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp”.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) có ghi: Đô thị là một không gian cư trúcủa cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phinông nghiệp
Trang 23Tác giả Phạm Ngọc Côn định nghĩa: “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật
độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện”.
Về quản lí nhà nước, nội hàm của đô thị, các tiêu chuẩn định lượng đô thị luônthay đổi cùng với sự phát triển kinh tế xã hội
Thông tư số 34/2009/TT-BXD và luật số 30/2009/QH12 của Quốc hội Luật
Quy hoạch đô thị đều đưa ra khái niệm: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh
sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”.
Đối với địa lí học, nghiên cứu sự thay đổi về quy mô dân đô thị, tốc độ tăngdân số đô thị, tỉ lệ dân số đô thị, mức độ đô thị hóa (theo tỉ lệ dân đô thị) và số lượng,
cơ cấu lao động phi nông nghiệp Theo đó, có thể hiểu chung nhất: “Đô thị là nơi
tập trung dân cư với mật độ cao, lao động phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu lao động, là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ, là nơi chứa đựng sự vận động của lực lượng sản xuất và có vai trò như một hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cho cả nước, cho một tỉnh
và một huyện”.
* Khái niệm đô thị hóa
Đô thị hóa là quá trình vận động, biến đổi phức tạp mang tính quy luật về cácmặt kinh tế - xã hội và môi trường, là một trong những đặc trưng nổi bật của nền vănminh nhân loại Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội bao gồm các quá trình tăngquy mô dân số đô thị, tăng tỉ lệ dân đô thị cùng với sự chuyển dịch cơ cấu lao động,
cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng nhóm ngành phi nông nghiệp Bên cạnh đó,
đô thị hóa còn là sự thay đổi không gian đô thị thông qua sự tăng lên số lượng đô thịcùng với sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị [46]
Theo nghĩa rộng, đô thị hóa là một quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thịtrong sự vận động phát triển của xã hội Quá trình này bao gồm những thay đổi trongphân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu lao động
và nghề nghiệp, trong cơ cấu dân số, trong lối sống, văn hóa, trong tổ chức không
Trang 24khẩu và địa lí đa dạng dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động xã hội vàphân công lao động theo lãnh thổ đã hình thành trong lịch sử.
Theo nghĩa hẹp, đô thị hoá là sự phát triển hệ thống thành phố và nâng cao vaitrò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như tăng tỉ trọng của dân số đô thịtrong nước, trong vùng và trên thế giới Đó cũng là sự tập trung dân cư trong cácthành phố lớn và cực lớn cũng như sự phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong toàn
bộ mạng lưới các điểm dân cư Đô thị hoá là một bộ phận quan trọng của các quátrình phát triển kinh tế - xã hội Nó được thể hiện thông qua quá trình chuyển dịch cáchoạt động của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất côngnghiệp hoặc dịch vụ Từ đó diễn ra sự chuyển dịch các điểm dân cư nông thôn sangcác điểm dân cư đô thị với quy mô khác nhau
Đô thị hoá là sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cơ cấu kinh tế vàtrong đời sống xã hội Quá trình đô thị hoá gắn liền với sự hình thành và phát triểncông nghiệp, là người bạn đồng hành với quá trình công nghiệp hoá Giữa côngnghiệp hoá và đô thị hoá có mối quan hệ hữu cơ, nhân quả khăng khít Một mặt,chính sự phát triển và phân bố công nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành vàphát triển đô thị Mặt khác, hệ thống đô thị một khi được hình thành và có cơ sở hạtầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phát triển thì lại trở thành nơi hấp dẫn các hoạt độngsản xuất công nghiệp Hai quá trình này đan xen nhau, dựa vào nhau và có mối quan
hệ qua lại mật thiết với nhau
Đô thị hoá đồng nhất với sự gia tăng về số lượng và quy mô của các thành phốlớn, đồng thời diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu hoạt động của dân cư,kèm theo sự thay đổi lối sống của họ
1.1.1.2 Đặc điểm của đô thị hóa
Đô thị hóa là một hiện tượng luôn mang tính xã hội và tính lịch sử, đô thị hóadiễn ra song song với công nghiệp hóa và chịu sự tác động mạnh mẽ của bối cảnhtoàn cầu hóa trên thế giới
Đô thị hóa là một hiện tượng luôn mang tính xã hội và tính lịch sử.
Đô thị hóa là quá trình phát triển về quy mô và số lượng đô thị Nét nổi bật củaquá trình đô thị hóa đang diễn ra trên thế giới là sự gia tăng nhanh chóng số lượng các
đô thị lớn (có số dân trên 5 triệu dân), nhất là ở các nước đang phát triển Số lượngcác đô thị cực lớn (có quy mô từ 10 triệu trở lên) của toàn thế giới cũng tăng lênnhanh chóng từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, hiện nay có 22 thành phố có trên
10 triệu dân
Trang 25Việc mở rộng diện tích đô thị là do nhu cầu phải mở rộng hoặc xây dựng mớinhiều tuyến đường giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp và dịch vụ Các đô thịnhiều khi còn phải mở rộng ranh giới hành chính Quá trình này làm cho các đô thịlớn lên và mở rộng phạm vi ảnh hưởng Đồng thời với quá trình này, là quá trìnhchuyển đổi diện tích đất nông nghiệp thành đất đô thị, gây ra những hậu quả tiêu cựcnhư giảm diện tích đất gieo trồng trong nông nghiệp và làm suy thoái môi trường
Đô thị hóa song song với công nghiệp hóa.
Dân cư và lao động di chuyển liên tục nên dẫn đến những thay đổi khôngngừng về số dân, cơ cấu dân số và cơ cấu lao động ở các đô thị Từ khi đô thị xuấthiện cho đến nay, số dân dô thị liên tục tăng với tộc độ nhanh
Đô thị hóa diễn ra song song với công nghiệp hóa (thường ở giai đoạn đầu của
đô thị hóa) và thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển (thường ở giai đoạn sau của đô thịhóa) Các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển biểu hiện qua việc tăng tỉ trọng củacác ngành đó trong cơ cấu GDP Khi các hoạt động kinh tế trong đô thị phát triển,nhu cầu về đất để mở rộng không gian sản xuất ngày một tăng lên Trong khi đó quỹđất của các đô thị vốn đã hạn hẹp nên phải mở rộng không gian ra vùng ngoại ô, thậmchí mở rộng đến các vùng nông thôn Cùng với đó, nhu cầu về nhà ở đô thị cũng tănglên theo tốc độ tăng dân số đô thị Vì vậy, trong quá trình đô thị hóa không chỉ diệntích đất đô thị tăng lên, cơ cấu sử dụng đất trong đô thị biến đổi mà khu vực chứcnăng trong đô thị cũng được mở rộng và phân bố lại Con người có thể điều khiểnnhững hoạt động kinh tế trong đô thị theo đúng các quy luật khách quan
Bối cảnh toàn cầu hóa tác động ngày càng mạnh đến đô thị hóa.
