Đảng ta xác định đây là vấn đề có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng.Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn,nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu
khoa học của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS Lê Văn Từ - Trưởngphòng Đào tạo, Bồi dưỡng – Phân viện Học viện Hành chính, Khu vực TâyNguyên Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, khoa học cónguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Lê Thị Cẩm Oanh
Trang 2quá trình học tập, nghiên cứu, viết luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ nhiệt tình của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc Học viện, Lãnh đạo Khoa sauĐại học, quý Thầy Cô giáo, Học viện Hành chính Quốc gia Giám đốc Phân viện
và quý Thầy Cô giáo Phòng Đào tạo – Bồi dưỡng Phân viện Học viện Hànhchính, Khu vực Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập vànghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành đến Thầy TS LêVăn Từ, Trưởng phòng Đào tạo, Bồi dưỡng – Phân viện Học viện Hành chính,Khu vực Tây Nguyên – Thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất tậntình, để tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Huyện ủy, HĐND, UBND huyện,các phòng ban chuyên môn thuộc UBND huyện và Đảng ủy, UBND các xã trênđịa bàn huyện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho tôi trong quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Lê Thị Cẩm Oanh DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dânMục tiêu quốc gia
Mặt trận Tổ quốcNgân sách Nhà nướcNông thôn mớiQuản lý nhà nước
Trung học cơ sởTrung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Xây dựng nông thôn mới
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 8
1.1 Xây dựng nông thôn mới 8
1.2 Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 19
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương ở Việt Nam 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK 38
2.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk 38
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk 50
2.3 Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua 63
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK 73
3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng xây dựng nông thôn mới 73
3.2 Những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk 79
3.3 Kiến nghị 88
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn đối với sự nghiệpcách mạng của Đảng cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đấtnước Đảng ta xác định đây là vấn đề có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng.Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn,nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn vớixây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch
là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt [01].Chủ trương “xây dựng nông thôn mới” bắt đầu hình thành và trở thànhmột trong số nhiều mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa đất nước tanói chung và nông thôn nói riêng phát triển một cách tổng thể, toàn diện vềkinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Xây dựng nông thôn mới vớimục đích cuối cùng là nâng cao đời sống cho nông dân
Để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo đúng quan điểm,định hướng, đòi hỏi các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương phảithực hiện và phát huy hết vai trò trong quản lý, tổ chức, điều hành, ban hànhcác tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ, hướng dẫn, kiểmtra, đôn đốc việc thực hiện, tổ chức thi đua gắn với khen thưởng
Điều đó được khẳng định sâu sắc, nhất quán và cụ thể hơn từ Đại hội lầnthứ IX của Đảng cho đến nay Trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, ngày05/8/2008, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X,Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân,nông thôn” Nghị quyết đề cập toàn diện đến 3 lĩnh vực nông nghiệp, nôngdân, nông thôn với các quan điểm và chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân,
được nhân dân đồng tình hưởng ứng Trong đó, khẳng định: “Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 6hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm
an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” [01].
Thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối và khẳng định quyết tâmchính trị của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP,
ngày 28/10/2008 về “ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Chương trình mục tiêu Quốc gia về
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 xác định rõ mục tiêu, thờigian, phạm vi thực hiện, đồng thời nêu lên nội dung, các giải pháp cũng nhưtiêu chí cụ thể của nông thôn mới Sau 30 năm đổi mới, tại Đại hội lần thứ XIIĐảng ta đã đề ra yêu cầu trong thời gian tới cần phát triển nông nghiệp vàkinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới Xây dựng nền nôngnghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng caochất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị giatăng, đẩy mạnh xuất khẩu [09]
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vềxây dựng nông thôn mới, tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Krông Búk nóiriêng cũng ban hành nhiều văn bản và triển khai thực hiện Chương trình mụctiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng.Sau 09 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thônmới (từ năm 2011 đến năm 2019), hiện nay huyện Krông Búk có 2/7 xã đãđược công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới Vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn được cấp ủy, chính quyền địa phương đặc biệt chú trọng, cónhiều chuyển biến tích cực, rõ rệt, góp phần thay đổi, nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần của người dân trên địa bàn huyện Tuy nhiên, bên cạnh những
Trang 7kết quả đạt được, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bànhuyện Krông Búk vẫn còn những hạn chế như: Một số văn bản ban hành chưakịp thời, chưa đảm bảo chất lượng; công tác kiện toàn tổ chức bộ máy quản lýnhà nước về xây dựng nông thôn mới chưa kịp thời; cán bộ thực hiện công tácquản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới chưa có nhiều kinh nghiệm,năng lực chuyên môn chưa cao; nguồn lực tuy được đa dạng hóa nhưng vẫncòn gặp nhiều khó khăn, huy động nguồn lực từ các nguồn ngoài ngân sáchcòn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình xây dựngnông thôn mới còn mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm đánh giá cụ thể về quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, từ đó đề ra nhữnggiải pháp tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới để huyệnKrông Búk tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xâydựng Nông thôn mới đạt chất lượng và hiệu quả; tôi lựa chọn vấn đề “Quản lýnhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh ĐắkLắk” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xây dựng nông thôn mới đã được nhiều tác giả lựa chọn đểnghiên cứu, đến thời điểm hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu cungcấp những luận cứ, luận chứng, dữ liệu rất quan trọng cho việc xây dựngchính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề về nôngdân, đặc biệt là vấn đề xây dựng nông thôn mới Có thể kể đến một số côngtrình nghiên cứu và đề tài tại Việt Nam như:
PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc trong bài viết “Nhìn lại chương trình xây
dựng nông thôn mới sau 2 năm thí điểm” (2013) đã đánh giá những kết quả
đạt được tại các xã thí điểm, phân tích những hạn chế, bất cập về tính khả thicủa nội dung chương trình, bất cập về vốn, về đào tạo nghề, về nhận thức của
Trang 8các ngành các cấp; từ đó, đề ra những định hướng để hoàn thiện Chương trìnhnông thôn mới về tổ chức chỉ đạo và Bộ tiêu chí quốc gia [8].