Ở các nước đang diễn ra đô thị hóa và công nghiệp hóa thường gặp phải một
số khó khăn khi hội nhập với nền kinh tế thế giới Nền kinh tế quốc dân, đặc biệt làkinh tế của cả đô thị lớn vừa bị ảnh hưởng bởi các quy luật vận động, phát triển kinh
tế toàn cầu vừa chịu sự chi phối của các chính sách phát triển kinh tế trong nước Xuhướng đô thị hóa tự phát, đô thị hóa giả tạo đang phát triển ở một số quốc gia sẽ đểlại như hậu quả nặng nề về kinh tế - xã hội cho các đô thị
1.1.1.3 Các giai đoạn của đô thị hóa
Theo Ray M Northam, quá trình đô thị hóa được phân chia làm 3 giai đoạn:Giai đoạn đầu của đô thị hóa, giai đoạn đô thị hóa tăng tốc và giai đoạn kết của đôthị hóa [46]
Vận dụng lí thuyết của J Fourastié về sự chuyển dịch lao động giữa ba khuvực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), sự chuyển dịch của cơ cấu kinh
Trang 26tế, gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất, kết hợp với phân kỳ đô thị hóa củaRay M Northam, ta có thể miêu tả các giai đoạn của đô thị hóa như sau: Giai đoạnđầu của đô thị hóa ứng với nền văn minh nông nghiệp; Giai đoạn đô thị hóa tăng tốcứng với nền văn minh công nghiệp; Giai đoạn kết của đô thị hóa ứng với nền vănminh hậu công nghiệp hay văn minh dịch vụ.
Đô thị hóa tiền công nghiệp (pre-industrial urbanization)
Đô thị hóa thời kỳ công nghiệp (industrial urbanization)
Đô thị hóa thời kỳ hậu công nghiệp (post-industrial urbanization)
Dựa trên những biến đổi về không gian đô thị và dựa trên phương thức tậptrung dân số, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, người ta chia ra thành đô thị hóa tậptrung và đô thị hóa phân tán Đô thị hóa tập trung thường xuất hiện ở thời kì đầu của
đô thị hóa, khi dân nông thôn di chuyển ra đô thị làm đô thị tăng lên cả về quy mô vàchất lượng Đô thị hóa phân tán là giai đoạn sau của đô thị hóa, khi khu vực ngoạithành của đô thị lớn phát triển nhanh nhờ mở rộng, nâng cấp mạng lưới giao thôngvận tải Dòng chuyển cư gồm lực lượng lao động các doanh nghiệp di chuyển từtrung tâm thành phố ra ngoại ô để tránh tắc nghẽn giao thông, giảm chi phí thuê nhà
và chi phí đi lại Vì thế không gian các đô thị ngày càng mở rộng
1.1.1.4 Các lí thuyết phát triển đô thị
Có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức phát triển đô thị như: lí thuyết ba
khu vực hoạt động kinh tế của Jean Fourastier, lí thuyết hệ thống vị trí trung tâm theo
quan điểm của Christaller, lí thuyết đô thị hóa ngoại vi (Peripheral Urbanization), lí
thuyết đô thị hóa từ bên ngoài (Exo - Urbanization) mỗi quan niệm có những lí giải
riêng, phân tích riêng về lí thuyết phát triển đồ thị
* Lí thuyết ba khu vực hoạt động kinh tế của Jean Fourastier
Trên cơ sở tài liệu về sự thay đổi trong cơ cấu lao động của các nước Tây Âukhi trải qua giai đoạn đô thị hóa, J Fourastier đã đưa ra lí thuyết ba khu vực hoạtđộng kinh tế [18] Theo ông, tất cả các hoạt động của xã hội được chia thành 3 khuvực chủ yếu: Khu vực I bao gồm các hoạt động khai thác trực tiếp nguồn tài nguyênthiên nhiên có sẵn như đất, rừng, biển, khoáng sản Trong số đó, nông nghiệp là hoạtđộng chủ đạo và ở vào thời kì đầu, hầu hết lao động của xã hội hoạt động trong khuvực I Dựa vào những thành tựu của cuộc cách mạng kĩ thuật, con người đã chế biếnnhững sản phẩm khai thác từ thiên nhiên (khu vực I), hoặc tạo ra những sản phẩmmới không có trong tự nhiên Phần đông lực lượng lao động chuyển từ khu vực I sangkhu vực II (công nghiệp) Các dịch vụ thương mại, vui chơi giải trí, du lịch nghỉ
Trang 27dưỡng, ngân hàng, tài chính, thuế quan phát triển Lực lượng lao động trong lĩnhvực dịch vụ ngày càng tăng lên Jean Fourastier xếp các loại hoạt động nói trên vàolao động khu vực III và gọi chung là lao động dịch vụ.