PGS.TS Hoàng Văn Hoan trong cuốn sách “Xây dựng nông thôn mới
vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nước ta hiện nay” (2014), Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, đã tiếp cận từ cơ sở lý luận về xây dựng nôngthôn mới, phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới ở vùng Tây Bắc, từ
đó đề xuất giải pháp đồng bộ, đột phá nhằm giải quyết những vấn đề có tínhchiến lược, phát huy tiềm năng, lợi thế của khu vực và sự nỗ lực vươn lên củacác dân tộc thiểu số, đưa các dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc thoát khỏi đóinghèo, hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước [11]
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công “Quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” (2018) của Đỗ Danh Phương Trên cơ sở
lý luận quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cùng với kết quả phântích, đánh giá thực trạng tại tỉnh Đắk Lắk, tác giả đề xuất ra các giải phápnhằm nâng cao hiệu quả công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh[17]
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công “Quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới ở huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk” (2018) của Phùng Thị Phương Loan.
Đề tài cũng phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất những giảipháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện EaSúp, tỉnh Đắk Lắk [16]
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu hữu ích cho tác giả kếthừa, tham khảo trong quá trình làm luận văn; tuy nhiên, chưa có công trình,
đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện nộidung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện KrôngBúk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 9Vì vậy, trên cơ sở kế thừa, phát huy và sử dụng những luận cứ, dữ liệuquan trọng của các công trình nghiên cứu khoa học khác để nghiên cứu, tác
giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” đề cập đến những vấn đề chưa được các
công trình nghiên cứu đã công bố đề cập, nghiên cứu, giải quyết
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới để củng cố vàlàm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và đề xuất những giải pháp nhằm nâng caohiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Búk,tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm cơ sở lý luận quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới
- Phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế,nguyên nhân trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyệnKrông Búk, tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước vềxây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk trong thời giantới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 10- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk từnăm 2015 đến năm nay
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung làm rõ cơ sở khoa học quản lýnhà nước về xây dựng nông thôn mới, các yếu tố ảnh hưởng; phân tích kếtquả đạt được, hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân; đề xuất giải pháp nâng caohiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong quá trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Tìm hiểu các nghiên cứu đã có về xâydựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở tỉnhĐắk Lắk và ở Việt Nam, đánh giá các quan điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đóđưa ra các kiến giải theo cách tiếp cận của tác giả
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thông qua khảo sát thực tế bằngphiếu lấy ý kiến đối với 120 cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới vàphiếu khảo sát đối với 120 hộ dân nhằm thu thập thông tin định lượng về đánhgiá của cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới và một số hộ dân trênđịa bàn huyện Krông Búk đối với thực trạng xây dựng nông thôn mới và quản
lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
- Phương pháp tổng hợp và phân tích định lượng: Dựa trên những tàiliệu, thông tin thực tiễn của các ngành, các địa phương và các dữ liệu thu thậpđược để phân tích, đánh giá thực trạng XDNTM và QLNN và XDNTM ở
Trang 11huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, những kết quả và hạn chế làm cơ sở để đưa
ra những kết luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về XDNTM ởhuyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu,
so sánh, phân tích để đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới và quản lýnhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quản lý nhànước về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra những hạn chế và phân tích nguyên nhân của nhữnghạn chế; đồng thời, đề xuất các giải pháp giúp các nhà quản lý nâng cao hiệuquả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện KrôngBúk
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn có 03 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về xây dựng nông thônmới
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm về nông thôn:
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia
+ Theo Từ điển bách khoa nông nghiệp Việt Nam: Nông thôn là vùnglãnh thổ của một quốc gia hay một địa phương mà ở đó hoạt động sản xuấtchủ yếu là nông nghiệp Nông thôn có môi trường tự nhiên, khung cảnh, kinh
tế - xã hội, điều kiện sống khác với đô thị Dân cư Nông thôn chủ yếu làmnông nghiệp và một số ngành nghề có liên quan với đất đai, cây trồng, vậtnuôi Trong một quốc gia, Nông thôn thường phát triển chậm hơn đô thị Tuynhiên, Nông thôn là yếu tố cân bằng cho đô thị, tạo nên sự hài hòa trong pháttriển Nhà nước Việt Nam có nhiều chính sách thúc đẩy phát triển nông thôn[13]
+ Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04/10/2013 của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [02].
Tóm lại, có thể hiểu Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấphành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã, ở đó hoạt động sản xuất chủ yếu lànông nghiệp; là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của ngườidân; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp lao độngcho công nghiệp và thành thị; là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sảnphẩm của công nghiệp và dịch vụ Phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định
Trang 13về mặt kinh tế - chính trị - xã hội Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về cácmặt tự nhiên - kinh tế - xã hội.
- Khái niệm về nông thôn mới:
Khái niệm nông thôn mới dù xuất hiện từ rất sớm, nhưng đã có sự thayđổi và hoàn thiện, bổ sung nhiều mặt, từ chỗ là một khái niệm đơn lẻ thuầntúy về quy hoạch, còn lý thuyết và mơ hồ, trở thành một khái niệm toàn diện,bao quát và được cụ thể hóa tới mức có thể đo lường được
Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn nhưng khác với nông thôntruyền thống Trong đó: Đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dânkhông ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thànhthị; nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnhchính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; nền kinh tế pháttriển toàn diện, bền vững; cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại,phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp,dịch vụ và đô thị; giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảovệ; sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao; an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội được giữ vững; đặc biệt, ở nông thôn mới, nông dân và cộngđồng dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn chính là chủ thể triển khai và trựctiếp thụ hưởng kết quả của chương trình xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới theo Quyết định số 69/QĐ-BNN-VPĐP, ngày09/01/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những đặc trưng:
“Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao nhanh
và bền vững; nông thôn phát triển theo quy hoạch, có hệ thống hạ tầng kinh
tế xã hội đồng bộ và đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài; môi trường xanh sạch - đẹp, an toàn; bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát huy; chất lượng hệ thống chính trị cơ sở được nâng cao” [03].
Trang 14Khái niệm về xây dựng nông thôn mới:
Xây dựng nông thôn mới bắt đầu xuất hiện từ năm 2009, là một trongnhững chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2010-2020 Là mộtcuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồnglòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triểnsản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá,môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất,tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng nông thôn mới giúp chonông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xâydựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơcấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp vớiphát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nôngthôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trườngsinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo củaĐảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh côngnhân – nông dân – trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chínhtrị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [1]
Trong khi giai cấp công nhân được xác định là giai cấp tiên phong trongquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ trí thức là nguồn lực trí tuệ vànhân tài cho đất nước, thì nông dân là lực lượng cơ bản trong xây dựng nôngthôn mới Đây là tư tưởng cơ bản định hình cái gọi là “vai trò chủ thể” củanông dân trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đãđược đề ra một cách hệ thống trong Nghị quyết 26-NQ/TW
Tóm lại, Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toànĐảng, toàn dân ta và của cả hệ thống chính trị Xây dựng nông thôn mới
Trang 15không chỉ đơn thuần là giải quyết những vấn đề xã hội theo sau phát triểnkinh tế, mà là xây dựng một xã hội tổng thể (societal development) trongtương quan với xã hội đô thị; bao gồm nhiều khía cạnh về kinh tế, văn hóa,nhu cầu xã hội của nông dân, dân chủ, công bằng xã hội, cơ sở hạ tầng, hệthống chính trị, đoàn kết xã hội, trật tự xã hội, quốc phòng, an ninh, môitrường sinh thái, quy hoạch; trong đó, nông dân đóng vai trò chủ thể trong xâydựng nông thôn mới.
1.1.2 Đặc điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1 Đặc điểm xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chươngtrình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở các địaphương Xây dựng nông thôn mới là cốt lõi của việc thực hiện Nghị quyếtTrung ương 26 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thể hiện sự quan tâm,chăm lo của Đảng, Nhà nước để phát triển khu vực nông thôn Theo chươngtrình này, xây dựng nông thôn mới có một số đặc điểm như sau:
Một là, tính kinh tế: Trong bối cảnh hiện nay, để phát triển nông nghiệp
toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả; xây dựng nông thôn có nền sản xuấthàng hóa mở, hướng đến thị trường và hội nhập, đòi hỏi kết cấu hạ tầng nôngthôn phải hiện đại, tạo điều kiện để mở rộng sản xuất, giao lưu buôn bán.Thúc đẩy để phát triển nhanh nền nông nghiệp, nông thôn, khuyến khích toàndân tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, giảm bớt sự phânhóa giàu nghèo, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cưnông thôn Ứng dụng công nghệ, sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, đồngthời mang nét đặc trưng, độc đáo của từng vùng địa phương
Hai là, tính văn hóa – xã hội: Xây dựng nông thôn mới là xây dựng và
phát triển nông thôn không những về kinh tế, cơ cấu hạ tầng, hệ thống chínhtrị, an ninh trật tự mà còn gắn với xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư,
Trang 16góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân tại cộng đồng Xâydựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn mà ở đó các thiết chế văn hóađược quan tâm, xây dựng; các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tốiđa; các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càngsinh động, phong phú, hình thức đa dạng, hấp dẫn, thu hút người dân thamgia; từ đó, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy tinh thần làmchủ, tính tự giác, tính sáng tạo của người dân.
Ba là, tính định hướng: Đảng lãnh đạo, ban hành chủ trương, đường lối,
để triển khai thực hiện trong thực tiễn, Nhà nước đóng vai trò định hướng, cụthể hóa bằng các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ
và hướng dẫn thực hiện Trên cơ sở đó, người dân địa phương bàn bạc dânchủ để quyết định và tổ chức thực hiện đối với từng hoạt động cụ thể, đảmbảo tạo hiệu ứng tổng thể, tích cực, lan tỏa để thực hiện mô hình xây dựngnông thôn mới
Bốn là, tính dân chủ được thể hiện ở hai khía cạnh:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin “cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng”; theo tư tưởng của Hồ Chí Minh “lấy sức dân để làm lợi cho dân” cùng với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây
dựng nông thôn mới chính là một cuộc cách mạng phát huy sức mạnh tổnghợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân, giúp người dânnhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi nhằm chủ động tham gia, tích cực thựchiện xây dựng nông thôn mới Vai trò chủ thể của người dân trong xây dựngnông thôn mới thể hiện ở chỗ người dân chính là người tham gia xây dựng kếhoạch, chương trình và tổ chức thực hiện việc xây dựng nông thôn mới ở địaphương mình; theo dõi, đánh giá, giám sát quá trình triển khai thực hiện các
dự án tại địa phương Đồng thời, phát huy dân chủ phải gắn với tuân thủ theo
Trang 17pháp luật, tôn trọng kỷ cương Vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phươngchỉ là hỗ trợ, thúc đẩy, định hướng, dẫn dắt.
- Phải phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thônmới vì: Xây dựng nông thôn mới là quá trình nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của mỗi người dân Đồng thời, nguồn lực của Nhà nước rất hạn hẹptrong khi đó nguồn lực từ trong nhân dân rất dồi dào, phải huy động tối đa cácnguồn lực mới có thể đem lại thành công của chương trình Nguồn lực củanhân dân cần huy động ở đây không chỉ là tiền của, công sức mà còn cả trítuệ Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa phương cho thấy nơi nàohuy động được trí tuệ, tâm huyết, tiền của, công sức của mỗi người dân cùngvới Nhà nước và địa phương thực hiện các tiêu chí xã nông thôn mới thì sớmđạt đích xã nông thôn mới và ngược lại
Năm là, tính phối hợp: Phối hợp trong xây dựng nông thôn mới thể hiện
ở chỗ toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội phải cùng phối hợp thì chươngtrình xây dựng nông thôn mới mới được thực hiện thành công Trong đó,Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch,
đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Đây là chương trình mới, cần nhiều thờigian, kinh nghiệm, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành, mặttrận, đoàn thể, Ban Chỉ đạo các cấp và Ban Quản lý xã nhằm hạn chế tối thiểunhững thiếu sót trong quá trình thực hiện Tùy vào tình hình thực tiễn của mỗiđịa phương, để có sự cân nhắc, quyết định thứ tự ưu tiên khi triển khai dự ánđầu tư
Sáu là, tính đa dạng: Tính đa dạng của chương trình xây dựng nông thôn
mới thể hiện ở nguồn lực để đầu tư vào chương trình được huy động từ tổnghợp các nguồn vốn ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và nguồn từkhu vực tín dụng Vì vậy, ở Việt Nam, hệ thống các chính sách huy động
Trang 18nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới khá đa dạng, nhằm huy độngnguồn lực từ các doanh nghiệp và các tổ chức khác.