Lí thuyết ba khu vực hoạt động có giá trị nhất định Để đánh giá trình độ pháttriển của một nước, có thể xem xét tỉ lệ lao động giữa 3 khu vực 3 khu vực hoạt độngkinh tế, nhìn chung trùng với 3 thời kì phát triển của đô thị hóa (nền văn minh nôngnghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp)
* Lí thuyết hệ thống vị trí trung tâm theo quan điểm của Christaller:
Vào đầu những năm 30 của thế kỉ XX W Christaller - một nhà địa lí Đức đãđưa ra “Lí thuyết điểm trung tâm” W Christaller nghiên cứu các khu định cư đô thị ởmiền Nam nước Đức và lí thuyết này như một phương tiện để nhận biết làm thế nàocác khu định cư đô thị phát triển và có khoảng cách trong mối quan hệ với nhau Một
vị trí trung tâm là một khu định cư hoặc một điểm nút phục vụ khu vực xung quanhvới hàng hoá và dịch vụ Mô hình của W Christaller cũng được dựa trên tiền đề choràng tất cả các hàng hoá và dịch vụ được mua bởi người tiêu dùng từ các địa điểmtrung tâm gần nhất [30]
Lí thuyết trung tâm của W Christaller đã được A Loesch hưởng ứng và pháttriển Theo A Loesch, có một điểm trung tâm quan trọng nhất là thành phố, đầu mốicủa toàn bộ hệ thống các điểm dân cư Vai trò thương mại và dịch vụ của nó tác độngmạnh mẽ đến các khu vực lân cận chịu ảnh hưởng của thành phố
* Lí thuyết đô thị hóa ngoại vi (Peripheral Urbanization):
Lí thuyết đô thị hóa ngoại vi (Peripheral Urbanization) là mô hình được hìnhthành dựa trên thuyết “Hệ thống thế giới phụ thuộc” Trên quan điểm kinh tế chínhtrị, thuyết “Hệ thống thế giới phụ thuộc” đã đưa ra những điểm khái quát về ảnhhưởng của chủ nghĩa Tư bản toàn cầu đến hệ thống đô thị trong khu vực các nướcđang phát triển Phạm vi của chủ nghĩa Tư bản mở rộng vào các khu vực ngoại vi đãthúc đẩy đô thị hóa nhanh hơn Quá trình này được chia làm các giai đoạn:
Mô hình đô thị hóa ngoại vi đã phản ánh rõ bản chất đô thị hóa ở các nướcđang phát triển ở khu vực Đông Nam Á (Indonexia, Malaixia), khu vực Đông Á(Trung Quốc) và một số nước Mỹ Latinh [46]
1.1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng tới đô thị hóa
Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế xã hội nên trong nó chứa đựng nhiều mốiquan hệ phức tạp giữa các nhân tố tự nhiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất cũngnhư các các bộ phận của nền kinh tế
Trang 28* Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô thị hóa phụ thuộc rấtnhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậu thời tiết tốt, có nhiều khoángsản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó
sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn
Vì vậy, vị trí giao thông và vị trí địa lý kinh tế là một trong những nhân tốquan trọng hàng đầu đối với quá trình phát triển và phân bố mạng lưới đô thị Các đôthị tạo ra sức hút kích thích các vùng xung quanh tăng trưởng Các địa phương có khảnăng đáp ứng một phần nhu cầu về nông sản cho các đô thị và là thị trường tiêu thụcác sản phẩm công nghệ do các đô thị tạo ra Các đô thị vệ tinh có thể hỗ trợ mộtcách có hiệu quả các đô thị lớn trong vùng Việc gắn sự phát triển kinh tế xã hội củamột đô thị với sự phát triển của một vùng lớn hơn có ý nghĩa quan trọng trong việctạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của đô thị và của cả vùng
Vì vậy, có thể nói vị trí địa lí góp phần ảnh hưởng đến tốc độ, mức độ và chấtlượng của đô thị hóa
* Yếu tố kinh tế - xã hội
Các điều kiện kinh tế - xã hội là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình đô thị hóa, thông qua các yếu tố: dân cư và lao động, trình độ phát triển kinh tế,
cơ sở hạ tầng đô thị, đường lối chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Dân cư và nguồn lao động là yếu tố trực tiếp và quan trọng tác động đến quy
mô và sự phát triển đô thị Các quá trình sinh tử, chuyển cư đã quyết định đến tốc độtang dân số đô thị và tốc độ đô thị hóa Tỉ lệ lao động trong khu vực I, II, III không chỉphản ánh trình độ phát triển kinh tế đô thị mà còn phản ánh trình độ của đô thị hóa
Trình độ phát triển kinh tế ảnh hưởng tới tốc độ đô thị hóa thông qua các yếutố: quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế (theo ngành và theothành phần kinh tế) Khoa học kĩ thuật phát triển tạo điều kiện cho việc áp dụng côngnghệ, kỹ thuật vào cuộc sống bao gồm các loại công nghệ và kĩ thuật cho phép khaithác bền vững các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và xã hội, hướng tới việcxây dựng xã hội phát triển bền vững Công nghiệp hóa sẽ làm tăng giá trị sản xuấtcông nghiệp, thúc đẩy phát triển kinh tế và mở rộng không gian đô thị Từ đó tạo sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, thúc đẩy quá trình đô thị hóa
Cơ sở hạ tầng đô thị là thành phần quan trọng và là điều kiện tiên quyết choquá trình đô thị hóa Cơ sở hạ tầng càng hoàn thiện, nhất là mức độ hoàn thiện về hệthống giao thông vận tải, góp phần mở rộng mối quan hệ giữa các đô thị và các vùng
Trang 29xung quanh Vì vậy, không gian đô thị ngày càng mở rộng Thông thường, hệ thống
cơ sở hạ tầng đô thị phải đi trước một bước so với tốc độ tăng trưởng kinh tế và giatăng dân số, cũng như nhu cầu của dân cư Điều này thể hiện sự phù hợp, cân đối của
sự phát triển đô thị với sự phát triển các yếu tố kinh tế, xã hội của đô thị
Đường lối chính sách phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình đô thị hóa Ở mỗi địa phương chiến lược đô thị hóa luôn gắn liền với chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội Chính sách đô thị hóa, chính sách nhà ở, chính sách pháttriển đô thị, luật đất đai luật đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
đô thị hóa Ngoài ra, trình độ quản lí Nhà nước về đô thị cũng là nhân tố then chốt,thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình đô thị hóa
* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Các nhân tố tự nhiên là những tiền đề cần thiết cho đô thị hóa Nếu điều kiện
tự nhiên thuận lợi sẽ trở thành nhân tố thúc đẩy phát triển mạng lưới đô thị và đô thịhóa diễn ra nhanh hơn Các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
và phân bố của mạng lưới đô thị chủ yếu là các loại tài nguyên như địa hình, đất, khíhậu, nước
Địa hình và đất đai: Các vùng núi cao thường có ít các đô thị lớn như đồngbằng Khác với nhiều đô thị ở đồng bằng, các đô thị ở miền núi không có nhiều cơ sở
hạ tầng hiện đại với quy mô lớn, cũng không phải là nơi tập trung quá lớn về dân cư
Đô thị miền núi thường là các đô thị có chức năng đơn giản về hành chính, du lịchhoặc khai thác khoáng sản Vì vậy, các tiêu chí xác định đô thị, cũng như phân loại
đô thị ở miền núi, thường thấp hơn ở đồng bằng
Đất là tiền đề quan trọng đối với sự phát triển đô thị Đất dùng để xây dựng đôthị, xây dựng các cơ sở vật chất hạ tầng cho đô thị Trong trường hợp quy mô đất đaihạn chế so với nhu cầu phát triển đô thị, thì việc sử dụng đất sẽ trở nên căng thẳng gây