1.1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Theo Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT, ngày 01/3/2017 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về “Hướng dẫn một số nội dung thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022”, xây dựng nông thôn mới thực hiện theo những nguyên tắc sau:
2016-Một là, đảm bảo nguyên tắc quản lý, điều hành, thực hiện chương trình,
- Đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực hiệncác chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích huy động nguồnlực xã hội để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các bộ, ngành, địaphương và các cơ quan có liên quan trong quản lý, điều hành thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia; phát huy vai trò chủ thể và sựtham gia, đóng góp của cộng đồng dân cư vào quá trình lập kếhoạch, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia [18]
- Gắn kết chặt chẽ giữa Chương trình xây dựng nông thôn mới vớiChương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững, Chươngtrình cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và các chương trình mục tiêu,các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông
Trang 19thôn; gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương vàphù hợp với đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt [04]
Hai là, nội dung xây dựng nông thôn mới phải hướng tới thực hiện Bộ
tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
Ba là, xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ
thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò địnhhướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ
và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xãbàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Bốn là, được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình
mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự ánkhác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vựccần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thànhphần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Năm là, được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện,tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ
sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).
Sáu là, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quátrình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vậnđộng “toàn dân xây dựng nông thôn mới" do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùngcác tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai tròchủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới
Trang 201.1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới
- Theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 về “phê duyệt
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020”; Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT, ngày 01/3/2017 của Bộ Nông
2016-nghiệp và Phát triển nông thôn về “Hướng dẫn một số nội dung thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020”.
2016-Xây dựng nông thôn mới gồm có các nội dung như sau:
+ Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
+ Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân
+ Giảm nghèo và an sinh xã hội
+ Phát triển giáo dục ở nông thôn
+ Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ngườidân nông thôn
+ Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn
+ Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng nghề
+ Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền,đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và nângcao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả năngtiếp cận pháp luật cho người dân
+ Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn
+ Nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới và công tác giám sát, đánhgiá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng nông thôn mới nhằmnâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới các
Trang 21cấp; thiết lập hệ thống giám sát, đánh giá đồng bộ, toàn diện đáp ứng yêu cầuquản lý Chương trình; nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về xây dựngnông thôn mới [21].
- Để cụ thể hóa 11 nội dung xây dựng nông thôn mới nêu trên, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giaiđoạn 2016-2020 theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 nhằm:+ Cụ thể hóa nội dung định hướng và đặc trưng của xã nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH;
+ Là căn cứ để thực hiện nội dung Chương trình MTQG xây dựng nôngthôn mới, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chínông thôn mới giai đoạn 2016-2020;
+ Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới của các địa phương;
+ Đánh giá công nhận xã đạt nông thôn mới trong giai đoạn 2016-2020;đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn;
+ Giúp cho cán bộ và nhân dân các địa phương hiểu rõ nội dung cụ thể của xây dựng nông thôn mới [03]
- Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới gồm 5 nhóm tiêu chí, 19 tiêuchí, 49 chỉ tiêu, bao gồm:
+ Nhóm I, Quy hoạch, gồm 01 tiêu chí: Quy hoạch
+ Nhóm II, Hạ tầng kinh tế - xã hội, gồm 08 tiêu chí: Giao thông; Thủylợi; Điện; Trường học; Cơ sở vật chất văn hóa; Cơ sở hạ tầng thương mạinông thôn; Thông tin và truyền thôn; Nhà ở dân cư
+ Nhóm III, Kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm 04 tiêu chí: Thu nhập; Hộ nghèo; Lao động có việc làm; Tổ chức sản xuất
Trang 22+ Nhóm IV, Văn hóa – xã hội – môi trường, gồm 04 tiêu chí: Giáo dục
và đào tạo; Y tế; Văn hóa; Môi trường và an toàn thực phẩm
+ Nhóm V, Hệ thống chính trị, gồm 02 tiêu chí: Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; Quốc phòng và an ninh [20]
1.1.3 Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là sự lựa chọn tất yếu để thực hiện phát triểnnông thôn một cách tổng thể, toàn diện vì những lý do sau:
Một là, cơ sở hạ tầng nội thôn còn nhiều yếu kém; nhiều hạng mục công
trình xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; hệ thốngthuỷ lợi ít được quan tâm đầu tư; chất lượng lưới điện nông thôn chưa đảmbảo an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn nhiều hạn chế, mạnglưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ
Hai là, ngành nông nghiệp vẫn sản xuất theo phương thức manh mún,
nhỏ lẻ, chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh, bảo quản chế biến nôngsản còn hạn chế, chưa gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm Cơ cấu kinh tếchuyển dịch còn chậm, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệpcòn hạn chế, chưa đồng bộ Kinh tế phát triển tự phát, chưa theo quy hoạchchung
Ba là, thu nhập của nông dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; số lượng
doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn ít Kinh tế hộ, kinh tế trangtrại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Lực lượng lao động trong nông nghiệpcòn cao Công tác đào tạo nghề, tạo cơ hội việc làm còn nhiều hạn chế
Bốn là, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân phải được chăm lo để
người lao động có động lực nhằm tái tạo sức lao động, nâng cao năng suấtlàm việc Tuy nhiên, tại địa phương đời sống văn hóa tinh thần của nhân dânvẫn còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống chưa được quan tâm, bảo tồn
và phát huy
Trang 23Năm là, công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là vấn đề tất yếu sẽ
diễn ra và công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm cảitạo và làm mới quá trình sản xuất nông nghiệp, thay đổi diện mạo của nôngthôn, nâng cao đời sống của nhân dân Thực hiện thành công chương trình xâydựng nông thôn mới nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa
1.2 Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
- Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơquan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội,trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước
có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cảcộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theomột định hướng thống nhất của Nhà nước [12, tr.10]
Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mangtính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh cáchành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơquan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp củacon người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
- Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Từ khái niệm xây dựng nông thôn mới và khái niệm quản lý nhà nước đãphân tích ở trên có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nôngthôn mới là hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước từ Trungương đến địa phương tác động vào khu vực nông nghiệp, nông thôn và nôngdân nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, hướng đến sự pháttriển bền vững của nền kinh tế, đưa khu vực nông thôn phát triển toàn diện và
Trang 24đồng bộ theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất,chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; xã hội ổn định, giàu bản sắcvăn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nôngthôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, an ninh trật tự được tăngcường; đảm bảo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn, đời sống vật chất,tinh thần ngày càng được nâng cao.
1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới rất cần
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị Trong đó, cấp ủy Đảng đóng vai tròlãnh đạo; Nhà nước quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện; người dân phát huyvai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới; các tổ chức đoàn thể trong hệthống chính trị tuyên truyền vận động, đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng củaquần chúng nhân dân, kịp thời giải đáp những vướng mắc của quần chúngnhằm tạo nên sự thống nhất cao trong mọi tầng lớp nhân dân, mọi đối tượngquần chúng để có cơ sở tạo điều kiện triển khai nhanh và đúng tiến độ chươngtrình xây dựng nông thôn mới Nói đến quản lý nhà nước đối với xây dựngnông thôn mới chính là nói đến tính hiệu lực, hiệu quả sự tác động của Nhànước ta đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cho thấy quản lý nhà nước đối với xâydựng nông thôn mới có vai trò rất quan trọng như sau:
Một là, Nhà nước là cơ quan ban hành các nghị định, quy định, văn bản
pháp luật nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn và thực hiện chức năngquản lý của mình trong xây dựng nông thôn mới;
Hai là, xây dựng quy hoạch và đảm bảo thực hiện xây dựng nông thôn
mới theo đúng quy hoạch;
Ba là, triển khai các giải pháp nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu
quả nguồn lực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới;
Trang 25Bốn là, đảm bảo tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về
xây dựng nông thôn mới được thống nhất, hoạt động đồng bộ, đạt hiệu lực,hiệu quả cao;
Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động xây dựng nông thôn
mới của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về xây dựngnông thôn mới để kịp thời phát hiện sai sót, chấn chỉnh sai phạm, xử lý các viphạm
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.3.1 Xây dựng, ban hành hệ thống chính sách về xây dựng nông thôn mới
Các văn bản quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là hệ thốngcác văn bản trong đó có những quyết định và thông tin quản lý, có hiệu lựcbắt buộc chung, thể hiện ý chí, mệnh lệnh, mang tính quyền lực Nhà nước, docác cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất địnhnhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý hành chính nhà nước về xây dựngnông thôn mới Thông qua đó, triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới vào thực tiễn đạt hiệu quả,chất lượng Xây dựng, ban hành chính sách, các văn bản quản lý nhà nước vềxây dựng nông thôn mới để Nhà nước có cơ sở pháp lý triển khai thực hiệnnhiệm vụ điều hành và quản lý hoạt động xây dựng nông thôn mới đạt hiệulực, hiệu quả cao
Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, thời gian qua, Đảng và Nhànước ta đã xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liênquan đến xây dựng nông thôn mới, như:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;
Trang 26- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28/10/2008 về “ban hành chương
trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg “phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc
gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”;
- Nghị quyết số 100/2015/QH13, ngày 12/11/2015 của Quốc hội về “phê
duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2020”.
2016 Năm 2016, 2017, Chính phủ đã ban hành các văn bản triển khai thựchiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016-2020:
+ Quyết định 398/QĐ-TTg, ngày 11/03/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về “ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 100/2015/QH13, ngày
12/11/2015 của Quốc hội”;
+ Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính
phủ về “phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2016 – 2020”;
+ Quyết định số 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính
phủ “về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn
2016 – 2020”;
+ Quyết định số 69/QĐ-BNN-VPĐP, ngày 09/01/2017 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về “ban hành sổ tay hướng dẫn thực hiện bộ
tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020”;
+ Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT, ngày 01/3/2017 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về “Hướng dẫn một số nội dung thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2022”;
Trang 272016-+ Thông tư số 04/2019/TT-BNNPTNT ngày 01/04/2019 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn “sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số
05/2017/TT-BNNPTNT ngày 01/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số nội dung thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020” và một số văn bản khác có
liên quan
Trên cơ sở đó, các Bộ, ngành liên quan từ Trung ương đến địa phương
đã cụ thể hóa, ban hành các văn bản triển khai thực hiện
1.2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước là nhân tố quan trọng và có ý nghĩaquyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vịtrong việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Đây là
bộ phận tham mưu, giúp việc, giúp cơ quan nhà nước thực hiện chức năngquản lý trong xây dựng nông thôn mới một cách khoa học, thống nhất Hệthống các cơ quan, tổ chức được xây dựng và kiện toàn từ Trung ương đến địaphương Chính phủ quy định rất rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của từng cơquan theo cấp hành chính để phối hợp triển khai xây dựng nông thôn mới Cụthể:
- Cấp Trung ương: Thực hiện theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, ngày
01/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ “về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung
ương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, cụ thể như sau:
+ Về cơ cấu: Trưởng Ban Chỉ đạo là Phó Thủ tướng Thường trực Chính
phủ; Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành Quy chế hoạt động, phân công tráchnhiệm cụ thể đối với các thành viên của Ban Chỉ đạo Các Phó Trưởng BanChỉ đạo là các đồng chí Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 28làm Phó Trưởng ban thường trực, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn và Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; các Ủy viên gồm đạidiện lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn quyết định thành lập Văn phòng điều phối Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
+ Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương: Được đặt tại Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng giúp việc Ban Chỉđạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia (gọi tắt là Ban Chỉ đạoTrung ương) và trực tiếp giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý, tổ chức thực hiện vàđiều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn2016-2020 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế củaVăn phòng điều phối nông thôn mới các cấp được quy định tại Quyết định số
1920/QĐ-TTg, ngày 05/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về “quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp”.