ra nhiều sức ép cho vấn đề nhà ở, ách tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, hạn chế sựphát triển và hạn chế sự mở rộng quy mô đô thị Tuy nhiên, trong quá trình phân tích
sự phát triển của đô thị, thì nhân tố đất đai là nhân tố ảnh hưởng, chứ không phải lànhân tố quyết định đến quy mô không gian đô thị Vì chính quy mô dân số và các yêucầu phát triển kinh tế - xã hội mới là nhân tố quyết định quy mô đất của đô thị
Các đô thị thường được xây dựng ở các khu vực có khí hậu mát mẻ, thuận lợicho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của người dân Các đô thị có chức năng dulịch dựa trên cơ sở khí hậu mát mẻ, ôn hòa, phong cảnh đẹp, đặc trưng như Sapa,Tam Đảo, Đà Lạt
Trang 30Tài nguyên nước có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự phát triển của đô thị,đặc biệt ở các khu vực khô hạn hoặc nửa khô hạn Nhu cầu sử dụng nước trong các
đô thị là rất lớn, chủ yếu là nước cho các hoạt động công nghiệp, cho sinh hoạt dân cư
và cho nông nghiệp của vùng ngoại ô Việc cung cấp nước không đủ cho các nhu cầusản xuất và sinh hoạt sẽ làm giảm hiệu quả các kinh tế của đô thị, suy giảm chấtlượng môi trường và chất lượng cuộc sống dân cư đô thị Khi đó vấn đề sử dụng nước
sẽ trở nên căng thẳng Vì vậy, việc nghiên cứu khả năng cung cấp nước là nhiệm vụquan trọng trọng quy hoạch phát triển dân số và kinh tế đô thị
* Các nhân tố khác
Xu thế hội nhập và kinh tế thị trường: Ngày nay, không một quốc gia nào cóthể phát triển một cách ổn định và hài hòa nếu không tham gia vào quá trình hộinhập, đó xu thế tất yếu Hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang đến những cơ hộitrong đầu tư, hợp tác mà còn giúp cho đô thị hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, mở rộngkhông gian đô thị, tăng số lượng và chất lượng đô thị Hội nhập và toàn cầu hóa đãthúc đẩy đô thị hóa nhanh hơn
Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và nền văn hóa đó có ảnhhưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… nói chung và hình thái đô thịnói riêng
Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóa ngày càngcao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, vớicác chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển nền kinh tếnhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triển kinh tế vượt bậc Lịch sử pháttriển đô thị là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình đô thị hóa, tạo nên đặc trưngriêng của đô thị, phản ánh mối quan hệ giữa nó và các đô thị xung quanh Qua nhữnglần điều chỉnh địa giới hành chính, đô thị đã có thêm các khu vực hành chính mới.Mỗi lần nâng cấp đô thị thì quy mô dân số, các thành phần của nền kinh tế, diện tíchđất trong đô thị tăng lên và cơ cấu sử dụng đất sẽ chuyển dịch theo
1.1.1.6 Một số tiêu chí đánh giá đô thị hóa
Các tiêu chí để đánh giá về đô thị hóa trong các nghị định của chính phủ đãthay đổi theo thời gian Nghị định 72/2001/NĐ-CP đã sử dụng 13 tiêu chí đánh giá vàđược chia thành 5 nhóm: chức năng đô thị, quy mô dân số, tỉ lệ lao động phi nôngnghiệp, mật độ dân số và cơ sở hạ tầng Đến nghị định 42/2009/NĐ-CP (kèm thông
tư số 34/2009/TT-BXD) thêm 01 tiêu chí đánh giá Tổng số tiêu chí là 18 và chiathành 6 nhóm: chức năng đô thị, quy mô dân số, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp, mật
Trang 31độ dân số, cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị Hội nghị đô thị toàn quốc(năm 2009) đã đưa ra một hệ thống tiêu chí để đánh giá và chọn lựa ra những đô thịtrong diện ưu tiên đầu tư nâng cấp đô thị với 6 tiêu chí: tỉ lệ hộ nghèo, thiếu hụt hạtầng, ô nhiễm môi trường, tỉ lệ đô thị hóa, mật độ dân số và cơ sở hạ tầng đô thị [14].
Nhóm 1 Chức năng đô thị
Tiêu chí thể hiện chức năng đô thị bao gồm: Vị trí, vai trò, tính chất của đô thịtrong hệ thống đô thị Ví trí và vai trò đô thị được xác định trên cơ sở quy hoạch tổngthể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam, quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, vùng tỉnh,vùng liên huyện và vùng huyện Tính chất của đô thị được xác định đô thị là trung tâmtổng hợp khi có chức năng tổng hợp về nhiều mặt như hành chính - chính trị, an ninh,quốc phòng, kinh tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học; đô thị là trung tâm chuyên ngànhkhi có một vài chức năng nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyếtđịnh tính chất của đô thị (đô thị công nghiệp, đô thị du lịch, đô thị nghiên cứu khoahọc, đô thị đào tạo hay đô thị cảng); đô thị là trung tâm tổng hợp của một tỉnh, vùngtỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước [46]
Nhóm 2 Kinh tế - xã hội đô thị: gồm 3 tiêu chí
- Dân số - đô thị: gồm các chỉ tiêu là quy mô dân số đô thị, tỉ lệ dân đô thị, tốc
độ tăng dân đô thị Quy mô dân số đô thị được tính bằng số dân thường trú và số dântạm trú trên 6 tháng tại khu vực nội thành, nội thị và thị trấn Tỉ lệ dân số đô thị là tỉtrọng giữa số dân đô thị trong tổng số dân của lãnh thổ Tốc độ tăng dân đô thị đượctính cho từng năm hoặc trung bình của một giai đoạn
- Lao động đô thị: bao gồm số lượng lao động và tỉ lệ lao động phi nôngnghiệp của đô thị Lao động phi nông nghiệp của đô thị là lao động thuộc các ngànhcông nghiệp - xây dựng và dịch vụ Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp là tỉ lệ lao độngcủa các ngành phi nông nghiệp so với tổng số lao động các ngành kinh tế ở cùng mộtthời điểm [28, 46]
- Kinh tế đô thị: gồm 3 tiêu chí là quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh
tế, tỉ trọng ngành kinh tế phi nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế Trong đó, tốc độ tăngtrưởng kinh tế trung bình năm là mức độ thay đổi GDP trên địa bàn trung bình trongmỗi năm
Nhóm 3 Cơ sở hạ tầng đô thị
Nhóm cơ sở hạ tầng đô thị, bao gồm 6 tiêu chí thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuậtgiao thông độ thị, cấp thoát nước đô thị, cung cấp điện và chiếu sáng đô thị, thông tinliên lạc và bưu chính viễn thông, môi trường đô thị, nhà ở và các công trình công
Trang 32cộng) và 3 tiêu chí thuộc cơ sở hạ tầng xã hội (nhà ở đô thị, y tế đô thị, giáo dục đô
thị) Giao thông đô thị được đánh giá qua các chỉ tiêu: đầu mối giao thông, tỉ lệ đất giao thông số với đất xây dựng đô thị, mật độ đường chính Cấp thoát nước đô thị được đánh giá qua tỉ lệ hộ được cấp nước sạch, tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt Cung
cấp điện và chiếu sáng đô thị được đánh giá qua các chỉ tiêu: mức độ cung cấp điện
sinh hoạt, tỉ lệ đường phố được chiếu sáng Thông tin liên lạc và bưu chính viễn
thông được tính bằng số máy điện thoại cố định/1000 dân Môi trường đô thị được
đánh giá thông qua các chỉ tiêu: tỉ lệ thu gom và xử lí thải rắn, tỉ lệ xử lý nước thải,
diện tích cây xanh công cộng Y tế đô thị được đánh giá qua số cơ sở y tế/1000 dân.