+ Ban Chỉ đạo Trung ương có nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch 5 năm và
hàng năm về mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiệnChương trình báo cáo Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các Bộ, ngành xây dựng,hoàn thiện và hướng dẫn cơ chế, chính sách có liên quan về xây dựng nôngthôn mới; chỉ đạo các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương xây dựng đề án triển khai nội dung chương trình xây dựng nôngthôn mới; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủvới các cơ quan của Đảng, Mật trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân nhằmhuy động cả hệ thống chính trị vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thônmới Đồng thời, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
Trang 29nước trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới [22].
- Cấp tỉnh: Ban Chỉ đạo cấp tỉnh: Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban,
Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Phó ban thường trực, Giám đốc Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó ban, lãnh đạo các sở, ngành liên quan
là thành viên Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh là Trưởng ban, các phótrưởng ban và 03 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở Tài chính, Xây dựng và
Kế hoạch và Đầu tư Văn phòng Điều phối nông thôn mới tỉnh thực hiện chứcnăng giúp Ban Chỉ đạo thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh(gọi tắt là Ban Chỉ đạo tỉnh) quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
- Cấp huyện, thị xã: Ban Chỉ đạo cấp huyện: Chủ tịch UBND huyện làm
Trưởng ban, Phó Chủ tịch UBND huyện làm Phó trưởng ban, lãnh đạo cácphòng, ban có liên quan làm thành viên Phòng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn (hoặc phòng kinh tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp việccho Ban Chỉ đạo huyện thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trênđịa bàn Văn phòng nông thôn mới huyện do Phòng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế làm cơ quan thường trực, thực hiện chứcnăng giúp Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia cấp huyện(gọi tắt là Ban Chỉ đạo huyện) quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình mụctiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
- Cấp xã: Thành lập Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã Trong đó,
Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban, Phó Chủ tịch UBND xã làm Phó Trưởngban, thành viên là đại diện một số bộ phận chuyên môn, ban, ngành, đoàn thểxã
Trang 301.2.3.3 Xây dựng đội ngũ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Nguồn nhân lực trong xây dựng NTM đạt chất lượng cao thì hoạt độngquản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới mới đạt hiệu lực, hiệu quả cao.Đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố mang tính quyết định trong quá trìnhquản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Đội ngũ cán bộ, công chứcphải có năng lực, trình độ chuyên môn mới có thể hoàn thành tốt công việc,đạt hiệu quả, chất lượng cao Đồng thời, phải được trang bị văn hóa chính trị,văn hóa công sở, phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, có tâm huyết.Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, đội ngũ cán bộ chuyên môn đòi hỏiphải thường xuyên được cập nhật kiến thức liên quan đến xây dựng nông thônmới, có kinh nghiệm chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tế trong lĩnhvực xây dựng nông thôn mới; vững vàng về chính trị, văn hóa, có đạo đức, lốisống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để thực thi công vụ,bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân, góp phần
về đích sớm trong xây dựng nông thôn mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã là cấp gần gũi nhân dânnhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xongxuôi” Thực tế xây dựng NTM gần 10 năm qua cũng cho thấy, ở đâu cán bộcấp cơ sở năng động, sáng tạo, tâm huyết thì ở đó xây dựng NTM thành công
và ngược lại Việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm côngtác xây dựng nông thôn mới ở các cấp, nhất là cán bộ cấp xã, thôn, buôn nộidung 14 chuyên đề do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành giúpcung cấp các kiến thức cơ bản về cơ chế, chính sách, quy trình triển khai thựchiện chương trình, trang bị kỹ năng về xây dựng, lập kế hoạch, kỹ năng tuyêntruyền, vận động cộng đồng và người dân Vì vậy, nâng cao năng lực đội ngũcán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới các cấp thông qua đào tạo, bồidưỡng, tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng là một trong số các nội dung
Trang 31thành phần quan trọng của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010-2020 [21].
Để việc tập huấn, bồi dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp đạtchất lượng, hiệu quả; nâng cao nhận thức, kiến thức, trình độ chuyên môn,năng lực – kỹ năng quản lý, điều hành và thực thi cho cán bộ xây dựng nôngthôn mới các cấp và cán bộ trong hệ thống chính trị nhằm triển khai hiệu quảchương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Bộ Trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định 4072/QĐ-BNN-
VPĐP, ngày 05/10/2016 về “phê duyệt chương trình khung tập huấn, bồi
dưỡng cán bộ xây dựng nông thôn mới các cấp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2016-2020”[07].