Giáo dục đô thị được đánh giá bằng: số cơ sở giáo dục/1000 dân [46].
Nhóm 4 Cấu trúc không gian đô thị
Nhóm cấu trúc không gian đô thị gồm 3 tiêu chí: hệ thống đô thị, cấu trúc khônggian đô thị theo mức độ đô thị hóa và tổ chức không gian đô thị theo chức
năng
1.1.2 Sử dụng đất đô thị
1.1.2.1 Khái niệm đất, đất đô thị và sử dụng đất đô thị
Đất là thành phần quan trọng của môi trường sống Dưới góc độ kinh tế, đấtđai là một vị trí địa lí - nơi sinh sống và diễn ra hoạt động sản cuất của con người Đấtđai là một không gian bao gồm cả phần mặt đất và khoảng không bên trên Ngoài ra,đất đai thường được sử dụng như là nguồn vốn, là hàng hóa và có thể trao đổi, muabán Do đất đai có vị trí giới hạn trong không gian, là một nguồn tài nguyên quí giákhông thể di chuyển theo ý muốn của con người nên đất đai đã tạo nên sự khác biệt
về giá trị giữa các mảnh đất ở những vị trí khác nhau
Có nhiều khái niệm về đất đô thị với nhiều cách tiếp cận khác nhau Dưới góc
độ kinh tế học, “đất đô thị là không gian vận động của kinh tế đô thị” [11] và đất đôthị là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là một sản phẩm có giá trị trên thị trường cùng với
sự phát triển kinh tế - xã hội Trong phương diện luật pháp, “đất đô thị là đất đượccác cấp thẩm quyền phê duyệt cho xây dựng đô thị” Trong phương diện hành chính,đất đô thị bao gồm đất nội thành, nội thị, thị trấn, thị tứ Dưới góc độ không gian địa
lý kinh tế, đất đô thị có nguồn gốc từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng Đất đô thị
là một phần đất đai của quốc gia được phát triển gắn liền với quá trình đô thị hóa Về
sử dụng đất, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) quanniệm rằng, sử dụng đất là những sắp xếp, những hoạt động, những tác động của conngười nhằm sản xuất, thay đổi và duy trì các loại đất Sử dụng đất là sử dụng một loạitài nguyên đặc biệt nên phải đặt nó trong hệ thống các loại tài nguyên thiên nhiên
Trang 33khác Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất đã đưa ra khái niệm: “sử dụng đất là hệ thốngcác biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa đất và tổ hợp các nguồn tài nguyênkhác” Để phù hợp với nội dung nghiên cứu, sử dụng đất đô thị là những tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp của con người lên tài nguyên đất ở các đô thị thông qua cáchoạt động kinh tế - xã hội [46].
1.1.2.2 Đặc điểm đất đô thị
Đất đô thị là một tài sản đặc biệt nên nó cũng là hàng hóa đặc biệt trong các đôthị Giá trị, giá cả của đất đô thị phụ thuộc vào vị trí địa lý của mỗi mảnh đất Giá trịcủa đất đô thị chính là giá trị sử dụng và có giá trị cao hơn giá trị sử dụng của các loạiđất khác bởi nó có một vị trí đặc biệt với cơ sở hạ tầng hiện đại
Đất là tư liệu sản xuất không thể sinh ra trong khi nhu cầu sử dụng của conngười ở các đô thị ngày càng tăng lên Dân số đô thị tăng nhanh, kinh tế tăng trưởngnhanh khiến đất đai ở các đô thị ngày càng trở nên chật hẹp và khan hiếm Vì vậy,trong quá trình sử dụng đất đô thị cần có những chính sách để sử dụng đất hợp lí vàmang lại hiệu quả kinh tế cao [11]
Đất đô thị có tính hàng hóa trong nền kinh tế thị trường Các nhà kinh tế họccho rằng đất đai là hàng hóa, có giá trị sử dụng vì đất đai không chỉ phản ánh độ phìnhiêu mà còn phản ánh những lợi thế về vị trí địa lí và khả năng sinh lợi nhuận ỞViệt Nam, các nhà nghiên cứu chính sách đất đai cho rằng “Đất đai là hàng hóa đặcbiệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn, quý giá của đất nước Đất đai có ý nghĩakinh tế, chính trị và xã hội sâu sắc” hay “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quýgiá, là tư liệu sản xuất đặc biệt” Vì vậy, đất đô thị mang trong nó cả giá trị và giá trị
sử dụng Đất đô thị là hàng hóa nên nó được mua bán, trao đổi trên thị trường Tínhchất hàng hóa của đất đai khác biệt bởi nó có thể là nguồn vốn vừa để đầu tư, vừa làtài sản thế chấp Đất đô thị không được sinh ra mà bị thu hẹp lại theo thời gian và nóchịu tác động bởi các yếu tố xã hội [46] Giá trị đất đô thị không chỉ thể hiện tronggiá trị kinh tế của đất mà còn thể hiện trong giá trị xã hội hay giá trị tự nhiên của nó.Giá trị của đất đô thị không ngừng tăng lên theo thời gian
1.1.2.3 Phân loại đất đô thị
Có nhiều cách phân loại đất đô thị tùy theo mục đích sử dụng, chức năng sửdụng, mục đích quy hoạch và xây dựng đô thị
Căn cứ vào mục đích sử dụng đất đô thị được chia ra các loại: Đất nông
nghiệp đô thị gồm diện tích hồ nuôi trồng thủy sản, khu vực trồng cây xanh, trồng
hoa, cây cảnh, các phố vườn Đất chuyên dùng đô thị gồm đất xây dựng trường học,
Trang 34bệnh viện, các công trình văn hóa, vui chơi giải trí, các công sở và khu vực hành
chính, cơ sở sản xuất kinh doanh, trung tâm thương mại Đất ở đô thị bao gồm đất xây dựng nhà đô thị và các chương trình phục vụ sinh hoạt của người dân đô thị Đất
hạ tầng đô thị là đất xây dựng đường giao thông, nhà ga, bến bãi, hệ thống điện,
thông tin liên lạc và cấp thoát nước trong khu vực đô thị Đất dùng vào mục đích an
ninh, quốc phòng trong khu vực đô thị Đất chưa sử dụng là đất được quy hoạch để