1.2.3.4 Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để thực hiện xây dựng nông thôn mới
Trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, để chương trình xâydựng nông thôn mới đi vào hoạt động đảm bảo đạt mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 đã đề ra, việc quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồnlực là nội dung quan trọng Nguồn lực bao gồm nguồn lực vật chất, tài chính
và cả nguồn lực tinh thần của toàn xã hội để xây dựng nông thôn mới có cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hội phát triển, đời sống cư dân nông thôn được cải thiện vànâng cao
Trong nguồn lực tài chính, nguồn vốn từ ngân sách chiếm tỷ trọng lớnnhất, khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc giaxây dựng nông thôn mới, vốn tín dụng khoảng 30%, vốn từ các doanh nghiệp
và các tổ chức kinh tế khác khoảng 20% và huy động đóng góp từ cộng đồngdân cư khoảng 10% Vì vậy, trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thônmới phải có cơ chế huy động nguồn vốn
Trang 32Trong Quyết định số 1600/QĐ-TTg đã quy định rõ việc huy động nguồnvốn được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn: Thực hiện lồngghép các nguồn vốn của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bềnvững; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đanguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chươngtrình; huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khảnăng thu hồi vốn trực tiếp; các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện củanhân dân trong xã cho từng dự án, nội dung cụ thể, do hội đồng nhân dân xãthông qua; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng vàcác nguồn tài chính hợp pháp khác
1.2.3.5 Kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các hoạt động xây dựng nông thôn mới
Kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng nông thôn mới là việc xemxét, đánh giá tình trạng đạt hay không đạt các tiêu chí về xây dựng nông thônmới; đảm bảo việc tuân thủ những quy định của pháp luật về xây dựng nôngthôn mới theo các quy định, tiêu chí của chương trình mục tiêu quốc gia xâydựng nông thôn mới Thanh, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối,chính sách quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới nhằm kịp thời pháthiện những sai sót và ngăn chặn, chấn chỉnh các hành vi sai phạm, kiểm soátcác sai lầm, lệch lạc; đồng thời, xử lý các vi phạm, đề xuất điều chỉnh các tiêuchí cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi địa phương
Việc kiểm tra, giám sát các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựngnông thôn mới cần tiến hành:
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính sách, kế hoạch và pháp luật của nhà nước về nông thôn mới;
+ Kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật;
Trang 33+ Kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch và giám sát về kinh tế, tổ chức sản xuất;
+ Kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước và các nguồn lực khác;
+ Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ phápluật của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về xây dựngnông thôn mới
Việc kiểm tra, giám sát còn được thực hiện theo định kỳ thông qua côngtác sơ kết, tổng kết để đánh giá cụ thể quá trình triển khai thực hiện, rút kinhnghiệm nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, nhân rộng những kinh nghiệm,những điển hình trong xây dựng nông thôn mới; đồng thời, biểu dương khenthưởng các tập thể, cá nhân điển hình, tạo động lực cho phong trào thi đuachung sức xây dựng nông thôn mới
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
- Đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nông thôn: Phát triển nông thôn
không thể tách rời với phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, phát triển khu vựcnông thôn phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi vùng nông thôn.Mỗi vùng, mỗi địa phương có những xuất phát điểm về điều kiện kinh tế, xãhội khác nhau nên công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mớicũng khác nhau; đòi hỏi mỗi cấp ủy, chính quyền địa phương căn cứ trên cácvăn bản chỉ đạo triển khai của cấp trên, đồng thời phải dựa trên tình hình thực
tế của địa phương để ban hành các văn bản triển khai thực hiện chương trìnhmục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao, mang ý nghĩa thiết thực
- Yếu tố truyền thống văn hóa của vùng nông thôn: Trong công cuộc xây
dựng nông thôn mới, văn hóa giữ vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao
Trang 34đời sống tinh thần của nhân dân, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Vùngnông thôn là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa của cộng đồng, văn hóa nông thôn
là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc Khi quản lý nhà nước để pháttriển khu vực nông thôn, cần phải chú trọng đến vấn đề văn hóa nông thôn,tiếp tục bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, loại bỏ những
hủ tục lạc hậu,…đồng thời, tránh tình trạng tốc độ đô thị hóa quá nhanh làmảnh hưởng đến di sản kiến trúc, nếp sống văn hóa nông thôn
- Trình độ nhận thức, quản lý, tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới:
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương trìnhtổng hợp bao gồm mọi mặt công tác của Đảng, Nhà nước Xây dựng nôngthôn mới là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi cần có một đội ngũ cán bộ, côngchức có đầy đủ kiến thức, trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn để nhậnthức, quản lý và tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về xây dựngnông thôn mới
- Yếu tố hội nhập kinh tế quốc tế: Đảng ta đã xác định, hội nhập quốc tế
là định hướng chiến lược để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, coi hội nhập quốc
tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị Vì vậy, quản lý nhànước về xây dựng nông thôn mới phải gắn liền với hội nhập kinh tế quốc tế.Trên cơ sở đó, tranh thủ được vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệmquản lý và các nguồn lực quan trọng khác, tạo thêm được nhiều việc làm,nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Trongbối cảnh đó, nhà quản lý sẽ tiếp thu, chọn lọc những kinh nghiệm, thành tựumới để áp dụng cho sản xuất nông nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả quản lýnhà nước đối với nông nghiệp và quá trình xây dựng nông thôn mới
Trang 351.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương ở Việt Nam
1.3.1 Bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Ea H'Leo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Đăk Lăk, tổng diện tích tựnhiên hơn 133.400 ha; dân số hơn 135.700 nhân khẩu, với gần 34.890 hộ,gồm 29 dân tộc anh em cùng sinh sống Năm 2010, có 11 xã trong toàn huyệnchỉ đạt 28 tiêu chí, bình quân mỗi xã đạt 2,5 tiêu chí Huyện ủy Ea H'leo đã cóNghị quyết số 03-NQ/HU, ngày 15/7/2011 về việc XD NTM giai đoạn 2011-
2015 định hướng đến năm 2020 Sau 10 năm tổ chức thực hiện chương trìnhMTQG XD NTM, đến nay, huyện Ea H’leo đã có 06/11 xã đạt chuẩn nôngthôn mới Toàn huyện đã hoàn thành 171/209 tiêu chí, bình quân đạt 15,54tiêu chí/xã, tăng 143 tiêu chí so với thời điểm bắt đầu thực hiện Chương trìnhnăm 2010
Qua việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thônmới huyện Ea H’leo đã rút ra một số kinh nghiệm xây dựng NTM và quản lýnhà nước về xây dựng nông thôn mới, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, huyện Ea H’leo đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên
truyền về mục đích, ý nghĩa, chủ thể xây dựng NTM bằng nhiều hình thức đadạng, khác nhau như tổ chức hội họp, phát thanh, cổ động và tuyên truyềntrực quan, tạo không khí sôi nổi, đồng thuận trong xây dựng NTM Hưởngứng phong trào thi đua “cả nước chung sức xây dựng NTM” phong trào thiđua chung sức xây dựng NTM được phát động rộng khắp trên địa bàn huyện.Thông qua đó đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sức lan tỏanhanh, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng NTM
- Thứ hai, quan tâm chỉ đạo thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, đây là yếu tố rất quan trọng
Trang 36quyết định tiến trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Từ đó, lãnh, chỉ đạođồng bộ, hiệu quả, tổ chức bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên môn, sátthực tế, phối hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện từ huyện đến cơsở.
- Thứ ba, cách làm phải phù hợp với điều kiện của từng địa phương
thông qua lựa chọn, sắp xếp nội dung, nhiệm vụ theo thứ tự ưu tiên, vận dụngsáng tạo cơ chế chính sách
- Thứ tư, tập trung huy động mọi nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn
- Thứ năm, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội [27]
1.3.2 Bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà nước về xây dựng Nông thôn mới ở huyện Ea kar, tỉnh Đắk Lắk
Huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk có 16 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 2 thịtrấn và 14 xã) với tổng diện tích tự nhiên là 103.699,77 ha, dân số năm 2017
có 154.513 người, mật độ dân số bình quân 149 người/km2 Triển khai xâydựng NTM từ xuất phát điểm thấp, với bình quân toàn huyện chỉ đạt 4,5 tiêuchí/xã, chưa có xã đạt chuẩn nông thôn mới Qua gần 10 năm triển khai thựchiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, toàn huyện có số tiêuchí đạt và cơ bản đạt là 210 tiêu chí, bình quân 15 tiêu chí/xã, có 2 xã đượccông nhận đạt chuẩn xã NTM là xã Ea Ô và xã Cư Ni, các xã còn lại bìnhquân tăng 4 -5 tiêu chí trở lên, không có xã đạt dưới 05 tiêu chí
Bên cạnh đó, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, đời sống vật chất,tinh thần của người dân được nâng lên, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đượcxây dựng khang trang, môi trường thông thoáng, sạch đẹp Tổng nguồn vốnhuy động xây dựng NTM trong 10 năm qua 1.249 tỷ đồng, trong đó huy động
Trang 37từ cộng đồng dân cư là 231 tỷ đồng và nguồn vốn doanh nghiệp trên 115 tỷ đồng.
Những bài học kinh nghiệm sau khi triển khai thực hiện chương trình tại huyện Ea Kar:
- Thứ nhất, cần có sự tập trung chỉ đạo cụ thể, liên tục, đồng bộ của cấp
ủy, chính quyền các cấp, đồng thời huy động được sự phối hợp tham gia của
cả hệ thống chính trị
- Thứ hai, chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận
thức của cán bộ đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của côngtác XDNTM, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư, nhất là trong việc huyđộng nguồn lực từ nhân dân
- Thứ ba, Ban Chỉ đạo XDNTM thường xuyên được quan tâm, kiện toàn;
tiến hành xây dựng chương trình và quy chế làm việc, trong đó, phân côngnhiệm vụ, địa bàn phụ trách rõ ràng đối với mỗi cá nhân, tập thể, đặc biệt phảiphát huy được vai trò của người đứng đầu cấp ủy trong tổ chức triển khai
- Thứ tư, cần coi trọng công tác đào tạo đội ngũ nòng cốt các cấp, nhất là
đội ngũ cán bộ cơ sở
- Thứ năm, mọi quyết định phải dựa trên nguyện vọng chính đáng của
người dân, phát huy tốt nhất vai trò cộng đồng và quán triệt sâu sắc nguyêntắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”
- Thứ sáu, Phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể các cấp trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời kịp thời phát hiện những điển hìnhtiên tiến để tuyên truyền nhân rộng thành phong trào Mặt khác, thường xuyênkiểm tra, giám sát, theo dõi để phát hiện những lệch lạc, sai sót và biểu hiệntiêu cực (nếu có) nhằm ngăn chặn, sữa chữa kịp thời [28]
Trang 381.3.3 Những bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới rút ra có thể áp dụng ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk
Qua nghiên cứu những bài học kinh nghiệm của một số huyện trên địabàn tỉnh Đắk Lắk, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắknhư sau:
Một là, các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận và các tổ chức đoàn thể
phải tiếp tục tuyên truyền nội dung của Chương trình nông thôn mới; các nộidung liên quan đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong nghị quyết đạihội Đảng các cấp, đặc biệt là chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nôngthôn mới của Chính phủ giai đoạn 2010-2020, định hướng đến 2030 và đề ranhững nhiệm vụ cần triển khai thực hiện trong từng giai đoạn Quan tâm kiệntoàn Ban Chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM,lãnh, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả, tổ chức bộ máy giúp việc đảm bảo đủ nănglực, chuyên môn, phối hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện từhuyện đến cơ sở
Hai là, đẩy nhanh việc ban hành và hướng dẫn thực hiện đồng bộ các
chính sách Trong đó, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, pháttriển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Rà soát quy hoạch, phát huylợi thế từng địa phương; quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộinông thôn gắn với đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới,với cơ chế để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng, quản lý, sử dụng có hiệuquả cơ sở hạ tầng, trong đó chú trọng hỗ trợ phát triển giao thông nông thôn,thủy lợi, sắp xếp dân cư nông thôn theo hướng kết hợp giữa truyền thống vănhóa cộng đồng và nhu cầu phát triển của đời sống hiện đại
Ba là, phải công khai, dân chủ để người dân cùng bàn bạc, gắn kết việc
phát động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
Trang 39cư với xây dựng nông thôn mới Phát huy sự đoàn kết, đồng lòng của cư dânnông thôn và để người dân tham gia quy hoạch từ dưới lên.
Bốn là, nâng cao hơn nữa sự phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới đảm bảo chặt chẽ, đồng
bộ, có hiệu quả Phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền tăngcường công tác kiểm tra các dự án, nguồn đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp,nông dân, nông thôn; đôn đốc các đơn vị cơ sở quan tâm thực hiện Chươngtrình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới, đặc biệt là các xã về đích đểđạt chuẩn xã nông thôn mới
Năm là, phải coi trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là
đội ngũ cán bộ cơ sở trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Sáu là, nông thôn mới đã hình thành trên thực tế, cơ bản đáp ứng nguyện
vọng của người dân nông thôn; ngày càng thu hút sự tham gia của người dân,doanh nghiệp, nhờ đó huy động được nguồn lực lớn, góp phần thúc đẩy tiến
độ thực hiện các nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới Huyđộng tất cả các nguồn lực để thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựngnông thôn mới
Bảy là, phải xác định xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu ngành
nông nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các ngành, địaphương, là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm đẩy mạnh ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập của người dân khu vựcnông thôn, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tốt các mục tiêu, ý nghĩa màchương trình xây dựng nông thôn mới đã đề ra
Tám là, định kỳ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện, rút kinh nghiệm và
tìm giải pháp hiệu quả thực hiện Chương trình trong giai đoạn tiếp theo Đồngthời, biểu dương, khen thưởng những tấm gương điển hình nhằm tạo động lực
Trang 40trong quá trình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.