phát triển đô thị nhưng chưa sử dụng đến
Căn cứ vào chức năng sử dụng đất trong đô thị chia theo 4 loại: đất sản xuất(đất nông nghiệp và đất công nghiệp), đất công trình công cộng và nhà ở (đất dândụng), đất giao thông, đất cây xanh
Căn cứ vào mục đích quy hoạch và xây dựng đô thị, đất đô thị được chia ra:
Đất dân dụng bao gồm đất để xây dựng các khu nhà ở, khu công cộng, trồng cây
xanh, xây dựng cơ sở hạ tầng Đất ngoài khu dân dụng bao gồm đất xây dựng khu
công nghiệp, kho tàng, các trung tâm chuyên ngành, an ninh quốc phòng, các cơ quan
và các loại đất khác
1.1.2.4 Các tiêu chí đánh giá về sử dụng đất đô thị
Sử dụng đất đô thị được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu là: tổng diện tích đất đôthị, diện tích đất đô thị tăng thêm trong cả giai đoạn, cơ cấu sử dụng đất đô thị
Tổng diện tích đất đô thị là toàn bộ diện tích các loại đất thuộc phạm vi quản
lý hành chính của đô thị trong đường địa giới hành chính được lấy số liệu do cơ quanđịa chính có thẩm quyền đo đạc và công bố Thông thường diện tích đất được phântheo mục đích sử dụng và người sử dụng
Diện tích đất đô thị phân theo mục đích sử dụng: là diện tích của phần đất có
cùng mục đích sử dụng trong phạm vi của đơn vị hành chính, bao gồm đất sử dụngvào mục đích công cộng ở đô thị, đất cho quốc phòng và an ninh, đất ở đô thị, đấtchuyên dùng đô thị, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng Diện tích đấttheo tiêu thức người sử dụng, quản lý đất: là người được nhà nước giao đất, cho thuêđất, công nhận quyền sử dụng đất, bao gồm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư,
tổ chức (trong nước), cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài
Biến động diện tích đất đô thị: Biến động diện tích đất là mức chênh lệch diện
tích từng loại đất trên địa bàn do chuyển mục đích sử dụng giữa kỳ nghiên cứu và kỳgốc (khoảng cách giữa hai kỳ thường là 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm)
Cơ cấu đất đô thị: Cơ cấu diện tích đất theo tiêu thức mục đích sử dụng: là tỉ
trọng diện tích của phần đất có cùng mục đích sử dụng trong phạm vi diện tích đất đô
Trang 35thị, bao gồm tỉ trọng đất ở đô thị, đất chuyên dùng đô thị và đất chưa sử dụng trongtổng diện tích đất đô thị.
1.1.3 Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị
Đô thị hóa là sự phát triển của đô thị về hành chính, kinh tế, dân cư, chínhsách, văn hóa xã hội và môi trường Tổng hợp những biến đổi của các yếu tố trên tạo
ra thay đổi về không gian đô thị, đó là sự thay đổi về diện tích đô thị, cơ cấu sử dụngđất và các vấn đề sinh thái, cảnh quan, kiến trúc đô thị tạo nên một không gian đô thịmới Ngoài những hiệu quả tích cực về mặt kinh tế - xã hội, đằng sau đô thị hóa lànhững xung đột, bất ổn về xã hội trong đô thị Đô thị hóa và sử dụng đất có mối quan
hệ 2 chiều Một mặt, sử dụng đất là kết quả của quá trình đô thị hóa, bị tác động từnhững thay đổi về dân cư, kinh tế - xã hội và những chính sách phát triển đô thị.Ngược lại, sử dụng đất và những thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất sẽ tác động ngượctrở lại đến đời sống dân cư, các vấn đề kinh tế - xã hội ở những vùng đang thực hiện
đô thị hóa
1.1.3.1 Đô thị hóa với sử dụng đất đô thị
“Đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù muốn haykhông muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố” Đó là kết luận của hộinghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên Hợp Quốc tổ chức tại Ixtanbul (Thổ NhĩKỳ)
Tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất:
Thứ nhất: quá trình đô thị hóa dẫn đến thay đổi về cơ cấu sử dụng đất theo
hướng giảm mạnh về diện tích đất nông nghiệp, đất chưa sử dụng và đồng thời tăngnhanh về diện tích đất chuyên dùng, đất đô thị
Nâng cấp đô thị là nguyên nhân dẫn đến tăng diện tích đất đô thị bởi một trongnhững điều kiện cần để đô thị được nâng cấp là đạt tiêu chuẩn về diện tích Biểu hiện
rõ nhất của đô thị được nâng cấp là diện tích đô thị tăng lên, ranh giới đô thị được mởrộng ra khu vực ngoại ô, số dân đô thị tăng và các hoạt động kinh tế phi nông nghiệpphát triển mạnh Ngoài ra, khi đô thị được nâng cấp, nhu cầu về đất để xây dựng nhà
ở, cơ sở hạ tầng đô thị cũng tăng lên khiến tỉ lệ đất phi nông nghiệp ngày càng chiếm
tỉ lệ lớn trong cơ cấu sử dụng đất đô thị Đô thị hóa ở Việt Nam, chuyển đổi về hànhchính diễn ra trước nhất và ảnh hưởng khá nhiều đến diện tích đất đô thị [46]
Gia tăng dân số đô thị do gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học Ở các nước pháttriển, trong đó có Việt Nam, gia tăng cơ học đóng vai trò chính trong quá trình tăngdân số đô thị Cơ cấu sử dụng đất đô thị cũng dần thay đổi và chuyển dịch nhanh theo
Trang 36Thứ hai: Quá trình đô thị hóa là nguyên nhân chính dẫn tới việc hình thành và
thay đổi đất đô thị Đất đô thị nước ta năm 2000 có 990.276 ha, năm 2005 tăng lên1.153.548 ha, đến năm 2010 đã tăng lên 1.629.000 ha Đất đai đô thị còn tiếp tục giatăng trong quá trình đô thị hóa theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thứ ba: Đô thị hóa thúc đẩy quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng
cao, đặc biệt là ở các khu vực ven đô (đất nông nghiệp chuyển sang đất đô thị, đấtxây dựng, và đất chuyên dụng khác) Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là hiện tượngtất yếu của quá trình tăng trưởng kinh tế Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là yếu tốchủ đạo gây ra chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở các nước đang phát triển Côngnghiệp hóa và đô thị hóa là động cơ tăng trưởng kinh tế thông qua phát triển cácngành phi nông nghiệp
1.1.3.2 Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn
ra đô thị hóa
Mạng lưới đô thị, môi trường đô thị, cảnh quan đô thị thay đổi và sử dụng đất
đô thị đã tác động ngược trở lại đô thị hóa thông qua một loạt các vấn đề kinh tế - xãhội như: chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, thay đổi về thu nhập, việc làm, chất lượngcuộc sống ở những khu vực mới chuyển từ nông thôn thành đô thị
Thứ nhất: sử dụng đất đô thị ảnh hưởng đến cơ cấu nghề nghiệp Đô thị hóa
gắn liền với quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Phầnlớn diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, người nông dân trở thành thị dân, họ phảitìm sinh kế mới trong một bối cảnh mới
Thứ hai: sử dụng đất đô thị ảnh hưởng đến thu nhập Thu nhập của các hộ gia
đình có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo từng hộ Trước khi thu hồi đất, thu nhậpphần lớn từ nông nghiệp Sau khi tư liệu sản xuất không còn nữa, nguồn thu từ nôngnghiệp chỉ còn một tỉ lệ nhỏ Thay vào đó là thu nhập từ các ngành nghề khác nhưtrung tâm công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Đời sống của một bộ phận nông dânnhiều khó khăn do không tìm được việc phù hợp, trong khi nhiều hộ gia đình thunhập tăng vọt do nhạy bén với cơ chế thị trường nên đã phát triển một số nghề dịch
vụ mới Vì vậy khoảng cách giàu nghèo ngày một tăng lên
Thứ ba: sử dụng đất đô thị ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị, môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội đô thị Không gian sống mang phong cách đô thị, nếpsống văn minh và văn hóa đô thị đã đã được người dân tiếp cận Đồ dùng gia đìnhcũng được mua sắm mới thay cho những thiết bị đã cũ hoặc lạc hậu
Trang 37Bên cạnh những thay đổi tích cực, người dân đô thị phải đối mặt với mặt tráicủa đô thị hóa như thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh, xung đột giữangười dân và chính quyền địa phương khi giá đất đền bù không thỏa đáng, tiền đền
bù không được dùng để học và tiếp cận với nghề nghiệp mới, tệ nạn xã hội mang tínhchất đô thị đã xuất hiện Môi trường ô nhiễm do chất thải, khí thải từ các khu côngnghiệp đang ngày càng trầm trọng Hiện tượng ngập úng đường phố, rác thải sinhhoạt đổ bừa bãi và cơ sở để xử lí rác còn thiếu trong một số khu dân cư mới chuyểnthành đô thị Quy hoạch đô thị chưa đồng bộ nên cảnh quan và cuộc sống ở nhiều khuvực vẫn nửa nông thôn nửa thành thị
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở các nước đang phát triển
Trong gần 3 thập kỉ qua, dân số đô thị trên thế giới đã không ngừng tăng lên.Năm 1990 toàn thế giới có gần 2,3 tỉ dân dô thị Năm 2018, số dân đô thị trên thế giới
đã tăng lên đến 4,19 tỉ người Sau 28 năm dân số đô thị trên thế giới đã tăng lên 1,8lần, tăng thêm 1,89 tỉ người
Bảng 1.1 Dân số đô thị trên thế giới giai đoạn 1990 - 2018 và dự báo đến năm 2050
Nhóm các nước đang và chậm phát triển có dân số đông, cơ cấu dân số trẻ,một số nước lại đang trong giai đoạn đầu của đô thị hóa nên dân số đô thị tăng chậmhơn một phần do các nước này có cơ cấu dân số già và đô thị hóa đã đi vào giai đoạn
ổn định
Trang 38Bảng 1.2 Số đô thị trên 500 nghìn dân, giai đoạn 1990 - 2018 và
dự báo đến năm 2030 (Đơn vị: đô thị)
Năm 1990, trên toàn thế giới có 10 thành phố trên 10 triệu dân, 21 thành phố
có từ 5 đến 10 triệu dân, 239 thành phố có từ 1 đến 5 triệu dân và 294 thành phố có từ
500 nghìn đến 1 triệu dân Sự gia tăng dân số đô thị là hình thành các siêu đô thị trênthế giới Năm 2016, trên thế giới đã lên đến 12 thành phố trên 20 triệu dân, 24 thànhphố có từ 10 đến 20 triệu dân Năm 2018, toàn thế giới có 33 thành phố trên 10 triệudân, 48 thành phố từ 5 đến 10 triệu dân, có 467 thành phố có từ 1 đến 5 triệu dân và
598 thành phố từ 500 nghìn đến 1 triệu dân
Theo dự báo, với tốc độ tăng dân số đô thị như hiện nay đến năm 2030 toànthế giới sẽ có 43 thành phố có trên 10 triệu dân (trong đó sẽ có 27 thành phố thuộccác nước đang phát triển), 66 thành phố có từ 5 - 10 triệu dân (trong đó sẽ có 32thành phố thuộc các nước đang phát triển) và có 597 thành phố có từ 1 - 5 triệu dân(trong đó có 112 thành phố thuộc các nước đang phát triển) Như vậy, các thành phố
có trên 5 triệu dân phân bố nhiều ở các nước đang phát triển, các thành phố dưới 5triệu dân phân bố chủ yếu ở các nước phát triển
1.2.2 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, vừa thoát khỏi nước có thu nhập thấp,bước vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình Do Việt Nam phát triển từnền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển nên tốc độ đô thị hóa ở Việt Namdiễn ra chậm chạp Chỉ từ khi đất nước Đổi mới, quá trình đô thị hóa mới thật sự khởisắc Theo các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới, tốc độ đô thị hóa bình quân củaViệt Nam trong giai đoạn 1999 - 2009 là 3,4%/năm Tính đến năm 2018, tỷ lệ đô thịhóa toàn quốc đạt khoảng 38,4%, tương ứng với 33,83 triệu người Trong khu vựcĐông Nam Á, tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam chỉ cao hơn Mianma và Đông Timo.Theo Quy hoạch phát triển hệ thống đô thị đến năm 2025 tỉ lệ dân đô thị của ViệtNam sẽ đạt 45% vào năm 2020, nhưng với tốc độ đô thị hóa như hiện nay, chỉ tiêunày khó đạt được [48]
Trang 39Bảng 1.1 Tỉ lệ dân đô thị phân theo vùng giai đoạn 2010 - 2018 (Đơn vị: %)
cư cao Ngoài ra, ở 2 vùng trên có 2 thành phố lớn là thủ đô Hà Nội (3,3 triệu dân đôthị) và thành phố Hồ Chí Minh (6,5 triệu dân đô thị) Đông Nam Bộ cũng là vùng cócác trung tâm công nghiệp và đô thị tương đối phát triển như Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Bình Dương
Trung du miền núi Bắc Bộ luôn là vùng có tỉ lệ dân đô thị thấp nhất cả nước,tiếp theo là Tây Nguyên Tỉ lệ dân đô thị của 2 vùng trên tăng lên qua mỗi năm chủyếu là do thay đổi ranh giới hành chính của đô thị
Tỷ lệ đô thị hóa cũng có sự khác biệt rất rõ giữa các địa phương Năm 2015,một số tỉnh/thành có tỉ lệ đô thị hóa cao, như thành phố Hồ Chí Minh (80,5%), ĐàNẵng (87.8%), Bình Dương (78,2%); nhưng cũng có tỉnh đô thị hóa còn rất thấp nhưThái Bình (10,5%) và Bắc Giang (11,5%) Dân cư đô thị phân bố cũng không phùhợp, chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn, trong đó 16 đô thị loại đặc biệt và loại Ichiếm gần 50% dân số đô thị cả nước Phần lớn các đô thị hình thành và phát triển ởhai khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long hay ven biển Vùng miềnnúi, trung du, Tây Nguyên đô thị còn thưa thớt (chủ yếu là đô thị tỉnh lị và huyện lị);
đô thị trung tâm khu vực nông thôn phát triển còn yếu
Mạng lưới đô thị của nước ta không ngừng phát triển trong một phần tư thế kỉthực hiện công cuộc Đổi mới đất nước; từ 629 đô thị (năm 1999) đã tăng lên tới 755
đô thị (năm 2010), và đến hết năm 2017, hệ thống đô thị cả nước có tổng số 813 đôthị Trong đó, có 2 đô thị loại đặc biệt, 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại
Trang 40III, 84 đô thị loại IV, 640 đô thị loại V Trong giai đoạn 2010 - 2018 có nhiều thị xãđược nâng cấp lên thành phố, thị trấn được nâng lên thành thị xã và nhiều đô thị được
mở rộng ranh giới hành chính cũng như diện tích đất đô thị
Trong hệ thống đô thị nước ta, 2 đô thị lớn nhất là Hà Nội và thành phố HồChí Minh không thay đổi vị thế trong thời gian vừa qua Tuy nhiên, Việt Nam chưa có
đô thị cực lớn (trên 10 triệu dân) tham gia vào mạng lưới đô thị của thế giới Nước tamới có 2 đô thị có từ 5 - 10 triệu dân (thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), 1 đô thị có
từ 1 - 5 triệu dân (Hải Phòng) và 21 đô thị có khoảng 500 nghìn dân đến 1 triệu dân
Cùng với quá trình đô thị hóa, không gian đô thị không ngừng mở rộng Quátrình phân chia lại địa giới hành chính tạo nên hiện tượng đô thị hóa do quyết địnhhành chính (đô thị hóa cưỡng bức) Việc phân chia lại địa giới hành chính đã dẫn đếnmột trong hai hệ quả: tăng tỷ lệ đô thị hóa (trường hợp thành phố Cần Thơ, tỉnh VĩnhPhúc), nhưng cũng có thể dẫn đến hiện tượng nông thôn hóa đô thị (như trường hợpthành phố Hà Nội) Quá trình đô thị hóa luôn xuất hiện khu vực ven đô thị Đặc trưngcủa khu vực này là luôn biến đổi theo quá trình phát triển của các đô thị Hiện nay,các vùng ven đô thị tại Việt Nam đang xảy ra quá trình đô thị hóa tự phát
1.2.3 Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Trung du miền núi Bắc Bộ
Về hành chính, Trung du miền núi Bắc Bộ bao gồm 14 tỉnh: Thái Nguyên, BắcGiang, Phú Thọ, Yên Bái, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Sơn La, Điện Biên, LaiChâu, Cao Bằng, Hà Giang, Hòa Bình, Lai Châu Đây là vùng kinh tế tổng hợp, trong
đó kinh tế cửa khẩu, thủy điện, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp đa ngành,nông - lâm nghiệp, du lịch là chủ đạo Đồng thời cũng là vùng có nhiều đồng bào dântộc sinh sống, gắn bó lâu đời, có bản sắc văn hóa dân tộc phong phú So với các vùngkhác trong cả nước, Trung du miền núi Bắc Bộ là vùng có quy mô diện tích lớn nhấtvới 101 nghìn km2, tuy nhiên dân số lại ít Năm 2018, dân số của vùng đạt 12,3 triệungười (chiếm 13,0% dân số cả nước); mật độ dân số là 129 người/km2; dân số đô thị
là 2,28 triệu người, tỉ lệ dân số đô thị 18,6% Quy hoạch xây dựng vùng trung dumiền núi Bắc Bộ đến năm 2030, dân số toàn vùng tăng lên khoảng 16,8 triệu người,dân số đô thị khoảng 6,7 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa khoảng 39,8%
Vùng trung du miền núi Bắc Bộ hiện có 182 đô thị, trong đó 2 đô thị loại I làThái Nguyên và Việt Trì, 10 đô thị loại III, 5 đô thị loại IV, 165 đô thị loại V Trongnhững năm qua, vùng Trung du miền núi Bắc Bộ luôn được Đảng, Nhà nước quantâm đầu tư với nhiều chính sách ưu đãi, có bước phát triển quan trọng về kinh tế xãhội, quốc phòng an ninh được giữ vững, góp phần ổn định kinh tế đất nước Nhưng